1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Báo cáo ca: Đột biến gen mới của thể thiếu men 17 hydroxylase 17,20 lyase một thể hiếm gặp của tăng sinh thượng thận bẩm sinh

8 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tăng sinh thượng thận bẩm sinh (TSTTBS) là một nhóm bệnh hiếm gặp, di truyền trên gen lặn nhiễm sắc thể thường, đặc trưng bởi sự thiếu hụt một số men cần thiết cho quá trình tổng hợp các hormone steroids của tuyến thượng thận. Tùy theo loại men bị ảnh hưởng và mức độ thiếu hụt men, bệnh nhân sẽ có những thay đổi khác nhau trong tổng hợp các hormone glucocorticoid, mineralocorticoid và steroid sinh dục; dẫn đến biểu hiện lâm sàng và điều trị hormone thay thế khác nhau.

Trang 1

BÁO CÁO CA: ĐỘT BIẾN GEN MỚI CỦA THỂ THIẾU MEN

17-HYDROXYLASE/17,20-LYASE MỘT THỂ HIẾM GẶP

CỦA TĂNG SINH THƯỢNG THẬN BẨM SINH

Đỗ Đăng Trí 1 , Tạ Thành Hưng 2

TÓM TẮT

Mục tiêu: Tăng sinh thượng thận bẩm sinh (TSTTBS) là một nhóm bệnh hiếm gặp, di truyền trên gen lặn

nhiễm sắc thể thường, đặc trưng bởi sự thiếu hụt một số men cần thiết cho quá trình tổng hợp các hormone steroids của tuyến thượng thận Tùy theo loại men bị ảnh hưởng và mức độ thiếu hụt men, bệnh nhân sẽ có những thay đổi khác nhau trong tổng hợp các hormone glucocorticoid, mineralocorticoid và steroid sinh dục; dẫn đến biểu hiện lâm sàng và điều trị hormone thay thế khác nhau Thể thiếu men 17α-hydroxylase/17,20-lyase (17-OHD), gây ra bởi các đột biến trên gen CYP17A1, là dạng hiếm gặp nhất (chỉ chiếm 1% các trường hợp) của TSTTBS Chúng tôi báo cáo một đột biến mới trên gen CYP17A1 và mối liên quan của đột biến này với cơ chế bệnh sinh của thể 17-OHD

Phương pháp nghiên cứu: Báo cáo ca

Kết quả: Một bệnh nhân nữ 10 tuổi, có cha mẹ là hôn nhân đồng huyết thống, nhập viện vào khoa Thận-Nội

tiết tại bệnh viện Nhi Đồng 1 với bệnh cảnh tăng huyết áp (160/100 mmHg) Lâm sàng không ghi nhận các dấu hiệu của phát triển dậy thì Xét nghiệm ban đầu ghi nhận hạ kali máu và kiềm chuyển hóa Chẩn đoán 17-OHD được đặt ra do bệnh nhân có nồng độ aldosterone/renin, cortisol máu buổi sáng thấp, corticotropin (ACTH) máu tăng và 17-OH progesterone máu trong giới hạn bình thường Bệnh nhân có kết quả nhiễm sắc thể đồ 46,XX Bệnh nhân được tầm soát đột biến gen bằng kỹ thuật giải trình tự thế hệ mới và được khẳng định bằng kỹ thuật giải trình tự Sanger Kết quả phát hiện đột biến đồng hợp tử mới c.1322G>A (p.Arg441His) trên gen CYP17A1 Phát hiện này phù hợp với bệnh cảnh lâm sàng và những thay đổi nội tiết của bệnh nhân Bệnh nhân được điều trị với hydrocortisone đường uống Kết quả huyết áp, ACTH, renin/aldosterone và điện giải trong máu đều trở về giá trị bình thường

Kết luận: Ca lâm sàng này cho thấy đột biến đồng hợp tử c.1322G>A (p.Arg441His) trên gen CYP17A1 có

thể dẫn đến thể bệnh 17-OHD Việc phát hiện các đột biến mới có ý nghĩa lâm sàng quan trọng và sẽ đóng góp vào những hiểu biết về mối quan hệ kiểu hình-kiểu gen của những bệnh lý hiếm gặp này

Từ khóa: gen CYP17A1, thể thiếu men 17α-hydroxylase/17,20-lyase, tăng sinh thượng thận bẩm sinh

