1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tỷ lệ sống sau 4 tuần ở trẻ sinh từ 24 đến 28 tuần và các yếu tố liên quan

6 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sinh non là vấn đề rất được quan tâm hiện nay, mỗi năm có khoảng 1 triệu trẻ sinh non tử vong trong số 15 triệu trẻ sinh non trên toàn cầu. Bài viết trình bày xác định tỷ lệ sống sau sinh 4 tuần ở nhóm trẻ sinh non có tuổi thai 24 – 28 tuần và các yếu tố trước cũng như sau sinh ảnh hưởng.

Trang 1

Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 26 * Số 1 * 2022 Nghiên cứu Y học

TỶ LỆ SỐNG SAU 4 TUẦN Ở TRẺ SINH TỪ 24 ĐẾN 28 TUẦN

VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

Trầm Quốc Tường 1 , Huỳnh Nguyễn Khánh Trang 1

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Sinh non là vấn đề rất được quan tâm hiện nay, mỗi năm có khoảng 1 triệu trẻ sinh non tử

vong trong số 15 triệu trẻ sinh non trên toàn cầu

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ sống sau sinh 4 tuần ở nhóm trẻ sinh non có tuổi thai 24 – 28 tuần và các yếu tố

trước cũng như sau sinh ảnh hưởng

Đối tượng - Phương pháp: nghiên cứu cắt ngang trên 256 trường hợp sinh non ở tuổi thai 24 – 28 tuần

tại bệnh viện Hùng Vương từ tháng 06/ 2019 đến 06/2020

Kết quả: 1 Tỷ lệ sống chung của trẻ sinh ra ở tuổi thai từ 24 đến 28 tuần trong 28 ngày đầu sau sinh là

30,45% có KTC 95% [24,89 - 36,51]; 2 Các yếu tố liên quan đến trẻ sinh sống sau khi phân tích hồi quy đa biến: (i) Phải dùng kháng sinh trước sinh là một yếu tố nguy cơ với OR=8,88, KTC 95% [1,38 - 57,37], p=0,022; (ii) Sau sinh phải hỗ trợ hô hấp như đặt nội khí quản có nguy cơ tử vong cao OR=6,00, KTC 95% [2,21 - 16,33], p

<0,001; (iii) Ối vỡ non là một yếu tố bảo vệ với OR= 0,25, KTC 95% [0,02 - 0,62], p=0,012; (iv) Sinh do ối vỡ non là một yếu tố bảo vệ với OR=0,13, KTC 95% [0,027 - 0,61], p=0,009 (v) Apgar 1 phút tăng là một yếu tố bảo vệ với OR=0,28, KTC 95% [0,09 - 0,84], p=0,009 (vi) Cân nặng trẻ là yếu tố bảo vệ với OR=0,21, KTC 95% [0,11 - 0,43], p <0,001

Kết luận: Sinh non ở 24 – 28 tuần có tỷ lệ nuôi sống đến 4 tuần sau sinh chung 30,45% Cần có những

nghiên cứu có thời gian theo dõi dài hơn trong tương lai

Từ khóa: trẻ sơ sinh non tháng, hỗ trợ hô hấp, nghiên cứu cắt ngang

ABSTRACT

PREVALENCE OF 4-WEEK POSTPARTUM SURVIVAL IN BABIES BORN BETWEEN 24 TO 28

WEEKS OF GESTATION AGE AND RELATED FACTORS

Tram Quoc Tuong, Huynh Nguyen Khanh Trang

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 26 - No 1 - 2022: 112-117

Background: Preterm birth is a matter of great concern today, every year about 1 million over 15 million

premature babies die all over the world

Objectives: Determine the 4-week postpartum survival rate in the group of preterm infants with gestational

age of 24 - 28 weeks and the influencing factors before and after birth

Methods: A cross-sectional study on 256 cases of preterm birth at the gestational age of 24 - 28 weeks at

