1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ứng dụng bảng câu hỏi OAB-SS trong chẩn đoán và theo dõi điều trị bàng quang tăng hoạt

8 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 834,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, chẩn đoán và đánh giá hiệu quả điều trị bàng quang tăng hoạt (Overactive Bladder – OAB) chủ yếu dựa vào từng triệu chứng chủ quan của bệnh nhân. Mục tiêu của nghiên cứu này là áp dụng bảng câu hỏi OAB-SS của Homma để chẩn đoán và theo dõi điều trị bàng quang tăng hoạt trong thực hành lâm sàng.

Trang 1

ỨNG DỤNG BẢNG CÂU HỎI OAB-SS TRONG CHẨN ĐOÁN

VÀ THEO DÕI ĐIỀU TRỊ BÀNG QUANG TĂNG HOẠT

Nguyễn Văn Ân1

, Lê Trương Tuấn Đạt2

, Đoàn Vương Kiệt 1 , Phạm Huy Vũ 1

TÓM TẮT

Mục tiêu: Hiện nay, chẩn đoán và đánh giá hiệu quả điều trị bàng quang tăng hoạt (Overactive Bladder –

OAB) chủ yếu dựa vào từng triệu chứng chủ quan của bệnh nhân Khi đó sẽ không lượng giá được mức độ nặng nhẹ cũng như đánh giá hiệu quả điều trị tổng thể của bệnh nhân Vì vậy, cần có một công cụ khách quan để hỗ trợ chẩn đoán và theo dõi điều trị bệnh nhân OAB Bảng câu hỏi OAB-SS (Overactive Bladder - Symptoms Score) của Homma đã được phát triển và xác nhận là một công cụ giá trị giúp đánh giá triệu chứng của OAB Mục tiêu của nghiên cứu này là áp dụng bảng câu hỏi OAB-SS của Homma để chẩn đoán và theo dõi điều trị bàng quang tăng hoạt trong thực hành lâm sàng

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả loạt ca tất cả bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị OAB

tại phòng khám và khoa Niệu học chức năng của Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM từ 01/2020 đến 06/2021

Kết quả: 93 trường hợp được đưa vào nghiên cứu với tỷ lệ Nữ/Nam là 2,21/1 Tuổi trung bình mắc phải

OAB là 46,83 Nhóm tuổi mắc phải OAB cao nhất là 30 – 39 tuổi OAB ướt chiếm 29,03% và OAB khô chiếm 70,97% So với OAB khô, OAB ướt có tuổi trung bình lớn hơn đáng kể và thời gian mắc phải các triệu chứng trước khi đến khám ngắn hơn rõ rệt Điểm số trung bình của từng triệu chứng: Tiểu nhiều lần (1,57), tiểu đêm (2,25), tiểu gấp (4,82), tiểu không kiểm soát gấp (1,0) Điểm số OAB-SS trung bình là 9,63 và điểm số chất lượng cuộc sống (Quality of Life – QoL) trung bình là 5,22 Tổng điểm OAB-SS và điểm số QoL ở nhóm OAB ướt cao hơn có ý nghĩa so với nhóm OAB khô Dựa vào sự tương quan và phân bố điểm số giữa OAB-SS và QoL để gợi ý phân độ triệu chứng OAB dựa trên điểm số OAB-SS: 1 – 5 điểm: nhẹ, 6 – 9 điểm: trung bình, 10 – 15: nặng Về kết quả điều trị: điểm số từng triệu chứng, tổng điểm OAB-SS và điểm số QoL đều cải thiện đáng kể sau điều trị

Cụ thể: tiểu nhiều lần (1,57 0,41), tiểu đêm (2,25 0,86), tiểu gấp (4,82 1,32), tiểu không kiểm soát gấp

(1,0 0,2), tổng điểm OAB-SS (9,63 2,78) và điểm số QoL (5,22 2,45)