ABSTRACT

CASE REPORT: A RARE FORM OF CONGENITAL ADRENAL HYPERPLASIA,

17-HYDROXYLASE/17,20-LYASE DEFICIENCY WITH A NOVEL MUTATION

Do Dang Tri, Ta Thanh Hung

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 26 - No 1 - 2022: 261-268

Objectives: Congenital adrenal hyperplasia (CAH) is a rare group of autosomal recessive disorders

characterized by a deficiency of one of the necessary enzymes in the pathway of adrenal steroidogenesis leading to impaired cortisol biosynthesis Depending on the type and severity of a enzyme deficiency that cause a various change in the production of glucocorticoid, mineralocorticoid, and sex steroid, patients may present with different clinical manifestations and require a variation of hormone replacement therapy The 17α-hydroxylase/17,20-lyase

Tác giả liên lạc: ThS.BS Đỗ Đăng Trí ĐT: 0908839665 Email: dodangtri@ump.edu.vn

Trang 2

deficiency (17-OHD) caused by variants in the CYP17A1 gene is the least common form of CAH and accounts for only 1% of all CAH cases We report a novel mutation in CYP17A1 gene and its association with the pathogenesis of 17-OHD

Methods: Case report

Results: A 10-year-old girl born to the consanguineous parents was admitted to our department for her

hypertension (160/100 mmHg) No signs of puberty development were found on the physical exam Her initial work-up revealed hypokalemia, and metabolic alkalosis Subsequent investigations showed a decrease in serum aldosterone, renin, morning cortisol, an increase in corticotropin (ACTH) and normal 17-OH progesterone levels that supported for the diagnosis of 17-OHD The karyotype was 46, XX The mutation screening was conducted using Next-Generation Sequencing (NGS) and confirmed by Sanger sequencing The novel homozygous variant

of c.1322G>A (p Arg441His) of the CYP17A1 was identified This finding was consistent with the patient’s clinical presentations and hormonal changes The administration of oral hydrocortisone normalized her blood pressure, serum ACTH, renin/aldosterone and electrolyte levels

Conclusions: We report a rare form of CAH in which the homozygous variant of c.1322G>A (p

Arg441His) of the CYP17A1 gene leads to 17-OHD The recognition of novel mutations is a significant implication in clinical practice and will contribute to the understanding of the phenotype-genotype relationship of these rare disorders

Keywords: CYP17A1 gene, 17α-hydroxylase/17,20-lyase deficiency, congenital adrenal hyperplasia

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tăng sinh thượng thận bẩm sinh (TSTTBS)

là bệnh lý di truyền hiếm gặp ở trẻ em, ảnh

hưởng khoảng 1 trên 13.000–18.000 trẻ(1)

TSTTBS là rối loạn di truyền trên gen lặn

nhiễm sắc thể thường, ảnh hưởng đến các men

cần thiết cho quá trình tổng hợp các hormone

steroid của tuyến thượng thận Tùy theo loại

men bị ảnh hưởng và mức độ thiếu hụt men,

bệnh nhân sẽ có bức tranh lâm sàng khác

nhau Hơn 95% các trường hợp TSTTBS là do

thiếu hụt men 21-hydroxylase (21-hydroxylase

deficiency hay 21-OHD) Thể TSTTBS thường

gặp tiếp theo là thiếu hụt men

11β-hydroxylase (11β-11β-hydroxylase deficiency hay

11-OHD), chiếm khoảng gần 5% còn lại Thể

TSTTBS hiếm gặp nhất chính là thể thiếu hụt

men 17α-hydroxylase/17,20-lyase

(17α-hydroxylase/17,20-lyase deficiency hay

17-OHD)(2) (OMIM 202110) gây ra bởi đột biến

mất chức năng của gen CYP17A1, chiếm

khoảng 1% các trường hợp TSTTBS(3)

17-OHD là 1 thể rất hiếm của TSTTBS: tỉ lệ

hiện mắc chính xác vẫn chưa được biết nhưng có

lẽ là ít hơn 1 trên 1 triệu trẻ sinh sống(4), tỉ lệ mới

mắc chính xác cũng vẫn chưa được biết, nhưng ước lượng khoảng 1 trên 50.000 trẻ sinh sống(5) Một số quốc gia có tỉ lệ mới mắc của 17-OHD cao hơn các nơi khác, trong đó phải kể đến là Canada, Hà Lan, Nhật Bản, Đông Á (nổi bật là Trung Quốc) và Brazil Hiện nay, trên thế giới, hơn 100 đột biến khác nhau đã được tìm thấy trên gen CYP17A1 và được báo cáo gây ra bệnh cảnh 17-OHD(6)

