TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ ———— BÀI THẢO LUẬN MÔN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ĐỀ TÀI TÌM HIỂU CAM KẾT MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG NGÀNH HÀNG Ô TÔ CỦA VIỆT NAM VỚI WTO Giáo viên hướng dẫn Vũ Anh Tuấn Nhóm thực hiện 1 Lớp HP 2224ITOM2011 HÀ NỘI 2022 1 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 2 NỘI DUNG CHÍNH 3 I CƠ SỞ LÝ THUYẾT 3 1 Cam kết mở cửa thị trường thương mại hàng hóa của Việt Nam với WTO đối với ngành hàng ô tô 3 2 Thực tế quá trình thực hiện cam kết mở cửa thị trường thương mại hàng.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
————
BÀI THẢO LUẬN
MÔN: HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI: TÌM HIỂU CAM KẾT MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG NGÀNH
HÀNG Ô TÔ CỦA VIỆT NAM VỚI WTO
Giáo viên hướng dẫn : Vũ Anh Tuấn Nhóm thực hiện : 1
HÀ NỘI - 2022
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG CHÍNH 3
I CƠ SỞ LÝ THUYẾT 3
1 Cam kết mở cửa thị trường thương mại hàng hóa của Việt Nam với WTO đối với ngành hàng ô tô 3
2 Thực tế quá trình thực hiện cam kết mở cửa thị trường thương mại hàng hóa của Việt Nam với WTO đối với ngành hàng ô tô 5
II CƠ SỞ THỰC TIỄN 7
1 Thị trường ngành ô tô tại Việt Nam những năm gần đây 7
1.1 Tình hình ngành ô tô trước khi gia nhập WTO 7
1.2 Tình hình ngành ô tô sau khi gia nhập WTO 8
2 Năng lực cạnh tranh của ngành ô tô Việt Nam 17
2.1 Hoa Kỳ 17
2.2 EU 18
2.3 Nhật Bản 20
3 Đánh giá sự phát triển của ngành ô tô Việt Nam trong những năm gần đây 21
3.1 Thành tựu đạt được (đánh giá về sản xuất và nhập khẩu, kinh doanh tại VN) 21
3.2 Hạn chế 22
3.3 Đề xuất giải pháp khắc phục 24
3.4 Triển vọng của ngành ô tô Việt Nam trong tương lai 26
KẾT LUẬN 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Ngày 11/01/2007 đã đánh mốc son trong lịch sử hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, ngày ghi dấu Việt Nam mở được “then cửa” để bước vào Tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh - WTO Gia nhập WTO được coi là bước ngoặt có ý nghĩa quan trọng, khẳng định Việt Nam hội nhập “sân chơi” kinh tế toàn cầu Trong 15 năm qua, sau khi chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã nghiêm túc thực hiện các cam kết của mình với tổ chức này trong tất cả các lĩnh vực như thuế, hàng hóa, sở hữu trí tuệ, dịch vụ Sự nghiêm túc của Việt Nam được các thành viên WTO và cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước đánh giá cao và đó cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần tạo ra kết quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài đầy ấn tượng trong những năm vừa qua
Đàm phán gia nhập WTO là cuộc đàm phán thương mại dài theo lộ trình 3-5 năm Hạn ngạch thuế quan cũng đã ảp dụng giàm từ 13 xuống còn 6 mặt hàng, Việt Nam đã cam kết mở cửa thị trường cho một số ngành và phân ngành, trong đó có ngành hàng ô tô Tuy nhiên, như ở nhiều thành viên gia nhập WTO khác, quá trình thực thi cam kết ở Việt Nam cũng đã gặp một số vướng mắc gây khó khăn không nhỏ cho doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước hữu quan Sự phức tạp trong thực thi các cam kết bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân không dễ nhận biết nếu hàng hóa hoặc đàm phán lĩnh vực hàng hóa không phải là lĩnh vực chuyên môn của người có liên quan Trong những nguyên nhân này, có nguyên nhân thuộc về cách thức cam kết mở cửa thị trường hàng hóa, nhưng cũng có những nguyên nhân bắt nguồn từ chiến thuật đàm phán của các nhà đàm phán, tức là không mấy liên quan tới bản chất và nội dung, khiến quá trình thực thi vốn đã phức tạp càng trở nên phức tạp và rắc rối hơn
Từ thực tế đó, với mong muốn tìm hiểu rõ hơn về những cam kết mở cửa thị trường lĩnh vực hàng hóa của Việt Nam với WTO mà đặc biệt là trong ngành
hàng ô tô, nhóm chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu cam kết mở cửa thị trường ngành hàng ô tô của Việt Nam với WTO”
Trang 4Sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam có thể tóm tắt trong 03 giai đoạn sau:
Giai đoạn 1990-2003: Doanh nghiệp ô tô nhận được sự bảo hộ ở mức cao của nhà nước thông qua chính sách giảm thuế tiêu thụ; áp dụng hàng rào thuế quan ở mức cao đối với xe nhập khẩu và chính sách cấm nhập khẩu đối với ô tô dưới 15 chỗ ngồi Trong giai đoạn này, xe du lịch nhập khẩu gần như không có chỗ đứng trên thị trường nội địa, sản lượng của xe lắp ráp trong nước liên tục tăng mạnh qua các năm;
Giai đoạn 2003 – 2007: Giai đoạn này Việt Nam đang tăng tốc quá trình đàm phán gia nhập WTO
và phải ban hành, điều chỉnh các chính sách cho phù hợp với yêu cầu của WTO Hàng loạt chính sách ưu đãi mang tính phân biệt đối xử trái với các nguyên tắc của WTO trong ngành này (ví dụ chính sách giảm thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô sản xuất trong nước) dần được dỡ bỏ Doanh nghiệp ô tô trong nước gặp khá nhiều khó khăn;
Giai đoạn 2007 – nay: Đây là giai đoạn Việt Nam đã trở thành thành viên WTO Cũng trong giai đoạn này, do những biến động về kinh tế, chính sách đối với ngành ô tô (đặc biệt là chính sách thuế) thường xuyên thay đổi và khó dự đoán Tuy nhiên, do một số nguyên nhân khách quan thuận lợi (tốc độ tăng trưởng nhanh của nền kinh tế, sự gia tăng về mức sống dân cư, nhu cầu sử dụng
xe ô tô trong nước có xu hướng tăng cao…), sản lượng ô tô sản xuất trong nước
có xu hướng tăng mạnh
Trang 5Cam kết mở cửa thị trường thương mại hàng hóa của Việt Nam với WTO đối với ngành hàng ô tô
Các cam kết chủ yếu trên lĩnh vực thuế quan nhập khẩu, mức cam kết thuế nhập khẩu đối với ô tô nguyên chiếc không giống nhau giữa các nhóm cam kết
Cụ thể:
Stt Mặt hàng
Thuế suất MFN tại thời điểm gia nhập (%)
Thuế suất cam kết trong WTO
Khi gia nhập (%)
Cuối cùng (%)
Thời hạn thực hiện (kể từ khi gia nhập)
1 Thuế suất bình
quân chung 17,4 17,2 13,4
Chủ yếu cắt giảm trong 3-5 năm
2 Thiết bị vận tải 35,3 46,9 37,4
Chủ yếu cắt giảm trong 3-5 năm
Trang 6Ví dụ như: Trong Nghị định 122/2016/NĐ-CP về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu
thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan (lộ trình thực hiện từ 01/01/2017 đến 01/01/2019), các quy định về thuế nhập khẩu đối với mặt hàng xe ô tô đã qua sử dụng thực hiện theo cam kết với WTO đã được quy định tại điều 7 của Nghị định như sau:
“1 Xe ô tô chở từ 9 chỗ ngồi trở xuống (kể cả lái xe) có dung tích xi lanh dưới 1.500cc thuộc nhóm hàng 87.03 và xe ô tô chở người từ 10 đến 15 chỗ ngồi (kể cả lái xe) thuộc nhóm hàng 87.02 áp dụng mức thuế tuyệt đối quy định tại Phụ lục III ban hành kèm Nghị định này
2 Xe ô tô chở từ 9 chỗ ngồi trở xuống (kể cả lái xe) có dung tích xi lanh từ 1.500cc trở lên thuộc nhóm hàng 87.03 áp dụng mức thuế hỗn hợp quy định tại Phụ lục III ban hành kèm Nghị định này
3 Xe ô tô chở người từ 16 chỗ ngồi trở lên (kể cả lái xe) thuộc nhóm hàng 87.02 và xe vận tải hàng hóa có tổng trọng lượng có tải trọng không quá không 5 tấn, thuộc nhóm hàng 87.04 (trừ xe đông lạnh, xe gom thu gom phế thải có bộ
Trang 7phận nén phế thải, xe xi téc, xe bọc thép để chở hàng hóa có giá trị, xe chở xi măng kiểu bồn và xe chở bùn có thùng rời nâng hạ được) áp dụng mức thuế suất nhập khẩu ưu đãi là 150%
4 Các loại xe ô tô khác thuộc các nhóm hàng 87.02, 87.03, 87.04 áp dụng mức thuế suất bằng 1,5 lần so với mức thuế suất nhập khẩu ưu đãi của xe ô tô mới cùng chủng loại thuộc cùng nhóm hàng quy định tại mục I Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này.”