Kết luận: Bảng câu hỏi OAB-SS là một công cụ khách quan và có giá trị giúp đánh giá triệu chứng OAB,

góp phần gia tăng hiệu quả chẩn đoán và điều trị OAB

Từ khóa: bàng quang tăng hoạt, điểm số bàng quang tăng hoạt

ABSTRACT

APPLY OAB-SS QUESTIONAIRE IN OVERACTIVE BLADDER DIAGNOSING

AND PATIENT'S FOLLOW-UP

Nguyen Van An, Le Truong Tuan Dat, Doan Vuong Kiet, Pham Huy Vu

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 26 - No 1 - 2022: 163-170

Objective: Today, OAB diagnosis and assessing the success of its treatment mostly depends on patient's

feeling This leads to difficulty in evaluating the severity of disease and the overall effect of the current treatment Therefore, we need a more efficient tool that makes diagnosis and patient follow-up easier and better Homma's OAB-SS has been developed and recognized as a suitable tool in many countries The purpose of this research is to apply the OAB-SS in diagnosing and patient's follow-up in the clinical practice

Tác giả liên lạc: BS Lê Trương Tuấn Đạt ĐT: 0906792337 Email: dr.tuandat2710@gmail.com

Trang 2

Method: A case series study was conducted among inpatients and outpatients diagnosed and treated for OAB at Functional Urology Department of University Medical Center HCMC from 01/2020 to 06/2021

Results: 93 cases were included in the study with a female/male ratio is 2.21/1 The mean age was 46.83 The

age group with the highest incidence of OAB is 30 – 39 Wet OAB accounts for 29.03% and dry OAB accounts for 70.97% Compared with the dry OAB group, wet OAB group had a significantly greater mean age and significantly shorter duration of symptoms before coming to the clinic Average score of each symptom: Frequency (1.57), nocturia (2.25), urgency (4.82), urgency urinary incontinence (1.0) OAB-SS was 9.63 and QoL was 5.22 OAB-SS and QoL were significantly higher in the wet OAB group than in the dry OAB group The correlation and distribution of scores between OAB-SS and QoL suggest that OAB-SS score be used to classify the severity of OAB: 1 – 5: mild, 6 – 9: moderate, 10 – 15: severe Regarding treatment results: symptoms score, OAB-SS and QoL improved significantly after treatment More detail: frequency (1.57 0.41), nocturia (2.25

0.86), urgency (4.82 1.32), urge urinary incontinence (1.0 0.2), OAB-SS (9.63 2.78) and QoL (5.22

2.45)

Conclusion: OAB-SS is an objective and valuable tool to evaluate OAB symptoms, contributing to increase the effectiveness of OAB diagnosis and treatment

Key words: overactive bladder, overactive bladder symptoms score, OAB-SS

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo Hội tiêu tiểu tự chủ quốc tế

(International Continence Society – ICS), bàng

quang tăng hoạt là một hội chứng đặc trưng bởi

triệu chứng tiểu gấp, thường đi kèm với tiểu

nhiều lần và tiểu đêm, có thể có hoặc không có

tiểu không kiểm soát gấp và không ghi nhận

nhiễm khuẩn đường tiết niệu hoặc các bệnh lý rõ

ràng khác của đường tiết niệu(1)

Tần suất mắc phải OAB tại Việt Nam khoảng

12,2%, trong đó OAB ướt (có tiểu không kiểm

soát gấp) chiếm 2,5% Tỷ lệ mắc phải OAB ở nữ

cao hơn nam (khoảng 1,46/1)(2) OAB tuy không

nguy hiểm tới tính mạng nhưng gây suy giảm

đáng kể chất lượng cuộc sống

Đánh giá ban đầu trong chẩn đoán OAB bao

gồm khai thác bệnh sử đầy đủ, thăm khám thực

thể cẩn thận, tổng phân tích nước tiểu và sử

dụng bảng câu hỏi triệu chứng và/hoặc nhật ký

bàng quang nếu khả thi(3,4) Đánh giá chuyên sâu

sẽ được sử dụng khi cần thiết Điều trị OAB bao

gồm liệu pháp thay đổi hành vi, dùng thuốc,

tiêm độc tố Botulinum A vào cơ bàng quang,

kích thích thần kinh chày, điều hòa thần kinh

cùng và phẫu thuật mở rộng bàng quang bằng

ruột/chuyển lưu nước tiểu(3,4) Thời gian tối thiểu

để đánh giá hiệu quả của liệu pháp hành vi cũng

như điều trị thuốc thường từ 4 – 12 tuần(5) Đánh giá hiệu quả điều trị ở bệnh nhân được tiêm độc

tố Botulinum A vào cơ bàng quang và/hoặc mở rộng bàng quang bằng ruột thường không có thời gian cụ thể(3)