Theo chúng tôi được biết, cho đến hiện nay vẫn chưa có báo cáo nào về phát hiện thể 17-OHD ở Việt Nam Do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm báo cáo một trường hợp đột biến mới trên gen CYP17A1 và mối liên quan với bệnh cảnh 17-OHD

CA LÂM SÀNG

Bệnh nhân nữ, ngày sinh 02/03/2009, địa chỉ

ở Campuchia, nhập viện khoa Thận-Nội tiết tại bệnh viện Nhi Đồng 1 vào 04/10/2019 vì tăng huyết áp Tiền căn bản thân: con út, chưa ghi nhận bệnh lý Tiền căn gia đình: cha mẹ là anh

em họ, có 4 người con, 2 con đầu (1 nam, 1 nữ) mất lúc 2 tuổi không rõ chẩn đoán ở Campuchia, con thứ 3 (nam) hiện khoẻ mạnh Khám lâm sàng ghi nhận: cân nặng 34 kg, chiều cao 143 cm

Trang 3

(BMI 16,6 kg/m2 – bách phân vị 25th), huyết áp

160/100 mmHg (>95th + 12 mmHg(7)), mạch 90

lần/phút, nhịp thở 22 lần/phút Bệnh nhân có

sạm da Khám các hệ cơ quan không ghi nhận

bất thường, soi đáy mắt bình thường Kết quả

cận lâm sàng ban đầu: siêu âm tim bình thường,

kali máu giảm (2,77 mmol/L), kali nước tiểu

cùng lúc cao (39,31 mEq/L), bilan lipid máu bình

thường, chức năng gan thận bình thường, tổng

phân tích nước tiểu sạch, khí máu tĩnh mạch ghi

nhận kiềm chuyển hóa nhẹ

(pH/pCO2/HCO3-/BE: 7,481/35,5/26,2/2,7)

Bệnh nhân được làm nhiễm sắc thể đồ, kết

quả 46,XX Đánh giá tình trạng dậy thì ghi nhận:

ngực B1, chưa có lông mu, chưa hành kinh, siêu

âm bụng chậu ghi nhận tử cung dạng tiền dậy

thì có đường kính trước sau 9 mm, buồng trứng

bên Phải kích thước 18,7 12 mm và bên Trái

kích thước 19 13 mm, X quang xương bàn cổ

tay Trái ghi nhận tuổi xương 9-10 tuổi Chẩn

đoán 17-OHD được đặt ra do bệnh nhân có

renin máu rất thấp dưới ngưỡng phát hiện,

aldosterone máu trong giới hạn bình thường,

cortisol máu/sáng thấp, ACTH máu cao và

17-OH progesterone trong giới hạn bình thường

(Bảng 1)

Bảng 1 Các xét nghiệm chẩn đoán

(10/2019)

17-OH progesterone (ELISA) (0,07 – 1,7 ng/mL) 0,41

Cortisol/sáng (6,20 – 19,40 µg/dL) 0,374

ACTH/sáng (Roche) (7,2 – 63,3 pg/mL) 199,0

Estradiol (E2) (12,5 – 650 pg/mL) < 5,00

Testosterone (Roche) (14 – 76 ng/dL) < 2,5

Aldosterone (Liaison) (2,21 – 35,3 ng/dL) 3,82

Active Renin (Liaison) (4,4 – 46,1 µIU/mL) < 0,500

Bệnh nhân được tầm soát đột biến gen bằng

kỹ thuật giải trình tự gen thế hệ mới Kỹ thuật

thu thập mẫu: máu ngoại biên (2 ml) sẽ được thu

nhận trong ống EDTA Vacutainer (Becton

Dickinson) và giữ mát tại 4°C không quá 24 giờ

trước khi được chuyển về phòng phân tích để

trữ tại -80°C Kỹ thuật giải trình tự gen thế hệ mới: phản ứng polymerase chain reaction (PCR)

từ bước lai và bắt giữ sẽ được giải trình tự trên

hệ thống máy giải trình tự gen thế hệ mới MiniSeq (Illumina) sử dụng bộ hóa chất MiniSeq High Output kit (300 cycles) với độ phủ trong khoảng 50X-1000X Kết quả phát hiện biến thể đồng hợp tử mới c.1322G>A (p.Arg441His) trên gen CYP17A1 Biến thể này chưa được báo cáo

(https://www.ncbi.nlm.nih.gov/clinvar/?term=C YP17A1%5Bgene%5D) và được dự đoán là nhiều khả năng gây ảnh hưởng chức năng protein liên quan đến 17-OHD thông qua 3 phần mềm dự đoán PolyPhen-2, SIFT và SNPeff Để khẳng định lại những bất thường gen đã được phát hiện bằng kỹ thuật giải trình tự gen thế hệ mới, DNA tách chiết sẽ được nhân bản bằng PCR với mồi đặc hiệu và giải trình tự theo kỹ thuật Sanger, sử dụng máy giải trình tự 3500 Genetic Analyzers (Applied Biosystem) Kết quả phát hiện biến thể đồng hợp tử mới c.1322G>A (p.Arg441His) trên gen CYP17A1 phù hợp với kết quả của kỹ thuật giải trình tự gen thế hệ mới

trước đó (Hình 1)

Bảng 2 Các xét nghiệm theo dõi hiệu quả điều trị

Xét nghiệm (Ngưỡng tham chiếu)

Kết quả (11/2019)

Kết quả (01/2020)

Cortisol/sáng (6,20 – 19,40 µg/dL) 3,09 5,26 ACTH/sáng (Roche) (7,2 – 63,3

Aldosterone (Liaison) (2,21 – 35,3

Active Renin (Liaison) (4,4 – 46,1

Kết quả phân tích đột biến gen phù hợp với bệnh cảnh lâm sàng nghĩ nhiều 17-OHD của bệnh nhân Bệnh nhân được khởi động điều trị với hydrocortisone 10mg, ngày uống 3 lần, mỗi lần 1/2 viên vào 6 giờ - 14 giờ - 22 giờ (13 mg/m2/ngày) thì huyết áp cải thiện sau 24 giờ, trở về mức 110/70 mmHg (< 90th(7)) Các xét nghiệm theo dõi sau đó 1 tháng và 3 tháng cũng cải thiện: kali máu, nồng độ aldosterone/renin máu và ACTH trong máu buổi sáng đều trở về

Trang 4

bình thường (Bảng 2)

Hình 1 Kết quả phân tích đột biến gen bằng kỹ thuật giải trình tự Sanger

BÀN LUẬN

Bệnh nhân nhập viện trong bệnh cảnh tăng

huyết áp (>95th + 12 mmHg) mới khởi phát

Theo hướng dẫn của Viện Hàn Lâm Nhi Khoa

Hoa Kỳ(7), chúng tôi tiếp cận ban đầu bao gồm:

1) tầm soát tổn thương cơ quan đích với soi đáy

mắt và siêu âm tim, 2) tầm soát các nguyên nhân

thường gặp gây tăng huyết áp trẻ em với tổng

phân tích nước tiểu, điện giải đồ máu, chức năng

gan thận, bilan lipid máu, siêu âm bụng Kết quả

ban đầu chỉ ghi nhận bất thường duy nhất là hạ

kali máu (2,77 mmol/L) Chúng tôi tiếp tục tiếp

cận theo lưu đồ hạ kali máu và tăng huyết áp ở

trẻ em (Hình 2) Theo đó, kali nước tiểu cùng lúc

39,31 mEq/L (chứng tỏ mất kali qua nước tiểu)

và khí máu tĩnh mạch ghi nhận kiềm chuyển hóa

nhẹ (pH/pCO2/HCO3-/BE: 7,481/35,5/26,2/2,7)

Trường hợp 17-OHD đầu tiên được mô tả

bởi Biglieri EG vào năm 1966, đó là một bệnh

nhân 35 tuổi kiểu hình nữ có biểu hiện tăng

huyết áp, vô kinh nguyên phát và không phát

triển các đặc tính sinh dục thứ phát(9) Gen

CYP17A1 gồm 8 exon, nằm trên NST số 10

(10q24.3) và có kích thước 6,6 kb Gen CYP17A1

sẽ phiên mã thành phân tử mRNA kích thước

2,1 kb và sau đó dịch mã thành phân tử protein

là men P450c17 gồm 508 amino acid, trọng

lượng phân tử 57 kDa(2) Men P450c17 là một men microsomal P450 type II với hoạt tính kép: 1) hoạt tính 17α-hydroxylase giúp chuyển hóa pregnenolone thành 17-hydroxypregnenolone

và progesterone thành 17-hydroxyprogesterone (17-OHP), 2) hoạt tính 17,20-lyase giúp chuyển

dehydroepiandrosterone (DHEA) và 17-OHP thành androstenedione(1,3,10) (Hình 3) Men

P450c17 đóng vai trò thiết yếu trong tổng hợp cortisol và các steroid sinh dục, do đó sự thiếu hụt men này sẽ dẫn đến giảm sản xuất cortisol

và các steroid sinh dục(4) Men P450c17 hiện diện

ở cả tuyến sinh dục và tuyến thượng thận(2,11) Vì vậy, 17-OHD sẽ gây thiếu hụt glucocorticoid và steroid sinh dục ở tuyến thượng thận và tuyến sinh dục ở cả hai giới(3) Nhìn vào Hình 3, chúng

ta sẽ thấy sự sụt giảm của các hormone steroid sinh dục (DHEA, estradiol, testosterone) và cortisol Nồng độ cortisol máu thấp sẽ kích thích sản xuất quá mức corticotropin-releasing hormone (CRH) ở vùng hạ đồi, dẫn đến tăng sản xuất adrenocorticotropic hormone (ACTH) ở tuyến yên trước, kết quả là sự tăng sinh của tuyến thượng thận và tích lũy các tiền chất steroid ở ngay trước vị trí men 17α- hydroxylase(3) Những tiền chất steroid đó chính

Trang 5

là 11‑deoxycorticosterone (DOC), corticosterone

và 18‑hydroxycorticosterone Do đó, bệnh nhân

17-OHD sẽ có sự tăng cao nồng độ của các tiền chất này trong máu(10)

Hình 2 Lưu đồ tiếp cận hạ kali máu và tăng huyết áp (đã giản lược) (8)

Hình 3 Sơ đồ sinh tổng hợp các hormone steroid ở tuyến thượng thận và sự thay đổi các hormone trong

17-OHD (11)

Trang 6

Khác với thể 21-OHD (có biểu hiện của suy

thượng thận và không gây tăng huyết áp), thể

11-OHD và 17-OHD lại ít khi có biểu hiện suy

thượng thận trên lâm sàng mà còn gây tăng

huyết áp và hạ kali máu Do đó, những thể

TSTTBS này thường sẽ biểu hiện bệnh trễ hơn(4,5)

Những bệnh nhân 17-OHD sẽ không có những

triệu chứng hoặc triệu chứng rất nhẹ (không

nguy hiểm tính mạng) của thiếu hụt

glucocorticoid vì sự thiếu hụt này đã được bù

trừ bằng sự tăng sản xuất corticosterone (cũng có

hoạt tính glucocorticoid)(3,10) Những bệnh nhân

này còn có hiện tượng tăng sản xuất

11-deoxycorticosterone (DOC), hormone này cũng

có hoạt tính mineralocorticoid (do có ái lực cao

với thụ thể mineralocorticoid), từ đó gây ra ứ

muối nước, tăng huyết áp, hạ kali máu (do tăng

thải kali qua nước tiểu), kiềm chuyển hóa đồng

thời cũng ức chế hoạt động của renin và ức chế

bài tiết aldosterone từ lớp cầu của vỏ thượng

thận, mặc dù sự ức chế lên aldosterone khá thay

đổi(10) Ngoài ra, bệnh nhân có thể có sạm da do

tăng ACTH(1) Nồng độ 17-OHP là chỉ số sinh

hóa quan trọng giúp phân biệt 11-OHD và

17-OHD: tăng trong 11-OHD và thấp/bình thường

trong 17-OHD(8)

Bệnh nhân của chúng tôi ghi nhận những

đặc điểm phù hợp với 17-OHD là tăng huyết áp,

sạm da, hạ kali máu, kiềm chuyển hóa, renin

máu rất thấp dưới ngưỡng phát hiện,

aldosterone máu trong giới hạn bình thường,

cortisol máu/sáng thấp, ACTH máu cao và

17-OHP máu trong giới hạn bình thường

17-OHD ngăn cản sự tổng hợp các steroid

sinh dục (DHEA, estradiol, testosterone) ở tuyến

thượng thận và tuyến sinh dục Kết quả là, trẻ

nữ (46,XX) sẽ có kiểu hình là nữ, đến khám vì

những biểu hiện của dậy thì muộn, vô kinh

nguyên phát, và không phát triển các đặc tính

sinh dục thứ phát Cơ quan sinh dục trong của

trẻ nữ (46,XX) sẽ có hình ảnh tử cung tiền dậy thì

và thỉnh thoảng có nang buồng trứng(5) Còn trẻ

nam (46,XY) sẽ không phát triển hoặc phát triển

không hoàn toàn các cơ quan sinh dục ngoài

pseudohermaphroditism; 46,XY DSD)(10) Trẻ nam (46,XY) sẽ có kiểu hình giống nữ hoặc cơ quan sinh dục nam nhỏ hoặc mơ hồ Trẻ nam (46,XY) có kiểu hình là nữ có thể có tiền căn bị thoát vị thành bụng hoặc có khối vùng bẹn do tinh hoàn ẩn Nếu không phát hiện thì đến độ tuổi dậy thì, trẻ nam (46,XY) có kiểu hình là nữ cũng sẽ đến khám vì những biểu hiện giống như trẻ nữ, đó là dậy thì muộn, vô kinh nguyên phát,

và không phát triển các đặc tính sinh dục thứ phát Trẻ nam với cơ quan sinh dục nam nhỏ hoặc mơ hồ có thể biểu hiện với tinh hoàn ẩn hoặc không có các đặc tính nam hóa ở giai đoạn dây thì(5) Như vậy, một bệnh nhân 17-OHD có kiểu hình là nữ thì nhiễm sắc thể đồ có thể là 46,XX hoặc 46,XY Ngoài ra, siêu âm vùng chậu đánh giá cơ quan sinh dục trong cũng giúp xác định xem một bệnh nhân có kiểu hình là nữ thì

có các cơ quan sinh sản của nữ (trẻ 46,XX) hoặc

có tinh hoàn ẩn (trẻ 46,XY) hay không(5) Bệnh nhân của chúng tôi có kiểu hình là nữ, kết quả nhiễm sắc thể đồ 46,XX chứng tỏ giới tính thực sự cũng là nữ Ngoài ra siêu âm bụng chậu ghi nhận tử cung và 2 buồng trứng cũng chứng tỏ bệnh nhân thực sự là giới tính nữ Khảo sát về tình trạng dậy thì, trên lâm sàng, bệnh nhân vẫn chưa phát triển các đặc tính sinh dục thứ phát (ngực vẫn B1, chưa có lông mu, chưa hành kinh) Nồng độ estradiol phù hợp với tình trạng chưa dậy thì của trẻ Tuy nhiên, bệnh nhân lại có mức LH nền buổi sáng trong ngưỡng dậy thì (2,67 mIU/mL tức >0,6 U/L(12)), không phù hợp với giai đoạn tiền dậy thì (ngực B1) Hiện tượng này có thể lý giải là do thiếu men 17α-hydroxylase làm giảm sản xuất các hormone steroid sinh dục, từ đó kích thích vùng hạ đồi sản xuất GnRH (Gonadotropin-releasing hormone), dẫn đến tuyến yên trước tăng sản xuất LH Kết quả là bệnh nhân có mức LH cao hơn so với các trẻ bình thường chưa dậy thì Nồng độ DHEA.SO4 của bệnh nhân thấp so với tuổi và giới (Bảng 1) cũng là phù hợp với sinh lý bệnh của 17-OHD Tại thời điểm chẩn đoán,

Trang 7

bệnh nhân chỉ mới 10 tuổi nên chưa thể đánh giá

được tình trạng dậy thì muộn cũng như vô kinh

nguyên phát(12)

Tóm lại, biểu hiện lâm sàng, sinh hóa và

hình ảnh học của bệnh nhân này phù hợp với

chẩn đoán TSTTBS thể 17-OHD Để xác định

chính xác chẩn đoán, chúng tôi tiến hành xét

nghiệm phân tích đột biến gen với sự đồng

thuận của gia đình Kết quả phát hiện biến thể

đồng hợp tử mới c.1322G>A (p.Arg441His) trên

gen CYP17A1 bằng kỹ thuật giải trình tự Sanger

Biến thể này chưa được báo cáo trên cơ sở dữ

liệu ClinVar của Viện sức khỏe quốc gia Hoa Kỳ

(https://www.ncbi.nlm.nih.gov/clinvar/?term=C

YP17A1%5Bgene%5D) và được dự đoán là

nhiều khả năng gây ảnh hưởng chức năng

protein liên quan đến 17-OHD thông qua 3 phần

mềm dự đoán PolyPhen-2, SIFT và SNPeff Bệnh

nhân này có biến thể đồng hợp tử, có cha mẹ là

anh em họ (tức hôn nhân đồng huyết thống), có

2 anh chị lớn mất lúc 2 tuổi không rõ chẩn đoán

và 1 người anh hiện khoẻ mạnh Như vậy, phả

hệ này phù hợp với kiểu di truyền trên gen lặn

nhiễm sắc thể thường của 17-OHD

Mục tiêu điều trị của 17-OHD: 1) giảm thiểu

tác động của dư thừa mineralocorticoid và ngăn

ngừa thiếu hụt glucocorticoid 2) phục hồi các

đặc tính sinh dục thứ phát mong đợi với các lợi

ích đi kèm như cải thiện mật độ xương

Mục tiêu đầu tiên sẽ đạt được bằng cách bổ

sung glucocorticoid liều sinh lý (hydrocortisone

10-15 mg/m2/ngày), khi đó ACTH sẽ không bị

kích thích sản xuất, sự bài tiết DOC sẽ bị ức chế

và hoạt động của renin và nồng độ aldosterone

cũng sẽ tăng trở về bình thường Mục tiêu thứ

hai sẽ đạt được bằng cách bổ sung các hormone

steroid sinh dục ở liều sinh lý và/hoặc phẫu

thuật tạo hình cơ quan sinh dục phù hợp với giới

tính được nuôi dưỡng từ nhỏ khi trẻ đến tuổi

thanh thiếu niên(10).Bệnh nhân nam (46,XY) có

kiểu hình là nam sẽ được bổ sung testosterone

tại thời điểm bắt đầu dậy thì để phát huy các đặc

tính sinh dục thứ phát Bệnh nhân nam (46,XY)

có kiểu hình là nữ sẽ được bổ sung

estrogen/progesterone để tạo ra các đặc tính sinh dục thứ phát Có thể cần chỉ định phẫu thuật ở những bệnh nhân nam (46,XY) nhưng có kiểu hình là nữ để cắt bỏ tinh hoàn ẩn (vì có thể gây nguy cơ sinh ung thư) và tạo hình âm đạo để tạo

ra cấu trúc sinh dục nữ điển hình(5,10).Bệnh nhân

estrogen/progesterone (khi trẻ >12 tuổi(10)) để tạo

ra các đặc tính sinh dục thứ phát và phát triển tử cung Liệu pháp nội tiết theo chu kỳ đối với những trẻ bị vô kinh là cần thiết nhằm tạo ra những giai đoạn hành kinh khi ngưng thuốc nội tiết và để phòng ngừa tăng sinh nội mạc tử cung(5)

Bệnh nhân của chúng tôi được khởi động điều trị với hydrocortisone 10mg, ngày uống 3 lần, mỗi lần 1/2 viên vào 6 giờ - 14 giờ - 22 giờ (13 mg/m2/ngày) thì huyết áp cải thiện sau 24 giờ, trở về mức 110/70 mmHg (<90th(7)) Các xét nghiệm theo dõi sau đó 1 tháng và 3 tháng cũng cải thiện: kali máu, nồng độ aldosterone/renin máu và ACTH trong máu buổi sáng đều trở về

bình thường (Bảng 2) Như vậy mục tiêu điều trị

thứ nhất đã thành công Mục tiêu thứ hai, chúng tôi dự định sẽ bổ sung estrogen cho bệnh nhân khi đến độ tuổi phù hợp để tạo ra các đặc tính sinh dục thứ phát và phát triển tử cung

Tóm lại, ca bệnh này là một trường hợp lâm sàng điển hình của 17-OHD Đây là báo cáo đầu tiên về biến thể đồng hợp tử mới c.1322G>A (p.Arg441His) trên gen CYP17A1 Biến thể này phù hợp với bệnh cảnh lâm sàng và đáp ứng điều trị của bệnh nhân Như vậy, biến thể này có thể được sử dụng như là một đột biến gen giúp chẩn đoán những bệnh nhân khác sau này cũng

có bệnh cảnh lâm sàng tương tự

KẾT LUẬN

Có ít nhất 14 bệnh lý nội tiết mà tăng huyết

áp có thể là biểu hiện lâm sàng đầu tiên(4) Mặc

dù tăng huyết áp do nguyên nhân nội tiết là hiếm gặp (tỉ lệ lưu hành chỉ khoảng 0,05-6% trẻ)(7), chẩn đoán chính xác nguyên nhân nội tiết gây tăng huyết áp sẽ giúp cho bác sĩ lâm sàng có được cơ hội điều trị đặc hiệu: có thể chữa khỏi

Trang 8

bằng phẫu thuật hoặc đạt được đáp ứng ngoạn

mục khi dùng đúng thuốc(4)

Không giống như thể 21-OHD, thể 17-OHD

do không tăng 17-OHP nên không phát hiện

được qua chương trình sàng lọc TSTTBS hiện tại

ở trẻ sơ sinh, lại không có biểu hiện suy thượng

thận rõ trên lâm sàng nên thường được xác định

muộn hơn dựa vào các biểu hiện cơ quan sinh

dục mơ hồ, chậm phát triển các đặc tính sinh dục

thứ phát, tăng huyết áp và hạ kali máu(5) Vì biểu

hiện lâm sàng và sinh hóa đa dạng, nên xét

nghiệm gen là một công cụ hữu ích giúp xác

định chẩn đoán(11) Từ đó, bác sĩ lâm sàng có thể

đưa ra điều trị thích hợp giúp cải thiện huyết áp

và các đặc tính sinh dục thứ phát về sau

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Hughes CR, Man E, Achermann JC (2020) The Adrenal Cortex

and Its Disorders In: Dattani MT CGDB, ed Brook’s Clinical

Pediatric Endocrinology, 2020:381-384

2 Nazari M, Mehrjardi MYV, Neghab N, Aghabagheri M,

Ghasemi N (2019) A novel mutation in CYP17A1 gene leads to

congenital adrenal hyperplasia: A case report International

Journal of Reproductive BioMedicine, 17(6):449

3 Török D, Congenital Adrenal Hyperplasia (2019) In: Igaz P,

Patócs A, eds Genetics of Endocrine Diseases and Syndromes

pp.245-260 Cham: Springer International Publishing

4 Young WF (2020) Endocrine Hypertension In: Shlomo Melmed RJA, Allison B Goldfine, Ronald J Koenig, Clifford J

Rosen, ed Williams Textbook of Endocrinology 14th ed pp.542-572 Elsevier, Canada

5 Dianna CMRM (2021) C 17 Hydroxylase Deficiency URL: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK546644/

6 Auchus RJ (2017) Steroid 17-hydroxylase and 17, 20-lyase

deficiencies, genetic and pharmacologic Journal of Steroid

Biochemistry and Molecular Biology, 165:71-78

7 Flynn JT, Kaelber DC, Baker-Smith CM, et al (2017) Clinical practice guideline for screening and management of high

blood pressure in children and adolescents Pediatrics,

140(3):e20171904

8 Greenbaum LA (2020) Electrolyte and Acid-Base Disorders In:

Robert M Kliegman JSG, ed Nelson Textbook of Pediatrics 21st ed pp.2089-2098 Elsevier Inc

9 Biglieri EG, Herron MA, Brust N (1966) 17-hydroxylation

deficiency in man Journal of Clinical Investigation,

45(12):1946-1954

10 Miller WL, Breault DT, Feldman BJ (2021) The Adrenal Cortex and Its Disorders In: Mark A Sperling M, ed Sperling

Pediatric Endocrinology 5th ed., pp.425-477 Elsevier

11 Wang M, Wang H, Zhao H, et al (2019) Prevalence of CYP17A1 gene mutations in 17α-hydroxylase deficiency in the

Chinese Han population Clinical Hypertension, 25(1):1-9

12 Rosenfield RL, Radovick S (2021) Puberty in the Female and Its Disorders In: Mark A Sperling JAM, Ram K Menon,

Constantine A Stratakis, ed Sperling Pediatric Endocrinology, 5th ed, pp.564-600 Elsevier

Ngày nhận bài báo: 16/12/2021 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 10/02/2022 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2022

Ngày đăng: 17/04/2022, 11:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm