Nhiễm trùng huyết là bệnh lý thường gặp, khiến bệnh nhân HIV/AIDS nhập hồi sức tích cực, có tiên lượng xấu. Việc khảo sát các yếu tố liên quan đến tử vong ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS sẽ nâng cao hiệu quả điều trị và tiên lượng bệnh. Bài viết trình bày mô tả kết cục điều trị và các yếu tố liên quan đến tử vong ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS bị nhiễm trùng huyết.
Trang 1YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TỬ VONG CỦA BỆNH NHIỄM TRÙNG HUYẾT
Ở NGƯỜI NHIỄM HIV/AIDS TẠI BỆNH VIỆN BỆNH NHIỆT ĐỚI
Hồ Quang Minh 1 , Võ Triều Lý 1 , Trần Minh Hoàng 1 , Trần Đăng Khoa 1
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Nhiễm trùng huyết là bệnh lý thường gặp, khiến bệnh nhân HIV/AIDS nhập hồi sức tích cực,
có tiên lượng xấu Việc khảo sát các yếu tố liên quan đến tử vong ở bệnh nhân nhiễm HIVAIDS sẽ nâng cao hiệu quả điều trị và tiên lượng bệnh
Mục tiêu: Mô tả kết cục điều trị và các yếu tố liên quan đến tử vong ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS bị
nhiễm trùng huyết
Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, các bệnh nhân nhập viện khoa Nhiễm
E bệnh viện Bệnh Nhiệt đới, từ tháng 06/2020 đến tháng 5/2021
Kết quả : Trong 184 bệnh nhân HIV/AIDS bị nhiễm trùng huyết, bệnh nhân giai đoạn AIDS chiếm 87,2%
Tác nhân gây bệnh thường gặp là vi nấm (51,6%), vi trùng (48,4%), đa tác nhân (6%) Tỉ lệ tử vong chung là 35,3%, nhóm vi trùng: 39%, vi nấm: 29,2%, nhiễm đa tác nhân: 63,6% Yếu tố liên quan đến tử vong ở bệnh nhân HIV/AIDS nhiễm trùng huyết là suy hô hấp, rối loạn tri giác, tổn thương thận cấp, nhiễm đa tác nhân
Kết luận: Để giảm tử vong ở bệnh nhân nhiễm trùng huyết cơ địa nhiễm HIV/AIDS, cần can thiệp chăm
sóc tích cực, điều trị các tổn thương cơ quan, điều trị kháng sinh sớm; dự đoán đúng và tối ưu hóa khả năng phân lập tác nhân gây bệnh
Từ khóa: nhiễm trùng huyết, HIV/AIDS
ABSTRACT
FACTORS RELATED TO MORTALITY AMONG HIV/AIDS PATIENTS SUFFERING BLOODSTREAM INFECTION
Ho Quang Minh, Vo Trieu Ly, Tran Minh Hoang, Tran Dang Khoa
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 26 - No 1 - 2022: 247-253
Background: Bloodstream infection (BSI) is a common disease causing HIV/AIDS patients to admission
intensive care unit with the poor prognosis The investigation of factors related to mortality in this diease will improve the treatment effectiveness and prognosis
Objectives: Description of the outcomes and factors associated with mortality in HIV/AIDS patients
diagnosised BSI
Methods A descriptive cross-sectional study, at Hospital for Tropical Diease, from June 2020 to May 2021 Results: From 184 patients in research, AIDS patients accounted for 87.2% Common pathogens are fungi
(51.6%), bacteria (48.4%), polimicrobic (6%) The overall mortality rate was 35.3%, bacterial group: 39%, fungal: 29.2%, polimicrobic: 63.6% Factors associated with death in septic HIV/AIDS patients are respiratory failure, mental disturbances, acute kidney injury, polimicrobic BSI
Conclusion: To reduce mortality in HIV/AIDS-infected patients suffering BSI, it is necessary to intensive care,
control organs’s failure, give early antibiotic treatment, correct prediction and optimization of pathogen isolation
Keywords: bacteremia, HIV/AIDS
1 BM Nhiễm- ĐH Y Dược TP Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: BS Hồ Quang Minh ĐT: 0979323045 Email: minhquangho4@gmail.com
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm trùng huyết trên cơ địa nhiễm
HIV/AIDS chiếm tỉ lệ 12 – 31% trong các nguyên
nhân khiến bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS nhập
khoa hồi sức cấp cứu tích cực và đi kèm tiên
lượng xấu Theo nghiên cứu của Nguyễn Lê
Như Tùng (2008), tỉ lệ tử vong do nhiễm trùng
huyết còn cao, tỉ lệ tử vong chung là 33,2%(1)
Theo nghiên cứu của Aluisio AR, tỉ lệ tử vong
của bệnh nhân nhiễm trùng huyết trên cơ địa
nhiễm HIV/AIDS là 33,5%, cao hơn có ý nghĩa so
với người không nhiễm HIV/AIDS và có thời
gian nằm viện kéo dài hơn(2) Theo một nghiên
cứu hồi cứu của Medrano J từ năm 2006 đến
2010 tại khoa ICU tại các bệnh viện ở Tây Ban
Nha, tỉ lệ tử vong nội viện vào ngày thứ 30 và
ngày thứ 90 ở nhóm bệnh nhân nhiễm trùng
huyết trên cơ địa nhiễm HIV đều cao hơn so với
nhóm chứng, với tỉ lệ tử vong chung là 57,7% so
với 39,4% (p <0,001)(3) Từ đó cho thấy việc nhiễm
HIV là yếu tố nguy cơ dẫn đến nhiễm trùng
huyết nặng ở bệnh nhân nhập viện ở khoa hồi
sức tích cực Do đó, cần các nổ lực để cải thiện
tiên lượng tử vong ở bệnh nhân HIV/AIDS bị
nhiễm trùng huyết
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu mô tả đặc
điểm lâm sàng, kết quả điều trị và các yếu tố liên
quan đến tử vong ở bệnh nhân HIV/AIDS bị
nhiễm trùng huyết
Mục tiêu
Mô tả kết cục điều trị của bệnh nhân nhiễm
trùng huyết cơ địa nhiễm HIV/AIDS
Mô tả các yếu tố liên quan đến tử vong ở
bệnh nhân HIV/AIDS bị nhiễm trùng huyết
ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân nhiễm HIV mắc nhiễm trùng
huyết, có kết quả cấy máu dương tính, điều trị
trị tại khoa Nhiễm E, bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới
trong thời gian thu nhận mẫu
Tiêu chuẩn chọn mẫu
Bệnh nhân đạt đủ các tiêu chuẩn: người lớn
(≥15 tuổi), được chẩn đoán xác định nhiễm HIV/AIDS theo tiêu chuẩn của Bộ Y Tế, có kết quả cấy máu dương tính
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân không đồng ý tham gia vào NC, cấy máu ngoại nhiễm, không theo dõi được đến
lúc xuất viện
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
Cỡ mẫu
Ước tính cỡ mẫu (số bệnh nhân nhiễm trùng huyết có cấy máu dương tính) theo công thức:
Chọn p=33,2% (tỉ lệ tử vong ở bệnh nhân HIV/AIDS bị nhiễm trùng huyết của Nguyễn Lê Như Tùng 2008), sai số: 10%, độ tin cậy 95% Vậy
cỡ mẫu tối thiểu ước tính: 85 ca
Cách tiến hành
Thu thập số liệu về yếu tố dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và kết cục điều trị của các bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn nghiên cứu nhập viện từ tháng 6/2020 – tháng 5/2021
Định nghĩa một số biến số chính
Suy dinh dưỡng: BMI <18,5 Nhiễm trùng huyết: bệnh nhân có triệu chứng nghi ngờ nhiễm trùng (sốt; triệu chứng đường hô hấp: chứng ho, khó thở, đau ngực, khám phổi có ran phổi, hội chứng đông đặc; triệu chứng đường tiêu hóa: đau bụng, tiêu chảy, nôn ói, bụng có điểm đau; da: có các sang thương da: loét, sẩn, dát, bóng nước<) và có kết quả cấy máu dương tính với tác nhân gây bệnh Nhiễm HIV được chẩn đoán nhiễm HIV/AIDS (hướng dẫn điều trị và chăm sóc HIV/AIDS năm 2019 của Bộ Y Tế(4)) Giai đoạn AIDS được xác định khi bệnh nhân có giai đoạn lâm sàng 4 hoặc có số lượng tế bào CD4
<200 tế bào/ uL Sốc: huyết áp tâm thu dưới 90 mmHg hoặc huyết áp động mạch trung bình <65 mmHg Suy hô hấp: tăng công thở, tăng nhịp thở trên 24 lần/phút, SpO2 <90% khi thở khí trời,
Trang 3PaO2/FiO2 <200, PaCO2 >45 mmHg Rối loạn tri
giác: khi GCS dưới 15 điểm Tổn thương thận
cấp: Creatinin huyết thanh tăng hơn giá trị nền
0,5 mg/dL (44 umol/L), hoặc có CrCl giảm dưới
60 ml/phút (với những bệnh nhân không biết giá
trị creatinine nền) hoặc khi nước tiểu < 500
ml/ngày Giảm tiểu cầu: tiểu cầu máu ngoại biên
<100 tế bào/ uL Vàng da: bilirubin toàn phần
trong huyết thanh ≥34 umol/L SOFA: thang
điểm đánh giá tổn thương cơ quan theo Sepsis –
3(5) Tử vong: khi bệnh nhân tử vong thật sự
được xác định tại bệnh viện hoặc tình trạng bệnh
nặng, thân nhân xin về
Kỹ thuật đo lường biến số
Các xét nghiệm công thức máu, sinh hóa
máu, được thực hiện tại phòng xét nghiệm của
bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới Tổng phân tích tế bào
máu được thực hiện trên máy Advia 2120i1 Xét
nghiệm sinh hóa (men gan, creatinin, bilirubin,
điện giải đồ<) thực hiện trên máy Cobas C501
Kỹ thuật cấy máu và xác định tác nhân gây
bệnh: Cấy máu áp dụng kỹ thuật cấy máu bằng
chai cấy máu tự động (BACTEC 9240,
Bact/ALERT 3D) Sau khi có kết quả cấy dương
tính, mẫu máu sẽ được cấy chuyển lên thạch và
định danh bằng phương pháp sinh hóa thường
quy hoặc bằng phương pháp MALDI- TOF
Phương pháp thống kê
Nhập và phân tích số liệu bằng phần mềm
SPSS 22.0 Các biến số liên tục được biểu diễn
bằng giá trị trung vị (IQR) Biến định tính biểu
hiện bằng tỉ lệ % Sự khác biệt về tỉ lệ giữa 2
nhóm được so sánh bằng phép kiểm chi bình phương Các giá trị liên tục không có phân phối chuẩn được so sánh bằng phép kiểm Mann-Whitney U (2 nhóm) hay phép kiểm Kruskal Wallis (≥3 nhóm) Chọn độ tin cậy 95% trong các phép kiểm
Y đức
Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học của bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới, số 1584/QĐ – BVBNĐ
(ngày 10 tháng 09 năm 2020)
KẾT QUẢ
Từ tháng 6/2020 đến tháng 5/2021, tổng cộng
có 184 bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn tham gia
nghiên cứu
Kết quả phân lập chung
Có 77 bệnh nhân nhiễm trùng huyết do vi khuẩn (41,8%), 96 bệnh nhân nhiễm vi nấm (52,2%) và có 11 bệnh nhân nhiễm trùng huyết
đa tác nhân (6%) 1 trường hợp vi khuẩn kháng acid – cồn
Kết cục điều trị
Tỉ lệ tử vong chung của bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS bị nhiễm trùng huyết là 35,3% Ở bệnh nhân nhiễm trùng huyết đa tác nhân, tỉ lệ
tử vong cao nhất, tỉ lệ 63,6% 51,6% bệnh nhân nhiễm trùng huyết phải nhập đơn vị chăm sóc tích cực Tỉ lệ chuyển viện khoảng 7,1%, thường liên quan đến chuyển bệnh viện Phạm Ngọc Thạch vì chẩn đoán lao
Hình 1 Kết quả điều trị phân theo các tác nhân
Trang 4Các yếu tố liên quan đến tử vong ở bệnh nhân
HIV/AIDS bị nhiễm trùng huyết
Tỉ lệ bệnh nhân có sốc, suy hô hấp, tổn
thương thận cấp và rối loạn tri giác ở nhóm bệnh
nhân tử vong cao hơn có ý nghĩa so với nhóm bệnh nhân sống còn Điểm SOFA trung vị ở nhóm bệnh nhân tử vong là 9 (5 – 18), cao hơn so
với nhóm bệnh nhân sống (Bảng 2)
Bảng 2 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân tử vong và không tử vong
Nhóm Tuổi
*: Phép kiểm chi bình phương, độ tin cậy 95% ** : Phép kiểm Mann – Whitney, độ tin cậy 95%
b Loại trừ những trường hợp cấy máu đa tác nhân, có 6 TH không ghi nhận được thời gian cấy máu dương tính
Phân tích đặc điểm tác nhân gây bệnh liên
quan đến tử vong
Bảng 3 So sánh tỉ lệ tử vong giữa vi khuẩn và vi
nấm
Tác nhân gây bệnh Tử vong (n=58) Sống (n=115) p
0,175
(Phép kiểm chi bình phương)
Không có sự khác biệt về tỉ lệ tử vong của
bệnh nhân nhiễm trùng huyết do vi khuẩn và vi
nấm (Bảng 3)
Không có sự khác biệt về tỉ lệ tử vong giữa
nhóm nhiễm trùng huyết do vi khuẩn gram
dương và gram âm Tác nhân nấm men trong
nghiên cứu phân lập được là C neoformans và
Candida spp (chỉ có 2 ca, đều ở nhóm tử vong)
Tác nhân nấm sợi phân lập được là T marneffei
Bệnh nhân nhiễm trùng huyết do tác nhân nấm
men có tỉ lệ tử vong cao hơn so với nấm sợi
Bệnh nhân nhiễm trùng huyết đa tác nhân tỉ lệ
tử vong cao hơn so với nhóm chỉ nhiễm 1 tác
nhân (Bảng 4)
Bảng 4 So sánh tỉ lệ tử vong giữa các tác nhân trong
nhóm
Tác nhân Tử vong (n=29) Sống (n=47) p
So sánh trong nhóm vi khuẩn
0,731
So sánh trong nhóm vi nấm
0,034
So sánh giữa đa tác nhân và 1 tác nhân
0,043
(phép kiểm chi bình phương)
Phân tích đa biến các yếu tố liên quan độc lập với tiên lƣợng tử vong
Chúng tôi sử dụng 5 yếu tố có mức ý nghĩa
p <0,05 trong nghiên cứu là tình trạng sốc, suy
hô hấp, rối loạn tri giác, tổn thương thận cấp và nhiễm đa tác nhân vào phân tích đa biến
Trang 5Bảng 5 Các yếu tố liên quan đến tỉ lệ tử vong – phân
tích đa biến (n=184)
Kết quả Bảng 5 cho thấy, 4 yếu tố có liên
quan độc lập đến tiên lượng tử vong là suy hô
hấp, rối loạn tri giác, tổn thương thận cấp và
nhiễm trùng huyết đa tác nhân Trong số phân
tích mức độ tiên lượng tử vong, bệnh nhân có
suy hô hấp có tỉ số số chênh 7,9 lần so với bệnh
nhân không có suy hô hấp (KTC 95% 3,21 –
22,59; p <0,001) Bệnh nhân có rối loạn tri giác có
tỉ số chênh gấp 5,3 lần so với bệnh nhân không
rối loạn tri giác (KTC 95% 2,02 – 13,69; p=0,001)
Bệnh nhân có xuất hiện tổn thương thận cấp có tỉ
số chênh gấp 5,3 lần so với bệnh nhân có chức năng thận bình thường (KTC 95% 1,98 – 12,22; p=0,001) OR của yếu tố nhiễm trùng huyết đa tác nhân là 5,5 (KTC 95% 1,03 – 28,8; p=0,046)
BÀN LUẬN
Có 51,6% bệnh nhân trong nghiên cứu nhập ICU; 35,3% bệnh nhân tử vong Qua kết quả nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy nhiễm trùng huyết trên bệnh nhân HIV/AIDS là một bệnh nặng, nguy cơ tử vong cao Gánh nặng bệnh tật của nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân nhiễm HIV còn rất lớn, 45,1% bệnh nhân cần can thiệp oxy liệu pháp lưu lượng thấp (oxy mũi, oxy mask); 21,7% bệnh nhân phải đặt nội khí quản – thở máy và cần sử dụng thuốc vận mạch
Hình 2 Tỉ lệ tử vong của bệnh nhân HIV/AIDS bị nhiễm trùng huyết
*: tỉ lệ tử vong của nhiễm trùng huyết sau 4 tuần theo dõi
So sánh với các nghiên cứu khác nhau ở khu
vực và thế giới (Hình 2), tỉ lệ tử vong ở bệnh
nhân nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân HIV trong
nghiên cứu chúng tôi cao hơn(6,7,8) Do đó, cần có
nhiều những nổ lực trong vấn đề chẩn đoán và
điều trị bệnh nhân nhiễm trùng huyết để giảm tỉ
lệ tử vong trên nhóm bệnh nhân đặc biệt này
Chúng tôi phân tích một số đặc điểm của
nhóm bệnh nhân nhiễm trùng huyết tử vong so
sánh với những nhân sống Ở nhóm tử vong, tỉ
lệ bệnh nhân có sốc (56,9% so với 7,6%; p <0,001),
suy hô hấp (78,5% so với 17,6%, p <0,001), rối loạn tri giác (47,7% so với 16%, p <0,001), tổn thương thận cấp (49,2% so với 13,4%, p <0,001)
và nhiễm trùng huyết đa tác nhân (10,8% so với 3,4%, p=0,043) cao hơn có ý nghĩa thống kê so
với bệnh nhân không tử vong (Bảng 2) Tuy
nhiên khi đưa vào phân tích đa biến, có 4 yếu tố liên quan đến tỉ lệ tử vong là tình trạng suy hô hấp, rối loạn tri giác, tổn thương thận cấp và
nhiễm trùng huyết đa tác nhân (Bảng 5)
Hai hội chứng còn lại của nhiễm trùng huyết theo Sepsis – 3 là vàng da (59,1% so với 46,7%;
Trang 6p=0,376) và giảm tiểu cầu (35,4% so với 33,6%,
p=0,809) thì không có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê giữa nhóm tử vong và không tử vong
Ở đặc điểm vàng da, chỉ những bệnh nhân nào
có triệu chứng vàng da trên lâm sàng thì mới
được bác sĩ lâm sàng cho làm xét nghiệm
bilirubin để khẳng định, chứ xét nghiệm này
không phải là xét nghiệm thường quy thực hiện
ở mọi bệnh nhân Do đó có thể dẫn đến sai lệch
trong tỉ lệ vàng da giữa 2 nhóm nhiễm trùng
huyết chúng tôi phân tích Giảm tiểu cầu được
ghi nhận với tỉ lệ như nhau giữa nhóm bệnh
nhân tử vong và sống còn Tổng điểm đánh giá
chức năng suy cơ quan SOFA của nhóm bệnh
nhân tử vong cao hơn so với bệnh nhân sống sót
(9 điểm so với 4 điểm, p <0,05) (Bảng 2)
Trong nghiên cứu, chúng tôi vẫn chưa ghi
nhận được sự khác biệt về số lượng tế bào
lympho T CD4, tỉ lệ bệnh nhân trong giai đoạn
AIDS giữa nhóm bệnh nhân tử vong và sống
Điều này có thể do số lượng bệnh nhân trong
dân số nghiên cứu chúng tôi đa phần trong giai
đoạn AIDS (tỉ lệ AIDS trong dân số nghiên cứu
là 87,2%) nên chưa phân tích rõ ràng được mối
liên hệ giữa tế bào lympho T CD4 và tiên lượng
sống còn của bệnh nhân
Mối liên quan giữa thời gian máu cấy dương
tính và tỉ lệ tử vong có khác nhau giữa các
nghiên cứu Theo nghiên cứu đoàn hệ FABLED,
về các yếu tố tiên lượng tử vong của bệnh nhân
nhiễm trùng huyết, thời gian cấy máu dương
tính không tương quan với tỉ lệ tử vong(9)
Nghiên cứu của Ning Y lại cho thấy có sự khác
biệt về thời gian cấy máu dương tính và tỉ lệ tử
vong ở các bệnh nhân nhiễm trùng huyết do các
nhóm tác nhân như trực khuẩn đường ruột,
P.aeruginosa<(10) Do đó, chúng tôi tiến hành
phân tích thời gian cấy máu dương tính giữa
nhóm tử vong và sống còn trong nghiên cứu
Trong nghiên cứu, thời gian cấy máu dương tính
giữa nhóm bệnh nhân tử vong và bệnh nhân
sống còn khác nhau không có ý nghĩa thống kê
Khi so sánh trong nhóm vi khuẩn, không có
sự khác biệt về tỉ lệ tử vong giữa nhóm vi khuẩn
gram dương và vi khuẩn gram âm So sánh trong nhóm vi nấm, tử vong do nhóm nhiễm trùng huyết do nấm hạt men cao hơn so với
nhóm nhiễm trùng huyết do nấm sợi (T marneffei) Cả 2 bệnh nhân nhiễm nấm Candida máu đều tử vong C neoformans thường đi kèm
với viêm màng não, đây là một tình trạng bệnh
lý nặng nên có thể đi kèm với tỉ lệ tử vong cao
Nấm C neoformans đáp ứng chậm với điều trị,
nhiều trường hợp phải điều trị kháng nấm kéo dài hơn 2 tuần so với phác đồ Bộ Y tế Loài nấm này có khả năng tái phát cao Do đó có thể khiến cho tỉ lệ tử vong cao ở nhóm bệnh nhân nhiễm
C neoformans
Bệnh nhân bị nhiễm trùng huyết đa tác nhân
có tỉ lệ tử vong cao Tuy nhiên, không phải mọi mẫu cấy máu đều phân lập được các tác nhân kịp thời, chính xác Đặc biệt, ở bệnh nhân nhiễm
HIV, các tác nhân như nấm (T marneffei, Histoplasma capsulatum), vi khuẩn lao hoặc vi khuẩn họ Mycobacterium có thời gian mọc chậm,
khả năng dương tính thấp với quy trình cấy hiện tại của đa số các bệnh viện Để tối ưu khả năng phân lập được tác nhân từ đó giúp việc điều trị được sớm và chính xác, cấy máu ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS nghi ngờ nhiễm trùng huyết
có thể áp dụng các kỹ thuật như MYCO/FLytic medium (BACTEC), BacT/ALERT MB (với chai cấy máu BACTEC Plus Aerobic/F, BT/ALERT MB) hoặc các hệ thống nuôi cấy có sử dụng hệ thống ly tâm cô lập để có thể giảm thời gian cấy máu dương tính hoặc tăng khả năng phát hiện các tác nhân khác(11,12,13)
KẾT LUẬN
Nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS có tỉ lệ tử vong cao (35,5%) Đánh giá các tổn thương cơ quan có ý nghĩa tiên lượng tử vong của bệnh Cần tối ưu hóa việc phân lập tác nhân gây bệnh nhiễm trùng huyết cơ địa nhiễm HIV/AIDS sẽ giúp điều trị đặc hiệu sớm và chính xác
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Lê Như Tùng (2008) Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng nhiễm trùng huyết trên bệnh nhân người lớn nhiễm
Trang 7HIV/AIDS tại bệnh viện Bệnh Nhiệt đới từ tháng 1/2005 đến
tháng 12/2006 Luận Văn Thạc Sĩ Y Học, Đại Học Y Dược TP Hồ
Chí Minh
2 Aluisio AR, Garbern S, Wiskel T, Mutabazi Z A, Umuhire O, et
al (2018) Mortality outcomes based on ED qSOFA score and
HIV status in a developing low income country Am J Emerg
Med, 36(11):2010-2019
3 Medrano J, Álvaro-Meca A, Boyer A, Jiménez-Sousa MA,
Resino S (2014) Mortality of patients infected with HIV in the
intensive care unit (2005 through 2010): significant role of
chronic hepatitis C and severe sepsis Crit Care, 18(4):475
4 Bộ Y Tế (2019) Hướng dẫn điều trị và chăm sóc HIV/AIDS,
2019: Quyết định số 5456/QĐ-BYT ngày 20/11/2019
5 Singer M, Deutschman CS, Seymour CW, Shankar-Hari M,
Annane D, et al (2016) The Third International Consensus
Definitions for Sepsis and Septic Shock (Sepsis-3) JAMA,
315(8):801-10
6 Ortega M, Almela M, Soriano A, Marco F, Martínez JA, et al
immunodeficiency virus-infected adult patients: epidemiology
and risk factors for mortality Eur J Clin Microbiol Infect Dis,
27(10):969-76
7 Kiertiburanakul S, Watcharatipagorn S, Chongtrakool P,
Santanirand P (2012) Epidemiology of bloodstream infections
and predictive factors of mortality among HIV-infected adult
patients in Thailand in the era of highly active antiretroviral
therapy Jpn J Infect Dis, 65(1):28-32
8 Taramasso L, Tatarelli P, Di Biagio A (2016) Bloodstream
infections in HIV-infected patients Virulence, 7(3):320-8
9 Paquette K, Sweet D, Stenstrom R, Stabler SN, Lawandi A, et al (2021) Neither Blood Culture Positivity nor Time to Positivity Is Associated With Mortality Among Patients Presenting With
Severe Manifestations of Sepsis: The FABLED Cohort Study
https://doi.org/10.1093/ofid/ofab321
10 Ning Y, Hu R, Yao G, Bo S (2016) Time to positivity of blood
culture and its prognostic value in bloodstream infection Eur J
Clin Microbiol Infect Dis, 35(4):619-24
11 Gary VD (2021) Detection of bacteremia: Blood cultures and
https://www.uptodate.com/contents/detection-of-bacteremia-
blood-cultures-and-other-diagnostic-tests?search=Detection%20of%20bacteremia:%20Blood%20cultu res%20and%20other%20diagnostic%20tests&source=search_res ult&selectedTitle=1~150&usage_type=default&display_rank=1
12 Arendrup MC, Boekhout T, Akova M, Meis JF, Cornely OA, et
al (2014) ESCMID and ECMM joint clinical guidelines for the
diagnosis and management of rare invasive yeast infections
Clin Microbiol Infect, 20:376-98
13 Ellen JB (2005) Cumitech #1c Blood Cultures IV, pp.1-32
American Society for Microbiology
Ngày nhận bài báo: 30/11/2021 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 10/02/2022 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2022