Về chẩn đoán, nếu chỉ dựa trên định nghĩa của ICS thì khó lượng giá được mức độ nặng nhẹ Chẳng hạn, một bệnh nhân tiểu gấp 4 – 5 lần/ngày khác bệnh nhân tiểu gấp 9 – 10 lần/ngày, một bệnh nhân tiểu 10 lần/ngày khác bệnh nhân tiểu 20 – 30 lần/ngày Bên cạnh đó, đánh giá hiệu quả điều trị OAB mang tính chủ quan, dựa trên cảm giác của bệnh nhân trên từng triệu chứng, chẳng hạn khi tái khám bệnh nhân khai triệu chứng không cải thiện, nhưng khi đánh giá lại thì trước điều trị bệnh nhân tiểu đêm 10 lần, sau điều trị tiểu đêm còn 5 lần nghĩa là bệnh nhân đã có hiệu quả điều trị dù theo tiêu chuẩn thì vẫn còn tiểu đêm Ngoài ra, OAB là một hội chứng và sự phức tạp không thể được đánh giá đầy đủ bằng cách chỉ đếm từng triệu chứng riêng lẻ Một số bệnh nhân có thể có những thay đổi hỗn hợp, với một triệu chứng cải thiện và một triệu chứng trở nên tệ hơn(6) Cuối cùng, do phác đồ điều trị kéo dài, bệnh nhân bỏ trị do chưa đáp ứng kì vọng, do tác dụng phụ cũng như chi phí cao đòi hỏi phải có một công cụ khách quan để đánh giá

Trang 3

hiệu quả điều trị, giúp bác sĩ lâm sàng tư vấn

và thuyết phục bệnh nhân

Đã có nhiều công cụ giúp thuận lợi cho việc

đánh giá triệu chứng và ảnh hưởng của triệu

chứng lên chất lượng cuộc sống cũng như đánh

giá hiệu quả điều trị đã được giới thiệu Bảng

câu hỏi OAB-SS của Homma đã được phát triển

và xác nhận là một công cụ đánh giá triệu chứng

của OAB, được sử dụng tại nhiều quốc gia,

OAB-SS tích hợp bốn triệu chứng vào một điểm

số duy nhất và có thể là một công cụ hữu ích cho

nghiên cứu và thực hành lâm sàng(6) Tại Việt

Nam, bảng câu hỏi OAB-SS của Homma đã

bước đầu được giới thiệu(7) nhưng chưa có

nghiên cứu nào về việc ứng dụng bảng câu hỏi

OAB-SS trên bệnh nhân OAB dù số lượng bệnh

nhân là rất nhiều và việc sử dụng bảng câu hỏi

OAB-SS là rất đơn giản nhưng có tính khách

quan Vì vậy, để có thêm luận cứ cho việc sử

dụng bảng câu hỏi OAB-SS trên thực hành lâm

sàng, chúng tôi quyết định thực hiện nghiên cứu

với mục tiêu áp dụng bảng câu hỏi OAB-SS

trong chẩn đoán và theo dõi điều trị OAB

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị OAB

tại phòng khám và khoa Niệu học chức năng của

bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM từ 01/2020

đến 06/2021

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị

OAB

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân không tái khám đầy đủ để thực

hiện đánh giá lại OAB-SS

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả hàng loạt trường hợp Trong nghiên

cứu này sử dụng bảng câu hỏi OAB-SS của

Homma và đánh giá chất lượng cuộc sống

bằng IPSS (International Prostate Symptom

Score) QoL

Bảng 1 Bảng câu hỏi OAB-SS của Homma

Triệu chứng Mức độ

Tiểu nhiều lần (Bạn đi tiểu bao nhiêu lần từ lúc thức dậy buổi sáng đến lúc đi ngủ

buổi tối?)

7 lần

8 – 14 lần

15 lần

0đ 1đ

Tiểu đêm (Bạn đi tiểu bao nhiêu lần từ lúc đi ngủ buổi tối đến lúc thức dậy buổi

sáng?)

Không

1 lần

2 lần

3 lần

0đ 1đ 2đ 3đ

Tiểu gấp (Bạn có thường bị cảm giác mắc đi tiểu gấp, khó mà nín tiểu?)

Không

<1 lần/tuần

1 lần/tuần

1 lần/ngày

2 – 4 lần/ngày

5 lần/ngày

0đ 1đ 2đ 3đ 4đ 5đ

Tiểu không kiểm soát gấp (Bạn có thường bị són tiểu do không nín được khi mắc đi tiểu

gấp?)

Không

<1 lần/tuần

1 lần/tuần

1 lần/ngày

2 – 4 lần/ngày

5 lần/ngày

0đ 1đ 2đ 3đ 4đ 5đ Tổng điểm: ………

Bảng 2 Câu hỏi đánh giá chất lượng cuộc sống

(IPSS QoL)

Rất hài lòng

Hài lòng

Khá hài lòng

Tạm chấp nhận

Khá khó chịu

Khó chịu

Không chịu nỗi

Bạn nghĩ sao nếu phải sống quãng đời còn lại với các triệu chứng hiện tại?

Các bước tiến hành nghiên cứu

Ghi nhận các thông tin sau

Đặc điểm bệnh nhân: tuổi, giới tính

Bệnh sử: điểm số 4 triệu chứng của OAB, OAB-SS, QoL, thời gian mắc phải triệu chứng Điều trị được chọn: liệu pháp hành vi; điều trị thuốc; điều trị khác như tiêm độc tố Botulinum A vào cơ bàng quang; mở rộng bàng quang bằng ruột

Theo dõi điều trị: điểm số OAB-SS, điểm số QoL sau 4 tuần và 12 tuần điều trị

Thu thập và xử lý số liệu

Mã hóa, nhập liệu, xử lý và phân tích số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel 365 và phần mềm thống kê Stata 14

Trang 4

Y đức

Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng

Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại học Y

Dược TP HCM, số: 319/HĐĐĐ-ĐHYD ngày

28/04/2021

KẾT QUẢ

Trong thời gian từ 01/2020 đến 06/2021,

chúng tôi ghi nhận tổng cộng 256 trường hợp

(TH) được chẩn đoán và điều trị OAB, trong đó

có 93 TH đầy đủ số liệu được đưa vào nghiên

cứu với những kết quả sau:

- Tỷ lệ Nữ/Nam là 2,21/1 (29 nam so với 64

nữ)

- Tuổi trung bình 46,83 (từ 18 đến 94 tuổi)

- Phân bố tuổi: Nhóm tuổi 30 – 39 chiếm tỉ lệ cao nhất, nhưng không có sự vượt trội so với các nhóm tuổi khác Hơn 70% bệnh nhân nằm trong khoảng 30 – 69 tuổi

- Suất độ OAB khô và OAB ướt: OAB khô chiếm 70,97% và OAB ướt chiếm 29,03%

- Thời gian trung bình bệnh nhân mắc phải triệu chứng của OAB là 23,41 tháng (khoảng 2 năm), trong đó ngắn nhất là 1 tháng và dài nhất

là 10 năm

Đặc điểm bệnh nhân, thời gian mắc phải triệu chứng, điểm số từng triệu chứng, tổng điểm OAB-SS và điểm số QoL của bệnh nhân theo từng nhóm cụ thể được thể hiện trong

Bảng 3

Bảng 3 Đặc điểm bệnh nhân, điểm số triệu chứng và điểm số QoL giữa các nhóm

Nhóm OAB (n=93) OAB khô (n=66) OAB ướt (n=27)

OAB-SS

QoL

Tuổi và thời gian trung bình mắc phải triệu

chứng giữa 2 nhóm OAB khô và OAB ướt khác

biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,05), với độ tuổi

trung bình cao hơn đáng kể ở nhóm OAB ướt

Tỷ lệ mắc phải OAB ướt giữa 2 nhóm nam

và nữ khác biệt không có ý nghĩa thống kê

Thời gian mắc phải triệu chứng giữa 2 nhóm

OAB khô và OAB ướt khác biệt có ý nghĩa thống

kê (p <0,05) Nhóm OAB ướt có thời gian chịu đựng các triệu chứng ngắn hơn rõ rệt

Tổng điểm OAB-SS và điểm số triệu chứng tiểu không kiểm soát gấp giữa 2 nhóm OAB khô và OAB ướt khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,05), nhóm OAB ướt có điểm số cao hơn Điểm số triệu chứng tiểu nhiều lần, tiểu đêm

và tiểu gấp giữa 2 nhóm OAB khô và OAB ướt

Trang 5

khác biệt không có ý nghĩa thống kê

Điểm số QoL giữa 2 nhóm OAB khô và OAB

ướt khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,05), với

điểm số cao hơn (tương đương với chất lượng

cuộc sống tệ hơn) ở nhóm OAB ướt

Tuổi tương quan thuận, mức độ trung bình

đối với tổng điểm OAB-SS (R=0,33, p=0,0011) và

điểm số triệu chứng tiểu không kiểm soát gấp

(R=0,4, p=0,0001,) Tuổi tương quan không có ý

nghĩa thống kê đối với điểm số triệu chứng tiểu

nhiều lần, tiểu đêm, tiểu gấp và thời gian mắc

phải triệu chứng (phép kiểm tương quan

Spearman)

Bảng 4 Điểm số QoL trong từng mức điểm số OAB-SS

Điểm số OAB-SS Điểm số QoL Giá trị p Phép kiểm

0,0001 Kruskall-Wallis

Điểm số QoL trung bình giữa các mức điểm

OAB-SS khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,05)

Khi so sánh sự khác biệt QoL cụ thể giữa

từng mức điểm OAB-SS (dùng phép kiểm

Mann-Whitney cho từng cặp điểm OAB-SS), ta

có kết quả:

QoL khi OAB-SS=6 và QoL khi OAB-SS từ 9

 15 khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,05) QoL khi OAB-SS=7 và QoL khi OAB-SS từ 9

 15 khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,05) QoL khi OAB-SS=8 và QoL khi OAB-SS từ 10

 15 khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,05) QoL khi OAB-SS=9 và QoL khi OAB-SS từ 10

 15 khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,05) QoL khi OAB-SS=10 và QoL khi OAB-SS từ

13  15 khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,05) Điểm số QoL tương quan thuận, mức độ mạnh đối với tổng điểm OAB-SS (R=0,66, p

<0,001) và điểm số triệu chứng tiểu không kiểm soát gấp (R=0,6, p <0,001) QoL tương quan thuận, mức độ trung bình đối với điểm số triệu chứng tiểu gấp (R=0,3, p=0,0034) QoL tương quan nghịch, mức độ yếu đối với thời gian mắc phải triệu chứng (R=-0,28, p=0,0072) (phép kiểm tương quan Spearman)

Phương pháp điều trị: 96,77% bệnh nhân được khởi đầu bằng liệu pháp thay đổi hành vi

và dùng thuốc Còn lại có 1 TH được tiêm độc tố Botulinum A vào cơ bàng quang và 2 TH mở rộng bàng quang bằng ruột

Bảng 5 Điểm số từng triệu chứng trước và sau điều trị 4 và 12 tuần

Điểm số triệu chứng Chưa điều trị Sau 4 tuần điều trị Sau 12 tuần điều trị Giá trị p Phép kiểm

t bắt cặp

Hình 1 Kết quả điều trị tổng thể và gánh nặng bệnh nhân phải chịu (p <0,001)

Trang 6

BÀN LUẬN

OAB tuy không trực tiếp nguy hiểm đến tính

mạng nhưng ảnh hưởng nặng nề đến chất lượng

cuộc sống của bệnh nhân Bên cạnh đó, với tần

suất hiện mắc OAB trong dân số tương đối cao

dẫn đến việc chẩn đoán và điều trị OAB một

cách hiệu quả càng trở nên cần thiết

Chẩn đoán OAB là chẩn đoán chỉ bằng triệu

chứng mà không có các dấu ấn sinh học, nên

việc khai thác quan điểm của bệnh nhân về các

triệu chứng (và ảnh hưởng của OAB lên chất

lượng cuộc sống) rất quan trọng để đánh giá và

điều trị OAB(6) Để thuận lợi cho việc đó, nhiều

công cụ đã được giới thiệu: OAB-q

(OAB-Questionnaire)(8), 2 phiên bản OAB-SS của

Homma Y(6) và Blaivas JG(9), PPBC (Patient

Perception of Bladder Condition)(10), OAB-SCS

(OAB-Symptom Composite Score)(11)< Bên cạnh

các bất lợi của riêng từng công cụ (OAB-q quá

dài để thực hiện trên lâm sàng còn PPBC quá

ngắn gọn để đạt được đầy đủ thông tin), các

công cụ này không tập trung đánh giá các triệu

chứng OAB, mà là đánh giá sự phiền toái hoặc

ảnh hưởng cuộc sống hàng ngày do các triệu

chứng Tuy chất lượng cuộc sống gần như là

mục tiêu của điều trị nhưng điều này không có

nghĩa là chúng ta nên bỏ qua các triệu chứng

Cần có một công cụ thích hợp để đánh giá các

triệu chứng(6) Các triệu chứng OAB thường

được định lượng bằng cách đếm từng triệu

chứng và ước tính hiệu quả điều trị bằng so sánh

tần suất xảy ra các triệu chứng Tuy nhiên OAB

là một hội chứng và sự phức tạp không thể được

đánh giá đầy đủ bằng cách chỉ đếm từng triệu

chứng riêng lẻ Một số bệnh nhân OAB có thể có

những thay đổi hỗn hợp, với một triệu chứng cải

thiện và một triệu chứng trở nên tồi tệ hơn Do

đó, đánh giá triệu chứng riêng lẻ là không đủ mà

cần một điểm số định lượng triệu chứng(6) Về

mặt này, OAB-SCS có thể có lợi vì giúp đánh giá

triệu chứng với một điểm số duy nhất Tuy

nhiên, việc thu thập điểm số OAB-SCS là cực kỳ

khó khăn và gần như là không khả thi trong

thực hành lâm sàng, do đó sẽ hạn chế việc sử

dụng OAB-SCS(8) 2 phiên bản OAB-SS của Homma Y và Blaivas JG được phát triển để đưa

ra bảng câu hỏi giúp định lượng các triệu chứng OAB với một điểm số triệu chứng duy nhất(6,9), bảng câu hỏi của Homma Y chiếm lợi thế hơn như là một công cụ để đánh giá OAB, do: (1) OAB-SS của Homma được thực hiện trên một nghiên cứu dịch tễ học với hơn 4500 người tham gia tại Nhật Bản(6) Phiên bản của Blaivas JG được nghiên cứu và sử dụng chủ yếu ở phương Tây; (2) Các câu hỏi của phiên bản OAB-SS của Homma bám sát định nghĩa OAB của ICS, trong khi phiên bản của Blaivas JG thì không; (3) Điểm

số được thiết kế dựa trên gánh nặng tương đối của 4 triệu chứng OAB được mô tả trên nền tảng của mức độ ảnh hưởng lớn nhất của triệu chứng lên chất lượng cuộc sống (vốn dĩ là mục tiệu chủ yếu trong điều trị OAB)(6); Việc giảm điểm số OAB-SS sau điều trị phù hợp với ấn tượng của bệnh nhân về hiệu quả điều trị(6); (4) Đã có nhiều nghiên cứu xác nhận giá trị sử dụng và độ tin cậy của bảng câu hỏi OAB-SS của Homma Y tại các quốc gia trên thế giới như Đài Loan(12), Hàn Quốc(13), Hoa Kỳ(14)< Tóm lại, OAB-SS của Homma Y đã được phát triển và xác nhận là một công cụ đánh giá triệu chứng cho hội chứng OAB, OAB-SS tích hợp bốn triệu chứng vào một điểm số duy nhất và có thể là một công cụ hữu ích cho nghiên cứu và thực hành lâm sàng(6) Nghiên cứu của chúng tôi, về mặt chẩn đoán cho thấy điểm số OAB-SS và QoL cao hơn rõ rệt

ở nhóm OAB ướt so với nhóm OAB khô, phản ánh thực tế về gánh nặng chủ yếu của tiểu không kiểm soát gấp Điểm số OAB-SS và điểm

số triệu chứng tiểu không kiểm soát gấp tương quan thuận với tuổi trung bình của bệnh nhân (có thể giải thích do sự yếu dần của các cấu trúc

cơ mạc nâng đỡ sàn chậu và phản ứng chậm hơn trong việc di chuyển của bệnh nhân) Từ đó, ở những bệnh nhân lớn tuổi, nên chú ý khi khai thác triệu chứng tiểu không kiểm soát gấp của bệnh nhân để đánh giá chẩn đoán và đưa ra hướng điều trị, giúp giải thích và tiên lương bệnh nhân Tương quan thuận giữa điểm số

Trang 7

triệu chứng tiểu gấp, tiểu không kiểm soát gấp

và tổng điểm OAB-SS với điểm số QoL phản

ánh gánh nặng của triệu chứng tiểu không kiểm

soát gấp và đặc biệt là tiểu gấp (được giải thích

rằng cảm giác sợ rỉ nước tiểu phải chạy đi tiểu

liền cũng ảnh hưởng tương đương đến việc rỉ

nước tiểu không tự chủ) Điểm số QoL trung

bình giữa các mức điểm OAB-SS là khác biệt và

điểm số QoL tương quan thuận với OAB-SS Nói

cách khác, với mức điểm OAB-SS tăng dần thì

bệnh nhân sẽ có điểm số QoL tăng dần một cách

có ý nghĩa Với mỗi khoảng điểm OAB-SS khác

nhau thì QoL bệnh nhân sẽ khác nhau có ý

nghĩa Chúng tôi chọn 3 mốc là nhẹ, trung bình

và nặng tương tự bảng điểm IPSS Trong nghiên

cứu chúng tôi, không có TH nào bệnh nhân có

OAB-SS ≤5 cho nên có thể giả thuyết với những

trường hợp OAB-SS ≤5, bệnh nhân hoàn toàn

không cảm thấy bị ảnh hưởng từ OAB nên

không tìm kiếm sự điều trị Trong khoảng OAB–

SS từ 6 đến 15 thì điểm số QoL ở mức điểm

OAB-SS=9 khác biệt có ý nghĩa thống kê với

nhóm OAB-SS ≥10 Với những kết quả như vậy,

có thể giả thuyết mức độ điểm số OAB-SS như

sau: 1 – 5 điểm: nhẹ, 6 – 9 điểm: trung bình, 10 –

15: nặng Homma Y đã đề cập đến phân độ điểm

số OAB-SS trong quá trình phát triển bảng câu

hỏi OAB-SS, tuy nhiên đến thời điểm hiện tại có

rất ít nghiên cứu sử dụng phân độ đó(15) Cụ thể

Homma Y phân độ điểm số OAB-SS như sau: 1 –

5 điểm: nhẹ, 6 – 11 điểm: trung bình, 12 – 15:

nặng So sánh giữa phân độ của Homma Y và

chúng tôi thì tương tự nhau ở mức độ nhẹ, tuy

nhiên ở mức độ trung bình và nặng có tương đối

khác biệt Có thể thấy được tuy Homma Y đã đề

cấp đến phân độ trên đã lâu, nhưng đến thời

điểm hiện tại chưa có nhiều bằng chứng về giá

trị cũng như độ tin cậy trong việc sử dụng phân

độ đó, cho nên chúng ta cần những nghiên cứu

lớn hơn để có thể xem xét sự khác biệt và giá trị

của phân độ trong nghiên cứu của chúng tôi

Điều trị OAB bao gồm giúp cải thiện triệu

chứng của OAB cũng như gánh nặng bệnh nhân

phải chịu đựng bởi các triệu chứng đó Cải thiện

điểm số OAB-SS đã được chứng minh là tương quan với ấn tượng của bệnh nhân về hiệu quả điều trị(6) Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã xác nhận sự giảm điểm số OAB-SS và QoL trong hiệu quả điều trị OAB Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thể hiện sự giảm điểm số OAB-SS một cách rõ ràng sau điều trị, chứng tỏ giá trị của bảng câu hỏi OAB-SS trong đánh giá hiệu quả điều trị OAB Mặc dù đánh giá sự cải thiện triệu chứng sau điều trị là cần thiết trên bệnh nhân OAB Tuy nhiên, do OAB ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân nên quan điểm của bệnh nhân về sự cải thiện chất lượng cuộc sống là không thể bỏ qua Nghiên cứu chúng tôi cho kết quả giảm rõ rệt điểm số QoL sau điều trị Tóm lại, OAB-SS cải thiện rõ rệt sau điều trị OAB tương quan với sự cải thiện điểm số QoL

KẾT LUẬN

OAB-SS của Homma đã được phát triển và xác nhận là một công cụ có giá trị giúp đánh giá các triệu chứng của OAB tại Nhật Bản cũng như nhiều quốc gia trên thế giới

Tại Việt Nam, sau thời gian nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy OAB-SS của Homma là một công cụ đơn giản, dễ sử dụng trên thực hành lâm sàng, mang tính khách quan và có giá trị giúp đánh giá triệu chứng OAB Kết hợp với thang điểm QoL sẽ giúp đánh giá mức độ triệu chứng, ảnh hưởng của triệu chứng lên cuộc sống bệnh nhân và giúp theo dõi điều trị bệnh nhân bàng quang tăng hoạt Ngoài lợi ích về mặt lâm sàng, OAB-SS còn giúp cung cấp một số liệu chuẩn, giúp hỗ trợ trong việc nghiên cứu và trao đổi thông tin giữa các nhà nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Abrams P, Cardozo L, Fall M, et al (2002) The standardisation

of terminology of lower urinary tract function: report from the Standardisation Sub-committee of the International Continence

Society Neurourol Urodyn, 21(2):167-178

2 Vũ Lê Chuyên, Huỳnh Đoàn Phương Mai (2016) Xác định tỷ lệ

mắc bàng quang tăng hoạt của người lớn tại Việt Nam Y Học Thành Phố Hồ Chí Minh, 20(2):158-162

3 Corcos J, Przydacz M, Campeau L, et al (2017) CUA guideline

on adult overactive bladder Can Urol Assoc J, 11(5):E142-E173

Trang 8

4 Lightner DJ, Gomelsky A, Souter L, et al (2019) Diagnosis and

Treatment of Overactive Bladder (Non-Neurogenic) in Adults:

AUA/SUFU Guideline Amendment 2019 J Urol, 202(3):558-563

5 Syan R, Brucker BM (2016) Guideline of guidelines: urinary

incontinence BJU Int, 117(1):20-33

6 Homma Y, Yoshida M, Seki N, et al (2006) Symptom

assessment tool for overactive bladder syndrome overactive

bladder symptom score Urology, 68(2):318-23

7 Nguyễn Văn Ân (2021) Sử dụng thang điểm bàng quang tăng

hoạt (OAB-SS) trong chẩn đoán và điều trị bàng quang tăng

hoạt Y Dược Học, pp.49-53

8 Coyne K, Revicki D, Hunt T, et al (2002) Psychometric

validation of an overactive bladder symptom and health-related

quality of life questionnaire: the OAB-q Qual Life Res,

11(6):563-574

9 Blaivas JG, Panagopoulos G, Weiss JP, et al (2007) Validation of

the overactive bladder symptom score J Urol, 178(2):543-547;

discussion 547

10 Coyne KS, Matza LS, Kopp Z, et al (2006) The validation of the

patient perception of bladder condition (PPBC): a single-item

global measure for patients with overactive bladder Eur Urol,

49(6):1079-1086

11 Zinner N, Harnett M, Sabounjian L, et al (2005) The overactive bladder-symptom composite score: a composite symptom score

of toilet voids, urgency severity and urge urinary incontinence

in patients with overactive bladder J Urol, 173(5):1639-1643

12 Chou EC, Hung MJ, Yen TW, et al (2014) The translation and validation of Chinese overactive bladder symptom score for assessing overactive bladder syndrome and response to

solifenacin treatment J Formos Med Assoc, 113(8):506-512

13 Jeong SJ, Homma Y, Oh SJ (2014) Reproducibility study of Overactive Bladder Symptom Score questionnaire and its response to treatment (RESORT) in Korean population with

overactive bladder symptoms Qual Life Res, 23(1):285-292

14 Homma Y, Fujimura T (2014) Psychometric validation of the English version of the overactive bladder symptom score

Urology, 84(1):46-50

15 Homma Y, Gotoh M (2009) Symptom severity and patient

perceptions in overactive bladder: how are they related? BJU Int, 104(7):968-972

Ngày nhận bài báo: 10/12/2021 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 10/02/2022 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2022

Ngày đăng: 17/04/2022, 11:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm