PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ NỮ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH PHÚ YÊN Nguyễn Thị Ngọc Ái * Tóm tắt Theo quan điểm của Đảng, một trong những mục tiêu về bình đẳng giới là làm thế n
Trang 1PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ NỮ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH PHÚ YÊN
Nguyễn Thị Ngọc Ái * Tóm tắt
Theo quan điểm của Đảng, một trong những mục tiêu về bình đẳng giới là làm thế nào
để cán bộ quản lý nữ có được tỷ lệ tương xứng với vai trò, sự đóng góp của họ vào nguồn lực lao động trong xã hội nói chung và trong ngành Giáo dục và Đào tạo nói riêng Vì vậy, ngành Giáo dục và Đào tạo Phú Yên cần có những biện pháp phù hợp, tích cực chỉ đạo để công tác quy hoạch, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm nữ cán bộ, giáo viên vào các vị trí, chức danh chủ chốt tương xứng với trình độ, năng lực và tỷ lệ nữ của ngành Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng công tác phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường Trung học phổ thông tỉnh Phú Yên trong thời gian qua, tác giả đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường Trung học phổ thông tỉnh Phú Yên trong thời gian đến.
Từ khóa: Giáo dục, nữ cán bộ quản lý giáo dục, trường trung học phổ thông, bình
đẳng giới
1 Đặt vấn đề
Nhận thức rõ vai trò, vị trí của phụ nữ
trong công cuộc đổi mới và phát triển của
đất nước, Chỉ thị 37/CT-TƯ ngày 16 tháng 5
năm 1994 của Ban Bí thư (Khóa VII) khẳng
định: “Nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia
quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội là
một yêu cầu quan trọng để thực hiện quyền
bình đẳng, dân chủ của phụ nữ, là điều kiện
để phát huy tài năng, trí tuệ và nâng cao địa
vị của phụ nữ” và “Những ngành đông nữ
phải có tỷ lệ cán bộ nữ tương xứng và phải
có cán bộ nữ giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt ở
các cấp”.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XI tiếp tục chỉ rõ: “Làm tốt công tác
quy hoạch và tạo nguồn cán bộ, chú ý cán
bộ trẻ, nữ, dân tộc thiểu số, chuyên gia trên
các lĩnh vực; xây dựng quy hoạch cán bộ
cấp chiến lược”.
Ngành Giáo dục – Đào tạo đã có nhiều
chủ trương tăng cường vai trò của cán bộ
nữ trong sự nghiệp phát triển giáo dục Thể
_
* ThS, Sở GD&ĐT Phú Yên
hiện cụ thể ở nhiều văn bản được ban hành
như: Chỉ thị số 06/ CT-GD ngày 28/2/1985 của Bộ GD&ĐT, Chỉ thị số 15/CT-GDĐT ngày 19/9/1994 của Bộ GD&ĐT Quyết định số 970/QĐ-BGDĐT ngày 9/3/2012 phê duyệt kế hoạch hành động về bình đẳng giới của ngành giáo dục giai đoạn 2012
-2015, với mục tiêu: “ Tăng cường sự tham
gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo trong các cơ sở giáo dục và các cơ quan quản lý giáo dục”
Phú Yên là một trong những tỉnh quan tâm, chú trọng tới việc xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý (CBQL) nói chung và đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục (CBQLGD) nói riêng Tỉnh đã làm tốt các khâu quy hoạch nguồn đến quy trình bổ nhiệm Những giáo viên nữ có phẩm chất chính trị và đạo đức tốt, có năng lực chuyên môn giỏi, có khả năng quản lý tốt đều được các cấp lãnh đạo quan tâm bồi dưỡng và dự nguồn bình đẳng với nam giới
Công tác cán bộ nữ ngành Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) Phú Yên có nhiều chuyển biến tích cực, nữ CBQL đã đóng góp rất lớn trong sự phát triển giáo dục tỉnh
Trang 2nhà nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng
được yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp
phát triển giáo dục Tỷ lệ cán bộ nữ làm
công tác quản lý còn thấp, chưa tương xứng
với lực lượng nữ trong ngành; đội ngũ nữ
CBQL chưa đồng bộ
Xuất phát từ ý nghĩa và tầm quan trọng
về mặt lý luận và thực tiễn, trên cơ sở
nghiên cứu thực trạng đội ngũ nữ CBQL
trường trung học phổ thông (THPT) tỉnh
Phú Yên, tôi xin đề xuất một số biện pháp
phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo
dục trường THPT tỉnh Phú Yên
2 Thực trạng đội ngũ nữ CBQLGD tỉnh
Phú Yên
2.1 Khái quát về giáo dục và đào tạo
tỉnh Phú Yên
Tổng số trường trong toàn tỉnh: 441
Mầm non: 135 trường
Tiểu học : 168
Trung học cơ sở : 106
Trung học phổ thông: 32 (29 trường
THPT công lập, 03 trường dân lập)
Về đội ngũ cán bộ, giáo viên trường
THPT:
Hiện nay, toàn ngành GD&ĐT tỉnh Phú
Yên có tống số cán bộ công chức, viên
chức (CB,CC,VC) là 15.876, trong đó
10.300 nữ, tỷ lệ 64,88 %, khối THPT tỉnh
Phú Yên có 2.404 người
CBQL trường THPT: 93 người Trình
độ đội ngũ CBQL trường THPT trên chuẩn
20/ 93 người , tỷ lệ: 21,5%, đạt chuẩn 73/93
người, tỷ lệ: 78,5%
2.2 Về đội ngũ nữ CBQL trường THPT
Nữ CBQL trường THPT: 19/ 93 CBQL,
chiếm tỷ lệ 20,4%
Nữ CBQL giữ chức vụ Hiệu trưởng: 1/32
người, tỷ lệ: 3,1%
Nữ phó Hiệu trưởng: 18/61 người, tỷ lệ:
29,5%
Như vậy, thực trạng cơ cấu giới của đội
ngũ CBQL trường THPT tỉnh Phú Yên hiện
nay là rất mất cân đối về giới tính:
Về đội ngũ CBQL: nam gấp 3,90 lần so với nữ
Về chức danh Hiệu trưởng: nam gấp 31,25 lần so với nữ
Về chức danh phó Hiệu trưởng: nam gấp 2,39 lần so với nữ
Cơ cấu về độ tuổi: độ tuổi của đội ngũ
nữ CBQLGD tương đối cân đối, hợp lý giữa các độ tuổi, từ 50 tuổi trở lên 7/19 người, chiếm 36,8%, từ 40 tuổi đến dưới 50
có 5/19 người, chiếm 42,1%, trên 35 đến dưới 40 có 4/19 người, chiếm 21,0% Tuy nhiên, độ tuổi dưới 35 trở xuống không có, điều đó cho thấy, nữ CBQLGD có độ tuổi
bổ nhiệm cao hơn nam trong khi đó tuổi về hưu của nữ thấp hơn nam
Về thâm niên quản lý: đội ngũ nữ CBQL trường THPT trẻ về thâm niên quản lý Mặc
dù số nữ CBQL ở độ tuổi từ 40 đến 55 có tới 15/19 người, tỷ lệ: 79% nhưng thâm niên quản lý từ 1 đến 10 năm chiếm cao nhất là 15/19 người, tỷ lệ: 79%; thâm niên quản lý trên 10 năm chỉ có 4/19 người, tỷ lệ: 21,1% Điều đó cho thấy rằng trong những năm qua công tác trẻ hóa đội ngũ nữ CBQLGD có quan tâm nhưng mới chỉ được thực hiện gần đây
Về trình độ chuyên môn: Đội ngũ nữ CBQLGD tỉnh Phú Yên đã đạt trình độ chuẩn 100%, tuy nhiên số nữ CBQLGD có trình độ thạc sĩ còn ít ( 2/19 người, tỷ lệ: 10,5%), và thấp hơn so với mặt bằng chung của đội ngũ CBQLGD (21,5%), chưa có tiến sĩ Đội ngũ nữ CBQLGD phải sớm nâng cao trình độ trên chuẩn đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của giáo dục THPT hiện nay
Về trình độ lý luận chính trị: Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ CBQLGD còn thấp Trình độ lý luận chính trị sơ cấp:57,9%, trung cấp: 31,6% %, cao cấp: 10,5%
Về trình độ nghiệp vụ quản lý giáo dục:
Trang 3Việc đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý
giáo dục cho đội ngũ nữ CBQLGD được
chú trọng, có 11/19 người được qua đào tạo
bồi dưỡng, tỷ lệ: 57,9% Tuy nhiên vẫn còn
8/19 người, tỷ lệ: 42,1% chưa qua đào tạo,
bồi dưỡng và hiện nay chưa có một nữ thạc
sĩ quản lý giáo dục
Ưu điểm:
Đội ngũ nữ CBQL trường THPT có
phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống tốt;
có năng lực chuyên môn vững vàng; hoàn
thành tốt nhiệm vụ giáo dục Họ là những
người tâm huyết với nghề, uy tín với đồng
nghiệp và học sinh, phụ huynh; phấn đấu,
khắc phục khó khăn để học tập nâng cao
trình độ về mọi mặt và phát huy thế mạnh
của mình trong công tác; năng động, sáng
tạo và ý thức kỷ luật tốt; khả năng quy tụ
mọi người trong nhà trường thành một khối
đoàn kết, thống nhất
Đội ngũ nữ CBQL không ngại khó khăn
vất vả, chịu đựng, sẵn sàng chung vai gánh
vác trách nhiệm với nam CBQL để đưa
giáo dục của tỉnh nhà ngày càng phát triển
Hiện nay có 4/19 nữ CBQL trường THPT,
tỷ lệ: 21,1% đang công tác với nhiệm vụ
quản lý tại các trường THPT ở miền núi
Hạn chế:
Bên cạnh những ưu điểm trên, đội ngũ
nữ CBQL trường THPT còn tồn tại một số
mặt cần phải khắc phục trong thời gian đến,
đó là:
Nữ CBQLGD chiếm tỷ lệ thấp, đặc biệt
là chức vụ Hiệu trưởng , 1 nữ Hiệu trưởng,
tỷ lệ: 3,1%, chưa tương xứng với tiềm năng
và những đóng góp của một lực lượng lớn
lao động nữ của ngành giáo dục
Số nữ CBQLGD có trình độ chuyên
môn vượt chuẩn quá ít (2/19), trình độ lý
luận chính trị, nghiệp vụ quản lý cao chưa
nhiều, khả năng tin học và ngoại ngữ còn
hạn chế Một số đồng chí nữ CBQLGD chưa
có điều kiện tham gia các lớp bồi dưỡng,
học nâng cao trình độ cũng như chưa dành nhiều thời gian để tự học, nghiên cứu
Nguyên nhân hạn chế:
Một số cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, cán bộ, đảng viên chưa quan tâm đúng mức đến công tác nữ
Chủ trương công tác cán bộ nữ chưa được nhất quán và thực hiện đầy đủ, nhất là trong quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí
sử dụng và đề bạt (theo đánh giá của Bộ GD&ĐT và của tỉnh Phú Yên)
Công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý, lý luận chính trị cho CBQLGD nói chung, nữ CBQLGD nói riêng chưa được quan tâm thường xuyên
Chính sách khuyến khích động viên nữ CBQL, còn ít chưa tương xứng với sự đóng góp sức lực, trí tuệ của chị em cho sự nghiệp giáo dục; tạo điều kiện, môi trường thuận lợi cho chị em phát triển còn hạn chế Vẫn còn tư tưởng trọng nam khinh nữ, chưa tin tưởng vào khả năng phụ nữ Công việc gia đình còn gánh nặng với một số nữ CBQLGD dẫn đến việc nghiên cứu, học tập nâng cao trình độ chưa cao
2.3 Thực trạng công tác phát triển đội ngũ nữ CBQL trường THPT tỉnh Phú Yên
Hiện nay, 100% trường THPT đều có quy hoạch nữ CBQLGD vào các chức danh Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng giai đoạn
2013 - 2015 và giai đoạn 2016 -2020 78,7% các nữ cán bộ, giáo viên đưa vào quy hoạch đều đủ tiêu chuẩn để bổ nhiệm, 21,3 % còn lại cần phải thử thách cũng như đào tạo, bồi dưỡng thêm; cán bộ nữ quy hoạch phần lớn đảm bảo về cơ cấu, đặc biệt chú ý đến người địa phương; quy trình quy hoạch bảo đảm đúng quy định, dân chủ, khách quan
Tuy nhiên trong những năm qua công tác quy hoạch phát triển đội ngũ nữ CBQL trường THPT vẫn còn một số hạn chế sau: Việc rà soát, quy hoạch, bổ sung, thay thế
Trang 4chưa được thực hiện thường xuyên Một số
trường chưa quan tâm công tác quy hoạch,
không kịp thời bổ sung hàng năm, chưa
mạnh dạn xem xét đưa ra khỏi quy hoạch
những người không đủ tiêu chuẩn hoặc có
sự giảm sút về mặt công tác Có trường quy
hoạch không đạt yêu cầu như: quy hoạch số
lượng nữ chưa đảm bảo theo yêu cầu, ít
người trẻ tuổi
Chưa có kế hoạch quy hoạch tổng thể
của toàn ngành, đặc biệt là khối các trường
THPT, như một đề án xây dựng và phát
triển đội ngũ nữ CBQLGD Quy hoạch chỉ
thực hiện trong từng trường THPT, vì vậy
sẽ có những khó khăn trong quá trình tuyển
chọn nhân sự cho công tác bổ nhiệm
CBQL Đây mới thực sự là điểm nổi bậc
trong công tác tổ chức của ngành GD&ĐT
Công tác quy hoạch cán bộ nữ cán bộ,
giáo viên vào các chức danh còn quá ít,
chưa tương xứng với năng lực và tỷ lệ nữ
trong khối THPT nói riêng
Về đào tạo, mặc dù lãnh đạo tỉnh rất
quan tâm nhưng chỉ mới tập trung vào đào
tạo chuyên môn, nghiệp vụ quản lý đảm
bảo chuẩn mà chưa quan tâm nhiều đến
việc bồi dưỡng lý luận chính trị, chỉ có
57,9% nữ CBQL trường THPT chưa qua
bồi dưỡng lý luận chính trị và học tập nâng
cao trình độ trên chuẩn của đội ngũ nữ
CBQL trường THPT có 2/19 nữ CBQL
trường THPT trình độ chuyên môn trên
chuẩn, tỷ lệ: 10,5%
Công tác phát triển đội ngũ nữ CBQL
trường THPT chưa có giải pháp riêng mà
chỉ có một số giải pháp chung về xây dựng
và phát triển đội ngũ CBQLGD
Công tác chỉ đạo phát triển đội ngũ nữ
CBQL trường THPT chưa được thực hiện
một cách đồng bộ, triệt để giữa các cấp, các
địa phương
Công tác bổ nhiệm đã tiến hành theo
quy trình, song chưa xây dựng tiêu chí
riêng, cụ thể cho nữ CBQLGD, nhất là những tiêu chuẩn và điều kiện khác biệt so với nam giới
Vẫn còn định kiến giữa nam và nữ, một
số trường còn chưa thực sự bình đẳng giữa nam và nữ trong công tác bổ nhiệm, đề bạt
nữ CBQL; thường cho rằng nữ còn hạn chế Chính vì vậy mà công tác quy hoạch vẫn còn là hình thức bởi đến khi bổ nhiệm thì nam vẫn chiếm ưu thế hơn
Tỉnh Phú Yên đã có nhiều chủ trương, chính sách và biện pháp đối với công tác cán bộ nữ nói chung và công tác cán bộ
nữ của ngành giáo dục nói riêng; nhiều văn bản chỉ đạo, chính sách khuyến khích giúp họ vượt qua những khó khăn về vật chất lẫn tinh thần nhằm tạo điều kiện phát huy tiềm năng, tài năng và tự khẳng định mình của đội ngũ nữ CBQLGD Tuy nhiên, vẫn chưa có một hệ thống giải pháp, biện pháp riêng cho công tác xây dựng và phát triển đội ngũ nữ CBQL trường THPT
Vì vậy, việc đề ra các biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ nữ CBQL trường THPT là vấn đề cần thiết và cấp bách Chúng tôi xin đề xuất một số biện pháp để tăng cường phát triển đội ngũ nữ CBQL trường THPT tỉnh Phú Yên trong thời gian đến
3 Các biện pháp phát triển đội ngũ nữ CBQL trường THPT tỉnh Phú Yên trong thời gian đến
3.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước và ngành GD&ĐT về công tác cán bộ nữ
Nghị quyết của Bộ Chính trị Số 11- NQ/
TW ngày 27 tháng 4 năm 2007 Về công tác
phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xác định: “ Phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao địa vị phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực
Trang 5chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội là một
trong những nhiệm vụ và mục tiêu quan
trọng của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ
mới”.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của
Đảng lần thứ XI tiếp tục khẳng định: “Tạo
điều kiện để phụ nữ tham gia học tập, bồi
dưỡng nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu
công việc, nhiệm vụ”.
Phú Yên là một trong những tỉnh rất chú
trọng đến công tác xây dựng, đào tạo, bồi
dưỡng và phát triển đội ngũ nữ CBQL
Trong những năm qua, tỉnh đã có nhiều văn
bản chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các Chỉ
thị, Nghị quyết của Trung ươmg về công
tác nữ trong tình hình mới Trong Văn kiện
đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Yên lần
thứ XV đã nêu: “ Làm tốt công tác quy
hoạch và tạo nguồn cán bộ, chú ý cán bộ
trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số”.
Tóm lại, Đảng và Nhà nước đã xác định
bình đẳng giới và công tác cán bộ nữ luôn
là nhiệm vụ quan trọng trong chính sách
phát triển đất nước Đảng và Nhà nước đã
không ngừng nâng cao đời sống vật chất
lẫn tinh thần cho phụ nữ, củng cố và tăng
cường vị trí, đảm bảo quyền bình đẳng phụ
nữ trong xã hội, tạo điều kiện và cơ hội cho
phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn vào
việc quản lý Nhà nước và xã hội
3.2 Mục tiêu phát triển đội ngũ nữ
CBQL trường THPT tỉnh Phú Yên
- Về số lượng: Mỗi trường THPT có ít
nhất 1 nữ CBQL, trong đó cấp trưởng đạt
30% so với tổng số CBQL cấp trưởng Tập
trung đào tạo, bồi dưỡng phát triển nữ
CBQL trẻ (từ 30 – 35 tuổi)
- 100% nữ CBQL đạt chuẩn và trên
chuẩn trình độ chuyên môn, trong đó có
trên 50% trên chuẩn
- 100% nữ CBQL qua đào tạo, bồi
dưỡng nghiệp vụ QLGD, trong đó có trên
30% cử nhân QLGD trở lên
- 100% nữ CBQL có trình độ chính trị từ trung cấp trở lên
- 100% nữ CBQL qua bồi dưỡng kiến thức quản lý hành chính nhà nước
3.3 Các biện pháp phát triển đội ngũ nữ CBQL trường THPT
3.3 1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức của lãnh đạo các cấp, các ngành về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của đội ngũ nữ CBQL trường THPT
Giáo dục nâng cao nhận thức về giới, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục bằng mọi hình thức để giúp các cấp, các ngành và mọi người nhận thức một cách sâu sắc nội dung về giới, bình đẳng giới và công tác cán bộ nữ, giúp cho bản thân phụ nữ có ý thức hơn về vai trò, địa vị, trách nhiệm đối với sự tiến bộ chung của đất nước Biện pháp này có thể coi là biện pháp tiền đề nhưng lại có ý nghĩa quyết định vì có nhận thức đúng thì mới có hành động đúng và hiệu quả
3.3.2 Biện pháp 2: Xây dựng quy hoạch đội ngũ nữ CBQL trường THPT
Xây dựng quy hoạch đội ngũ CBQL trường THPT là một nội dung trọng yếu của công tác cán bộ, bảo đảm cho công tác cán bộ đi vào nề nếp, chủ động, có tầm nhìn xa đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài; tránh tình trạng thiếu hụt hoặc không
có cán bộ khi cần thay thế; giúp công tác đào tạo, bồi dưỡng nữ CBQLGD có hiệu quả hơn
Trong quy hoạch phải thực hiện chủ trương “ mở” và “ động”, theo Hướng dẫn
số 15-HD/BTCTW ngày 05 tháng 11 năm
2012 của Ban tổ chức Trung ương về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất
nước, cụ thể: “Quy hoạch cán bộ phải bảo
đảm phương châm "mở" và "động":
Phải có quy hoạch định kỳ, bổ sung, điều chỉnh, kiểm tra, tổng kết góp phần
Trang 6thúc đẩy việc đào tạo, bồi dưỡng công
chức, viên chức Từ đó khắc phục được các
thiếu sót trong công tác quy hoạch và nâng
cao chất lượng nữ cán bộ
Quán triệt Nghị quyết của các cấp ủy
Đảng về công tác cán bộ nữ và quy hoạch
cán bộ nữ, ngành GD&ĐT phải xây dựng
đề án quy hoạch cho công tác cán bộ nữ
của ngành nói chung và cán bộ nữ trường
THPT nói riêng đến năm 2020 và những
năm tiếp theo
Ban Giám đốc Sở GD&ĐT, Hiệu trưởng
của các trường THPT là những người đôn
đốc, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm
về công tác quy hoạch cán bộ nói chung, cán
bộ nữ nói riêng của đơn vị mình
3.3.3 Biện pháp 3: Tổ chức thực hiện có
hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng đội
ngũ nữ CBQL trường THPT
Tiến hành khảo sát thực trạng đội ngũ
nữ CBQL trường THPT tỉnh Phú Yên về số
lượng, chất lượng và cơ cấu phải căn cứ
vào kết quả công việc, tiêu chuẩn cán bộ và
dựa vào ý kiến tập thể
Dựa trên việc khảo sát, đánh giá, dự báo
về nữ CBQL trường THPT đương chức và
cán bộ kế cận, dự nguồn làm cơ sở xây dựng
kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nữ CBQLGD
và cán bộ kế cận, dự nguồn
Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng
đội ngũ nữ CBQL trường THPT từ nay đến
năm 2020 với các nội dung đào tạo, bồi
dưỡng sau: chuyên môn, nghiệp vụ quản lý,
kỹ năng quản lý, trình độ lý luận chính trị,
kiến thức tin học, ngoại ngữ và bồi dưỡng
kiến thức khác: đó là những kiến thức về
phong tục, tập quán của địa phương; bản
sắc văn hóa dân tộc; kiến thức cơ bản về an
ninh, quốc phòng
Tùy theo đối tượng nữ CBLQ, trẻ hay
lớn tuổi, đương chức hay dự bị, kế cận tạo
nguồn để sử dụng phương thức đào tạo, bồi
dưỡng cho phù hợp như đào tạo chính quy,
đào tạo tại chức, chuyên tu, từ xa hoặc bồi dưỡng ngắn hạn
Xây dựng kế hoạch cần đề ra mục tiêu, dự kiến nguồn lực, dự kiến các biện pháp và cách thức thực hiện mục tiêu Sở GD&ĐT là cơ quan chủ trì xây dựng kế hoạch và thực hiện chỉ đạo
3.3.4 Biện pháp 4: Thực hiện tốt quy trình tuyển chọn, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm và luân chuyển cán bộ
Để có được đội ngũ nữ CBQL trường THPT đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, tương đối đồng bộ về cơ cấu về tuổi, dân tộc, lãnh đạo các cấp Ủy đảng, ngành giáo dục phải đầu tư, thực hiện xuyên suốt trong cả một quá trình, gồm 6 bước sau:
- Sở GD&ĐT Phú Yên tập trung thanh tra, kiểm tra năng lực của đội ngũ nữ CBQL ở các trường THPT 5 lĩnh vực sau: Thực hiện các chức năng quản lý trong việc thực hiện các nhiệm vụ năm học bên trong nhà trường;
Lĩnh vực quản lý nhằm thực thi pháp luật, thực hiện các chế độ chính sách, quy chế điều lệ và các quy định nội bộ;
Quản lý tài chính, cơ sở vật chất thiết bị trường học phục vụ cho các hoạt động dạy
và học;
Lĩnh vực vận động các lực lượng xã hội tham gia quản lý và phát triển trường THPT, đồng thời phát huy những mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của môi trường giáo dục; Lĩnh vực thiết lập, điều hành hệ thống thông tin và truyền thông, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục
- Xây dựng tiêu chuẩn cho từng chức danh nữ CBQL: Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng
- Chỉ đạo, lãnh đạo triển khai thực hiện tốt công tác quy hoạch đội ngũ nữ CBQLGD
- Xây dựng kế hoạch thật cụ thể để đội ngũ nữ CBQL đương chức, dự bị, kế cận
Trang 7tuần tự, luân phiên tham gia đào tạo, bồi
dưỡng đáp ứng tiêu chuẩn theo từng chức
danh
- Tuyển chọn: Dựa vào danh sách được
phê duyệt quy hoạch; thông qua kiểm tra
đánh giá, chúng ta tuyển chọn những người
nổi trội hơn về phẩm chất đạo đức, năng
lực chuyên môn, quản lý để làm quy trình
bổ nhiệm
- Bổ nhiệm: Bổ nhiệm là khâu cuối cùng
trong công tác phát triển đội ngũ nữ CBQL,
có ý nghĩa rất quan trọng, quyết định sự
thành bại của chiến lược phát triển đội ngũ
nữ CBQL
Bổ nhiệm lại, luân chuyên, miễn nhiệm:
Sau một nhiệm kỳ công tác, CBQLGD
được đánh giá, xếp loại, tùy theo mức độ
hoàn thành nhiệm vụ được giao, cấp trên
xem xét bổ nhiệm lại, luân chuyển hoặc
miễn nhiệm công tác
3.3.5 Biện pháp 5: Sử dụng đội ngũ nữ
CBQL trường THPT một cách hợp lý,
hiệu quả
Thể hiện rõ trách nhiệm đối với đội ngũ
nữ CBQL do mình xây dựng, cụ thể cần
làm tốt các khâu: đào tạo, bồi dưỡng, theo
dõi, kiểm tra, giúp đỡ, uốn nắn, chấn chỉnh
đội ngũ nữ CBQLGD về mọi mặt, phải thể
hiện sự tin tưởng và biết cách bảo vệ nữ
cán bộ mình Phải đánh giá đúng cán bộ
trong quá trình sử dụng, phát huy những
mặt mạnh, những mặt yếu, khuyết của đội
ngũ nữ CBQL trường THPT
Kịp thời thực hiện các chế độ chính sách
về đào tạo, bồi dưỡng, tiền lương, phụ cấp,
tiền thưởng, tham quan, học tập, nhằm kích
thích, tạo động lực cho nữ CBQLGD đem
hết tâm huyết, năng lực, sáng tạo trong
công tác
3.3.6 Biện pháp 6: Thực hiện tốt chế độ
chính sách, chế độ đãi ngộ, tạo động lực
cho đội ngũ nữ CBQL trường THPT
Sở GD&ĐT mạnh dạn giao quyền tự chủ
toàn phần theo đúng tinh thần của Nghị định
43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ về giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho Hiệu trưởng trường THPT tỉnh Phú Yên
Ngoài phụ cấp chức vụ Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng, cần có các chế độ phụ cấp trách nhiệm đối với từng công việc cụ thể cho đội ngũ nữ CBQL trường THPT, có chính sách khuyên khích học tập nâng cao trình độ riêng cho nữ CBQL
Để thực hiện biện pháp này, cần có sự chỉ đạo kiên quyết và nhất quán của Đảng và Nhà nước, ngành GD&ĐT về vấn đề chính sách, chế độ, những ưu tiên cho nữ và cán bộ nữ
4 Kết Luận:
Mỗi biện pháp nêu trên đều có tính độc lập tương đối của nó và được đặt trong mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau, thúc đẩy nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất cùng hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng đội ngũ nữ CBQL trường THPT Trong quá trình thực hiện các biện pháp phải tiến hành một cách đồng bộ có xem xét đến hoàn cảnh, điều kiện cụ thể để đưa ra biện pháp phù hợp, khoa học, khách quan đồng thời đảm bảo tính khả thi
Cùng với sự phát triển của đội ngũ
CBQLGD, đội ngũ nữ CBQL trường THPT
đã phát triển cả về số lượng và chất lượng Đội ngũ nữ CBQL trường THPT chiếm tỷ
lệ 20,4% trong tổng số CBQL trường THPT Trong những năm gần đây đội ngũ giáo viên, CBQL cũng tăng lên đáng kể, đồng thời nữ CBQL trường THPT cũng tăng lên (chỉ có 13 nữ CBQL năm 2008 đến
2013 tăng lên là 19 người) Họ đã đóng góp một phần không nhỏ trong công tác quản lý hoạt động dạy học ở các nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục cấp THPT ngày càng cao
Chất lượng giáo dục phụ thuộc một
Trang 8phần lớn vào năng lực quản lý của đội ngũ
CBQLGD Vì vậy, đội ngũ CBQLGD nói
chung và đội ngũ nữ CBQL trường THPT
nói riêng phải được xây dựng và phát triển
đủ về số lượng, mạnh về chất lượng và
đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt là cơ cấu nữ và
cơ cấu tuổi nhằm góp phần nâng cao chất
lượng, hiệu quả củ trương: “ Đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục đào tạo” của Đảng
Gắn với yêu cầu hoàn thành nhiệm vụ
của mỗi người nữ CBQLGD là việc tự học,
tự bồi dưỡng, nghiên cứu, tìm hiểu tiếng
dân tộc, phong tục tập quán của các dân
tộc, cập nhật thông tin về giáo dục và đào
tạo và về các lĩnh vực khác, trau dồi các kỹ năng nhằm đạt đến đỉnh cao của sự thành công của người nữ CBQLGD trong thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế
Để công tác phát triển đội ngũ nữ CBQL trường THPT thực hiện đúng hướng, phải đảm bảo sự lãnh đạo xuyên suốt của Đảng, phải có sự chỉ đạo, quản lý và kiểm tra tích cực của các cấp Ủy đảng, chính quyền và của ngành GD&ĐT, đồng thời bảo đảm yếu
tố điều kiện về cơ sở vật chất, kinh phí, thời gian, thông tin, chế độ, chính sách
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Ban Bí Thư Trung ương Đảng (1994), Chỉ thị 37-CT/TW, Một số vấn đề công tác cán
bộ nữ trong tình hình mới, Hà Nội.
[2] Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI,
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
[3] Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 9 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[4] Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[5] Bộ Chính trị (2007), Nghị quyết 11-NQ/TW, Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Hà Nội
[6] Đảng bộ tỉnh Phú Yên (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV,
Phú Yên
[7] Bộ GD và ĐT (2012), Quyết định số 970/QĐ-GD ĐT, Phê duyệt Kế hoạch hành
động về bình đẳng giới của ngành giáo dục giai đoạn 2012-2015, Hà nội
[8] Ban chấp hành Trung ương ( 2012), Hướng dẫn số 15-HD/BTCTW, Về công tác quy
hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tinh thần Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30/11/2004 của Bộ chính trị khóa IX, Hà Nội
[9] Tỉnh ủy Phú Yên (2007), Chương trình hành động số 17-CTr/TU về thực hiện Nghị
quyết số 11-NQ/TW của Bộ chính trị khóa X về Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Phú Yên.
Abstract
Methods of developing the staff of high school woman managers in Phu Yen province
In the view of the Viet Nam Communist Party, one of the goals of gender equality is how woman managers have been proportionated with their roles, their contributions to the workforce in our society in general and in the education and training field in particular Therefore, the education and training of Phu Yen needs appropriate measures, to actively direct
Trang 9the work of planing, training, promotiing, and designating woman managers, teachers in the key positions and titles suitable with their qualifications, competences and the percentage of women
On the basic of theoretical research and the realities of developing the staff of woman managers in high schools in Phu Yen Province in recent years, the author proposes a number of measures to develop the staff of woman managers in high schools in Phu Yen Province in the coming time
Key words: Education, education woman managers, high schools, gender equality