Viêm màng não vi khuẩn là một trong những nhiễm trùng nặng ở trẻ em. Chẩn đoán phân biệt viêm màng não vi khuẩn và viêm màng não siêu vi từ trước đến nay luôn là một thách thức trên thực hành lâm sàng. Bài viết trình bày khảo sát giá trị của 5 quy tắc thang điểm Boyer, Oostenbrink, Nigrovic, Chavanet và Tokuda trong dự đoán viêm màng não vi khuẩn ở trẻ từ 1 tháng đến 16 tuổi.
Trang 1GIÁ TRỊ CÁC THANG ĐIỂM DỰ ĐOÁN VIÊM MÀNG NÃO VI KHUẨN
Ở TRẺ TỪ 1 THÁNG ĐẾN 16 TUỔI TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2
Đoàn Thị Hoài Trang 1 , Đỗ Châu Việt 2 , Vũ Thị Thùy Dương 2 , Nguyễn An Nghĩa 1
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Viêm màng não vi khuẩn (VMNVK) là một trong những nhiễm trùng nặng ở trẻ em Chẩn
đoán phân biệt VMNVK và viêm màng não siêu vi (VMNSV) từ trước đến nay luôn là một thách thức trên thực hành lâm sàng
Mục tiêu: Khảo sát giá trị của 5 quy tắc thang điểm Boyer, Oostenbrink, Nigrovic, Chavanet và Tokuda
trong dự đoán VMNVK ở trẻ từ 1 tháng đến 16 tuổi
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang mô tả có phân tích, gồm 73 trường hợp VMNVK và
156 trường hợp VMNSV tại bệnh viện Nhi Đồng 2
Kết quả: Tất cả 5 thang điểm trong nghiên cứu của chúng tôi đều có AUC >0,6 AUC của đường cong
ROC lần lượt là 0,98; 0,97; 0,94; 0,93; 0,8 tương ứng với các thang điểm Boyer, Nigrovic, Chavanet, Tokuda và Oostenbrink Thang điểm Nigrovic có độ nhạy cao nhất là 98,6% Độ nhạy giảm dần theo thứ tự sau: Nigrovic > Boyer > Tokuda > Chavanet > Oostenbrink Không có thang điểm nào có độ chính xác tổng thể vượt trội so với các quy tắc lâm sàng còn lại
Kết luận: Không có thang điểm nào loại trừ chẩn đoán VMNVK với độ nhạy 100% trong nghiên cứu của
chúng tôi Điều đó cho thấy rằng mọi thuật toán sẽ bỏ sót một tỷ lệ bệnh nhân bị VMNVK Việc sử dụng các thuật toán chẩn đoán có thể hữu ích để hướng dẫn quản lý trong từng bệnh nhân bị nghi ngờ VMNVK nhưng đánh giá lâm sàng là chìa khóa khi xem xét có nên bắt đầu theo kinh nghiệm liệu pháp kháng sinh và các biện pháp hỗ trợ khác
Từ khóa: viêm màng não, viêm màng não vi khuẩn, thang điểm Boyer, thang điểm Oostenbrink, thang điểm
Nigrovic, thang điểm Chavanet, thang điểm Tokuda
ABSTRACT
CLINICAL RULES FOR PREDICTING BACTERIAL MENINGITIS IN CHILDREN
FROM 1 MONTH TO 16 YEARS OLD AT THE CHILDREN’S HOSPITAL 2
Doan Thi Hoai Trang, Do Chau Viet, Vu Thi Thuy Duong, Nguyen An Nghia
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 26 - No 1 - 2022: 325-332
Background: Bacterial meningitis is one of the serious infections in children The differential diagnosis of
bacterial meningitis and viral meningitis has always been a challenge in clinical practice
Objective: The aim of this study was to remove on the value of the five rules of Boyer, Oostenbrink,
Nigrovic, Chavanet and Tokuda for predicting bacterial meningitis in children from 1 month to 16 years old
Methods: This retrospective cross-sectional study included 73 cases of bacterial meningitis and 156 cases of
viral meningitis at the Children's hospital 2
Results: All 5 rules in our study that were AUC >0.6 The AUC of the ROC curve was 0.98, 0.97, 0.94,
0.93, 0.8, respectively, corresponds to the Boyer, Nigrovic, Chavanet, Tokuda and Oostenbrink rule Nigrovic score had the highest sensitivity of 98.6% The sensitivity decreased in the following order: Nigrovic > Boyer >
1 Bộ môn Nhi, Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh 2 Khoa nhiễm, bệnh viện Nhi Đồng 2
Trang 2Tokuda > Chavanet > Oostenbrink No score had an overall accuracy superior to the rest of the clinical rules
Conclusion: There is no rule to exclude the diagnosis of bacterial meningitis with 100% sensitivity in our
study That suggests that every algorithm will miss a proportion of children with bacterial meningitis The use of diagnostic algorithms can be help to guide management in individual patients with suspected bacterial meningitis, but clinical judgment is the key when considering whether to initiate empiric or antibiotics and other supportive treatment
Key words: meningitis, bacterial meningitis, Boyer score, Oostenbrink score, Nigrovic score, Chavanet
score, Tokuda score
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm màng não vi khuẩn (VMNVK) là một
trong những nhiễm trùng nặng ở trẻ em, có thể
dẫn đến nhiều biến chứng nặng nề, thậm chí
có thể gây tử vong nhanh chóng Dù đã có
những tiến bộ vượt bậc trong chẩn đoán, điều
trị và phòng ngừa VMNVK, bệnh lý này vẫn là
nguyên nhân gây ra tỉ lệ bệnh tật và tử vong
cao ở trẻ em, tỉ lệ tử vong dao động từ 0-15%
tùy báo cáo
Chẩn đoán phân biệt VMNVK và viêm
màng não siêu vi (VMNSV) từ trước đến nay
luôn là một thách thức đối với bác sĩ lâm sàng
Không có bất kì một triệu chứng lâm sàng hay
xét nghiệm đơn độc nào ngoại trừ các xét
nghiệm vi sinh đủ độ nhạy và độ đặc hiệu để
phân biệt VMNVK và VMNSV Việc chẩn đoán
chính xác và nhanh chóng VMNVK đóng vai trò
quan trọng vì kết cục của bệnh phụ thuộc vào
thời điểm bắt đầu điều trị và việc lựa chọn
kháng sinh phù hợp
Hiện có ít nhất 15 quy tắc thang điểm lâm
sàng tiềm năng đã được đưa ra để tính toán xác
suất VMNVK, với mục đích để hạn chế số lượng
bệnh nhân được điều trị kháng sinh không cần
thiết, và cũng để đảm bảo rằng không bỏ sót
bệnh nhân bị VMNVK Cho đến nay, chỉ mới có
một nghiên cứu đã thực hiện ở Việt Nam tại
bệnh viện Nhi Đồng 1 từ năm 2012 nghiên cứu
về độ nhạy, độ đặc hiệu của một số thang điểm
quy tắc(1) Kết luận của nghiên cứu là không có
một quy tắc nào cung cấp độ đặc hiệu chấp nhận
được với độ nhạy 100% Chính vì vậy chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát giá trị các
thang điểm dự đoán viêm màng não vi khuẩn ở
trẻ từ 1 tháng đến 16 tuổi tại bệnh viện Nhi Đồng 2” nhằm đánh giá giá trị của 5 quy tắc thang điểm tiềm năng bao gồm: Boyer, Oostenbrink, Nigrovic, Chavanet và Tokudo Với mục tiêu góp phần giúp cung cấp thêm bằng chứng về tính giá trị của 5 quy tắc thang điểm tiềm năng này
Mục tiêu
Độ nhạy, độ đặc hiệu của 5 quy tắc thang điểm Boyer, Oostenbrink, Nigrovic, Chavanet và Tokuda dự đoán xác suất VMNVK ở trẻ viêm màng não từ 1 tháng đến 16 tuổi tại Bệnh viện Nhi Đồng 2
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
Trẻ từ 1 tháng đến 16 tuổi, được chẩn đoán viêm màng não, điều trị nội trú tại bệnh viện Nhi Đồng 2
Tiêu chuẩn nhận vào
Tất cả các bệnh nhi từ 1 tháng đến 16 tuổi nhập khoa Nhiễm bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 01/01/2017 đến 30/06/2021 thỏa tiêu chuẩn chẩn đoán VMNVK và VMNSV sẽ được đưa vào nghiên cứu
Tiêu chuẩn chẩn đoán VMNVK
Lâm sàng gợi ý viêm màng não: sốt, hội chứng màng não, và
DNT có >7 BC/mm3, và Xét nghiệm vi khuẩn học dương tính:
+ Cấy dịch não tủy (DNT) dương tính với tác nhân gây bệnh, và/hoặc
+ PCR DNT dương tính với tác nhân gây bệnh
Trang 3Tiêu chuẩn chẩn đoán VMNSV
Lâm sàng gợi ý viêm màng não: sốt, hội
chứng màng não, và
DNT có >7 BC/mm3, và
Bệnh tự thuyên giảm trong vòng 5 ngày hoặc
ngưng kháng sinh trong vòng 48 giờ đầu, và
Không thỏa bất kỳ tiêu chí về tiêu chuẩn vi
khuẩn học của VMNVK
Có thể kèm PCR DNT dương tính với tác
nhân siêu vi gây bệnh
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhi có triệu chứng khởi phát bệnh
trong giai đoạn sơ sinh (nhỏ hơn 28 ngày tuổi)
DNT chạm mạch (hồng cầu trong DNT
≥10.000 hồng cầu/mm3)
Viêm màng não (VMN) do lao, và/hoặc có
tiền căn lao phổi
Suy giảm miễn dịch bẩm sinh hoặc suy giảm
miễn dịch mắc phải (HIV, điều trị corticoid kéo
dài ít nhất 14 ngày)
Phẫu thuật thần kinh gần đây trong vòng 1
tháng trước khởi bệnh
Có bệnh lý ác tính đi kèm
Cha, mẹ hoặc người giám hộ của bệnh nhi từ
chối tham gia nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả, có phân tích
Cỡ mẫu
Công thức tính cỡ mẫu cho độ nhạy
, Với α=0,05; =0,95; =0,1; =0,32, ước
tính mất mẫu 10% mất mẫu, cỡ mẫu tính được là
63 trường hợp kể cả VMNVK và VMNSV
Biến số nghiên cứu
Định nghĩa biến số chính
Bảng 1: Thang điểm Boyer (2)
Dấu hiệu và triệu chứng Điểm
C
Dấu hiệu và triệu chứng Điểm
Chấm xuất huyết hoặc ban
Thờ ơ/ hôn mê/ co giật/ dấu
Số lượng bạch cầu trong DNT
Số lượng bạch cầu trong máu
≥5 điểm: VMN vi khuẩn điều trị kháng sinh 3-4 điểm: Nghi ngờ Điều trị kháng sinh hoặc chờ kết quả cấy DNT
≤2 điểm: VMN siêu vi Theo dõi
Bảng 2: Thang điểm Oostenbrink (3)
Biến số nguy cơ Điểm
Bệnh sử Thời gian từ lúc khởi bệnh đến lúc nhập viện
(ngày)a
Nôn
1
2
Khám lâm sàng
Dấu màng não
Tím
Chấm xuất huyết hoặc ban xuất huyết Rối loạn ý thức (đáp ứng với đau hoặc không
đáp ứng)
7,5 6,5
4
8 Xét nghiệm
0,1
a: Thời gian từ lúc khởi bệnh đến lúc nhập viện được làm tròn đến 0,5 ngày, tối đa 7 điểm
b: CRP huyết thanh: 0-9 mg/L: 0 điểm, 10-19mg/L: 0,1 điểm, v.v, tối đa 2 điểm
Tổng điểm <9,5: nguy cơ thấp VMN
Bảng 3: Thang điểm Nigrovic (4)
Có Không
Số lượng BCĐNTT tuyệt đối ngoại vi
Điểm = 0: Nguy cơ rất thấp VMN vi khuẩn Điểm = 1: Không nguy cơ rất thấp VMNVK Điểm ≥ 2: Nguy cơ cao VMN vi khuẩn
Trang 4Bảng 4: Thang điểm Chavanet (5)
2
Điểm ≥2: VMN vi khuẩn
Hình 1: Thang Tokuda (6)
Các bước tiến hành
Liên hệ phòng công nghệ thông tin lấy thông
tin bệnh nhân được chẩn đoán VMNVK hoặc
VMNSV với mã ICD là G00, G02, G03 ở Bệnh
viện Nhi Đồng 2 từ 01/01/2017 đến 30/11/2020
Đối với các trường hợp điều trị tại khoa
Nhiễm bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 01/12/2020 đến
30/06/2021 và thỏa tiêu chuẩn nghiên cứu, chúng
tôi sẽ giải thích và cung cấp các thông tin về
nghiên cứu Cha/mẹ hay người giám hộ bệnh
nhi cần ký giấy đồng thuận nếu chấp nhận tham
gia nghiên cứu
Liên hệ phòng lưu trữ hồ sơ để mượn hồ sơ
theo danh sách bệnh nhi có được Ghi nhận gián
tiếp từ hồ sơ bệnh án các dữ liệu vào phiếu thu
thập số liệu
Nhập và xử lí dữ liệu, tính độ nhạy, độ đặc
hiệu của 5 quy tắc thang điểm Boyer,
Oost-enbrink, Nigrovic, Chavanet, Tokuda
Thu thập và xử lý số liệu
Tổng kết, phân tích và xử lí số liệu theo phần
mềm SPSS 26.0 Các biến số định lượng: trung
bình và độ lệch chuẩn hoặc trung vị Các biến số
định tính: tần số, tỷ lệ phần trăm Kết quả được trình bày dưới dạng bảng, biểu đồ
Y đức
Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học của Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, số: 494/HĐĐĐ-ĐHYD và bệnh viện Nhi Đồng 2, số 1293/NDD2-CĐT
KẾT QUẢ
Bảng 5: Đặc điểm dịch tễ học dân số nghiên cứu
n=156
VMNVK n=73
Giới tính
Từ 01/01/2017 đến 30/06/2021, chúng tôi ghi nhận 229 trường hợp VMN thỏa tiêu chuẩn nghiên cứu, bao gồm 156 trường hợp VMNSV
và 73 trường hợp VMNVK Trẻ ≥5 tuổi chiếm
tỉ lệ cao nhất (40,2%), trường hợp nhỏ nhất ghi nhận là 1 tháng, lớn nhất là 173 tháng (14 tuổi
5 tháng)
Trang 5Bảng 6: Ngưỡng cắt, độ nhạy, độ đặc hiệu của 5 quy tắc thang điểm Boyer, Oostenbrink, Nigrovic, Chavanet và
Tokuda
Ngưỡng điểm VMNSV VMNVK Độ nhạy (Se) Độ đặc hiệu (Sp) Chỉ số Youden
Thang điểm Boyer
Thang điểm Oostenbrink
Thang điểm Nigrovic
Thang điểm Chavanet
Thang điểm Tokuda
Bảng 7: So sánh hiệu lực của các thang điểm chẩn đoán VMNVK
Thang điểm Ngưỡng cắt AUC (KTC 95%) Độ nhạy Độ đặc hiệu
Các thang điểm đều có AUC >0,8 Nigrovic là thang điểm có độ nhạy cao nhất Độ nhạy của các thang điểm giảm dần theo thứ tự Boyer, Tokuda, Chavanet, Oostenbrink
Hình 2: Đường cong ROC
Trang 6BÀN LUẬN
Thang điểm Boyer
Độ nhạy của thang điểm Boyer theo nghiên
cứu của chúng tôi là 93,1% Đa số các nghiên cứu
trong và ngoài nước đều cho kết quả tương tự
với tỉ lệ ≥90% (1,5,7,8)
Nghiên cứu của chúng tôi có độ đặc hiệu
cũng khá cao 94,2% Kết quả này tương tự với
kết quả của các nghiên cứu thực hiện ngoài
nước(5,7,8) Tuy nhiên, kết quả này của chúng tôi
cao hơn nhiều so với nghiên cứu của Nguyễn
Tiến Huy(1) Có thể là do tiêu chí chọn mẫu khác
nhau VMNVK chẩn đoán khi có tăng bạch cầu trong DNT và ít nhất một trong các kết quả xét nghiệm sau: (1) cấy DNT dương tính với vi khuẩn gây bệnh, (2) phản ứng ngưng kết kháng nguyên DNT dương tính, hoặc (3) cấy máu dương tính với vi khuẩn gây bệnh Các trường hợp bệnh nhi có kết quả cấy máu dương tính và tăng bạch cầu trong DNT có thể là tình trạng tăng bạch cầu phản ứng trong tình trạng nhiễm trùng huyết Điều này dẫn đến độ đặc hiệu thấp (65,3%) trong nghiên cứu của Nguyễn Tiến Huy(1)
Bảng 8: Độ nhạy, độ đặc hiểu của thang điểm Boyer giữa các nghiên cứu
Chúng tôi Martínez AP (7) N.T.Huy (1) Van-de-Beek D (8) Chavanet P (5)
Thang điểm Oostenbrink
Hầu hết các nghiên cứu đánh giá hiệu lực
của thang điểm Oostenbrink đều dùng ngưỡng
cần CDTL là ≥8,5 điểm Tuy nhiên ngưỡng ≥5
điểm có chỉ số Youden tương ứng là 0,396 trong
nghiên cứu của chúng tôi
Thang điểm Oostenbrink áp dụng trên dân
số nghiên cứu của chúng tôi có độ nhạy là 63%
Kết quả này thấp hơn so với các nghiên cứu
được thực hiện trước đó là Nguyễn Tiến Huy(1)
75,8%, Van-de-Beek D(8) 79% Ngược lại độ đặc
hiệu trong nghiên cứu của chúng tôi là 73,1%, cao hơn nghiên cứu của 2 tác giả trên là 50% Thang điểm Oostenbrink lại khó áp dụng trên thực thế lâm sàng do điểm nguy cơ khác nhau giữa các tiêu chí và gồm 7 tiêu chí
Thang điểm Nigrovic
Hiệu lực của thang điểm này tương đối cao trong nghiên cứu của chúng tôi Ngưỡng cắt ≥2
là điểm có độ nhạy và độ đặc hiệu cao nhất của thang điểm Nigrovic, tương tự với các nghiên cứu khác
Bảng 9: Độ nhạy, độ đặc hiểu của thang điểm Nigrovic giữa các nghiên cứu
Chúng tôi Dubos F (9) Nigrovic LE
2007 (10) N.T Huy
(1) Nigrovic LE
2012 (11)
Filho
EM (12)
N.T
Thùy (13)
Van-de-Beek D (8)
Độ nhạy của thang điểm Nigrovic theo
nghiên cứu của chúng tôi là 98,6% Đa số các
nghiên cứu trong và ngoài nước đều cho kết quả
tương tự với tỉ lệ ≥96% (1,8,9,10,11,12,13) Hầu hết các
nghiên cứu trên đều có cỡ mẫu lớn, một số
nghiên cứu là nghiên cứu phân tích tổng hợp
Thang điểm này có độ đặc hiệu là 51,9% Kết
quả này tương tự với các nghiên cứu khác có độ
đặc hiệu dao động từ 50%-60%(1,8,9,10,11,12) Riêng
nghiên cứu của Nguyễn Thị Thùy(13) có độ đặc
hiệu là 8,7%, thấp hơn đáng kể so với các nghiên
cứu khác, vì khác nhau về cách chọn mẫu Chẩn
đoán xác định VMNVK khi trẻ sốt và có dấu hiệu màng não kèm theo ít nhất một tiêu chuẩn sau: cấy DNT có vi khuẩn gây bệnh, hoặc PCR DNT định danh được vi khuẩn Trong 203 bệnh nhi, có 32% là VMNVK, còn lại là viêm não, lao màng não, viêm màng não không rõ căn nguyên
có tỉ lệ lần lượt là 46,3%, 6,9% và 14,8% Trong khi đó, nghiên cứu ban đầu của Nigrovic và các nghiên cứu lớn sau này áp dụng thang điểm Nigrovic để phân biệt VMNVK và viêm màng não vô khuẩn Viêm màng não vô khuẩn là tình trạng viêm màng não do nhiều nguyên nhân
Trang 7khác nhau không phải vi khuẩn Thuật ngữ
VMNSV không thay thế được cho viêm màng
não vô khuẩn Nhưng VMNSV chiếm tỉ lệ lớn
trong nhóm viêm màng não vô khuẩn, là dạng
bệnh lý lành tính, tự hồi phục cao Tỉ lệ co giật và
tăng protein DNT ở VMNSV thấp hơn nhiều so
với viêm não và lao màng não Chính vì điều
này làm tăng tỉ lệ dương tính giả, làm độ đặc
hiệu của thang điểm Nigrovic thấp đi nhiều
trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Thùy(13)
Thang điểm Chavanet (thang điểm
Meningitest)
Độ đặc hiệu là 98,1% cao hơn so với độ nhạy
(89%), nghĩa là thang điểm này có ý nghĩa chẩn
đoán bệnh hơn là bỏ sót bệnh VMNVK Tương
tự với nghiên cứu ban đầu của Chavanet P(5),
điểm cắt bằng 2 là ngưỡng có độ nhạy và độ đặc
hiệu cao nhất
Bảng 10: Độ nhạy, độ đặc hiểu của thang điểm
Chavanet giữa các nghiên cứu
Chúng
tôi N.T.Huy
(1) Van-de-Beek D (8)
Chavanet
P (5)
Độ đặc
96%
Độ nhạy và độ đặc hiệu trong nghiên cứu
của Van de Beek D(8) thấp hơn hẳn so với các
nghiên cứu còn lại Tuy nhiên chúng tôi không
tìm thấy dữ liệu cụ thể của 29/311 bài báo trong
nghiên cứu của Van de Beek D về lâm sàng và
cận lâm sàng của dân số nghiên cứu nên không
thể phân tích lý do có sự khác biệt như vậy
Độ nhạy của thang điểm này trong nghiên
cứu ban đầu của Chavanet P(5) là 100% Trong
dân số này, có đến 84% trẻ ở nhóm VMNVK có
bạch cầu DNT ≥1800 TB/mm3 Trong khi tại
nghiên cứu của chúng tôi bạch cầu DNT có
trung vị là 1360(449,5-3535) TB/mm3 ở nhóm
VMNVK, chỉ 42,5% thỏa tiêu chí về số lượng
bạch cầu DNT của thang điểm Meningitest
Chính vì điều này là cho độ nhạy trong nghiên
cứu của chúng tôi thấp hơn so với nghiên cứu
của Chavanet P(5)
Độ nhạy của nghiên cứu chúng tôi cao hơn
so với nghiên cứu của Nguyễn Tiến Huy(1) Có
sự khác nhau đó có thể là tiêu chí chọn mẫu của nghiên cứu Nguyễn Tiến Huy là các trường hợp
có cấy máu hoặc DNT dương tính với tác nhân gây bệnh Bệnh nhi có cấy máu dương tính mà cấy DNT âm tính thì bạch cầu, protein và glucose DNT có thể chưa thay đổi để đạt ngưỡng theo các tiêu chí của thang điểm Meningitest Từ đó làm tăng âm tính giả, giảm
độ nhạy của thang điểm
Thang điểm Tokuda
Thang điểm Tokuda đầu tiên được nghiên cứu trên dân số người lớn nên giá trị của thang điểm này trên dân số trẻ em chưa được nghiên cứu nhiều Hiệu lực của thang điểm này trong nghiên cứu của chúng tôi tương đối cao
Thang điểm Tokuda có độ nhạy, độ đặc hiệu trong nghiên cứu chúng tôi lần lượt là 91,8% và 94,9% Nghiên cứu khác được thực hiện trong nước cũng có kết quả tương tự là nghiên cứu của Nguyễn Tiến Huy có độ nhạy, độ đặc hiệu lần lượt là 87,5% và 88%(1) Giá trị của thang điểm này thấp hơn về cả độ nhạy (88%) lẫn độ đặc hiệu (88%) trong nghiên cứu Van de Beek D(8)
So sánh giá trị giữa các thang điểm chẩn đoán viêm màng não vi khuẩn
Tất cả 5 thang điểm trong nghiên cứu của chúng tôi đều có AUC >0,6 Trong đó thang điểm Oostenbrink có AUC thấp nhất là 0,8, tương ứng với độ nhạy và độ đặc hiệu thấp, lần lượt là 63% và 73,1% Thêm nữa thang điểm Oostenbrink lại khó áp dụng trên thực thế lâm sàng do điểm nguy cơ khác nhau giữa các tiêu chí 5 thang điểm còn lại đều có hiệu lực rất tốt, AUC đều >0,9 AUC của đường cong ROC là 0,98 cho thang điểm Boyer, 0,97 cho thang điểm Nigrovic, 0,94 cho thang điểm Chavanet và 0,93 cho thang điểm Tokuda
Thang điểm Tokuda được nghiên cứu trên dân số người lớn Khi áp dụng thang điểm trên dân số trẻ em thì cũng được đánh giá cao Tuy nhiên khi ứng dụng với cỡ mẫu dân số lớn hơn thì độ nhạy và độ đặc hiệu của thang
Trang 8điểm có xu hướng giảm thấp Chúng tôi kiến
nghị cần có nghiên cứu khác để đánh giá thêm
về giá trị của thang điểm Tokuda trong viêm
màng não ở trẻ em
KẾT LUẬN
Thang điểm Oostenbrink có AUC thấp nhất
là 0,8, tương ứng với độ nhạy và độ đặc hiệu
thấp, lần lượt là 63% và 73,1% Các thang điểm
còn lại đều có AUC >0,9 AUC là 0,98 cho thang
điểm Boyer, 0,97 cho thang điểm Nigrovic, 0,94
cho thang điểm Chavanet và 0,93 cho thang
điểm Tokuda Thang điểm Nigrovic có độ nhạy
cao nhất 98,2%, tiếp theo đến Boyer > Tokuda >
Chavanet Tóm lại, nghiên cứu của chúng tôi cho
thấy không có thang điểm nào loại trừ chẩn
đoán VMNVK với độ nhạy 100%
KIẾN NGHỊ
Thang điểm Nigrovic có AUC >0,9 và độ
nhạy tốt nhất là 98,6% Đây là thang điểm có
hiệu lực được đánh giá cáo trong nhiều nghiên
cứu với cỡ mẫu lớn trên thế giới và là thang
điểm tiềm năng có khả năng ứng dụng lâm sàng
dễ dàng Không có thang điểm vào dự đoán
VMNVK có độ nhạy 100% trong nghiên cứu của
chúng tôi Do đó, các thang điểm này chỉ được
coi là hỗ trợ cho việc quản lý lâm sàng và không
được sử dụng như các quy tắc chính xác để ra
quyết định điều trị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyen Tien Huy, Nguyen Thanh Hong Thao, Doan Thi Ngoc
Diep, et al (2012) Performance of thirteen clinical rules to
distinguish bacterial and presumed viral meningitis in
Vietnamese children PLoS ONE, 7(11):50341
2 Thome J, Boyer P, Bovier-Lapierre M, et al (1980) Bacterial or viral meningitis? Study of a numerical score permitting an early
etiologic orientation in meningitis difficult to diagnose Pediatrie,
35(3):225-236
3 Oostenbrink R, Moons KG, Donders AR, et al (2001) Prediction
of bacterial meningitis in children with meningeal signs:
reduction of lumbar punctures Acta Paediatrica, 90:611-617
4 Nigrovic LE, Kuppermann N, Malley R (2002) Development and validation of a multivariable predictive model to distinguish bacterial from aseptic meningitis in children in the
post–Haemophilus influenzae era Pediatrics, pp.712-719
5 Chavanet P, Schaller C, Levy C, et al (2007) Performance of a
predictive rule to distinguish bacterial and viral meningitis
Journal of Infection, 54(4):328-336
6 Tokuda Y, Koizumi M, Stein GH, et al (2009) Identifying low-risk patients for bacterial meningitis in adult patients with acute
meningitis Intern Med, 48(7):537-43
7 Martínez AP, Cabañero JCM, Calcaño VQ (2001) Utility of Boyer's score modified for the differential diagnosis of bacterial
and viral meningitis Anales Españoles de Pediatría, 55(1):15-19
8 Van-de-Beek D, Cabellos C, Brouwer MC (2016) ESCMID
guideline: diagnosis and treatment of acute bacterial meningitis
Clinical Microbiology and Infection, 22(3):37-62
9 Dubos F, Lamotte B, Bibi-Triki F, et al (2006) Clinical decision
rules to distinguish between bacterial and aseptic meningitis
Archives of Disease in Childhood, 91(8):647-650
10 Nigrovic LE, Kuppermann N, Macias CG, et al (2007) Clinical prediction rule for identifying children with cerebrospinal fluid
pleocytosis at very low risk of bacterial meningitis JAMA
Pediatric, 297(1):52-60
11 Nigrovic LE, Malley R, Kuppermann N (2012) Meta-analysis of
bacterial meningitis score validation studies Archives of Disease
in Childhood, 97(9):799-805
12 Filho EM, Horita SM, Gilio AE, et al (2013) The bacterial meningitis score to distinguish bacterial from aseptic meningitis
in children from Sao Paulo, Brazil Pediatric Infectious Disease
Journal, 32(9):1026-1029
13 Nguyễn Thị Thùy, Phạm Nhật An, Trương Thị Mai Hồng (2016) Nghiên cứu giá trị của thang điểm chẩn đoán viêm
màng não nhiễm khuẩn trẻ em tại bệnh viện nhi Trung Ương
Nhi Khoa, 9(6):62-6
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 10/02/2022