Theo đó, đối với mặt hàng ô tô nhà ở lưu động (có nội thất được thiết kế như căn hộ – motorhomes), mã hàng 8703.23.40: Từ ngày 01/01/2017 đến 31/12/2017, mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi giảm từ 61% xuống còn 58%;
từ ngày 01/01/2018 đến 31/12/2018 mức thuế nhập khẩu ưu đãi giảm từ 58% xuống còn 55%; từ 01/01/20179 mức thuế nhập khẩu ưu đãi giảm từ 55% xuống còn 52% Thuế suất MFN của bộ linh kiện rời đồng bộ và không đồng bộ của ô
tô để sản xuất, lắp ráp ô tô thuộc các mã hàng 9821.21.23 (mã hàng tương ứng 8703.23.40); 9821.21.24 (mã hàng tương ứng 8703.23.64); 9821.21.26 (mã hàng tương ứng 8703.23.94); 821.21.27 (mã hàng tương ứng 8703.24.51); 9821.21.29 (mã hàng tương ứng 8703.24.59, 8703.24.70, 8703.24.99); 9821.21.28 (mã hàng tương ứng 8703.24.91); 9821.30.11 (mã hàng tương ứng 8704.10.23) quy định tại Mục II phụ lục II Nghị định 122/2016/NĐ-CP sẽ áp dụng mức thuế suất MFN của xe ô tô nguyên chiếc cùng chủng loại theo lộ trình quy định tại khoản
1 Mục III Phụ lục II Nghị định 122/2016/NĐ-CP Không áp dụng mức thuế quy định cho bộ linh kiện rời đồng bộ và không đồng bộ của ô tô để sản xuất, lắp ráp các chủng loại xe ô tô này tại chương 98 kể từ ngày 01/01/2017 trở đi
Các Nghị định Chính phủ có sự sửa đổi và bổ sung hoặc ban hành Nghị định mới, đảm bảo đúng lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu ô tô như đã cam kết với WTO
Ví dụ: Ngày 16/11/2017 Chính phủ ban hành Nghị định 125/2017/NĐ-CP
sửa đổi Nghị định 122/2016/NĐ-CP, theo đó Điều 7 Thuế nhập khẩu đối với mặt hàng xe ô tô đã qua sử dụng được sửa đổi và bổ sung như sau:
Trang 8“1 Xe ô tô chở người từ 09 chỗ ngồi trở xuống (kể cả lái xe) có dung tích
xi lanh không quá 1.000cc thuộc nhóm hàng 87.03 áp dụng mức thuế tuyệt đối quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này
2 Xe ô tô chở người từ 09 chỗ ngồi trở xuống (kể cả lái xe) có dung tích xi lanh trên 1.000cc thuộc nhóm hàng 87.03 và xe ô tô chở người từ 10 đến 15 chỗ ngồi, kể cả lái xe thuộc nhóm hàng 87.02 áp dụng mức thuế hỗn hợp quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này
3 Xe ô tô chở người từ 16 chỗ ngồi trở lên (kể cả lái xe) thuộc nhóm hàng 87.02 và xe có động cơ dùng để chở hàng hóa có khối lượng toàn bộ theo thiết
kế không quá 05 tấn, thuộc nhóm hàng 87.04 (trừ ô tô đông lạnh, ô tô thu gom phế thải có bộ phận nén phế thải, ô tô xi téc, ô tô bọc thép để chở hàng hóa có giá trị; ô tô chở xi măng kiểu bồn và ô tô chở bùn có thùng rời nâng hạ được) áp dụng mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi là 150%
4 Các loại xe ô tô khác thuộc các nhóm hàng 87.02, 87.03, 87.04 áp dụng mức thuế suất bằng 1,5 lần so với mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi của xe ô
tô mới cùng chủng loại thuộc cùng nhóm hàng quy định tại Mục I Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này.”
Bổ sung thêm Điều 7a về Thuế suất nhập khẩu ưu đãi đối với linh kiện ô tô nhập khẩu theo Chương trình ưu đãi thuế
II CƠ SỞ THỰC TIỄN
1 Thị trường ngành ô tô tại Việt Nam những năm gần đây
1.1 Tình hình ngành ô tô trước khi gia nhập WTO
Ngành công nghiệp ô tô Việt nam chỉ thực sự hình thành từ những năm 90 khi Chính phủ cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được sản xuất, lắp ráp ô tô tại Việt nam
Ngành sản xuất, lắp ráp ô tô của Việt Nam bao gồm 2 khối:
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: tổng vốn đầu tư của 14 doanh nghiệp FDI là 920 triệu USD, năng lực sản xuất 220.000 xe/năm, sản xuất chủ yếu xe du lịch, xe đa dụng, xe tải;
Các doanh nghiệp trong nước: hiện có khoảng hơn 30 doanh nghiệp đầu tư sản xuất, lắp ráp ô tô với tổng số vốn khoảng 2.500 tỷ đồng Các doanh nghiệp
Trang 9trong nước chủ yếu sản xuất các loại ô tô bus, xe khách, xe tải nhỏ và nặng, các loại xe chuyên dùng
Giai đoạn 1990-2005: Doanh nghiệp ô tô nhận được sự bảo hộ ở mức cao
của nhà nước thông qua chính sách giảm thuế tiêu thụ đặc; áp dụng hàng rào thuế quan ở mức cao đối với xe nhập khẩu và chính sách cấm nhập khẩu đối với
ô tô dưới 15 chỗ ngồi Trong giai đoạn này, xe du lịch nhập khẩu gần như không
có chỗ đứng trên thị trường nội địa, sản lượng của xe lắp ráp trong nước liên tục tăng mạnh qua các năm;
1.2 Tình hình ngành ô tô sau khi gia nhập WTO
Trang 10tiếp tục thực hiện các cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu đối với WTO vào năm
2010 ngoài ra còn có Thông tư 20 đã " chặn cửa" xe nhập khẩu không chính hãng ở năm 2011 đến kim ngạch nhập khẩu thấp kỷ lục vào năm 2012 là 616,7 triệu USD
Tại thời điểm Việt Nam gia nhập WTO, thuế suất cam kết đối với mặt hàng ôtô chở người là 100%, giảm dần trong những năm tiếp theo
Khi Việt Nam gia nhập WTO hồi tháng 1/2007, các loại ôtô mới nguyên chiếc được giảm từ mức 90% xuống còn 80% Tháng 8/2007, thuế được giảm tiếp xuống còn 70%; ngày 16/11/2007, thuế suất đối với ôtô mới nguyên chiếc Năm 2007, VN gia nhập WTO, lộ trình giảm thuế đối với hầu hết các mặt hàng đều được minh bạch theo từng năm Đây cũng là yếu tố quan trọng góp phần đẩy lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu có sự tăng trưởng mạnh mẽ từ năm
2007 với một con số cao kỷ lục số với trước đó là 28.000 chiếc đạt kim ngạch
523 triệu USD lên hơn 76.300 chiếc vào năm 2009 đạt kim ngạch là 1.171 tỷ USD tăng 60% về số lượng và hơn 55% về kim ngạch nhập khẩu
Đến năm 2010, Việt Nam phải tiếp tục thực hiện các mức cắt giảm thuế theo cam kết WTO
Năm 2010, mức cam kết WTO năm 2010 đối với xe ôtô dưới 9 chỗ ngồi cụ thể là: loại chạy xăng, từ 2500cc trở lên là 80,5%; xe chạy xăng dưới 2500 cc và
xe chạy diessel có cam kết trần là 87%; xe ô tô 4 bánh 2 cầu chủ động có mức cam kết trần là 77% Mức thuế nhập khẩu đối với các ôtô này năm 2009 là 83%
Để góp phần hạn chế nhập siêu, ổn định kinh doanh và ít tác động nhất về thay thế thuế suất, Bộ Tài chính điều chỉnh bằng các mức trần WTO của năm
2010 đối với xe chạy xăng trên 2500cc và xe 4 bánh 2 cầu chủ động (xe chạy xăng, từ 2500cc trở lên là 80%; xe ôtô 4 bánh 2 cầu chủ động là 77%), các loại
xe chạy xăng dưới 2500 cc và chạy diesel giữ nguyên mức hiện hành của năm
2009 là 83% để tránh việc thay đổi lớn và không chênh lệch so với các loại công suất lớn
Và từ năm 2010 đến năm 2012, nhập khẩu ô tô nguyên chiếc từ nước ngoài
về Việt Nam đã có dấu hiệu không khả quan khi bắt đầu có dấu hiệu giảm Kết
Trang 11thúc năm 2010, lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu vào nước ta giảm còn 53.841 chiếc, giảm 33,2% so với năm 2009, tương đương giá trị 978,5 triệu USD, giảm 22,9%, hơn nữa đến năm 2011 lượng ô tô nhập khẩu nguyên chiếc chỉ tăng
có 1,4% so với năm 2010 lên 54.619 chiếc, tương đương giá trị hơn 1 tỷ USD, tăng 5,1% và lại tiếp tục giảm kỷ lục vào năm 2012 với 27.427 chiếc, trị giá 616,7 triệu USD
Như vậy 2012 là năm Việt Nam nhập khẩu ít ô tô nhất trong vòng 6 năm qua, và có tới 5 tháng, lượng xe nhập khẩu ở dưới mức 2.000 chiếc
Với những nguyên nhân Thứ nhất là do năm 2012, tình hình kinh tế khó khăn, khiến nhu cầu mua sắm ô tô nói chung giảm sút Thứ hai là mức thu phí trước bạ đối với ô tô đăng ký lần đầu tại hai thị trường lớn nhất cả nước là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh tăng lên Thứ ba là một số loại phí “rình rập” chủ xe ô
tô, như phí sử dụng đường bộ, phí lưu hành phương tiện giao thông cá nhân, và phí ô tô đi vào trung tâm thành phố trong giờ cao điểm
Trong giai đoạn này, dẫn đầu thị trường ô tô nhập khẩu Việt Nam là Hàn Quốc với 25.106 chiếc, chiếm gần 50% thị phần năm 2011 tăng lên 11.803 chiếc, chiếm hơn 40% tổng lượng xe nhập khẩu vào Việt Nam trong năm 2012
Kế đến là xe từ Thái Lan, Trung Quốc , Ấn Độ và Nhật Bản
Bên cạnh đó, theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, thống lĩnh thị trường linh kiện, phụ tùng ô tô nhập khẩu vào Việt Nam trong những năm này là hàng xuất xứ Thái Lan, với kim ngạch 357,5 triệu USD năm 2012, kế đến là Nhật Bản và Hàn Quốc Thêm vào đó, giá trị nhập khẩu linh kiện, phụ tùng ô tô vào Việt Nam giảm từ hơn 1,9 tỷ USD năm 2010 xuống còn 1,46 tỷ USD năm
2012 giảm 30% Linh kiện, phụ tùng ô tô nhập khẩu vào Việt Nam nhằm phục
vụ hoạt động lắp ráp và sửa chữa, thay thế
Giai đoạn 2013-2018, được đánh giá là giai đoạn khá phát triển của ngành
ô tô Việt Nam khi lượng xe nhập khẩu nguyên chiếc (CBU) tăng qua từng năm
và thu lại được doanh thu trong nước cũng tăng qua từng năm Và trong giai đoạn này, ngành ô tô của Việt Nam đã ký Hiệp định ATIGA và AFTA đây cũng
Trang 12chính là lực đẩy mạnh mẽ cho trào lưu nhập khẩu ôtô từ các nước ASEAN vào Việt Nam
Lượng ôtô nguyên chiếc nhập khẩu về Việt Nam kể từ năm 2012 đến
năm 2015
(Nguồn: Tổng cục Hải quan)
Theo Tổng cục Hải quan, sau lượng ô tô nhập khẩu nguyên chiếc của Việt Nam từ nước ngoài thấp kỷ lục vào năm 2012, thì đến những năm tiếp theo thì con số này đã nhận được sự cải thiện rõ rệt Cụ thể, lượng nhập khẩu ô tô nguyên chiếc của cả nước đã tăng từ năm 2013 là hơn 35.200 chiếc và cho đến năm 2015 là một năm bùng nổ khi thị trường ô tô Việt Nam đã nhập khẩu tổng cộng gần 126.000 xe ô tô nguyên chiếc các loại, tăng gấp 3,5 lần so với năm
2013
Theo cam kết gia nhập ASEAN/AFTA và WTO thì thuế nhập khẩu năm
2014 tiếp tục cắt giảm, nhiều dòng thuế của nhóm hàng ô tô đã và sẽ được cắt giảm theo lộ trình từ 7-12 năm Cụ thể, các loại xe chở người có dung tích xi-lanh từ 2.5 trở lên, thuế suất sẽ giảm từ 74% hiện nay xuống 70% vào năm 2014; tiếp theo sẽ giảm xuống 52% vào năm 2019 Xe 2 cầu sẽ giảm từ 90% xuống 47% vào năm 2017
Giảm thuế nhanh và mạnh mẽ hơn là lộ trình thực hiện Hiệp định Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) Theo AFTA, thuế suất nhập khẩu ô tô nguyên chiếc từ khu vực ASEAN vào Việt Nam sẽ giảm xuống mức 40% ngay từ năm
Trang 132014, năm 2015 giảm tiếp còn 35%, năm 2016 giảm xuống 20% và về mức 0%
từ năm 2018
Trong những năm này, 4 thị trường nhập khẩu ô tô lớn nhất của Việt Nam vẫn là Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan và Ấn Độ Năm 2013, Hàn Quốc vẫn tiếp tục là thị trường chính cung cấp ô tô nguyên chiếc cho Việt Nam với hơn 14.500 chiếc chiếm hơn 41,3% tổng lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu của cả nước, tiếp theo là Thái Lan gần 7.800 chiếc, Trung Quốc 4.370 chiếc, Nhật Bản 2.300 chiếc Nhưng đến năm 2015, thì đáng chú ý là sự bùng nổ của thị trường Trung Quốc với 26.742 xe, tiếp theo là thị trường Hàn Quốc với hơn 26.000 xe (chỉ kém Trung Quốc chưa đầy 200 xe), Ấn Độ vươn lên thứ 3 với hơn 25.000
xe, nhưng cũng chỉ hơn Thái Lan đúng 10 xe Các thị trường tiếp theo là Nhật Bản với hơn 6.000 xe, Mỹ và Indonesia hơn 3.000 xe, Đức hơn 2.500 xe
Nguồn: Tổng cục hải quan
Qua năm 2015 bùng nổ với lượng ô tô nhập khẩu nguyên chiếc từ nước ngoài về Việt Nam thì từ năm 2016 đến năm 2018 lại có sự sụt giảm đáng kể
Trang 14Sản lượng, kim ngạch nhập khẩu ô tô nguyên chiếc từ năm 2015-2019
Nguồn: Tổng cục hải quan
Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong năm 2016, Việt Nam đã chi 2,34 tỷ USD để nhập 113.567 ô tô nguyên chiếc và con số này liên tục giảm đến năm 2018 khi cả nước nhập khẩu 81.609 ô tô, với tổng kim ngạch 1,8 tỷ USD, giảm hơn 28% về số lượng và hơn 23% về kim ngạch
Theo Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), kể từ năm 2015, thuế nhập khẩu ôtô nguyên chiếc từ các nước nội khối có các bước giảm liên tục
để đến năm 2018 chính thức về mức 0% Ngay trong năm 2017, mức thuế suất đối với mặt hàng ôtô CBU nhập khẩu từ khu vực ASEAN cũng đã giảm còn 30%, mức thuế suất áp dụng trong năm 2016 là 40% ATIGA chính là một lực đẩy mạnh mẽ cho trào lưu nhập khẩu ôtô từ các nước ASEAN
Năm 2016, chứng kiến một sự thay đổi khi Thái Lan chính thức trở thành quán quân xuất khẩu ôtô nguyên chiếc vào Việt Nam Nguyên nhân do giảm thuế Kế tiếp đó là Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản
Theo đó, lượng ôtô nguyên chiếc nhập khẩu từ Thái Lan trong đạt 34.336 chiếc, trong khi lượng ôtô CBU nhập từ Trung Quốc chí đạt 10.989 chiếc, Hàn Quốc cũng tương tự, năm 2016, lượng ôtô nhập khẩu từ thị trường này chỉ còn 20.204 chiếc, Lượng ôtô nhập khẩu từ Nhật Bản năm 2016 đạt 7.209 chiếc Khá bất ngờ là Pháp đã thế chân Canada để đứng cuối cùng trong danh sách nhập khẩu ôtô vào Việt Nam Lượng ôtô nhập khẩu từ Pháp năm 2016 chỉ
Trang 15là 66 chiếc Ngược lại, Canada lại tăng từ 92 chiếc trong năm 2015 lên 216 chiếc trong năm 2016
Cho đến năm 2018, thuế nhập khẩu ô tô từ các nước ASEAN (chủ yếu từ Thái Lan và Indonesia) sẽ vào Việt Nam giảm về 0% Tuy vậy, không phải tất
cả các dòng xe trên thị trường đều được hưởng mức ưu đãi này bởi để được áp mức thuế này, các dòng xe phải có tỷ lệ nội địa hóa nội khối đạt từ 40% Theo Tổng cục Hải quan, lượng ôtô nhập khẩu về Việt Nam có trên 50% xuất xứ từ các nước ASEAN
Theo đó, ô tô nhập khẩu từ Thái Lan và Indonesia chiếm tới 88,8% tổng số lượng, 75% tổng kim ngạch nhập khẩu ô tô cả nước trong năm 2018 Cụ thể, ô
tô nhập khẩu từ Thái Lan đạt 55.364 xe, tổng kim ngạch 1,089 tỷ USD; Từ Indonesia là 17.146 xe, tổng kim ngạch 269 triệu USD Trong đó, đáng chú ý là
số lượng ô tô nguyên chiếc dưới 9 chỗ có xuất xứ ASEAN (Thái Lan và Indonesia) nhập khẩu trong năm 2018 được hưởng mức thuế suất thuế nhập khẩu 0% theo Hiệp định ATIGA có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 Số lượng ô tô nguyên chiếc này chiếm gần 89% tổng số ô tô nguyên chiếc dưới 9 chỗ nhập khẩu của Việt Nam trong năm 2018
Giai đoạn 2019- tháng 1 năm 2022, có thể nói ngành ô tô Việt Nam có nhiều biến động rõ rệt Khi trong năm 2019 ghi nhập lượng ô tô nhập khẩu vào Việt Nam tăng cao kỷ lục nhưng đến năm 2020 đó ảnh hưởng của đại dịch Covid 19 nên đã ảnh hưởng đến tỷ trọng hàng ôtô nhập khẩu vào Việt Nam và đến năm 2021 bất chấp đại dịch Covid 19 nhưng tỷ trọng nhập hàng ô tô của Việt Nam đã tăng cao và đem lại được doanh thu đáng kể