Hung Vuong hospital from June 2019 to June 2020

Results: 1 The overall survival rate of babies born at gestational age from 24 to 28 weeks in the first 28 days

after birth was 30.45% with 95% CI [24.89 - 36.51]; 2 Factors related to live birth after multivariable regression analysis: (i) Prenatal antibiotic use is a risk factor with OR=8.88, 95% CI [1.38 - 57.37], p=0.022; (ii) After birth, requiring respiratory support such as intubation has a high risk of death OR=6.00, 95% CI [2.21 - 16.33],

p <0.001; (iii) Premature rupture of membranes is a protective factor with OR=0.25, 95% CI [0.02 - 0.62],

1 BM Sản Phụ Khoa, ĐHYD Phạm Ngọc Thạch

Tác giả liên lạc: PGS.TS.BS Huỳnh Nguyễn Khánh Trang ĐT: 0903882015 Email: tranghnk08@gmail.com

Trang 2

p=0.012; (iv) Birth due to premature rupture of membranes is a protective factor with OR=0.13, 95% CI [0.027 - 0.61], p=0.009 (v) 1-minute Apgar increase was a protective factor with OR=0.28, 95% CI [0.09 - 0.84], p=0.009 (vi) Infant weight is a protective factor with O =0.21, 95% CI [0.11 - 0.43], p <0.001

Conclusion: Preterm birth at 24-28 weeks of gestation age has an overall 4 week postpartum survival rate of

30.45% Further studies with longer follow-up are needed in the future

Keywords: premature infants, respiratory support, cross-sectional study

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tổ chức Y tế thế giới ghi nhận khoảng 15

triệu trường hợp sinh non, chiếm tỷ lệ 10,6% trên

toàn thế giới(1) Mỗi năm có khoảng 1 triệu trẻ sơ

sinh non tháng tử vong, và là nguyên nhân đơn

lẻ quan trọng nhất liên quan tỷ lệ tử vong tháng

đầu đời trong hơn 75% tỷ lệ chết ở trẻ sơ sinh,

nguyên nhân gây chết đứng thứ 2 ở trẻ dưới 2

tuổi(2) Mặc khác, sinh non liên quan đến những

biến chứng gần và xa cho trẻ em như: suy hô

hấp, viêm ruột hoại tử, nhiễm trùng huyết, co

giật, xuất huyết não, liệt, nhiễm trùng, khó khăn

trong ăn uống, bệnh não do thiếu oxy, các vấn

đề về nghe, nhìn Do đó sinh non chính là một

vấn đề sức khỏe toàn cầu

Tỷ lệ sinh non hiện tại của Việt Nam dao

động 6,8 - 13,8% theo một số nghiên cứu(3,4) Sự

thay đổi về tỷ lệ sinh non có thể được lí giải do

sự khác biệt về thành thị, nông thôn, điều kiện

kinh tế - xã hội, môi trường sống, mô hình dân

số, bệnh tật và tử vong

Theo thống kê tại Hoa Kỳ năm 2013, tỷ lệ tử

vong trên 1000 trẻ em sinh ra cho thấy: tỷ lệ tử

vong lúc sinh ở tuổi thai 34 - 36 tuần: 7,23‰, ở

tuổi thai 32 - 33 tuần: 16,02‰, tuổi thai 28 - 31

tuần: 35,7‰, dưới 28 tuần: 374,74‰(5) Anderson

GJ tại Hoa Kỳ từ năm 2005 - 2011 ghi nhận 73%

trẻ sinh non dưới 28 tuần tử vong sau 1 tuần lễ

đầu đời(6) Điều này cho thấy sinh cực non tháng

là một thách thức rất lớn đối với không chỉ riêng

ngành hồi sức sơ sinh mà còn của sản khoa

Hiện tại ở Việt Nam, những báo cáo và

nghiên cứu liên quan đặc điểm sinh non ở tuổi

thai 24 - 28 tuần còn hạn chế vì vậy việc tìm hiểu

những đặc điểm yếu tố liên quan đến khả năng

sống của trẻ sinh non 24 - 28 tuần là cần thiết

nhằm: có những thông tin hữu ích trong chăm

sóc thai kỳ, hỗ trợ cho các nhà sản khoa trong công tác quản lí thai nghén, tư vấn cho sản phụ khi cần can thiệp sản khoa trong tuổi thai này Với câu hỏi nghiên cứu “Tỷ lệ sống sau 4 tuần ở trẻ sinh từ 24 đến 28 tuần tại bệnh viện Hùng Vương là bao nhiêu và những yếu tố trước sinh

và sau sinh nào ảnh hưởng đến tỷ lệ này?” Từ những nhu cầu thực tế đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Tỷ lệ sống sau 4 tuần ở trẻ sinh từ

24 đến 28 tuần và các yếu tố liên quan tại bệnh

viện Hùng Vương” với các mục tiêu:

1 Xác định tỷ lệ sống sau 4 tuần ở trẻ sinh từ

24 đến 28 tuần tại bệnh viện Hùng Vương từ 30/06/2019 đến 30/06/2020

2 Xác định mối liên quan giữa yếu tố đặc điểm xã hội, tiền căn sản khoa, bệnh lí của mẹ, tình trạng thai nhi, kháng sinh trước sinh, sử dụng Magnesium Sulfat, sử dụng Corticoid, tuổi thai, lí do sinh, cách sinh, ngôi thai và trẻ sống sau 4 tuần ở trẻ sinh từ 24 đến 28 tuần

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁPNGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả các trường hợp sinh có tuổi thai từ 24 -

28 tuần tại bệnh viện Hùng Vương trong thời gian từ 30/06/2019 đến 30/06/2020 thỏa các tiêu chuẩn chọn mẫu

Tiêu chuẩn chọn vào

Tất cả các trường hợp sinh từ 24 - 28 tuần (tính theo kỳ kinh cuối với vòng kinh 28 -32 ngày, chu kỳ kinh đều hoặc có kết quả tuổi thai

từ siêu âm 3 tháng đầu) trong thời gian nghiên

cứu Đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại ra

Các sản phụ với thai kỳ không xác định được chính xác tuổi thai Các sản phụ có trẻ sinh

ra do đình chỉ thai nghén như thai dị dạng, dị tật

Trang 3

Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 26 * Số 1 * 2022 Nghiên cứu Y học

bẩm sinh, thai chết lưu, hoang thai Các sản phụ

đa thai

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang

Cỡ mẫu

Tính cỡ mẫu theo công thức:

Trong đó: là hằng số của phân phối

chuẩn, =1,96 với α=0,05 Với p: tỷ lệ trẻ sinh

non sống ở tuổi thai 24 - 28 tuần trong 28 ngày

đầu; d: sai số của ước lượng, chọn d=0,05

Chúng tôi lấy số p theo nghiên cứu của tác

giả Argarwal P thực hiện tại Singapore năm

2007 với p=0,8 là tỷ lệ trẻ sinh ra ở tuổi thai 24 -

28 tuần sống(7) Cỡ mẫu tính được là 245

trường hợp

Chọn mẫu toàn bộ

Quá trình thu thập số liệu

Xây dựng bảng câu hỏi

Huấn luyện cho các chị em nữ hộ sinh không

biết mục tiêu nghiên cứu, tiến hành phỏng vấn

và lấy số liệu

Vào mỗi ngày, căn cứ vào sổ ghi nhận thông

tin sản phụ nhập khoa sinh, chọn theo phương

pháp ngẫu nhiên đơn sản phụ đủ tiêu chuẩn, ghi

đầy đủ thông tin cần thiết vào bảng câu hỏi

Nhóm bác sĩ và nữ hộ sinh đã được huấn

luyện lấy thông tin về kết cục trẻ sinh non trong

một tuần - hai tuần - ba tuần - bốn tuần sau sinh

tại khoa nhi ghi vào bảng thu thập số liệu (bao

gồm: sống, tử vong, bệnh hô hấp, nhiễm trùng

sơ sinh<)

Vì các bé non tháng đều nằm tại khoa nhi

trên 28 ngày

Kiểm tra lại thông tin, đối chiếu với những

thông tin có sẵn từ hồ sơ bệnh án Đối với những

thông tin không trùng khớp đề nghị phỏng vấn

lại hoặc loại khỏi nghiên cứu

Nhập số liệu, phân tích và xử lí số liệu

Xử lý số liệu

Nhập và xử lí số liệu theo chương trình Stata 15.0

Y đức

Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, số:168/HĐĐĐ-TĐHYKPNT, ngày 28/11/2019

KẾT QUẢ

Bảng 1 Phân bố đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm Tần suất (n=256) Tỷ lệ (%)

Tuổi mẹ trung bình 29 ± 7 (tối đa=43, tối thiểu=15) Tuổi mẹ

Nơi cư ngụ

Nghề nghiệp

Trình độ học vấn

Tiền thai

Tiền căn mổ lấy thai

Tiền căn sinh non

Tiền căn sẩy thai - thai lưu - nạo hút thai

Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi, sản phụ ở nhóm tuổi 20 - 34 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 68,75% Tuổi trung bình là 29 tuổi, sản phụ nhỏ nhất 15 tuổi, lớn nhất là 43 tuổi Sản phụ sống ở các tỉnh khác chiếm tỷ lệ cao, 62,11% so với

Trang 4

Thành phố Hồ Chí Minh là 37,89% Phần lớn sản

phụ có nghề nghiệp là nội trợ chiếm tỷ lệ 28,52%,

thấp nhất là buôn bán chiếm tỷ lệ 12,11% Đa số

sản phụ có trình độ học vấn từ cấp 2 trở lên

Nhóm có trình độ mù chữ và cấp 1 chiếm tỷ lệ

thấp nhất 8,59%, cao nhất là nhóm có trình độ

cấp 2 chiếm tỷ lệ 39,06% Tiền thai của sản phụ

không có sự khác biệt nhiều giữa người con so

và con rạ Đa số sản phụ không có tiền căn mổ

lấy thai, sinh non, sẩy thai, thai lưu và nạo hút

thai Trong đó nhóm sản phụ có tiền căn sinh

non chiếm tỷ lê thấp nhất 10,16%, cao nhất là

nhóm sản phụ có tiền căn sẩy thai, thai lưu và

nạo hút thai chiếm 25,00% (Bảng 1)

Hình 1 Tỷ lệ trẻ sơ sinh non tháng 24 – 28 tuần

sống sót 4 tuần sau sinh

Trong 256 trường hợp sinh non từ 24 đến 28

tuần, chúng tôi ghi nhận có 78 trường hợp

(30,47%) có trẻ sinh ra sống trong 28 ngày đầu

sau sinh với KTC 95% [24,89 - 36,51], số còn lại là

tử vong chiếm 69,53% với KTC 95% [63,49 -

75,11] Trong đó tỷ lệ sống theo từng nhóm tuổi

thai từ 240/7 -246/7 đến 270/7 - 28 tuần lần lượt là

0,00%; 18,75%; 31,43%; 47,47% (Hình 1)

Bảng 2 Kết quả phân tích hồi quy đa biến

Tuổi thai lúc sinh 0,83 0,49 - 1,40 0,49

Ối vỡ non 0,11 0,02 - 0,62 0,012

Kháng sinh trước sinh 8,88 1,38 - 57,37 0,022

Tiếp xúc Magnesium Sulfat 0,57 0,17 - 1,94 0,36

Liệu pháp Corticoid Chưa hoàn tất 1,09 0,22 - 5,39 0,92

Lí do sinh

Chỉ định y khoa 0,48 0,17 - 1,37 0,167

Ối vỡ non 0,13 0,027 - 0,13 0,009

Phương pháp hỗ trợ hô hấp

NKQ 6,00 2,21 - 16,33 <0,001

Sau khi đưa vào phân tích đa biến, ta thu được mô hình gồm có các biến số sau: đa ối, ối

vỡ non, tuổi thai lúc sinh, kháng sinh sử dụng trước sinh, tiếp xúc Magnesium Sulfat, liệu pháp Corticoid, lí do sinh, cách sinh, Apgar 1 phút, Apgar 5 phút, cân nặng lúc sinh, phương pháp

hỗ trợ hô hấp, sử dụng Surfactan Trong đó các yếu tố thay đổi khuynh hướng từ không liên quan thành có liên quan: sử dụng kháng sinh trước sinh, thay đổi OR từ 0,58 thành 8,88 và p=0,022 <0,05 Bên cạnh đó, các yếu tố sau đây khi vào phân tích đa biến có xu hướng tăng lên: cân nặng lúc sinh có OR giảm từ 0,21 còn 0,18 và

p <0,0001, phương pháp hỗ trợ hô hấp OR tăng lên từ 4,90 thành 6,00 với p=0,02, ối vỡ non có

OR giảm từ 0,53 còn 0,11 và p=0,012<0,05, sinh

do ối vỡ non có OR giảm từ 0,17 còn 0,13 và p=0,009 <0,005 Các yếu tố thay đổi từ có liên quan thành không có liên quan bao gồm: đa ối, tuổi thai lúc sinh, liệu pháp Corticoid, tiếp xúc Magnesium Sulfat, Apgar 5 phút, sử dụng

Surfactan (Bảng 2)

BÀN LUẬN

Theo kết quả nghiên cứu này, tỷ lệ sống của trẻ sinh ra ở tuổi thai từ 24 đến 28 tuần là 30,47 % trên tổng số 256 trường hợp Theo các nghiên cứu khác trên thế giới, tỷ lệ trẻ sinh non sống là

từ 52,5 - 82% Như vậy tỷ lệ của chúng tôi là 30,47% là thấp hơn Sau khi phân tích cụ thể từng nhóm tuổi thai, chúng tôi có tỷ lệ sống trong 28 ngày đầu sau sinh của nhóm tuổi thai

24 tuần đến 24 tuần 6 ngày, 25 tuần đến 25 tuần

6 ngày, 26 tuần đến 26 tuần 6 ngàyvà 27 tuần đến 28 tuần 0 ngàylần lượt là 0%; 12%; 27,3% và 42,68% Với nghiên cứu Epipage 2 của tác giả

Trang 5

Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 26 * Số 1 * 2022 Nghiên cứu Y học

Ancel PY, các tỷ lệ trên tới lúc xuất viện lần lượt

là 31,2%; 59,1%; 75,3%; 82,3%(8), còn với tác giả

Wu F ở Trung Quốc, tỷ lệ này lần lượt là 34,3%;

33,8%; 46,7%; 62,4%(9) Các kết quả này đều cao

hơn các tỷ lệ trong nghiên cứu của chúng tôi

Apgar là một thông số quan trọng để đánh

giá ngạt sau sinh cho tất cả trẻ sơ sinh Bảng

điểm Apgar được đánh giá cho trẻ vào 3 thời

điểm: 1 phút, 5 phút và 10 phút sau sinh Trong

nghiên cứu của chúng tôi, khi phân tích đơn

biến đối với điểm Apgar 1 phút, nhóm trẻ được

sinh ra có điểm Apgar từ 4 - 6 điểm có khả năng

sống cao hơn nhóm <3 điểm gấp 3,7 lần và sự

khác biệt này có y nghĩa thống kê p <0,001, còn

đối với điểm Apgar 5 phút, nhóm trẻ được sinh

ra với Apgar từ 4 - 6 điểm và Apgar >7 có khả

năng sống cao hơn nhóm <3 điểm gấp 2,7 lần và

4,17 lần và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê

p=0,002; 0,002 <0,05 Điều này cũng được tìm

thấy trong nghiên cứu của tác giả Wu F và

Agarwa P khi điểm Apgar 1 phút và 5 phút càng

thấp thì khả năng sống càng thấp và sự khác biệt

này có ý nghĩa thống kê ở cả 2 nghiên cứu với p

<0,001(7,9) Tuy nhiên khi vào phân tích đa biến

biến số Apgar 5 phút không còn mối liên quan,

biến số Apgar 1 phút vẫn còn mối liên quan

p=0,023 <0,05

Tất cả các trẻ trong mẫu nghiên cứu đều suy

hô hấp, tại thời điểm nhập khoa Nhi sơ sinh, tỷ

lệ suy hô hấp nhẹ và nặng lần lượt là: 20,70% và

79,30% Suy hô hấp nặng có ảnh hưởng lên kết

quả sơ sinh và khác biệt có ý nghĩa thống kê với

p=0,02 <0,05, nghĩa là ở nhóm có suy hô hấp

nặng có nguy cơ tử vong tăng 2,06 lần so với với

những trường hợp có suy hô hấp nhẹ Tất cả các

trẻ khi nhập khoa nhi sơ sinh đều được hỗ trợ hô

hấp bằng NCPAP và nội khí quản, tỷ lệ của

chúng tôi cao hơn so với của tác giả Wu F là

78,2%(9) Khi phân tích các phương pháp hỗ trợ

hô hấp cho những trẻ sinh non, chúng tôi ghi

nhận: 14,45% được hỗ trợ hô hấp không xâm lấn

bằng NCPAP, còn lại 85,55% được đặt nội khí

quản, tỷ lệ của chúng tôi cao hơn nghiên cứu của

Agarwal P và Stoll BJ với tỷ lệ đặt nội khí quản lần lượt là 67% và 41 - 85%(7,10)

Chúng tôi ghi nhận nhiễm trùng sơ sinh sớm làm tăng nguy cơ tử vong lên 2,78 lần so với nhiễm trùng sơ sinh muộn và sự khác biệt này

có ý nghĩa thống kê p=0,0031 <0,05 Theo chúng tôi nhiễm trùng sơ sinh sớm gây tử vong nhiều hơn là điều dễ hiểu vì những trẻ sơ sinh nhỏ hơn

7 ngày tuổi có hệ miễn dịch yếu, các cơ quan chuyển hóa chưa hoàn thiện và phải chịu bệnh lí nhiễm trùng nặng, kéo dài Kết quả nghiên cứu của chúng tôi có trọng lượng trung bình của trẻ

sơ sinh non tháng là 912,46+203,40 gram Kết quả này gần giống nghiên cứu của tác giả Wu F với trọng lượng trung bình 935+179 gram, và cao hơn nghiên cứu của tác giả Agarwal P: 873+220 gram(7,9) Bên cạnh đó, nghiên cứu chúng tôi còn cho thấy nhóm trẻ sinh non có cân nặng sau sinh dưới 750 gram có tỷ lệ sống là 0% và nhóm trẻ có cân nặng 750 - 1000 gram và 1000 - 1500g có tỷ lệ sống lần lượt là 24,76% và 50,98% Về ảnh hưởng của cân nặng thai lên khả năng sống trong 28 ngày sau sinh, nghiên cứu chúng tôi cho thấy cân nặng lúc sinh càng tăng thì khả năng sống lên 4,55 lần, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p <0,001 với test kiểm định khuynh hướng Tương đồng với kết quả của tác giả Wu F và Agarwal P và khi đưa kết quả vào mô hình đa biến, chúng tôi ghi nhận cân nặng lúc sinh tăng

có ý nghĩa làm tăng khả năng sống lên 4,68 lần

và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p <0,001(7,9)

Hạn chế của nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại Thành Phố

Hồ Chí Minh, do đó dân số nghiên cứu vẫn chưa thể đại diện cho số trẻ sơ sinh non tháng có tuổi thai 24 – 28 tuần trên cả nước Do thiết kế cắt ngang, các yếu tố có liên quan đến tỷ lệ sống 4 tuần sau sinh ở trẻ có tuổi thai 24 – 28 tuần phát hiện qua phân tích hồi quy đa biến cũng chỉ có thể kết luận là tồn tại một mối liên quan có ý nghĩa thống kê

Trang 6

KẾT LUẬN

Qua 252 trường hợp sinh non từ tháng

6/2019 đến tháng 6/2020, chúng tôi ghi nhận:

1 Tỷ lệ sống chung của trẻ sinh ra ở tuổi thai

từ 24 đến 28 tuần trong 28 ngày đầu sau sinh là

30,45% có KTC 95% [24,89 - 36,51]

2 Các yếu tố liên quan đến trẻ sinh sống sau

khi phân tích hồi quy đa biến: (i) Phải dùng

kháng sinh trước sinh là một yếu tố nguy cơ với

OR=8,88, KTC 95% [1,38 - 57,37], p=0,022; (ii) Sau

sinh phải hỗ trợ hô hấp như đặt nội khí quản có

nguy cơ tử vong cao OR=6,00, KTC 95% [2,21 -

16,33], p <0,001; (iii) Ối vỡ non là một yếu tố bảo

vệ với OR=0,25, KTC 95% [0,02 - 0,62], p=0,012;

(iv) Sinh do ối vỡ non là một yếu tố bảo vệ với

OR=0,13, KTC 95% [0,027 - 0,61], p=0,009 (v)

Apgar 1 phút tăng là một yếu tố bảo vệ với

OR=0,28, KTC 95% [0,09 - 0,84], p=0,009 (vi) Cân

nặng trẻ là yếu tố bảo vệ với OR=0,21, KTC 95%

[0,11 - 0,43], p <0,001

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Blencowe H, Cousens S (2012) National, regional, and

worldwide estimates of preterm birth rates in the year 2010 with

time trends since 1990 for selected countries: a systematic

analysis and implications Lancet, 379(9832):2162-2172

2 Liu L, Oza S, Hogan D, et al (2016) Global, regional, and national causes of under-5 mortality in 2000-15: an updated systematic analysis with implications for the Sustainable

Development Goals Lancet, 388(10063):3027-3035

3 Nguyễn Văn Phong (2003) Nghiên cứu tình hình sanh non và các yếu tố liên quan đến sanh non tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương trong 2 năm 2001 – 2002 Đại học Y Hà Nội, pp.58-67

4 Mai Thị Phương (2014) Kết cục thai kỳ ở tuổi thai từ 28 tuần

đến 32 tuần tại Bệnh viện Hùng Vương Luận Văn Thạc Sĩ Y Học,

Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh, 5-69

5 Mathews TJ, MacDorman MF, Thoma ME (2015) Infant mortality statistics from the 2013 period linked birth/infant

death data set Natl Vital Stat Rep, 62(8):1-26

6 Anderson GJ, Baer RJ, Partridge JC (2016) Survival and major morbidity of extremely preterm infants: a population-based

study Pediatrics, 138(1):e20154434

7 Agarwal P, Sriram B, Rajadurai VS (2015) Neonatal outcome of extremely preterm Asian infants⩽ 28 weeks over a decade in the

new millennium Journal of Perinatalogy, 35(4):297-303

8 Pierre-Yves A, Goffinet F, Kuhn P (2015) Survival and morbidity of preterm children born at 22 through 34 weeks’ gestation in France in 2011: results of the EPIPAGE-2 cohort

study JAMA Pediatrics, 169(3):230-238

9 Wu F, Liu G, Feng Z (2019) Short-term outcomes of extremely preterm infants at discharge: a multicenter study from

Guangdong province during 2008-2017 BMC Pediatrics,

19(1):405

10 Stoll BJ, Hansen NI, Bell EF (2010) Neonatal outcomes of extremely preterm infants from the NICHD Neonatal Research

Network Pediatrics, 126(3):443-456

Ngày nhận bài báo: 16/12/2021 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 10/02/2022 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2022

Ngày đăng: 17/04/2022, 11:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w