1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quan hệ kinh tế việt nam – nhật bản trong bối cảnh thực thi hiệp định AJCEP, VJEPA và CPTPP

45 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 846,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KINH TẾ KINH DOANH QUỐC TẾ —— BÀI THẢO LUẬN MÔN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Đề tài Quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản trong bối cảnh thực thi Hiệp định AJCEP, VJEPA và CPTPP Giảng viên hướng dẫn Vũ Anh Tuấn Nhóm thực hiện 4 Lớp học phần 2224ITOM2011 Hà Nội, 2022 1 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 PHẦN NỘI DUNG 3 I Giới thiệu về Nhật Bản 3 1 Địa lý 3 2 Xã hội Văn hoá 3 3 Kinh tế 4 4 Chính trị 5 II Quan hệ Việt Nam Nhật Bản 6 1 Quan hệ chính trị 6 2 Quan hệ kinh tế 7 3 Kim ngạc.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KINH TẾ & KINH DOANH QUỐC TẾ

——

BÀI THẢO LUẬN MÔN: HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Đề tài: Quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản trong bối cảnh thực thi

Hiệp định AJCEP, VJEPA và CPTPP

Giảng viên hướng dẫn : Vũ Anh Tuấn Nhóm thực hiện : 4

Lớp học phần : 2224ITOM2011

Hà Nội, 2022

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 3

I Giới thiệu về Nhật Bản 3

1 Địa lý 3

2 Xã hội - Văn hoá 3

3 Kinh tế 4

4 Chính trị 5

II Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản 6

1 Quan hệ chính trị 6

2 Quan hệ kinh tế 7

3 Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Nhật Bản 9

4 Cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu 13

4.1 Cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu năm 2019 13

4.2 Cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu năm 2020 17

4.3 Cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu năm 2021 18

III Giới thiệu các nét cơ bản về HIệp định AJCEP, VJEPA và CPTPP 20

1 Hiệp định AJCEP 20

1.1 Bối cảnh hình thành AJCEP (ASEAN - Japan Comprehensive Economic Partnership) 20

1.2 Danh mục cam kết của Việt Nam trong AJCEP 21

1.3 Điều kiện hưởng lợi của Hiệp định AJCEP 22

2 Hiệp định VJEPA 24

2.1 Bối cảnh hình thành VJEPA 24

2.2 Danh mục cam kết của Việt Nam trong Hiệp định VJEPA 26

2.3 Điều kiện hưởng lợi của Hiệp định VJEPA 27

3 Hiệp định CPTPP 29

3.1 Bối cảnh hình thành CPTPP 29

3.2 Danh mục cam kết của Việt Nam trong CPTPP 30

3.3 Điều kiện hưởng lợi của hiệp định CPTPP 32

IV Cơ hội và thách thức đối với kinh tế Việt Nam dưới tác động của Hiệp định AJCEP, VJEPA và CPTPP 35

1 Cơ hội 35

2 Thách Thức 37

V Giải pháp 40

PHẦN KẾT LUẬN 43

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

Trong giai đoạn hiện nay, dù trên thực tế, sự bất ổn và các điểm nóng trên thế giới và khu vực vẫn đang còn tồn tại nhưng hòa bình, hợp tác vẫn là nguyện vọng chính đáng và là mong muốn của nhân loại Đặc biệt, liên kết, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực đã trở nên nổi trội hơn bao giờ hết và mở cửa hội nhập trở thành yêu cầu khách quan để gắn kết các nền kinh tế với nhau và tăng cường các hoạt động kinh tế ở các cấp từ song phương, đa phương, tiểu khu vực, khu vực và toàn cầu Đến nay, châu Á là khu vực đang nổi lên với tốc độ hội nhập và mức độ sẵn sàng liên kết hợp tác một cách nhanh chóng

Việt Nam và Nhật Bản, hai nước “đồng văn, đồng chủng, đồng châu” với rất nhiều nét tương đồng về văn hóa, xã hội đã có mối quan hệ bang giao từ những năm cuối thế kỷ XVI Thật vậy, qua nhiều thăng trầm của lịch sử và những duyên nợ với nhau, sự tương đồng và lịch sử quan hệ lâu đời trong lĩnh vực văn hóa, chan hòa tình cảm hữu nghị, tin cậy, hiểu biết của hai dân tộc, của nhân dân hai nước chính là nền tảng để mối quan hệ Việt – Nhật phát triển vượt bậc trong những năm qua và đang ở giai đoạn tốt đẹp nhất từ trước tới nay

Về kinh tế - thương mại, Nhật Bản luôn giữ vững vị trí là đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam về kinh tế, luôn sát cánh cùng Việt Nam trong công cuộc đổi mới, trở thành nhà tài trợ phát triển chính thức (ODA) lớn nhất, nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn thứ hai và đối tác thương mại lớn thứ

tư của Việt Nam Việt Nam và Nhật Bản thường xuyên có các cuộc trao đổi trên tinh thần chân thành, hữu nghị, tin cậy và thẳng thắn, thực chất, hiệu quả trên các lĩnh vực trọng yếu, nhất là hợp tác kinh tế, y tế, vaccine phòng COVID-19 và thuốc điều trị; thúc đẩy hợp tác an ninh, quốc phòng

Hai bên còn phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA) là hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương đầu tiên của Việt Nam, ký kết ngày 25/12/2008 và có hiệu lực từ ngày 01/10/2009 Việt Nam và Nhật Bản dành nhiều ưu đãi cho nhau hơn so với Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản (AJCEP) VJEPA không thay thế AJCEP mà cả hai FTA cùng có hiệu lực, các doanh nghiệp hai bên có thể tùy chọn sử dụng FTA nào có lợi hơn Bên cạnh đó, Việt Nam và Nhật Bản nỗ lực phối hợp cùng nhau thúc đẩy các thành viên còn lại sớm hoàn tất phê chuẩn và thực thi Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) - FTA thế

hệ mới đầu tiên được thực thi của thế kỷ 21 với nhiều kỳ vọng ngay chính từ cái tên của Hiệp định

Trang 4

Dựa vào mối quan hệ hợp tác về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội giữa

hai quốc gia, Nhóm 4 đã lựa chọn đề tài “Quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản

trong bối cảnh thực thi Hiệp định AJCEP, VJEPA và CPTPP”, tổng hợp những

tìm hiểu của chúng em về mối quan hệ hợp tác song phương của Việt Nam - Nhật Bản trên các phương diện khác nhau, từ đó đánh giá cơ hội, thách thức cũng như đưa ra một số giải pháp cho Việt Nam trước bối cảnh hợp tác, hội

nhập kinh tế với Nhật Bản

Trang 5

PHẦN NỘI DUNG

I Giới thiệu về Nhật Bản

1 Địa lý

379.954 km² đứng thứ 60 trên thế giới, chiếm chưa đầy 0,3% diện tích đất toàn thế giới và nằm bên sườn phía Đông của Lục Địa Châu Á Đất nước này nằm bên rìa phía Đông của Hàn Quốc, Nga, Trung Quốc và trải từ biển Okhotsk ở phía Bắc xuống biển Hoa Đông và đảo Đài Loan ở phía Nam

Bình Dương là một đảo quốc, nên xung quanh đất nước bốn bề là biển Lãnh thổ Nhật Bản có 3.900 đảo nhỏ trong đó 4 đảo chính là Honshu, Hokkaido, Kyushu và Shikoku chủ yếu là rừng núi chiếm khoảng 97% tổng diện tích

nhất là núi Phú Sĩ có chiều cao 3776m – đây là một trong những địa điểm du lịch nổi tiếng nhất của đất nước mặt trời mọc Nơi thấp nhất của Nhật Bản là Hachinohe mine (sâu 160m do nhân tạo) và hồ Hachirogata (sâu 4m)

khí hậu đa dạng, và thuận lợi để phát triển ngành du lịch

2 Xã hội - Văn hoá

• Xã hội có dân số già hóa nhưng tỉ lệ sinh lại thấp đã, đang và vẫn sẽ là vấn đề nan giải của tình hình xã hội Nhật Bản hiện nay Với quan điểm của thế giới, khi tỉ lệ người già hơn 65 tuổi vượt chiếm hơn 7% dân số thì gọi là quốc gia già hóa dân số Thế nhưng, con số này ở Nhật năm 1970 đã là 7,1%, năm

2010 là 26% và theo Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi dự đoán: Vào năm 2053, tổng dân số Nhật Bản sẽ giảm hơn 100 triệu người và ngày càng nghiêm trọng hơn Những kết quả nghiên cứu và dự báo gần đây cảnh báo, đến năm 2065 số người trên lãnh thổ Nhật Bản sẽ chỉ còn lại 88 triệu

• Xu hướng xã hội mới - người phụ nữ có thể cân bằng giữa công việc gia đình và xã hội

• Xu thế toàn cầu hóa, xu hướng quốc tế hóa nền văn hóa Nhật Bản: Toàn cầu hóa sẽ tiếp tục là xu thế trong những năm tới, và sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình xã hội Nhật Bản hiện nay, đặc biệt là văn hóa Nhật Bản Mặc dù người Nhật luôn có ý thức giữ gìn nền văn hóa truyền thống, giữ gìn sự “thuần chủng” của dân tộc Thế nhưng, xu thế quốc tế hóa vẫn là xu thế tất yếu đối với

sự phát triển của nước Nhật Hiện nay, nước Nhật đang có xu hướng xuất khẩu

Trang 6

văn hóa trên thế giới Nhờ có những chính sách hỗ trợ việc giới thiệu văn hóa Nhật ra nước ngoài, đã tạo nên cơn sốt Nhật Bản ở châu Á, châu Mĩ và châu

Âu trong suốt thời gian qua với sự xuất hiện của các món ăn Nhật, những cuốn sách Nhật hấp dẫn người mến mộ

• Văn hóa Nhật Bản đã trải qua hàng nghìn năm hình thành và phát triển,

và có những đặc trưng rất riêng mang đậm bản sắc dân tộc Là sự kết hợp hài hòa giữa hiện đại và truyền thống tạo nên sự khác biệt Đặc biệt, Nhật Bản là một quốc gia liên tục chịu ảnh hưởng của thiên tai với những trận động đất, sóng thần kinh hoàng trong lịch sử, nhưng nước Nhật đã khiến cả thế giới phải nghiêng mình ngưỡng mộ bởi sự kiên cường, đoàn kết, trật tự của mình Tất cả những điều tuyệt vời này xuất phát từ một yếu tố nội lực mạnh mẽ, đó chính là văn hoá tuyệt vời của dân tộc Nhật Bản Mặc dù là một đất nước từng đi xâm chiếm các thuộc địa khác trong chiến tranh thế giới bắt đầu từ năm 1939 và chấm dứt vào năm 1945 Đất nước Nhật Bản trước những năm 1945 cũng không bị ảnh hưởng bởi chiến tranh thế giới thứ nhất Chính vì thế mà văn hóa Nhật Bản mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, ít bị pha trộn với các nước khác Tuy nhiên, đến nay họ vẫn giữ được nét truyền thống của dân tộc, đúng như ông cha ta thường nói ''hòa nhập chứ không hòa tan''

• Một số nét văn hoá đặc trưng: Văn hoá trà đạo, trang phục truyền thống Kimono, tinh thần võ sĩ, lễ nghi và phong tục,

Trang 7

• Tính chung cả năm 2021, Nhật Bản đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế 1,7% bất chấp việc có tới 2 quý tăng trưởng âm (âm 2,1% trong quý I/2021 và 2,7% trong quý III/2021) Đây là lần đầu tiên nền kinh tế lớn thứ ba thế giới tăng trưởng dương trong vòng 3 năm qua sau khi tăng trưởng âm 4,5% trong năm

2020 Theo đó, kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản đạt 83.931,1 tỷ yên, tăng 21,5% so với năm 2020, kim ngạch nhập khẩu đạt 84.565,2 tỷ yên, tăng 24,3% Tính theo vùng lãnh thổ, kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản đạt mức cao kỷ lục đối với thị trường châu Á, như thị trường Trung Quốc Doanh số bán các linh kiện điện tử như chất bán dẫn và ô tô ghi nhận đà tăng tích cực tại thị trường Trung Quốc (tăng 10,8%), Mỹ (tăng 22,1%) và châu Âu (tăng 9,7%)

4 Chính trị

Nền chính trị của Nhật được tổ chức dựa trên Hiến pháp Đây là chế độ

“Quân chủ lập hiến” Hiến pháp Nhật Bản có 3 nguyên tắc sau đây: (1) Nhân dân làm chủ; (2) Tôn trọng nhân quyền cơ bản; (3) Chủ nghĩa hoà bình

Trang 8

• Hoàng gia Nhật do Nhật hoàng đứng đầu Theo Hiến pháp Nhật thì

“Hoàng đế Nhật là biểu tượng của quốc gia và cho sự thống nhất của dân tộc” Nhật hoàng sẽ tham gia vào các nghi lễ của quốc gia nhưng không giữ bất kỳ quyền lực chính trị nào, thậm chí trong các tình huống khẩn cấp của quốc gia Quyền lực này sẽ do Thủ tướng và các thành viên nghị viện đảm nhận

• Cơ quan lập pháp: Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất và là cơ quan lập pháp duy nhất của Nhật Bản Quốc hội có quyền bổ nhiệm Thủ tướng Trong Quốc hội gồm có Hạ viện và Thượng viện

Văn phòng Nội các và 11 Bộ Nội các bao gồm Thủ tướng và 17 thành viên là

Bộ trưởng hoặc có chức danh ngang Bộ trưởng (bao gồm Chánh Văn phòng Nội các) Thủ tướng là người đứng đầu Nội các Giúp việc cho Thủ tướng là các Bộ trưởng Vị trí Thủ tướng sẽ được Nghị quyết của Quốc hội chọn ra và được Thiên Hoàng chỉ định Thủ tướng phải là thường dân (không phải là người trong gia đình Hoàng tộc)

• Cơ quan tư pháp: Bao gồm Tòa án Tối cao (và các toà án cấp dưới như các Toà án Dân sự Tối cao, các Tòa án Khu vực, Tòa án Gia đình và Toà án sơ thẩm) nắm toàn bộ quyền tư pháp Không có toà án đặc biệt nào có thể được thành lập, và không có cơ quan nào của nhánh Hành pháp có thể có quyền Tư pháp cuối cùng

Vào tháng 10 năm 2021, Nhật Bản đã có thủ tướng mới là ông Fumio Kishida được kỳ vọng là sẽ mang lại một nền chính trị ổn định hơn, hiệu lực hơn so với 1 năm qua, hàn gắn những rạn nứt trong nội bộ Đảng cầm quyền LDP (Đảng dân chủ tự do) và bầu cử quốc hội và củng cố năng lực của đất nước để ứng phó với đại dịch Covid-19

II Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản

1 Quan hệ chính trị

Việt Nam - Nhật Bản thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 21/9/1973 Sự tương đồng về văn hóa, về lịch sử, về truyền thống là những yếu tố quan trọng cấu thành chất keo gắn kết hai đất nước, hai dân tộc

Sau gần nửa thế kỷ, mối quan hệ hữu nghị Việt Nam - Nhật Bản không ngừng được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước vun đắp, trở thành tài sản chung quý báu của cả hai quốc gia Nếu như năm 2002, Việt Nam - Nhật Bản thiết lập quan hệ “Đối tác tin cậy, ổn định lâu dài”, thì chỉ 2 năm sau đó, quan

hệ hai nước được nâng cấp lên “Đối tác bền vững” Đến năm 2009, Việt Nam -

Trang 9

châu Á” Nhật Bản cũng là nước G-7 đầu tiên thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược với Việt Nam và công nhận quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam Đến năm 2014, Việt Nam - Nhật Bản ra “Tuyên bố chung về việc thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa bình và phồn vinh ở Châu Á”

Quan hệ tin cậy chính trị giữa hai nước không ngừng được củng cố Thành công và những thỏa thuận đạt được trong các cuộc điện đàm cấp cao giữa lãnh đạo hai nước đã tạo nền tảng chính trị vững chắc, thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực khác Một trong những đặc trưng của quan hệ chính trị giữa Việt Nam với các đối tác quan trọng là sự trao đổi đoàn thường xuyên ở các cấp Những năm qua, giao lưu chính trị cấp cao hai nước vẫn được duy trì một cách phù hợp nhằm thiết lập và tăng cường quan hệ mật thiết giữa lãnh đạo mới của hai nước Chỉ hơn một năm sau chuyến thăm chính thức Nhật Bản của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, vào tháng 10/2020, Thủ tướng Yoshihide Suga đã chọn Việt Nam làm điểm đến trong chuyến công du nước ngoài đầu tiên sau khi nhậm chức Và chuyến thăm chính thức Nhật Bản lần này của Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng nhằm duy trì một nét rất riêng, nổi bật của hai nước đó

là quan hệ mật thiết của các nhà lãnh đạo Nhật Bản với lãnh đạo Việt Nam xuyên suốt qua các thời kỳ Điều đặc biệt là mặc dù Thủ tướng Kishida Fumio rất bận rộn trong những ngày đầu tiên nhậm chức, nhưng ông đã quyết định đón Thủ tướng Phạm Minh Chính, là chính khách nước ngoài đầu tiên thăm Nhật Bản trong nhiệm kỳ của mình Thủ tướng Phạm Minh Chính đã điện đàm với Thủ tướng Nhật Bản Suga Yoshihide, hai Thủ tướng nhất trí tăng cường đối thoại chiến lược giữa các bộ, ngành, địa phương, phối hợp chặt chẽ để xử lý các vấn đề nảy sinh trong quan hệ hai nước; tổ chức các hoạt động kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản vào năm 2023 xứng tầm với quan hệ Ðối tác chiến lược sâu rộng, đồng thời tiếp tục hợp tác chặt chẽ tại các diễn đàn đa phương, nhất là tại Liên hợp quốc, ASEAN

2 Quan hệ kinh tế

Về hợp tác kinh tế, Nhật Bản luôn là đối tác kinh tế hàng đầu của Việt Nam; là nước tài trợ ODA lớn nhất, là nhà đầu tư số 2 trong số 141 quốc gia/vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam và đối tác thương mại lớn thứ 4 của Việt Nam Quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước tiếp tục phát triển tốt đẹp thời gian gần đây, giao lưu giữa các địa phương hai nước được mở rộng Giao lưu nhân dân diễn ra sôi nổi dưới nhiều hình thức

Nhiều doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả tại Việt Nam Nhiều công trình sử dụng vốn ODA và các dự án đầu tư của Nhật Bản đã và đang góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội ở Việt

Trang 10

Nam Về an ninh - quốc phòng, Việt Nam đánh giá cao sự hỗ trợ của Nhật Bản trong khắc phục hậu quả chiến tranh thông qua viện trợ giúp rà phá bom mìn,

hỗ trợ nạn nhân chất độc da cam, hợp tác huấn luyện cứu hộ cứu nạn, tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc Hai nước có trao đổi, hợp tác trên các lĩnh vực về lao động, nông nghiệp, khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, ứng phó với biến đổi khí hậu Nhật Bản và Việt Nam có nhiều nét tương đồng về những giá trị văn hóa Chính vì vậy, giao lưu nhân dân phát triển vượt bậc, là cầu nối hữu nghị làm sâu sắc hơn sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau và tình cảm chân thành giữa nhân dân hai nước, tạo nền tảng quan trọng cho sự phát triển quan hệ song phương bền vững

Về hợp tác lao động, từ năm 1992 đến nay, Việt Nam đã cử nhiều tu nghiệp sinh sang Nhật Bản Trong lĩnh vực hợp tác đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực, Nhật Bản đã trở thành nước tiếp nhận thực tập sinh Việt Nam lớn nhất (hiện có khoảng 202.000 thực tập sinh và khoảng 23.000 lao động đặc định ở Nhật Bản) và gần 65.000 du học sinh Việt Nam Người Việt Nam ở Nhật Bản đã trở thành cộng đồng người nước ngoài đông thứ hai với khoảng nửa triệu người Điều này thể hiện người Việt Nam là cộng đồng người nước ngoài được đón nhận, tin cậy và quý trọng trong xã hội và nền kinh tế của Nhật Bản; và ngược lại, người Việt Nam đã tìm thấy Nhật Bản như một địa chỉ phù hợp nhất để học tập kiến thức, tay nghề cũng như phát triển công việc và sự nghiệp của mình

Mối quan hệ của Nhật Bản và Việt Nam càng thể hiện sâu sắc những lúc khó khăn và thách thức Dịch bệnh COVID-19 đã tác động tiêu cực đến kinh tế

- xã hội toàn cầu Trong dịch bệnh COVID-19, hai nước đã luôn chia sẻ, hỗ trợ lẫn nhau Việt Nam đã nhận được sự giúp đỡ hiệu quả, kịp thời của Nhật Bản trong phòng chống dịch bệnh với các khoản viện trợ trên 4 triệu liều vắc-xin và nhiều trang thiết bị, vật tư y tế Về phía Việt Nam, rất quan tâm, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân và doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam duy trì, phát triển các hoạt động sản xuất, kinh doanh, bảo đảm chuỗi sản xuất và cung ứng Những nghĩa cử cao đẹp nêu trên là minh chứng sống động cho mối quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng Việt Nam - Nhật Bản và tình hữu nghị giữa hai dân tộc

Trên bình diện đa phương, hai nước đã phối hợp chặt chẽ trong các diễn đàn quốc tế và khu vực như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC, ASEM, Mê Công cũng như trong ứng phó với các thách thức chung như biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường qua đó đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực Hai bên cùng nhau và cùng các

Trang 11

hiệp định tự do thương mại thế hệ mới như Hiệp định đối tác toàn diện xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện và tiến bộ khu vực (RCEP)

3 Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Nhật Bản

- Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng Cục Hải quan, nhập khẩu hàng hóa từ Nhật Bản 9 tháng đầu năm 2019 đạt trên 14,18 tỷ USD, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm 2018

Trong đó, riêng tháng 9/2019 đạt 1,79 tỷ USD, tăng 0,9% so với tháng liền kề trước đó và cũng tăng 14,2% so với tháng 9/2018

Ở chiều ngược lại, hàng hóa xuất khẩu sang Nhật 9 tháng đầu năm đạt 14,98 tỷ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2018 Như vậy, Việt Nam xuất siêu sang thị trường này 799,39 triệu USD (9 tháng đầu năm 2018 Việt Nam nhập siêu từ thị trường này 142,01 triệu USD)

Có 3 nhóm hàng nhập khẩu từ Nhật Bản đạt trị giá trên tỷ USD, đó là: máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; sắt thép

- Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ thị trường Nhật Bản trong năm 2019 đạt 19,52 tỷ USD, tăng 2,71% so với năm ngoái

Có kim ngạch nhập khẩu ở mức trên 500 triệu USD và dưới 1 tỷ USD gồm 7 nhóm hàng: Sản phẩm từ chất dẻo; vải các loại; linh kiện, phụ tùng ô tô; phế liệu sắt thép; sản phẩm từ sắt thép; sản phẩm hóa chất; chất dẻo nguyên liệu

- Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan Việt Nam, nhóm hàng dệt, may chiếm thị phần cao nhất 20,92% đạt 3,62 tỷ USD trong tổng kim ngạch xuất khẩu 18,55 tỷ USD sang thị trường Nhật Bản trong 11 tháng đầu năm

Nhìn chung, nửa đầu năm 2019, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản đều tăng trưởng, số nhóm hàng này chiếm 69% và ngược lại chiếm 30,9% trong đó than đá giảm nhiều nhất 67,14% về lượng và 61,62% trị giá, tương ứng với 148,8 nghìn tấn, trị giá 22,34 triệu USD, mặc dù giá xuất bình quân tăng 16,82% đạt 150,14 USD/tấn

Trang 12

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong 11 tháng

đầu năm 2020, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam với Nhật Bản

đạt 35,9 tỷ USD, giảm 1,1% so với cùng kỳ năm 2019 Trong đó, xuất khẩu

hàng hóa từ Việt Nam sang Nhật Bản đạt 17,5 tỷ USD, giảm 5,7% so với cùng

kỳ năm 2019; nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản đạt 18,4 tỷ USD, tăng 3,6%

so với cùng kỳ năm 2019 Việt Nam nhập siêu từ Nhật Bản 936 triệu USD

Kim ngạch thương mại Việt Nam – Nhật Bản 11 tháng đầu năm 2020

Tình hình xuất khẩu sang Nhật Bản cụ thể theo nhóm hàng trong 11 tháng

đầu năm 2020 như sau:

- Nhóm hàng chế biến, chế tạo đạt kim ngạch xuất khẩu 13,5 tỷ USD,

giảm 6,8% so với cùng kỳ năm 2019; trong đó các mặt hàng có kim ngạch xuất

khẩu lớn là: hàng dệt may (đạt 3,2 tỷ USD, giảm 11,4%); phương tiện vận tải

và phụ tùng (2,1 tỷ USD, giảm 10,2%); máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng

khác (1,8 tỷ USD, tăng 3,7%); gỗ và sản phẩm gỗ (1,16 tỷ USD, giảm 1,6%);

máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (889,4 triệu USD, giảm 5,2%); giày

dép các loại (768,2 triệu USD, giảm 12,7%); điện thoại các loại và linh kiện

(854,3 triệu USD, tăng 13,4%); sản phẩm từ chất dẻo (620 triệu USD, giảm

7,5%); túi xách, ví, vali, mũ và ô dù (307 triệu USD, giảm 17,3%)…

- Nhóm hàng nông, thủy sản đạt kim ngạch xuất khẩu 1,65 tỷ USD, giảm

0,4% so với cùng kỳ năm 2019, với các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là: hàng

thủy sản (1,3 tỷ USD, giảm 3,5%); cà phê (170,4 triệu USD, tăng 15,4%); hàng

rau quả (118,2 triệu USD, tăng 5,1%); hạt điều (38 triệu USD, tăng 62,5%);

cao su (14 triệu USD, giảm 12,3%); hạt tiêu (6,8 triệu USD, giảm 0,1%)…

- Nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản đạt kim ngạch xuất khẩu 154,9 triệu

USD, giảm 53,4% so với cùng kỳ năm 2019, với các mặt hàng xuất khẩu chủ

yếu là: dầu thô (92 triệu USD, giảm 63,5%); than đá (46,9 triệu USD, giảm

26,8%); quặng và khoáng sản khác (15,9 triệu USD, giảm 0,5%)

Trang 13

- Nhóm hàng vật liệu xây dựng đạt kim ngạch xuất khẩu 796,9 triệu USD, giảm 3,7% so với cùng kỳ năm 2019, với các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là: sản phẩm từ sắt thép (442,3 triệu USD, tăng 0,3%); dây diện và dây cáp điện (286,7 triệu USD, giảm 3,3%); sắt thép các loại (67,9 triệu USD, giảm 38%)

Tình hình nhập khẩu từ Nhật Bản cụ thể theo nhóm hàng trong 11 tháng

đầu năm 2020 như sau:

- Nhóm hàng chế biến, chế tạo đạt kim ngạch nhập khẩu 15,3 tỷ USD, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm 2019; trong đó các mặt hàng có kim ngạch lớn là: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (4,95 tỷ USD, tăng 21,7%); máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác (4 tỷ USD, giảm 6,1%); phế liệu sắt thép (859 triệu USD, tăng 36,4%); sản phẩm từ chất dẻo (717,5 triệu USD, giảm 7,1%); vải các loại (587,3 triệu USD, giảm 21,3%)…

- Nhóm hàng nông, thủy sản đạt kim ngạch nhập khẩu 274,3 triệu USD, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm 2019, với các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là: hàng thủy sản (146,6 triệu USD, tăng 20%); cao su (127,7 triệu USD, giảm 11,7%);

- Nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản đạt kim ngạch nhập khẩu 101,1 triệu USD, tăng 36,1% so với cùng kỳ năm 2019, với các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là: than đá (69,1 triệu USD, tăng 115%); sản phẩm khác từ dầu mỏ (25,6 triệu USD, giảm 8,8%); quặng và khoáng sản khác (6 triệu USD, tăng 18,6%);

- Nhóm hàng vật liệu xây dựng đạt kim ngạch nhập khẩu 1,85 tỷ USD, giảm 2% so với cùng kỳ năm 2019, với các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là: sắt thép các loại (1,3 tỷ USD, tăng 4,4%); sản phẩm từ sắt thép (437 triệu USD, giảm 16,4%); dây diện và dây cáp điện (118 triệu USD, giảm 5,3%)

Về tình hình đầu tư, tính đến ngày 20/11/2020 đã có 109 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư đạt 26,4 tỷ USD Nhật Bản xếp thứ 4 với tổng vốn đầu tư 2,1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 7,6%, (sau Singapore 8,1 tỷ USD, chiếm 30,6%; Hàn Quốc 3,7 tỷ USD, chiếm 14%; Trung Quốc 2,4 tỷ USD, chiếm 9,1%)

❖ Thống kê 2021

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam với Nhật Bản năm 2021 đạt 42,7 tỷ USD, tăng 7,8% so với năm 2020 Trong đó, xuất khẩu hàng hóa từ Việt Nam sang Nhật Bản đạt 20,1 tỷ USD, tăng 4,4% so với năm 2020; nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản đạt 22,6 tỷ USD, tăng 11,3% so với năm 2020 Việt Nam nhập siêu

từ Nhật Bản 2,5 tỷ USD

Trang 14

Tình hình xuất khẩu sang Nhật Bản cụ thể theo nhóm hàng trong năm

2021 như sau:

- Nhóm hàng chế biến, chế tạo đạt kim ngạch xuất khẩu 15,6 tỷ USD,

tăng 4,2% so với năm 2020; trong đó các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn

là: hàng dệt may (đạt 3,2 tỷ USD, giảm 8,3%); máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ

tùng khác (2,6 tỷ USD, tăng 25,3%); phương tiện vận tải và phụ tùng (2,5 tỷ

USD, tăng 4,1%); gỗ và sản phẩm gỗ (1,4 tỷ USD, tăng 11%); máy vi tính, sản

phẩm điện tử và linh kiện (996 triệu USD, tăng 2,5%); điện thoại các loại và

linh kiện (792 triệu USD, giảm 15,5%); giày dép các loại (807 triệu USD, giảm

4,9%); sản phẩm từ chất dẻo (697 triệu USD, tăng 3,6%); túi xách, ví, vali, mũ

và ô dù (259 triệu USD, giảm 24,3%)…

- Nhóm hàng nông, thủy sản đạt kim ngạch xuất khẩu 1,8 tỷ USD, giảm

0,5% so với năm 2020, với các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là: hàng thủy sản

(1,33 tỷ USD, giảm 7,4%); cà phê (226,5 triệu USD, tăng 25,5%); hàng rau quả

(153,2 triệu USD, tăng 20%); hạt điều (59 triệu USD, tăng 39%); cao su (22,5

triệu USD, tăng 40%); hạt tiêu (12 triệu USD, tăng 56%)…

- Nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản đạt kim ngạch xuất khẩu 253,7 triệu

USD, tăng 43% so với năm 2020, với các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là: dầu

thô (158 triệu USD, tăng 72%); than đá (80,7 triệu USD, tăng 23,3%); quặng

và khoáng sản khác (14,9 triệu USD, giảm 24,2%)

- Nhóm hàng vật liệu xây dựng đạt kim ngạch xuất khẩu 1,1 tỷ USD, tăng

27% so với năm 2020, với các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là: sản phẩm từ sắt

thép (542,7 triệu USD, tăng 12,3%); dây diện và dây cáp điện (378,5 triệu USD,

tăng 19,4%); sắt thép các loại (191 triệu USD, tăng 154%)

Tình hình nhập khẩu từ Nhật Bản cụ thể theo nhóm hàng trong năm 2021

ước đạt như sau:

Trang 15

- Nhóm hàng chế biến, chế tạo đạt kim ngạch nhập khẩu 18,9 tỷ USD,

tăng 12,5% so với năm 2020; trong đó các mặt hàng có kim ngạch lớn là: máy

vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (6,2 tỷ USD, tăng 15,7%); máy móc, thiết

bị, dụng cụ, phụ tùng khác (4,4 tỷ USD, tăng 0,6%); phế liệu sắt thép (1,1 tỷ USD, tăng 10,8%); sản phẩm từ chất dẻo (823,4 triệu USD, tăng 2,5%); vải các loại (635,4 triệu USD, giảm 1,3%)…

- Nhóm hàng nông, thủy sản đạt kim ngạch nhập khẩu 315 triệu USD,

tăng 1,3% so với năm 2020, với các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là: hàng thủy sản (158,4 triệu USD, giảm 3,8%); cao su (156,6 triệu USD, tăng 7,1%);

- Nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản đạt kim ngạch nhập khẩu 187,1 triệu

USD, tăng 52% so với năm 2020, với các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là: than

đá (149,3 triệu USD, tăng 69%); sản phẩm khác từ dầu mỏ (30 triệu USD, tăng 6,8%); quặng và khoáng sản khác (7,5 triệu USD, tăng 16,8%);

- Nhóm hàng vật liệu xây dựng đạt kim ngạch nhập khẩu 2,43 tỷ USD,

tăng 20,5% so với năm 2020, với các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là: sắt thép các loại (1,73 tỷ USD, tăng 23,8%); sản phẩm từ sắt thép (537 triệu USD, tăng 10,3%); dây diện và dây cáp điện (163,7 triệu USD, tăng 22,7%)

4 Cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu

4.1 Cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu năm 2019

Trang 16

Trong đó các nhóm hàng xuất khẩu có kim ngạch tăng lớn có thể kể đến

như:

+ Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 6,36 tỷ USD, tương ứng

tăng 21,5%;

+ Hàng dệt may tăng 2,37 tỷ USD, tương ứng tăng 7,8%;

+ Điện thoại các loại tăng 2,16 tỷ USD, tương ứng tăng 4,4%;

+ Giày dép các loại tăng 2,08 tỷ USD, tương ứng tăng 12,8%;

+ Máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác tăng 1,94 tỷ USD, tương ứng

tăng 11,9%;

+ Gỗ và sản phẩm gỗ tăng 1,74 tỷ USD, tương ứng tăng 19,5%;

+ Đá quý kim loại quý và sản phẩm tăng 1,45 tỷ USD, tương ứng tăng 3,3

lần…

- Các nhóm hàng xuất khẩu chục tỷ USD năm 2019 gồm:

+ Điện thoại các loại và linh kiện đạt mốc kỷ lục 51,38 tỷ USD, tăng 4,4%

Trang 17

+ Nhóm hàng nông sản (bao gồm hàng rau quả, hạt điều, hạt tiêu, chè, cà

phê, gạo, sắn và sản phẩm sắn, cao su) đạt 16,91 tỷ USD, giảm 4,9% so với

năm trước (tương ứng giảm 876triệu USD)

+ Giày dép các loại đạt 18,32 tỷ USD, tăng 12,8% so với năm 2018 + Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác đạt 18,3 tỷ USD, tăng 11,9 % so với năm trước

+ Gỗ và sản phẩm gỗ đạt 10,65 tỷ USD, tăng 19,5% so với năm trước

- Trong cả năm 2019 trị giá nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 253,07

tỷ USD Với kết quả này, trị giá nhập khẩu hàng hóa cao hơn năm 2018 tới 16,2 tỷ USD, tương ứng tăng 6,8%

Các mặt hàng nhập khẩu có kim ngạch tăng chủ yếu như:

+ Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 8,22 tỷ USD;

+ Máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng khác tăng 3,87 tỷ USD;

+ Ô tô nguyên chiếc các loại tăng 1,33 tỷ USD;

+ Than các loại tăng 1,24 tỷ USD; dầu thô tăng 849 triệu USD…

Trang 18

- Ngoài ra, Tổng cục Hải quan cũng ghi nhận một số nhóm hàng có kim ngạch giảm mạnh như:

+ Xăng dầu các loại giảm 1,68 tỷ USD;

+ Điện thoại các loại và linh kiện giảm 1,3 tỷ USD; kim lọai thường và sản phẩm giảm 1 tỷ USD; lúa mì giảm 455 triệu USD…

- Trong các nhóm hàng nhập khẩu lớn có 5 nhóm đạt kim ngạch từ 10 tỷ USD trở lên

Trang 19

+ Dẫn đầu tiếp tục là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện với kim

ngạch đạt 51,35 tỷ USD, tăng 19,1% so với năm 2018

+ Nhóm hàng lớn thứ hai là máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt

36,75 tỷ USD tăng 11,8% so với năm 2018

+ Nhóm mặt hàng nguyên phụ liệu dệt may, da, giày (bao gồm: Bông, xơ

sợi dệt, vải các loại, nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày) với kim ngạch 24,13 tỷ

USD, tăng nhẹ 0,9% so với năm trước và đứng vị trí thứ ba

+ Chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm từ chất dẻo đứng vị trí thứ tư với kim

ngạch đạt 15,53 tỷ USD, tăng 3,5% so với năm 2018

+ Nhóm hàng nhập khẩu “chục tỷ USD” thứ 5 là điện thoại các loại và

linh kiện với kim ngạch đạt 14,62 tỷ USD, giảm 8,2% so với năm 2018

4.2 Cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu năm 2020

Top 10 mặt hàng Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất sang Nhật Bản trong

năm 2020 có kim ngạch đạt 14,6 tỷ USD, chiếm 76% tổng giá trị xuất khẩu các

loại mặt hàng Trong đó, xuất khẩu nhiều nhất là hàng dệt, may, trên 3,5 tỷ

USD

Trang 20

Mặt hàng Việt Nam nhập khẩu từ Nhật Bản có tốc độ tăng trưởng kim

ngạch mạnh nhất là linh kiện, phụ tùng ô tô, tăng 1791% so với tháng trước đó

Ngoài ra, một số nhóm hàng nhập khẩu chính có kim ngạch tăng phải kể

đến như: máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác tăng 10%; sản phẩm từ

chất dẻo tăng 13%; sản phẩm hóa chất tăng 29%

Top 10 mặt hàng Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất từ Nhật Bản trong năm

2020 đạt 15,9 tỷ USD, chiếm 78% tổng trị giá nhập khẩu các mặt hàng Trong

đó, có ba nhóm hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD

4.3 Cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu năm 2021

Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu năm 2021, nhóm hàng công nghiệp chế

biến chiếm 89,2%, tăng 0,6 điểm phần trăm so với năm trước; nhóm hàng nông

sản, lâm sản chiếm 7,1%, giảm 0,2 điểm phần trăm; nhóm hàng thủy sản chiếm

2,6%, giảm 0,4 điểm phần trăm; nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản chiếm

1,1%, bằng năm trước

Trang 21

Phương tiện vận tải khác và phụ tùng là mặt hàng nhập khẩu có giá trị tăng mạnh mẽ nhất, cụ thể tăng 7092% so với tháng 4/2021

Ngoài ra còn có hai nhóm hàng khác như: thuốc trừ sâu và nguyên liệu tăng 165%; thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng 139%

Top 10 mặt hàng Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất từ Nhật Bản trong 5 tháng đạt 6,7 tỷ USD, chiếm 76% tổng nhập khẩu các mặt hàng Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là hai mặt hàng nhập khẩu chính của nước ta

Trang 22

III Giới thiệu các nét cơ bản về HIệp định AJCEP, VJEPA và CPTPP

Tháng 4/2008, ASEAN và Nhật Bản đã ký kết Hiệp định AJCEP bắt đầu

có hiệu lực từ ngày 1/12/2008

Đàm phán về việc sửa đổi AJCEP vào năm 2010 và đạt được thỏa thuận ở cấp bộ trưởng vào năm 2017 Nhật Bản đã ký Nghị định thư thứ nhất để sửa đổi AJCEP vào ngày 27/2/2019, trong khi các nước thành viên ASEAN đã ký văn bản này vào các tháng 3 và 4/2019

Ngày 1/8/2020, Nghị định thư thứ nhất sửa đổi Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện ASEAN – Nhật Bản (AJCEP) giữa Nhật Bản và năm nước thành viên Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã có hiệu lực

Ngày đăng: 17/04/2022, 11:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w