1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm truyện ngắn nam cao về đề tài người trí thức tiểu tư sản

42 215 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 257,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Cuộc đời và hành trình văn nghiệp (3)
    • 1.1. Cuộc đời (3)
    • 1.2. Quan điểm nghệ thuật (3)
    • 1.3. Phong cách sáng tác (4)
    • 1.4. Sự nghiệp sáng tác (4)
  • 2. Giới thiệu về đề tài người trí thức tiểu tư sản (5)
  • 3. Bức tranh hiện thực cuộc sống trong đề tài người trí thức (5)
    • 3.1. Hiện thực bối cảnh xã hội Việt Nam bấy giờ (6)
    • 3.2. Hiện thực về hoàn cảnh đời sống nhân vật trong các sáng tác (6)
  • 4. Nhân vật (14)
    • 4.1. Khái niệm nhân vật điển hình trong văn học (14)
    • 4.2. Khái quát hệ thống nhân vật trí thức điển hình (14)
    • 4.3. Một số nhân vật trí thức tiểu tư sản điển hình (15)
      • 4.1.1. Nhân vật trong bi kịch vỡ mộng (15)
      • 4.1.2. Nhân vật trong bi kịch tự ý thức (17)
      • 4.1.3. Nhân vật trong bi kịch sống mòn (17)
    • 4.4. Cách đặt tên nhân vật (20)
    • 4.5. Nghệ thuật xây dựng nhân vật chú ý miêu tả nội tâm nhân vật (21)
  • 5. Cốt truyện (22)
  • 6. Kết cấu (24)
    • 6.1. Kết cấu tâm lí (25)
    • 6.2. Kết cấu lắp ghép (26)
  • 7. Ngôn ngữ (26)
    • 7.1. Ngôn ngữ người kể chuyện (27)
    • 7.2. Ngôn ngữ nhân vật (27)
    • 7.3. Đặc điểm về ngôn ngữ (32)
  • 8. Giọng điệu (36)
    • 8.1. Giọng điệu triết lí, suy tư (36)
    • 8.2. Giọng hoài nghi, chất vấn trăn trở (38)
    • 8.3. Giọng điệu trữ tình (39)
    • 8.4. Giọng mỉa mai, chua xót (40)
  • KẾT LUẬN (42)

Nội dung

CHUYÊN ĐỀ CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN 1945 ĐỀ TÀI ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN NAM CAO VỀ ĐỀ TÀI NGƯỜI TRÍ THỨC TIỂU TƯ SẢN Tháng 05 2021 MỤC LỤC NỘI DUNG 1 1 Cuộc đời và hành trình văn nghiệp 1 1 1 Cuộc đời 1 1 2 Quan điểm nghệ thuật 1 1 3 Phong cách sáng tác 2 1 4 Sự nghiệp sáng tác 2 2 Giới thiệu về đề tài người trí thức tiểu tư sản 3 3 Bức tranh hiện thực cuộc sống trong đề tài người trí thức 3 3 1 Hiện thực bối cảnh xã hội Việt Nam bấy giờ 4 3 2 Hiện thực về hoà.

Cuộc đời và hành trình văn nghiệp

Cuộc đời

Nam Cao (1917 - 1951), về năm sinh của Nam Cao các tài liệu thì viết 1917, nhưng theo mẹ và em trai của Nam Cao cho hay thì ông sinh vào năm 1915

Nam Cao, tên thật Trần Hữu Tri, còn có các bút danh Thúy Rư, Xuân Du và Nguyệt, quê ở làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lí Nhân, tỉnh Hà Nam (nay thuộc xã Hòa Hậu, huyện Lí Nhân, tỉnh Hà Nam) Bút danh Nam Cao được ghép từ hai chữ đầu của tên tổng và tên huyện quê ông Ông xuất thân từ một gia đình công giáo ở tầng lớp trung lưu, là con trai cả trong một gia đình nông dân đông anh em (bốn anh trai, ba chị gái) Cha ông, Trần Hữu Huệ, làm thợ mộc và thầy lang trong làng; mẹ là Trần Thị Minh, là nội trợ, làm vườn, làm ruộng và dệt vải.

Thuở nhỏ, Nam Cao học sơ cấp ở trường làng rồi đến cấp tiểu học và được gia đình cho đi Nam Định học tại trường cửa Bắc; năm 1935, sau khi trượt kỳ thi Thành chung, ông sang Sài Gòn làm giúp việc cho một tiệm may để kiếm sống, nhưng bệnh tật ập đến khiến ông trở về, tự học và thi đậu Thành chung Ông xin làm công chức nhưng sức khỏe yếu nên không được nhận, phải lên Hà Nội dạy tại một trường tư thục do người anh họ mở ra; năm 1941, Nhật xâm lược Đông Dương khiến trường đóng cửa, Nam Cao sống bằng nghề viết báo và viết văn Không thể ở lại Hà Nội, ông trở về quê, đến năm 1945 tham gia cách mạng và được bầu làm Chủ tịch xã; sau khi kháng chiến nổ ra, Nam Cao cùng đồng đội lên Việt Bắc tham gia kháng chiến.

Nam Cao cưới vợ khi mới 18 tuổi và có bốn người con tên Hồng, Thiên, Thành và Thực; trong số các con ấy có người mang tên Trần Mai Thiên đã đạt giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học.

Vào năm 1945, đứa con của gia đình ấy ra đời nhưng chỉ sống được bốn tháng đã qua đời vì đói; chính sự mất mát ấy đã làm nảy sinh và gắn bó với ám ảnh về áo cơm ghì sát đất—cái đói, nghèo và miếng ăn—trong các tác phẩm sau này.

Nam Cao từng làm biên tập cho tờ báo Cứu quốc ở Việt Bắc và đảm nhận vai trò cán bộ thông tin tuyên truyền Năm 1951, ông tham gia đoàn công tác thuế nông nghiệp, có ý định về thăm làng và thu thập tài liệu cho cuốn tiểu thuyết đang thai nghén, nhưng bị địch phục kích Ông hy sinh anh dũng ở Hoàng Đan, Ninh Bình, giữa lúc tài năng đang ở độ chín và nhiều dự định dở dang.

Quan điểm nghệ thuật

Nam Cao là một trong những nhà văn hiện thực có ý thức tự giác cao về sáng tạo nghệ thuật Những quan điểm của ông không được phát biểu trực tiếp dưới mặt lí luận mà thường được gửi gắm gián tiếp qua phát ngôn và suy nghĩ của các nhân vật trong các tác phẩm Cách biểu đạt này giúp làm nổi bật quan điểm sáng tác và quan sát xã hội của Nam Cao, đồng thời vẫn giữ được tính chân thực của hiện thực.

Nam Cao gián tiếp trình bày quan điểm sáng tác thông qua hai tác phẩm Đời thừa và Giăng sáng, Nam Cao quan niệm:

Văn học chân thực phải phản ánh đúng bản chất cuộc sống, quan niệm được thể hiện qua lời Điền trong Giăng sáng khi ông cho rằng: “Nghệ thuật không cần phải là ánh trắng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối Nghệ thuật có thể chỉ là những tiếng đau khổ kia thốt ra từ những kiếp lầm than.” Vì vậy, nghệ thuật không chỉ là hư cấu ngụy trang mà là tiếng nói của những số phận bị áp bức, nắm bắt thực tại và chuyển hóa nó thành cảm xúc, ý nghĩa xã hội và sự đồng cảm của người đọc.

Nghề văn cần sự sáng tạo, quan điểm này Nam Cao thể hiện trong lời của nhân vật Hộ tác phẩm Đời thừa “Văn chương không cần những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những ai biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, sáng tạo những gì chưa có”.

Chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao gắn bó mật thiết với chủ nghĩa nhân đạo Hiện thực đời sống rõ nhất theo Nam Cao chính là tình trạng khốn khổ của người dân lao động mà tác phẩm văn học phải biết bảo vệ, yêu thương và nâng đỡ những con người nghèo khổ “Một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên trên tất cả bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho tất cả loài người Nó chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ vừa đau đớn lại vừa phấn khởi Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình… Nó làm cho người gần người hơn.” - lời nhân vật Hộ (Đời thừa). Đối với các vấn đề của đời sống để có thể nhìn nhận được bản chất của xã hội, của con người, Nam Cao đã đặt ra vấn đề, ông đòi hỏi ở lập trường của người nghệ sĩ vấn đề đôi mắt “Chao ôi! Đối với những người xung quanh ta nếu chúng ta không cố gắng tìm mà hiểu họ thì chúng ta chỉ thấy họ là những người ngu ngốc, gàn dở, bần tiện, bỉ ổi, xấu xa… toàn những cớ để ta tàn nhẫn, không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương, không bao giờ ta thương.” (Lão Hạc).

Nam Cao xem nghệ thuật là sự phản chiếu đời sống, nhấn mạnh nguyên tắc “Sống đã rồi hãy viết” và khẳng định nghệ thuật phải là “nghệ thuật vị nhân sinh” Trong bối cảnh các nhân vật hiện thực trước đó viết theo lập trường xã hội và có nhiều quan điểm nghệ thuật tự phát, quan điểm của Nam Cao về nghệ thuật vẫn mang tính tự giác, có hệ thống và tiến bộ, làm giàu cho dòng chủ nghĩa hiện thực bằng lối tư duy chặt chẽ và nhất quán Ông là người phát ngôn đầy đủ và hoàn chỉnh nhất cho những đặc trưng sáng tác của chủ nghĩa hiện thực trước năm 1945.

Phong cách sáng tác

Nam Cao có sở trường nổi bật trong việc miêu tả và phân tích tâm lý nhân vật, giúp người đọc cảm nhận sâu sắc động cơ và mâu thuẫn nội tâm của mỗi nhân vật Ông thành công trong việc xây dựng những đoạn đối thoại chân thực và độc thoại nội tâm sắc bén, từ đó tạo nên nhịp điệu câu chuyện chặt chẽ và giàu tính thuyết phục Qua các tình huống giao tiếp và ý thức bên trong, Nam Cao khắc họa rõ nét hiện thực xã hội Việt Nam và bi kịch nhân bản, đồng thời nâng cao giá trị và sức sống của tác phẩm trong nền văn học Việt Nam.

Ngôn ngữ trong các sáng tác của Nam Cao tự nhiên, sinh động.

Nam Cao tạo nên một chất văn lạnh lùng, giàu tính triết lí với giọng điệu riêng buồn thương, chua chát, mang phong cách nghệ thuật triết lí trữ tình sắc lạnh; nhiều nhà nghiên cứu đã so sánh ông với Lỗ Tấn của Trung Quốc, gợi liên hệ với phong cách Téc-mốt (phiên âm Việt nghĩa là cái phích nước) Ông đề cao con người tư tưởng, đặc biệt chú ý tới hoạt động bên trong của con người và coi đó là nguyên nhân của những hành động bên ngoài; đây là phong cách độc đáo, quan tâm sâu sắc tới đời sống tinh thần của con người và luôn hứng thú khám phá nội tâm.

“con người bên trong con người”

Tâm lí nhân vật trở thành trung tâm của sự chú ý, là đối tượng trực tiếp của ngòi bút Nam Cao.

Nam Cao tập trung viết về những điều nhỏ nhặt, xoàng xĩnh trong đời sống hằng ngày qua Những truyện không muốn viết để phơi bày những vấn đề xã hội có ý nghĩa triết lý sâu sắc về con người, cuộc sống và nghệ thuật Những chi tiết quen thuộc trở thành cửa sổ để khám phá bản chất con người, những xung đột giữa ước mơ và hiện thực, và sự chịu đựng trước áp lực xã hội Tác phẩm không chỉ kể chuyện mà còn nêu lên những suy ngẫm về nhân sinh và nghệ thuật, cho thấy con người đứng trước đạo đức và khó khăn trong hoàn cảnh thực tế Sự kết hợp giữa nhân văn và hiện thực trong văn Nam Cao phản ánh rõ nét giá trị của văn học Việt Nam và xã hội Việt Nam Nhờ đó, Những truyện không muốn viết khẳng định tầm quan trọng của nghệ thuật như một lăng kính để nhìn nhận đời sống, con người và xã hội.

Sự nghiệp sáng tác

Nam Cao bắt đầu sự nghiệp sáng tác ở tuổi 18 với những truyện ngắn đầu tay như Cảnh cuối cùng và Hai cái xác Trong giai đoạn đầu, ông chịu ảnh hưởng mạnh của chủ nghĩa lãng mạn do tuổi trẻ mơ mộng và sự phát triển mạnh của văn học lãng mạn trên văn đàn Các tác phẩm của Nam Cao được đăng trên tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy, cho thấy bước đi đầu tiên của ông trên mặt trận văn chương Đến năm 1937, một số truyện ngắn của ông được in trên báo Ích Hữu, trong đó có Nghèo.

Những cánh hoa tàn, Đui mù, Một bà hào hiệp với bút danh Thúy Rư

Với bút danh Xuân Du, ông đã sáng tác truyện ngắn Cái chết của con Mực và đã được in trên báo.

Năm 1941, với bút danh Nam Cao, nhà văn cho ra mắt tác phẩm Đôi lứa xứng đôi, ban đầu có tựa Cái lò gạch cũ do NXB Đời mới Hà Nội ấn hành Khi tái bản sau này, Nam Cao đã đổi tên truyện thành Chí Phèo, một tác phẩm được xem như hiện tượng văn học của thời đại, phản ánh sâu sắc đời sống xã hội và con người Việt Nam.

Vào năm 1943, nhà văn Nam Cao cho ra mắt tác phẩm Đời thừa, một đại diện nổi bật của văn học hiện thực phê phán Việt Nam Tác phẩm lột tả một cách chân thực xã hội và cuộc sống con người, thông qua số phận của những người bị gạt ra ngoài lề và những bi kịch hàng ngày Đời thừa không chỉ phản ánh hiện thực xã hội mà còn phê phán những bất công và phơi bày những khắc nghiệt của đời sống trong thời kỳ ấy.

Về các đề tài trong sáng tác của Nam Cao:

Trước cách mạng, Nam Cao tập trung sáng tác vào hai mảng đề tài chính là người trí thức và người nông dân Dù viết về trí thức hay người nông dân, Nam Cao đều đề cao quyền sống của con người và phác họa phẩm giá của các số phận bị áp bức, tạo nên một nền văn học Việt Nam giàu tính nhân văn.

Sau cách mạng, Nam Cao dùng ngòi bút để phục vụ kháng chiến, các tác phẩm chính có thể kể đến Nhật kí ở rừng, Đôi mắt, Chuyện biên giới…

Giới thiệu về đề tài người trí thức tiểu tư sản

Nam Cao trước Cách mạng tập trung hai đề tài nổi bật: nông thôn - người nông dân và người trí thức tiểu tư sản Đề tài người nông dân xuất hiện trong các tác phẩm Một bữa no, Chí Phèo, Tư cách mõ… ở đó, ông khắc họa sự tàn bạo của giai cấp thống trị và sự hủy diệt vẻ đẹp của người nông dân, đồng thời nhấn mạnh vẻ đẹp nhân tính sẽ tồn tại ngay cả khi bị vùi dập Về đề tài người trí thức, qua Đời thừa, Giăng sáng, Sống mòn, Nam Cao miêu tả bi kịch tinh thần của họ: những trí thức là nhà văn, nhà giáo mang ước mơ và lý tưởng cao đẹp nhưng thực tại xã hội ngăn trở họ thực hiện, buộc họ sống như những “con người thừa” – hình ảnh gợi nhớ tới những nhân vật thừa trong văn học Nga thế kỉ XIX Từ đó, Nam Cao tập trung phơi bày hiện thực xã hội bóp nát niềm mơ ước của con người và nêu bật bi kịch của người trí thức.

Nam Cao sinh ra ở nông thôn nhưng ông sống nhiều với giới trí thức tiểu tư sản; bản thân ông sau này cũng là một trí thức nghèo, một thầy giáo khổ trường tư Ông hiểu sâu sắc cuộc sống của người nông dân và thấm thía số phận của người trí thức đương thời Vì vậy, các tác phẩm của Nam Cao ghi lại một cách trung thực cuộc sống túng quẫn và mòn mỏi của giới trí thức tiểu tư sản, đồng thời thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với phận người của họ.

Bức tranh hiện thực cuộc sống trong đề tài người trí thức

Hiện thực bối cảnh xã hội Việt Nam bấy giờ

Trước Cách mạng tháng Tám, Việt Nam tồn tại trong một xã hội vừa bị thực dân Pháp đô hộ vừa mang nặng phong kiến Suốt hơn tám mươi năm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, sự bóc lột kinh tế, nô lệ chính trị và áp bức xã hội đã đè nặng lên cuộc sống của nhân dân ta Trong khoảng 45 năm đầu, hệ thống phong kiến vẫn kiềm chế mọi tiến bộ xã hội và kết hợp với các lực lượng thực dân, tạo ra một tầng lớp địa chủ và quan lại cấu kết với ngoại bang để duy trì quyền lực và lợi ích riêng Người nông dân phải chịu thuế khóa cao, đất đai bị tư hữu hóa và bị đô hộ kinh tế, trong khi tầng lớp tiểu tư sản và công nhân bị kiềm chế và thiếu cơ hội thoát nghèo Bối cảnh đó đặt nền tảng cho sự hình thành của nhận thức dân tộc và tinh thần yêu nước, cùng với sự xuất hiện của các phong trào cứu nước và cách mạng có tổ chức nhằm lật đổ ách thống trị thực dân và cổ vũ tiến bộ xã hội.

TK XX, kinh tế Việt Nam chìm đắm trong nghèo nàn và lạc hậu Nhân dân phải sống trong cảnh nô lệ và đói nghèo về cả vật chất và tinh thần, với 90% dân số mù chữ.

Dưới chế độ thực dân nửa phong kiến, nền nông nghiệp Việt Nam nghèo nàn về cơ sở vật chất, lạc hậu về kỹ thuật và hoàn toàn dựa vào sức lao động thủ công cùng phụ thuộc vào thiên thời địa lợi, khiến năng suất các loại cây trồng rất thấp Ruộng đất phần lớn tập trung trong tay giai cấp địa chủ và thực dân Pháp, tạo nên sự bất bình đẳng xã hội nghiêm trọng Hằng năm, Việt Nam vẫn xuất khẩu trên 1 triệu tấn gạo trắng, nhưng nông dân - người làm ra lúa gạo - lại phải chịu cảnh đói nghèo Năm 1945, có trên hai triệu người chết đói vì khủng hoảng lương thực và nạn đói trong nước Hậu quả xã hội rất nặng nề khi thực dân Pháp áp đặt nền giáo dục nô dịch, khiến trên 90% dân số mù chữ.

1 vạn dân chỉ có 115 học sinh vỡ lòng, 210 học sinh tiểu học, 2 học sinh chuyên nghiệp và đại học.

Hiện thực về hoàn cảnh đời sống nhân vật trong các sáng tác

Nam Cao miêu tả hiện thực đời sống của người trí thức trong không khí tù túng, ngột ngạt của một xã hội bế tắc, nơi bi kịch vỡ mộng đẩy họ vào cảnh sống mòn về tinh thần—một thuật ngữ tác giả dùng để diễn tả sự kiệt quệ của trí thức tiểu tư sản Đời sống trí thức tiểu tư sản bị đè nặng bởi gánh nặng cơm áo và chịu ảnh hưởng của một hệ thống xã hội đầy bất công, vô nhân đạo Những người trí thức ấy vẫn cố gắng tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống và giá trị tinh thần, nhưng điều kiện xã hội ngột ngạt và sự bất công ngăn cản họ thực hiện ước mơ, dẫn đến sự sa sút và tuyệt vọng.

Trong bối cảnh cuộc sống ngày càng khắc nghiệt, trách nhiệm đè nặng lên vai những người trí thức, khiến họ vừa đối thoại với thời đại vừa gìn giữ ngòi bút của mình Nguyễn Bính từng thốt lên câu than thở Ai bảo dính vào duyên bút mực, một lời nhắc nhở sắc bén về gánh nặng mang tên chữ nghĩa và nghĩa vụ với xã hội Các nhà văn, nhà thơ và trí thức Việt Nam phải cân bằng giữa đam mê sáng tác và áp lực mưu sinh, giữa sự tự do sáng tác và kỳ vọng của công chúng Văn chương trở thành một cam kết xã hội, nơi mỗi câu chữ không chỉ phản ánh hiện thực mà còn đóng góp vào diễn giải và định hướng thời đại Từ đó hình ảnh người trí thức được khắc họa bằng nỗi niềm trăn trở, sự kiên nhẫn và ý thức trách nhiệm đối với đất nước và đồng bào.

Đời thừa khắc họa suốt đời mang số long đong của những người làm nghề văn, với nhân vật trung tâm là Hộ—một văn sĩ có lòng thương người và niềm tin “cái đẹp cứu rỗi thế giới”; Hộ từng cứu Từ và gợi liên tưởng tới Tràng cứu Thị trong Vợ nhặt của Kim Lân, nhưng khi hoàn cảnh gia đình đông người và nạn túng thiếu ngày càng trầm trọng, nỗi lo chi phí sinh hoạt đẩy Hộ từ người thiện lành thành kẻ cục mịch, say rượu và vũ phu, đánh vợ, đuổi vợ khỏi nhà; hiện thực về đồng tiền và đời sống thiếu thốn bao phủ toàn bộ cuộc đời Hộ, làm mòn thể xác lẫn tinh thần và khiến ước mộng viết tác phẩm đoạt Nobel không thực hiện được; nhưng sâu thẳm trong con người ấy vẫn tồn tại bản tính thiện, như Nam Cao đã phát hiện, và sau những lần chửi rủa Từ trong cơn say, Hộ tỉnh ngộ, nhận thức lại hành động và lời nói của chính mình.

Hộ và Từ là hai nhân vật thể hiện sự hối hận và thương cảm trong một gia đình nghèo; Từ chịu đựng và luôn ngoan hiền nhờ ơn cưu mang của Hộ, người đàn ông mà cả gia đình dựa vào Hình ảnh này gợi nhớ người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, cho thấy nghèo đói có thể đẩy nhiều gia đình vào cảnh bạo lực và hành động vũ phu, không phải vì mong muốn, mà như một sự tìm kiếm sự giải thoát bằng biện minh cho sự hung hăng, tuy nhiên vẫn đáng lên án vì phụ nữ xứng đáng được yêu thương, tôn trọng Trong Đời thừa, Hộ – một người tôn thờ cái đẹp và mê văn chương – lại phải từ bỏ quan điểm nghệ thuật để kiếm tiền nuôi vợ con, cho thấy xung đột giữa lý tưởng và thực tế đời sống nghèo khó.

Trong cuốn văn này, Hộ phải viết vội vàng những bài báo để người đọc chỉ xem và quên ngay sau khi đọc, và mỗi lần xem lại tác phẩm của mình anh đỏ mặt, cau mày, nghiến răng, vò nát sách và tự trách như một thằng khốn nạn Tuyệt vọng hơn, miếng cơm manh áo ngày càng thiếu thốn đẩy anh ra khỏi con đường nghệ thuật chân chính và xói mòn nhân cách, biến anh thành kẻ có hành động vũ phu với vợ con, xúc phạm đến lẽ sống tình thương cao cả Dù phải làm việc cật lực để kiếm sống, chi tiêu gia đình lại quá lớn khiến Hộ xoay sở đến mức điên lên vì nợ nần và áp lực Anh cố gắng vượt lên nhưng hoàn cảnh ngột ngạt bao vây, làm anh trở nên cau có và gắt gỏng với vợ con và với chính mình Trong cơn bế tắc, Hộ tìm giải uất và giải sầu trong men rượu, men bia, bắt đầu sa đà trên con đường tha hoá Thực tế bi đát đẩy con người vào cảnh khốn cùng, làm mất dần phẩm giá và khả năng làm chủ cuộc đời.

Hiện thực cuộc sống bóp nghẹt nhiều trí thức, không chỉ Hộ mà còn Điền, một giáo viên nghèo từng làm việc ở trường tư gần ba năm, khi trường đóng cửa đột ngột và nhường lại căn nhà cho mục đích khác đã cho thấy xã hội không ưu đãi chữ nghĩa hay giáo dục và áp lực kinh tế đè nặng lên người làm nghề sáng tác Giáo dục được coi là thước đo sự phát triển của một đất nước, nhưng thực tế vẫn chưa được chăm sóc đúng mức, buộc Điền phải đấu tranh tư tưởng để tìm con đường chân chính cho sự nghiệp Tiếng con khóc, tiếng vợ gắt gỏng và những cảnh đời thê thảm quanh ta khiến Điền nhận ra sự thật của nghệ thuật vị nhân sinh: nghệ thuật chỉ có thể lên tiếng từ đau khổ và bất công của kiếp người Sáng hôm sau, giữa tiếng khóc của con cái, tiếng la hét và tiếng đòi nợ ngoài đầu xóm, áp lực tiền bạc và áp lực cầm bút vẫn dày xé tâm hồn anh, khiến việc viết trở nên khó khăn Thị vợ Điền, dù chịu đựng và hi sinh đến mức bỏ ăn và bán cả yếm áo để lo thuốc thang cho chồng, vẫn không thể làm anh cảm thấy tấm lòng ấy đủ ấm áp; đồng thời Điền lại thoáng nghĩ đến những hình ảnh nhàn nhã của những người đàn bà bên ngoài, một sự mâu thuẫn nội tâm căng thẳng mà anh không hiểu nổi, cho thấy thực tại đói nghèo đã làm cho Thị không còn là người phụ nữ như xưa.

Trước cách mạng, Nam Cao với chủ nghĩa hiện thực mang tính nhân văn sâu sắc đã phác họa số phận con người, kể cả kiếp người trong khổ đau, bị đè nén và đày đọa dưới nô lệ, thể hiện bi kịch của lớp trí thức nghèo thành thị qua trang văn sắc bén Sống mòn miêu tả cuộc sống màu xám bị lên án đến mức mốc lên, rỉ đi, mòn ra, rục ra—vừa sống mòn vừa chết mòn, biểu hiện một trạng thái tâm hồn bị teo rút mà vẫn ước vọng thoát khỏi bi kịch Qua những hoàn cảnh bi thảm ấy không chỉ có tiếng phê phán, tố cáo mà còn có thông điệp triết lý sâu sắc về ý thức và sự tự cải tạo để vượt qua bi kịch tinh thần Chủ đề của Sống mòn xoay quanh cách sống: cuộc đời bế tắc, quẩn quanh, ngưng đọng đến mức meo mốc, rỉ sét và mục nát Nhân vật Thứ, một trí thức tiểu tư sản từng náo nức với những mộng ước cao xa, phải trải qua trận ốm thập tử nhất sinh và trở về nơi chôn rau cắt rốn; ông gắng gượng tìm đến một trường tư ở ngoại ô Hà Nội để dạy học kiếm sống, không còn mơ ước lớn mà chỉ mong kiếm đủ tiền ăn, nuôi vợ con và được yên thân Tuy vậy, công việc vất vả và gánh nặng nợ nần làm Thứ dần nhượng bộ và rơi into cảnh “chết mòn” về tinh thần, dù anh vẫn có ý thức cao về ý nghĩa cuộc sống và khát vọng để lại cho nhân loại một chút gì có ích, trong khi mức lương mỗi tháng chỉ có hai chục đồng và gia đình vẫn phải chèo kéo qua ngày.

Trong Sống mòn của Nam Cao, Thứ sa vào sự bình lặng vô sự và bị cuốn vào những chuyện tủn mủn của cuộc sống hàng ngày; “cái chất độc ở ngay trong sự sống” đã ngấm vào tâm hồn khiến anh trở nên nhỏ nhen như những kẻ mình từng khinh, sự trì trệ và đói nghèo quanh mình thui chột ước mơ được bay cao bằng đôi cánh của chính mình và đẩy anh vào cảnh sống mòn, làm anh trở nên ích kỷ, nghi ngờ và tàn nhẫn với Liên, vợ anh; dù khao khát sự cảm thông và yêu thương, lòng Thứ vẫn bị nhiễm độc và khi nghe tin Đích ốm nặng, anh thầm mong Đích chết để rồi khóc vì cái chết của chính tâm hồn mình, đến mức một thanh niên đầy hoài bão nay trở thành giáo khổ trường tư và nhận ra thực tế phũ phàng rằng nghèo khó không có ích gì, làm tiêu hao sức lực, héo hon tâm hồn và làm mất đi những ước mơ cao đẹp; thực tế áp đảo những dự định khiến Thứ dằn vặt, nhẫn nại và chua chát về phận nghèo, khi cuộc sống dồn ép đến nỗi trường đóng cửa và anh phải lên tàu về quê với bao tủi cực, vẫn nuôi khát vọng sống chính đáng dù bất lực trước hoàn cảnh; Sống mòn là tiểu thuyết mang yếu tố tự thuật của Nam Cao, phơi bày sự dằn vặt, lo toan và tủi hổ âm thầm của những người giáo kiết xác, đồng thời phơi bày những hủ tục và thói xấu kìm hãm sự phát triển của con người, cho thấy Thứ trong Sống mòn phải than thở và Nam Cao đã dùng cảm quan văn hóa mới để phơi bày thực trạng nghèo và bi kịch nhân đạo.

Đó là thói quen được lưu truyền qua nhiều đời, ăn sâu vào máu ta; tư tưởng, tính cách, cảm xúc và hành động của chúng ta đều bị khuôn theo lề lối và thói tục của thời đại, khi thời thế đổi thay, lòng người cũng đổi thay, và có thể đến thế kỉ sau để lọc máu chúng ta trong một trở lại nào đó Ta thở dài tự hỏi vì sao ta lại không thể nghĩ chuyện lọc máu ngay từ bây giờ Nam Cao đã dự cảm sự thay đổi của thời thế và khao khát có sự thay đổi ở con người từ hôm nay; thực ra, tham vọng của nhà văn không nhỏ, ông muốn lọc máu con người giai cấp và cả con người dân tộc.

Hiện thực trong Đôi mắt phơi bày xã hội Việt Nam năm 1945 đang bị nạn đói hoành hành, trong khi một bộ phận giàu sang vẫn sống xa hoa, dửng dưng với cảnh khổ chung Nam Cao dựng lên hai nhân vật Hoàng và Độ với hai lối sống và hai cách nhìn về người nông dân cùng cuộc kháng chiến, từ đó nêu bật cách nhìn cuộc sống của mỗi người Nhân vật trung tâm Hoàng—một nhà văn kiêm tay buôn chợ đen tài hoa—sống trong sự giàu có giữa một đất nước đang đói kém; căn nhà sang trọng, chó ăn ngon, và anh luôn coi trọng sự hưởng thụ dù dư luận Hà Nội lên tiếng chỉ trích anh Hoàng xem người dân quê là những kẻ đần độn, lỗ mãng, ích kỷ và tham lam, và anh thấy cuộc sống ở làng quê lạc lõng so với thời đại; những chuyện về một anh bán cháo lòng sau cách mạng, một thanh niên vác tre đắp lũy, hay việc đọc thuộc lòng bài ba giai đoạn của kháng chiến trở thành trò cười Từ đó, Hoàng tin tưởng một lãnh tụ mà theo anh có thể xoay chuyển mọi chuyện, còn bản thân thì chọn sống khép kín và thờ ơ với thực tại đất nước Cứ như vậy, Hoàng sống trong một căn nhà với màn tuyn trắng toát, chăn bông thơm mùi nước hoa, đọc tiểu thuyết và giao du với những trí thức “rởm”, khó lòng nhận ra vẻ đẹp từ tâm hồn của người lao động nghèo khi anh chỉ coi trọng vẻ ngoài và lối sống hưởng thụ.

Độ, một nhà văn có lối sống và nhận thức khác biệt, cho rằng người nông dân là một bí mật vẫn còn nhiều điều chưa thể khám phá Ông nói: "Tôi gần gũi họ rất nhiều, tôi đã gần như thất vọng vì thấy họ phần đông dốt nát, nheo nhó, nhát sợ, nhịn nhục một cách đáng thương" Ban đầu Độ nghi ngờ sức mạnh của quần chúng, nhưng khi cách mạng tháng Tám thành công, ông nhận ra người nông dân nước mình vẫn có thể làm nên cách mạng và làm cách mạng rất hăng hái: vô số anh răng đen, mắt toét, gọi lựu đạn là "nựu đạn", hát Tiến quân ca như người buồn ngủ cầu kinh mà lúc ra trận thì xung phong can đảm lắm Từ đó, Độ thấy sự chuyển biến trong nhận thức và ngầm khẳng định tiềm lực của nông dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Nam Cao xây dựng Hoàng và Độ như hai hình tượng đại diện cho hai kiểu nhìn và hai cách đánh giá xã hội thời kỳ ấy: Hoàng với cái nhìn phiến diện, một chiều, chỉ thấy mặt tối của nông dân và xa rời quần chúng; Độ với cái nhìn đa diện, tin tưởng và đầy nhiệt huyết, nhận ra tinh thần trách nhiệm và sẵn sàng hi sinh của người nông dân cho cuộc kháng chiến chống Pháp Độ hòa nhập với đời sống nông thôn, sống và chiến đấu vì độc lập dân tộc, trong khi Hoàng vẫn bảo thủ và méo mó cảm quan, cho thấy sự mâu thuẫn trong quan điểm của giới trí thức tiểu tư sản Hai quan điểm đối lập dẫn đến những lựa chọn sống riêng trước thời cuộc; Đọc Đôi mắt gợi lại thời kỳ toàn dân đoàn kết và mở ra hình dung về nông thôn Việt Nam sau cách mạng Bài học về cách nhìn cuộc sống được nhắc qua câu chuyện và qua bài thơ Cốc nước triết học của Mattie Stepanek, nhấn mạnh rằng nhìn nhận thế giới như đầy hay thiếu sẽ quyết định cách cảm nhận và hành động của ta Hiện thực cuộc sống có nhiều người có cái nhìn phiến diện, và Nam Cao thông qua hai nhân vật đã giúp văn học thức tỉnh, từ đó khơi gợi suy ngẫm về con đường đúng đắn cho hành trình sáng tác Truyện vẫn mang ý nghĩa sâu sắc cho ngày nay, mời người đọc suy ngẫm và thấm thía.

Đôi mắt là bức tranh hiện thực của Nam Cao về thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám 1945, khi cả nước hừng hực khí thế đấu tranh giành quyền sống, quyền tồn tại và độc lập dân tộc, nhưng vẫn có một bộ phận lớn nhà văn sống xa hoa, hưởng lạc, quay lưng với đồng nghiệp và thể hiện sự vô trách nhiệm Tác giả đặt vấn đề về thái độ của mỗi con người trước vận mệnh dân tộc: có người giác ngộ và đứng dưới ngọn cờ Đảng tham gia cách mạng, có người còn hoang mang và do dự, nghi ngờ sức mạnh của nhân dân trong tầng lớp văn chương Đôi mắt được xem như tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao cho lớp văn nghệ sĩ thời đầu kháng chiến dưới lời kêu gọi của Hồ Chí Minh sau cách mạng tháng Tám 1945.

Người trí thức dù mang theo nhiều mộng đẹp cũng không thoát khỏi hiện thực đen tối, mọi ước mộng đều trở thành ảo tưởng và chỉ còn là những dự định trên giấy chờ thời cơ để thực hiện Tá trong Nguyện vọng đã từng nuôi một ước mơ thật đẹp: anh đã hình thành một trường tư trong đầu từ lâu, tìm được vị trí mở trường, phác thảo thiết kế, lên kế hoạch quảng bá và xây dựng một chương trình chưa từng có ở Đông Dương; anh sẽ trả lương giáo sư hậu hĩnh, thành lập quỹ hưu bổng để các thầy yên tâm tận tụy với nghề, tổ chức các lớp học theo phương pháp tối tân và cấp học bổng cho những thiếu niên lanh lợi đi nước ngoài nghiên cứu thêm về khoa sư phạm.

Đang sống với hoài bão lớn lao, anh ta bất ngờ gặp chủ nợ khiến giấc mơ như con chim đang bay trên mây bỗng rơi xuống ngay trước mặt Những nguyện vọng quá to tát nhanh chóng trở thành ảo tưởng giữa cuộc sống khó khăn và nghèo đói Chính sự tham vọng quá lớn đã kéo mộng lớn đến bên bờ phá sản, biến ước mộng thành gánh nặng tài chính và thử thách thực tế.

Nhân vật

Khái niệm nhân vật điển hình trong văn học

Điển hình, theo cách hiểu phổ biến, là những nét tiêu biểu nổi bật nhất của một kiểu loại nào đó; trong đời sống xã hội, những đặc trưng này thường được coi là khuôn mẫu, đại diện cho các tiêu chuẩn đạo đức và cho một kiểu người nhất định.

Nhân vật điển hình là một loại nhân vật nổi bật và tiêu biểu, đại diện cho tập thể có những nét tính cách, cuộc đời và số phận tương đồng Đây là kiểu nhân vật mang bản chất cơ bản và nổi bật nhất của xã hội, được thể hiện và nâng cao qua quá trình sáng tác của tác giả.

Khái quát hệ thống nhân vật trí thức điển hình

Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (1992), trí thức được định nghĩa là người chuyên làm việc lao động trí óc và có tri thức chuyên môn cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp của mình Khái niệm này nhấn mạnh vai trò của tư duy và kiến thức chuyên môn trong quá trình làm việc, đồng thời cho thấy trí thức là người áp dụng kiến thức vào thực tiễn nghề nghiệp để nâng cao hiệu quả và chất lượng công việc.

Trí thức không phải là một giai cấp cố định mà chỉ là một đội ngũ, một tầng lớp có học vấn và trình độ chuyên môn hoạt động trên nhiều lĩnh vực của xã hội Họ là lực lượng quan trọng thúc đẩy đổi mới và mang lại những bước đột phá cho sự phát triển của nền kinh tế, văn hóa và xã hội ở mỗi thời kỳ.

Tầng lớp trí thức tiểu tư sản là đối tượng giữ vị trí đặc biệt trong sáng tác của Nam Cao, bởi hơn ai hết ông thấu hiểu đời sống tâm lí của giới trí thức, và ông đã trở thành nhà văn của những trí thức bình dân Trong truyện ngắn của Nam Cao, những nhân vật đại diện cho tầng lớp trí thức tiểu tư sản hiện lên với cảnh sống nghèo khổ, bế tắc và tất cả những mặt mâu thuẫn, phức tạp, đặc biệt là những tấn bi kịch tinh thần, điển hình như nhân vật trí thức nghèo trong xã hội thực dân nửa phong kiến được thể hiện rõ qua tác phẩm tiêu biểu: Giăng sáng, Đời thừa, Sống mòn, Quên điều độ, Đôi mắt… Các nhân vật trí thức tiểu tư sản tập trung nhiều trong các sáng tác của văn sĩ trước cách mạng tháng Tám.

Trước cách mạng tháng Tám Sau cách mạng tháng Tám

Hộ (Đời thừa); Điền (Giăng sáng); Thứ (Sống mòn); ông giáo (Lão Hạc); Hài (Quên điều độ); Điền (Nước mắt), …

Quan niệm về cuộc đời của ông giản dị, gần gũi lấy đời sống thực để viết về các nhân vật trí thức nghèo phải chịu những áp lực, trách nhiệm trước cuộc sống Nhân vật trí thức tiểu tư sản trong văn Nam Cao là những văn sĩ nghèo, những giáo khổ trường tư, những anh học trò nghèo kiết xác Họ gắn với cái đói, cái nghèo, bệnh tật, cả một đời vất vả bộn bề với cơm, áo, gạo, tiền, cốt yếu nhất vẫn là làm sao để không bị chết đói Với họ, chỉ cần được ăn no, mặc ấm, chứ không nghĩ tới việc ăn ngon, mặc đẹp, đơn giản vậy thôi, nhưng với hiện thực thì lại khó thực hiện được Nam Cao xây dựng họ là những con người có lí tưởng, ước mơ, hoài bão Nhưng rồi, họ bị cuộc sống ghì xuống, rơi vào bi kịch, vỡ mộng (lí tưởng càng cao đẹp, càng khó thực hiện) Họ chấp nhận bi kịch và rơi vào tình trạng “sống mòn”, cam chịu So với Thạch Lam, thì NamCao đã có một bước tiến mới, các nhân vật trí thức tiểu tư sản có những dằn vặt tâm lí nội tâm, độc thoại nội tâm rất nhiều để vượt qua hiện thực khắc nghiệt, vươn tới cuộc sống lí tưởng.

Một số nhân vật trí thức tiểu tư sản điển hình

4.1.1 Nhân vật trong bi kịch vỡ mộng

Nhân vật trí thức tiểu tư sản là những người có ước mơ và khát vọng cao đẹp Họ luôn khao khát cống hiến tri thức và sự hiểu biết của mình cho xã hội, mong muốn dùng trí óc của mình để đạt được những thành công, hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn cho bản thân, gia đình Nhưng thực tế không dễ dàng, phần vì cuộc sống trong ảo mộng do chính mình vẽ ra, phần vì những áp bức, gánh nặng, nỗi lo cơm, áo, gạo, tiền trong cuộc sống đã đẩy họ vào những bi kịch tinh thần không lối thoát

Nhân vật trí thức tiểu tư sản của Nam Cao xuất thân từ những làng quê nghèo, nhập cuộc vào xã hội mới đầy năng động của chốn thị thành và mang theo hoài bão của tuổi trẻ Họ nuôi dưỡng một ước mơ xây dựng sự nghiệp tinh thần cao quý, nhưng thực tế cho thấy khó có thể thực hiện được Dù luôn tâm huyết với nghề, họ không thể có được cuộc sống khá giả từ chính công việc của mình; ngược lại, những nỗ lực ấy thường phải trả giá bằng sự thiếu thốn và bằng cái giá vô cùng rẻ mạt Đôi khi họ buộc phải bán rẻ nghề để tồn tại.

Nhân vật Hộ trong tác phẩm Đời thừa được mô tả là một người có tài, có tâm và hoài bão cao đẹp, tự hào với nghề cầm bút và nuôi ước mơ viết nên một tác phẩm đoạt giải Nobel để sống đẹp và góp phần nâng cao giá trị đời sống cho xã hội Tuy vậy, đời thực phũ phàng trói anh vào nợ áo cơm và áp lực gia đình, khiến những ước mơ dần tàn, sự nghiệp bị giới hạn và anh mất dần ý nghĩa của nghề viết Hộ từ một người có lương tâm dần trở thành kẻ vô ích, bất lương, sống một đời thừa đầy cay đắng Trước cảnh phải lo toan cơm áo và chăm sóc vợ con, anh buộc phải viết ra toàn những cái vô vị nhạt nhẽo, gợi lên những tình cảm nông cạn và diễn đạt những ý tưởng quen thuộc trên một văn bản dễ dãi và phẳng nhạt.

Trong tác phẩm Giăng sáng, Điền là một trí thức nghèo thất nghiệp với một giấc mộng văn chương lớn lao, nhưng chưa có điều kiện biến ước mơ thành hiện thực Anh ấp ủ tham vọng trở thành văn sĩ nổi tiếng, viết nên những tác phẩm thanh cao, khơi nguồn cho những tình cảm thơ mộng Tuy nhiên, hoàn cảnh gia đình thực tế là vợ yếu, con đau, hết tiền, thiếu gạo, khiến những ước mơ của anh trở nên phù phiếm và vô vị trước cuộc sống đang diễn ra Nhận thức ấy khiến cuộc sống vật chất ngày càng ràng buộc, lèn ép anh đến mức trở thành người tính toán vụn vặt, nhỏ nhoi và tầm thường.

Về nhân vật trí thức trong Lão Hạc, ông giáo là một hình ảnh quen thuộc, hiện lên như bằng chứng sống cho khát vọng có một cuộc sống tốt đẹp hơn và mong được giúp đỡ những nông dân khốn khó, đặc biệt là lão Hạc, đồng thời cống hiến cho đất nước Dù không phải nhân vật trung tâm, ông giáo cho thấy thực tế xã hội nơi trí thức nghèo mang nhiệt huyết và ước mơ, nhưng nghề giáo lại thất nghiệp khiến những khát vọng ấy dần phai nhạt Những cuốn sách quý của ông phải bán để chữa bệnh cho con, gánh nặng gia đình thêm chồng chất trong cảnh nghèo túng Trong hoàn cảnh ấy, ông và gia đình có thể phải chịu chung số phận với những người nông dân đáng thương đang chết dần, khi sự túng quẫn và bất lực chi phối cuộc sống.

Trong bi kịch vỡ mộng, các nhân vật lột tả số phận của những người có ước mơ, có chí hướng và đặt mục tiêu nhưng không thể chiến thắng được thực tại phũ phàng Hoàn cảnh nghèo túng bóp nghẹt họ đến mức những ước mộng dần trở thành những hy vọng vô vọng, chỉ còn là kỷ niệm Đây là bi kịch chung của tầng lớp trí thức tiểu tư sản xã hội đương thời, bị giới hạn bởi cấu trúc xã hội và những nghịch cảnh cuộc sống.

4.1.2 Nhân vật trong bi kịch tự ý thức

Trong tác phẩm Nam Cao, hình tượng đại diện cho tầng lớp trí thức tiểu tư sản không chỉ trải qua bi kịch vỡ mộng mà còn phải đối mặt với bi kịch đau đớn hơn: bi kịch tự ý thức về nỗi đau và sự bế tắc khiến tài năng dần thui chột và nhân phẩm bị biến đổi, khi những ước mơ chân chính bị dồn ép và cảm giác sống như chết, thừa thãi, vô dụng ập đến Họ rơi vào trạng thái nhận thức sâu sắc về sự lệch chuẩn của bản thân và ý thức được mình đang lạc lối, đồng thời đấu tranh nội tâm gay gắt giữa mong muốn tự cứu chacun và sự bất lực trước hoàn cảnh Trong Đời thừa, nhân vật Hộ mang hình ảnh của một trí thức yêu thương gia đình và coi tình thương là nguyên tắc sống cao nhất, người chồng, người cha tận tụy, nhưng lại bị mắc kẹt trong thói bê tha và sự tàn nhẫn khiến vợ con khổ đau, chà đạp lên các nguyên tắc mà anh từng xây dựng Mỗi lần say rượu, anh thể hiện sự bạo lực và lời cay độc, rồi tỉnh dậy ăn năn và tự dày vò; dù muốn từ bỏ lợi ích cá nhân để lo cho sự nghiệp, anh vẫn không thể từ bỏ lòng thương người và khát vọng làm người, dù có thể bị coi là yếu đuối hay nhục nhã Sự nhận thức về lẽ sống và lương tâm nghề nghiệp khiến Hộ trải qua những cuộc đấu tranh nội tâm ròng rã, rơi vào bi kịch của kiếp người thừa, nhưng đồng thời tình yêu thương với vợ con và đồng bào nghèo vẫn cháy bỏng, cho thấy một nhân cách vẫn còn đậm nét nhân văn giữa bối cảnh bế tắc.

Trong các tác phẩm của Nam Cao, sự đấu tranh nội tâm và dằn vặt luôn ám ảnh những trí thức nghèo, những người mang tâm hồn đẹp đẽ và lòng nhân ái nhưng bị cảnh nghèo bủa vây Hoàn cảnh thiếu thốn làm họ dằn vặt, làm mục rữa những ước mơ và nhận thức được nỗi đau, sự bế tắc của bản thân, tự cảm thấy nhục nhã và khốn cùng nhưng không thể tự thoát ra hay tự chữa lành Đây là một trong những bi kịch tinh thần lớn nhất đè nặng lên những nhân vật đại diện cho tầng lớp trí thức tiểu tư sản trong truyện ngắn Nam Cao.

4.1.3 Nhân vật trong bi kịch sống mòn

Người trí thức tiểu tư sản qua bút mực của nhà văn Nam Cao phải chịu cảnh

Sống mòn là đỉnh cao của bi kịch, là trạng thái sống mà linh hồn đã chết giữa cuộc đời vô vị và đầy chua xót; những trí thức nghèo chỉ còn biết ngậm ngùi chấp nhận thực tại tối tăm, sống trong sự tồn tại vô nghĩa và đáng sợ hơn cái chết Nam Cao đã khắc họa rõ qua nhân vật Thứ: anh bỏ làng quê, bỏ vợ già, vợ trẻ và đứa con thơ để lên Hà Nội dạy tại một trường tư của anh họ, với hy vọng có một cuộc sống tốt đẹp hơn Tuy nhiên, ước mơ ấy dần lụi tàn trước sự khắc nghiệt của cuộc sống tha phương, nơi áp lực và sự thiếu cảm thông của người xung quanh khiến anh phải đối mặt với sự cô lập và nỗi sợ bị bỏ rơi Thứ cảm thấy mình chết dần trong vòng lặp nghèo khó, tình yêu dần phai nhạt và anh tự tin ngày mai sẽ mốc, gỉ, mòn rồi biến mất ở một góc quê nghèo, chưa kịp sống trọn vẹn.

Trong tác phẩm của Nam Cao, nhân vật đại diện cho tầng lớp tiểu tư sản được miêu tả với sự cố chấp, nhỏ nhen, và nghèo đói là yếu tố thay đổi căn bản cuộc sống cũng như con người họ Nghèo đói làm phai mòn bản chất thiện lương, làm mất đi vẻ đẹp nơi con người, và biến họ trở nên cáu kỉnh, cục mịch, ích kỉ hơn bao giờ hết; thậm chí lý tưởng cũng bị bào mòn theo từng giờ giây Điển hình là Oanh trong Sống mòn, một người có học thức và gia giáo, song vì nghèo khó mà bị đẩy đến những cách làm thô bỉ để tránh đói và sợ đứng ra làm những việc khó khăn như lo ma chay cho vị hôn thê đang hấp hối Bản thân cô còn bấp bênh trong cuộc sống, chưa biết sống chết ra sao, nên khó có thể nuôi lòng vị tha hay nghĩ đến người khác Cái nghèo và hoàn cảnh xã hội làm cho xã hội vùi dập những người không có tiếng nói, và nỗi lo về đồng tiền luôn đeo bám trong cuộc sống mưu sinh hàng ngày.

Trong truyện ngắn Quên điều độ, Hài là một giáo viên nghèo sống lay lắt ở phố thị Sau nhiều năm đau ốm và chữa bệnh bằng nghệ sống, bằng nước rau má tía và bằng nước tiểu trẻ con ở quê nhà, anh lên thành phố dạy học và đối mặt với căn bệnh tim phổi ngày càng nặng Cuộc sống khổ cực buộc anh phải làm việc không ngừng và đối phó với bệnh tật bằng một lối sống “điều độ” nghiêm ngặt, tự tách mình khỏi các thú vui mà chính anh cũng không có tiền tham gia Hài gặp lại Thư, người bạn cũ giàu sang, và anh nhận ra sự khác biệt căn bản giữa hai cuộc sống: một bên là mùi của sự phú quý, một bên là thực tế khắc nghiệt của một người giáo viên nghèo luôn nhẩm tính từng hào, từng xu Đó là cuộc sống của những người phải đối mặt với giới hạn và ước mơ giữa bối cảnh thiếu thốn.

“bán dần dần sự sống để cho mình khỏi chết”, sống mòn mỏi, sống chỉ để tồn tại trong cái “ao đời” ngột ngạt, lạnh lùng.

Trong Nhỏ nhen, bốn chàng trai bỏ qua đời sống vật chất và nuôi dưỡng khát vọng lớn lao Họ dự định mở một trường tư thục với kinh phí lên tới vài ba vạn bạc hoặc thành lập một nhà xuất bản quy mô lớn để phát hành những cuốn tiểu thuyết trong đầu họ Những kế hoạch ấy cho thấy họ không chỉ mơ mộng mà còn sẵn sàng hành động vì mục tiêu phát triển giáo dục và văn hóa Trong nguyện vọng, Tá được xem như một trí thức có tâm huyết với dân tộc.

Anh luôn coi sự nghiệp đào tạo con người là gốc rễ của sự phát triển dân tộc; để Việt Nam tiến lên, chỉ có học mới cải tạo được con người và xã hội, do đó phải đầu tư cho giáo dục và khuyến khích việc học Điền từ bỏ mộng văn chương với ý thức sẽ trở thành một văn sĩ, sẵn sàng chịu đói nghèo để đổi lấy nghề văn và nhờ đó cảm nhận vẻ đẹp của gió và của giăng qua thơ ca Đặc biệt, Hộ trong Đời thừa là một thanh niên say mê lý tưởng, cho rằng nghệ thuật là tất cả và xây dựng một quan điểm văn chương tiến bộ dựa trên tình thương, theo đó kẻ mạnh là người giúp đỡ người khác và con người phải có lòng nhân ái mới có ý nghĩa Thứ rời ghế nhà trường để thực hiện khát vọng cao cả, cho rằng phải có trình độ học thức và tài năng để phục vụ lý tưởng; nếu không có vũ khí, y sẽ cầm bút mà chiến đấu Ngoài ra, Du trong Cái chết của con Mực, Hài trong Quên điều độ, Ông giáo trong Lão Hạc, nhân vật tôi trong Những truyện không muốn viết đều ấp ủ dự định chân chính, ý thức sâu sắc về sự sống và khao khát vượt lên cuộc sống nhàm chán để mang lại thay đổi cho đất nước và xây dựng một tương lai tốt đẹp Tầng lớp trí thức tiểu tư sản phải trải qua bi kịch sống mòn, chấp nhận hiện thực phũ phàng và sống trong cảnh nghèo đói và tối tăm.

Nghèo đói đã thay đổi bản chất của họ, biến họ thành những con người nhỏ nhen và ích kỉ ngay từ trong chính mình Ý định chạy trốn khỏi cuộc sống được xem là vô nghĩa đã đẩy anh ấy đến con đường ích kỉ, khiến anh chỉ chăm chăm vào lợi ích cá nhân và mất dần sự đồng cảm với người khác.

Trong các sáng tác của Nam Cao, hình tượng "con người thừa"—một dạng kẻ suy nhược thần kinh và biến dạng của số phận—gặp nhau ở tần số bi kịch với văn học Nga TK XIX, đặc biệt Chekhov, khi cả hai nhà văn khai thác chất bi kịch nơi những người bị xã hội bỏ lại Họ cùng khám phá những trí thức không chấp nhận đời thừa, mong muốn dứt bỏ và vươn lên thoát khỏi vòng quay nghiệt ngã, nhưng càng giằng co càng lún sâu vào bi kịch và bất hạnh Tuy nhiên, thực tế đời sống và cách thể hiện của nhân vật "con người thừa" ở Chekhov và Nam Cao có những nét khác nhau, tạo nên sự phong phú và tư duy sáng tạo riêng cho mỗi tác giả.

Cách đặt tên nhân vật

Việc đặt tên nhân vật không chỉ là yếu tố thẩm mỹ mà còn là chìa khóa để nắm bắt tính cách, số phận và cuộc đời của họ trong tác phẩm Tên nhân vật phản ánh chủ đề và tư tưởng của bài viết, đồng thời thể hiện vị thế và thứ bậc xã hội mà họ thuộc, từ đó giúp người đọc nhận diện động cơ hành động và sự phát triển của nhân vật Việc lựa chọn tên phù hợp sẽ tăng cường sự liên kết giữa yếu tố cá nhân và ngữ cảnh xã hội, đồng thời gợi mở các ý nghĩa sâu hơn về chủ đề và thông điệp mà tác giả muốn truyền tải.

Trong Giăng sáng và Nước mắt, Nam Cao đặt cùng một tên cho hai truyện Điền, cho thấy xu hướng này được thấy ở nhiều truyện của Lỗ Tấn Điền nghĩa là ruộng, gợi lên một anh trí thức nhưng cuộc đời sẽ phải dãi nắng dầm sương, trải qua nhiều sự đời ngay trong cuộc đời của nhân vật.

Trong tiểu thuyết Đời thừa và Sống mòn của Nam Cao, hai cái tên Hộ và Thứ được dùng như dụng ý đặc biệt để phác họa số phận nhân vật: Hộ mang nghĩa giúp đỡ, che chở, giữ gìn và bênh vực, phản ánh hành trình của Hộ vốn cưu mang Từ và sau đó nhận thêm trách nhiệm với vợ con trong bối cảnh nghèo khổ; Thứ tượng trưng cho sự kém may, ở bậc dưới và đứng sau, báo trước một cuộc đời khó vươn lên; tất cả những ý nghĩa này được Nam Cao khắc họa qua tên gọi của các nhân vật, trở thành nét đặc trưng trong phong cách của ông: không chỉ chú trọng đặt tên cho trí thức mà còn đặt tên cho người nông dân một cách ấn tượng, giúp độc giả hình dung và hiểu được nhân vật ngay khi mới gặp mặt.

Nam Cao thành công xây dựng nhân vật qua những cái tên mang ý nghĩa sâu sắc về cuộc đời, số phận và nghề nghiệp, giúp độc giả nắm bắt bản chất nhân vật ngay cả khi chưa đọc kỹ truyện Những nhân vật trí thức tiểu tư sản được khắc họa bằng tên gọi mộc mạc, chân thật, gắn với số phận con người và phản ánh thực tại xã hội đương thời.

Nam Cao ghi dấu bằng hình tượng trí thức tiểu tư sản trong các tác phẩm của mình, nơi ông phác họa một cách thẳng thắn cuộc đời và bi kịch tinh thần của họ, từ đó vẽ lên một bức tranh xã hội đương thời đầy tối màu và đồng cảm sâu sắc với con người trí thức Tác giả cũng nêu bật lát cắt của một xã hội thực dân nửa phong kiến, đẩy nhân vật vào những hoàn cảnh oái ăm và bế tắc, từ đó làm nổi bật những xung đột xã hội và giá trị nhân văn tồn tại trong đời sống trí thức.

Tầng lớp trí thức tiểu tư sản là nhóm người có học vấn và sự nhạy bén với cuộc sống, nhưng phần lớn họ sống bấp bênh và đối mặt với thất nghiệp Với tri thức và tư duy tiến bộ, họ nhận diện được những biến động của thời đại và mặt trái của xã hội, trong khi tâm hồn nhạy cảm khiến họ thường trải qua dằn vặt và tự vấn trước cảm giác bất lực Sự thiếu quyết đoán trong cả suy nghĩ và hành động cũng là một phần nguyên nhân dẫn tới những bi kịch tinh thần của tầng lớp trí thức tiểu tư sản.

Nhân vật trí thức tiểu tư sản trong sáng tác của Nam Cao đóng vai trò then chốt, giúp ông khẳng định vị thế của mình trong nền văn học hiện thực Việt Nam Thế giới của những nhân vật này mang lại cho độc giả những cái nhìn đa chiều và sâu sắc về một tầng lớp xã hội, đồng thời tái hiện trong lòng người đọc bầu không khí ngột ngạt của xã hội thực dân nửa phong kiến đang bị tàn phá và xâm chiếm tâm hồn con người.

Nghệ thuật xây dựng nhân vật chú ý miêu tả nội tâm nhân vật

Nam Cao thực sự là bậc thầy trong việc miêu tả nội tâm nhân vật, với phong cách viết nhạy bén và sâu sắc giúp hình thành những tâm lý phức tạp Trong các tác phẩm của ông, sự dằn xé nội tâm của các nhân vật trí thức tiểu tư sản trước hoàn cảnh xã hội được khắc họa tinh tế qua từng chi tiết, từng bước đấu tranh nội tâm, điển hình với Hộ, Điền, Thứ và nhiều nhân vật khác Qua đó, Nam Cao khám phá xung đột giữa lý tưởng và thực tại, giữa mong muốn cá nhân và hạn chế xã hội, biến nội tâm thành động lực cho hành động và số phận của họ Sự mô tả tâm lý chặt chẽ, giàu nhịp điệu và nhắc nhở xã hội khiến tác phẩm vừa có giá trị nghệ thuật vừa có tác động xã hội sâu sắc, đồng thời tối ưu cho SEO với các từ khóa Nam Cao, miêu tả nội tâm nhân vật, nhân vật trí thức tiểu tư sản, dằn xé nội tâm, Hộ, Điền, Thứ.

Nam Cao đã thực sự tìm cho mình một hướng đi riêng trong việc tiếp cận và phản ánh hiện thực Trong bối cảnh các nhà văn hiện thực thời Mặt trận dân chủ (1936–1939) như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng và Ngô Tất Tố chủ yếu phản ánh trực tiếp mâu thuẫn xã hội, Nam Cao—đại biểu tiêu biểu của trào lưu hiện thực ở giai đoạn cuối (1940–1945)—đã chọn cách tập trung vào xung đột nội tâm của nhân vật Trừ truyện ngắn Chí Phèo, được xem như dư âm của thời kỳ 1936–1939 và mang ý nghĩa trực tiếp về xung đột giai cấp, các tác phẩm khác của Nam Cao hầu như thể hiện xung đột trong thế giới nội tâm của nhân vật, qua đó phản ánh bi kịch cá nhân và những xung đột xã hội một cách tinh tế.

Nam Cao là nhà văn tiêu biểu của chủ nghĩa hiện thực tâm lý, và điều này gắn chặt với quan niệm về con người ở ông Ông viết với nhạy cảm tâm lý sâu sắc, phân tích động cơ và xung đột nội tâm của nhân vật, từ đó làm nổi bật phẩm giá con người giữa bối cảnh xã hội khắc nghiệt Nam Cao viết trong một thời kỳ xã hội Việt Nam đương thời, nơi nghèo khó và bất công chi phối đời sống người dân, và ngòi bút của ông vừa phơi bày mặt trái của xã hội vừa tôn vinh lòng nhân ái và sự kiên cường của con người qua những trải nghiệm chân thực.

Nam Cao coi sống là sự hòa quyện giữa cảm giác và tư tưởng, trong đó hành động chỉ là hệ quả của những cảm nhận và suy nghĩ, nên cái chân thật nhất trong sáng tác là sự thật của tư tưởng và nội tâm nhân vật chứ không phải sự kiện bên ngoài; vì thế, mục đích phản ánh cuộc sống ở ông là làm nổi bật con người trước các biến cố hơn là bản thân biến cố đó Trong văn chương của ông, hứng thú tâm lý thường chiếm phần lớn hơn sự chú ý tới diễn tiến sự kiện, và các chi tiết nội tâm lại thay thế sự kiện để lộ rõ nét tính cách, động cơ nội tại và mối quan hệ phức tạp của nhân vật với hiện thực xung quanh Vì vậy, các sự kiện chỉ giữ vai trò kích thích để nhân vật bộc lộ những nét tâm lý sâu kín, từ đó phản ánh bản chất con người và sự xê dịch của nó trước thực tế Ví dụ điển hình là Văn sĩ Hộ, người trải qua bước chuyển biến nội tâm: ban đầu anh khinh các lo âu vật chất và dành trọn cho việc nuôi dưỡng tài năng, đọc, ngẫm nghĩ, nhận xét và suy tưởng không biết chán; đối với anh, nghệ thuật trở thành tất cả, và mọi thứ khác dường như chỉ còn là phụ trợ khi đã ghép đời sống vào tác phẩm.

Cuộc đời của Hộ gắn chặt với gia đình phải chăm lo, vì vậy hắn hiểu giá trị của đồng tiền và những nỗi khổ của người đàn ông khi thấy vợ con đói nghèo; chính cuộc sống đã bắt hắn viết để người đọc rồi quên đi và tự dày vò mỗi khi mở lại một trang sách có chữ ký của mình Hắn tự nhủ mình là một thằng khốn nạn, cho rằng sự cẩu thả trong bất cứ nghề nào cũng là vô lương, nhưng cẩu thả trong văn chương thì càng đê tiện; những đoạn độc thoại nội tâm thể hiện ý nghĩ sẽ dành vài năm để tích có vốn làm ăn khi Từ có vốn, để cuộc sống bớt khó khăn Tuy vậy, áp lực tiền bạc khiến Hộ phát điên lên, tiếng khóc của con làm căn nhà luôn căng như dây, hắn trở nên cau có và gắt gỏng với vợ, với con và với bất cứ ai, thậm chí phải đứng lên bỏ ra phố và nuốt nghẹn nước mắt giữa đường Có lúc hắn nhớ lại đêm qua say rượu, la cà rồi về gây sự với Từ, đánh đuổi nàng và đóng cửa đi ngủ Nam Cao khắc họa tâm lý nhân vật bằng cách đi sâu vào nội tâm, một phương thức thường gặp trong các tác phẩm của ông, như Điền trong Giăng sáng cũng cho thấy sự phóng chiếu tâm lý phức tạp giữa trời rộng và sao nhiều, mở ra những suy nghĩ về giới hạn và ước mộng của con người.

Ở Tây phương, người ta ví bầu trời đầy sao như một cánh đồng mênh mông Nếu trời thực sự là một cánh đồng thì cánh đồng ấy rộng vô hạn Điền chỉ cần một mảnh đất nhỏ sau mái nhà của người kia cũng đủ để lo sinh kế, và khi ấy Điền sẽ giao cho vợ quản lý Khi đó, Điền có thể rảnh rang theo đuổi ước mộng của mình.

Đã có một thời Điền chăm chỉ đọc sách, viết văn và nuôi mộng trở thành văn sĩ, sẵn sàng chịu đựng mọi thiếu thốn và đọa đày của đời văn để theo đuổi ước vọng ấy; anh thường bảo với người bạn đồng chí rằng sẽ từ bỏ một công việc lương cao để đổi lấy vài đồng bạc nuôi nghề văn Những trang văn chân thực phản ánh trách nhiệm làm cha và làm chồng cho thấy nỗi lo toan tiền bạc luôn đeo bám anh Khi nhớ lại giấc mộng xưa, Điền thở dài và tự an ủi rằng có tiền rồi sẽ viết, nhưng anh biết suốt đời cũng khó có tiền và có lẽ không thể viết nữa Trong khoảnh khắc đau đớn bên Từ, hắn ôm bàn tay bé nhỏ của cô vào ngực và khóc nức nở, trong khi Từ thức dậy và hiểu ngay, ôm chồng nghẹn ngào Cái bàn tay lủng củng, cổ tay mỏng và làn da xanh trong bộc lộ một vẻ yếu đuối cần được che chở, một hình bóng bạc mệnh khiến hắn tự hỏi mình đã làm gì để đời sống của Từ bớt khổ Nước mắt tuôn ra như nước trái chanh bị bóp, và hắn càng khóc to hơn, như thể sự đau đớn đã vỡ oà Cách miêu tả tràn đầy cảm xúc cho thấy đứa con không dám khóc lớn mà chỉ rít lên tiếng nức nở, còn Điền ngồi cúi đầu thắt lại nỗi chua xót trong cổ họng và trong tâm trí, khiến nước mắt cứ rơi thành dòng.

Nam Cao là bậc thầy trong miêu tả tâm lý nhân vật và là nhà văn thành công trong việc xây dựng hình ảnh trí thức tiểu tư sản qua độc thoại nội tâm Những câu văn đẫm tâm lý của ông phác họa sâu sắc cuộc sống của những người thiếu may mắn, phản ánh khát vọng, bất công và bi kịch riêng của họ trong xã hội Việt Nam xưa.

Kết cấu

Ngôn ngữ

Giọng điệu

Ngày đăng: 17/04/2022, 11:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w