1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm chụp cắt lớp vi tính mạch máu chi dưới trong chấn thương động mạch khoeo

7 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 877,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chụp cắt lớp vi tính (CLVT) mạch máu chi dưới từ khi ra đời đã phát triển nhanh chóng và thay thế vai trò của Chụp động mạch (Conventional angiography- CA) trong chẩn đoán tổn thương động mạch (ĐM) khoeo do chấn thương. Bài viết trình bày mô tả đặc điểm hình ảnh tổn thương ĐM khoeo trong chụp CLVT mạch máu chi dưới và so sánh với kết quả phẫu thuật.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH MẠCH MÁU CHI DƯỚI

TRONG CHẤN THƯƠNG ĐỘNG MẠCH KHOEO

Hồ Minh Huế 1 , Trần Minh Hoàng 2 , Đặng Nguyễn Trung An 2 , Nguyễn Quang Thái Dương 2

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Chụp cắt lớp vi tính (CLVT) mạch máu chi dưới từ khi ra đời đã phát triển nhanh chóng và

thay thế vai trò của Chụp động mạch (Conventional angiography- CA) trong chẩn đoán tổn thương động mạch

(ĐM) khoeo do chấn thương

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh tổn thương ĐM khoeo trong chụp CLVT mạch máu chi dưới và so sánh

với kết quả phẫu thuật

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu thực hiện tại Khoa Chẩn đoán hình ảnh và Khoa Phẫu

thuật mạch máu bệnh viện Chợ Rẫy 57 bệnh nhân tổn thương ĐM khoeo do chấn thương được đưa vào nghiên

cứu Chụp CLVT động mạch chi dưới được thực hiện ở những bệnh nhân này với máy Siemens 128 lát cắt Các

đặc điểm về tổn thương ĐM khoeo trong chụp CLVT động mạch chi dưới được phân tích và tìm tương quan với

hình thái tổn thương trong phẫu thuật

Kết quả: Hình ảnh tổn thương ĐM khoeo hay gặp nhất là tắc mạch (85,7%) Kết quả chụp CLVT động

mạch chi dưới có sự phù hợp với hình thái tổn thương trong phẫu thuật

Kết luận: Chụp cắt lớp vi tính động mạch chi dưới là phương pháp chẩn đoán đáng tin cậy trong chẩn đoán

và mô tả tổn thương ĐM khoeo do chấn thương, qua đó làm cơ sở để đưa ra quyết định điều trị phù hợp

Từ khóa: tổn thương động mạch khoeo do chấn thương, chụp cắt lớp vi tính mạch máu chi dưới

ABSTRACT

COMPUTED TOMOGRAPHY CHARACTERISTICS OF POPLITEAL ARTERY TRAUMA

Ho Minh Hue, Tran Minh Hoang, Đang Nguyen Trung An, Nguyen Quang Thai Duong

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 26 - No 2 - 2022: 48 - 54

Background: Computed Tomography Angiography (CTA) of the lower extremity has grown rapidly since

birth and has replaced the role of Conventional Angiography (CA) in the diagnosis of traumatic popliteal artery

injury

Objective: Describe the characteristics of lesion imaging on CTA of popliteal artery trauma

Methods: The study was carried out in the department of radio-diagnosis in collaboration with departments

of vascular surgery, Cho Ray Hospital 57 patients presenting with trauma popliteal arterial injuries were

recruited into the study In these patients, computed tomography angiography (CTA) lower limb arteries were

performed with Somatom Definition Edge 128 slices The characteristics of popliteal arterial injuries were

analyzed and compared to surgery findings

Results: The most common image of popliteal artery injury is occlusion (85.7%) The results of CTA were

compared with the lesion morphology in surgery and showed a moderate to good diagnostic relevance (p <0.05)

Conclusion: CTA of lower extremity is a reliable diagnostic method in diagnosing and describing traumatic

popliteal artery injury, thereby serving as a basis for making treatment decisions

1 Điện quang và Y học Hạt nhân, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

2 Bộ môn Chẩn đoán Hình ảnh, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: BS Hồ Minh Huế ĐT: 0352576687 Email: bshominhhue@gmail.com

Trang 2

Keywords: traumatic popliteal artery injury, computed tomography angiography of lower extremity

ĐẶT VẤN ĐỀ

Động mạch (ĐM) khoeo là mạch thường bị

tổn thương thứ hai ở chi dưới Thiếu máu cục bộ

ngoại vi do tổn thương ĐM khoeo là một trong

những nguyên nhân chính gây bệnh tật ở chi

dưới liên quan tỷ lệ đoạn chi cao(1) Vì vậy chấn

thương ĐM khoeo cần được chẩn đoán sớm để

phục hồi lưu thông dòng máu

Chụp động mạch trước đây là tiêu chuẩn

vàng để chẩn đoán tổn thương mạch máu ngoại

vi(2) Ngày nay có nhiều phương pháp không

xâm lấn đã thay thế vai trò của chụp động mạch,

trong đó CTA ngày càng trở nên phổ biến với sự

phát triển của cắt lớp vi tính (CLVT) đa dãy đầu

dò Các nghiên cứu đã chứng minh độ nhạy, độ

đặc hiệu và độ chính xác chẩn đoán cao so với

chụp đọng mạch (CA)(3) Ngoài ra, CTA có các

ưu điểm như ít xâm lấn hơn, sẵn có hơn, thời

gian thực hiện ngắn hơn, khả năng tái tạo đa mặt

phẳng, đồng thời đánh giá tổn thương mô mềm

và xương, khớp CTA tránh được các biến chứng

gây đông máu tiềm ẩn liên quan đến CA Đối

với bệnh nhân đa chấn thương có thể kèm thêm

quy trình chụp sọ, ngực, bụng

Mục tiêu

Mô tả một số đặc điểm hình ảnh của chụp

cắt lớp vi tính mạch máu chi dưới trong chấn

thương ĐM khoeo và so sánh với phẫu thuật

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Các bệnh nhân (BN) được chẩn đoán tắc

động mạch khoeo do chấn thương tại khoa Phẫu

thuật Mạch máu bệnh viện Chợ Rẫy từ 01/2020

đến 12/2020

Tiêu chuẩn chọn mẫu

BN có chẩn đoán lâm sàng chấn thương ĐM

khoeo, có chụp CLVT động mạch chi dưới, được

phẫu thuật tại bệnh viện Chợ Rẫy

Tiêu chuẩn loại trừ

BN có bệnh động mạch chi dưới mạn tính

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả cắt ngang có phân tích

Cỡ mẫu

Chúng tôi thu thập được 57 bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu để đưa vào phân tích

Kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính mạch máu

Phương tiện

Máy CLVT đa dãy đầu dò (128 lát cắt) thuộc thương hiệu Somatom Definition Edge của hãng Siemens, chất tương phản được sử dụng là thuốc cản quang tan trong nước có chứa i-ốt nồng độ

350 - 370 mg I/ml (thường dùng Ultravist 370)

Phương pháp thực hiện

Để hạn chế những trường hợp cung lượng tim, huyết động làm thay đổi chất lượng hình ảnh, ta áp dụng kỹ thuật Bolus tracking Hệ thống theo dõi được cài đặt để bắt đầu hoạt động sau 15 giây chờ tính từ thời điểm tiêm thuốc cản quang Thời điểm ghi hình bắt đầu 12 giây tính từ lúc đạt ngưỡng đậm độ thuốc trong động mạch chủ ngang mức động mạch chủ bụng đoạn dưới thận (khoảng 150 HU)

Dữ liệu của bệnh nhân được lấy từ hệ thống

dữ liệu của Bệnh viện Chợ Rẫy và được lưu vào đĩa với định dạng DICOM Từ đĩa lưu trữ, dữ liệu được nhập vào hệ thống PACS của trường Đại học Y dược Hồ Chí Minh, sau đó sử dụng ứng dụng VesselIQTM Xpress để tiến hành phân tích, tái tạo hình ảnh mạch máu qua các kỹ thuật:

phóng chiếu cường độ tối đa (MIP), tái tạo đa mặt phẳng (MPR) và tạo khối thể tích (VRT) để thu thập số liệu

Chúng tôi phân tích một số đặc điểm chung của bệnh nhân như tuổi, giới tính, thời gian từ khi tai nạn đến khi nhập viện, nguyên nhân chấn thương, tổn thương phối hợp và kết quả phẫu thuật Đặc điểm hình ảnh trên CTA được phân tích bao gồm: dấu hiệu trực tiếp, dấu hiệu gián tiếp của tổn thương động mạch, đặc điểm của dòng chảy ở ngoại vi chỗ tổn thương Chúng tôi

Trang 3

phân tích để tìm ra sự khác biệt giữa hình ảnh

cắt cụt ĐM do đứt đôi mạch và do đụng dập

huyết khối tắc mạch hoàn toàn

Thu thập và xử lý số liệu

Các tỷ lệ được so sánh bằng phép kiểm Chi

bình phương hoặc phép kiểm Fisher, có ý nghĩa

thống kê khi p <0,05

Kiểm định sự phù hợp giả kết quả CTA và

phẫu thuật bằng thuật toán Kappa

Y đức

Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội

đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại

học Y dược TP HCM, số 1005/HĐĐĐ-ĐHYD,

ngày 11/01/2021

KẾT QUẢ

Trong nghiên cứu của chúng tôi có 46 nam

và 11 nữ, tuổi trung bình là 31,32 ± 11,23

Nghề nghiệp chủ yếu làm nông và làm nghề

tự do với 71,9%

Nguyên nhân chấn thương chủ yếu do tai

nạn giao thông 89,5%

Các bệnh nhân có địa chỉ ở ngoại thành

chiếm 82,5% do đó thời gian từ khi gặp tai nạn

đến khi nhập viện kéo dài hơn với thời gian

trung bình là 14,2 ± 20,5 giờ Chỉ 45,6% bệnh

nhân nhập viện trong vòng 6 giờ sau khi tai nạn

Trong 57 bệnh nhân thì có 58 đoạn ĐM

khoeo bị tổn thương 100% bệnh nhân đều có

thay đổi mạch mu và mạch chày sau 74,1% bệnh

nhân có đầy đủ các triệu chứng của tổn thương

ĐM khoeo bao gồm: thay đổi mạch ngoại vi;

giảm/mất cảm giác, vận động; chi lạnh; phù nề,

đau cơ bắp Tổn thương ĐM khoeo thường kèm

theo chấn thương xương, khớp vùng gối, hay

gặp nhất là gãy mâm chày và trật khớp gối

(62%) Hình thái tổn thương trong phẫu thuật

chủ yếu là đụng dập (có hoặc không kèm đứt

ĐM) với 84% (Bảng 1) Trong nghiên cứu của

chúng tôi chỉ gặp 1 trường hợp giả phình ĐM và

1 trường hợp bóc tách ĐM Đa số bệnh nhân

được cắt lọc đoạn ĐM tổn thương và ghép tĩnh

mạch hiển lớn đảo chiều 37,9% Tỷ lệ đoạn chi

cao với 20,7%

Bảng 1 Hình thái tổn thương ĐM khoeo trong phẫu

thuật

Tổn thương GPB Số lượng

(n)

Tỷ lệ

(%)

Đặc điểm tổn thương ĐM khoeo trên CTA

được mô tả trong Bảng 2 Các dấu hiệu trực tiếp

tổn thương động mạch bao gồm dấu hiệu cắt cụt động mạch (arterial cutoff), thoát mạch thuốc tương phản, co mạch, bóc tách thành mạch, giả phình động mạch, rò động- tĩnh mạch Trong đó hình ảnh cắt cụt ĐM khoeo hay gặp nhất với 81% Chúng tôi không gặp trường hợp nào có rò động- tĩnh mạch Tất cả bệnh nhân chấn thương

ĐM khoeo đều có dấu hiệu gián tiếp, bao gồm:

mất lớp mỡ quanh mạch và tụ máu quanh mạch

Thuốc tương phản trong mạch chày trước, chày sau và ĐM mác thấy rõ tương đương bên đối diện gặp ở 35 trường hợp với 60,3% Trong 47 trường hợp có cắt cụt ĐM khoeo thì có 10 trường hợp có dấu hiệu mỏ chim (beak sign) ĐM khoeo đoạn trên chỗ cắt cụt chạy ngoằn ngoèo, thay đổi

hướng chạy trong 16 trường hợp (Bảng 2)

Bảng 2 Đặc điểm CTA chi dưới trong chấn thương

ĐM khoeo

Đặc điểm Số trường hợp Tần suất

(%)

Dòng chảy ngoại vi (Distal runoff)

ĐM khoeo đoạn trên chỗ tắc thay

Trang 4

Bảng 3 Kết quả CTA và hình thái tổn thương ĐM

khoeo trong phẫu thuật

CTA

Số lượng (n) Phẫu thuật P

Đụng dập 25

p=0,0001

0,001

Đứt mạch 19 Huyết khối 2

Co mạch 1

p=0,069

Tất cả các trường hợp kết luận CTA có tổn

thương đều được xác nhận lại trong phẫu

thuật Trong 47 trường hợp CTA có hình ảnh

cắt cụt ĐM thì có 25 trường hợp đụng dập

ĐM, 19 trường hợp đứt mạch, 2 trường hợp

huyết khối tắc mạch hoàn toàn Có sự tương

quan giữa hình ảnh CTA và hình thái tổn

thương trong phẫu thuật (p <0,05) (Bảng 3)

Chẩn đoán đụng dập và co thắt ĐM khoeo

giữa CTA và phẫu thuật có sự phù hợp với

mức độ trung bình đến rất tốt (Hệ số Kappa=

0,518 và 0,880, p <0,001) Kết quả hẹp động

mạch khoeo trên CTA không tương quan với hình thái đụng dập và bóc tách khi phẫu thuật

Trong 12 bệnh nhân đoạn chi, tỷ lệ bệnh nhân không thấy thuốc tương phản trong mạch ngoại vi cao hơn nhóm có thuốc trong lòng mạch

(p <0,05) (Bảng 4) Trong 19 bệnh nhân bị đứt

ĐM khoeo được chẩn đoán trong phẫu thuật có

10 trường hợp CTA không thấy thuốc trong mạch ngoại vi, 6 trường hợp dòng chảy ngoại vi kém, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê

(p <0,0001) (Bảng 4)

Bảng 4 Tương quan giữa dòng chảy đoạn xa (Distal

runoff) và kết cuộc đoạn chi

Phẫu thuật CTA

Đoạn chi

Tổng P

Có Không

Distal runoff

0,00001

Động mạch khoeo phía trên đoạn tắc chạy ngoằn ngoèo, thay đổi phương, cách xa đoạn dưới gợi ý đứt mạch (p <0,05) ĐM khoeo không thay đổi phương và có dấu hiệu mỏ chim gợi ý

dập mạch (p <0,05) (Bảng 5)

Bảng 5 Tương quan giữa hình ảnh ĐM khoeo ở hai đầu đoạn tắc và hình thái tổn thương trong phẫu thuật

ĐM khoeo hai đầu đoạn tắc

Tổng P Thay đổi phương Không thay đổi Dấu hiệu mỏ chim

Hình thái

0,0001

BÀN LUẬN

Dịch tế học và lâm sàng

Bệnh nhân chấn thương ĐM khoeo nằm

trong độ tuổi lao động (18-60 tuổi) chiếm đa số

91,4%, chủ yếu là nam giới 86,4%, nghề nghiệp

làm nông và tự do với 71,9% 89,3% nguyên

nhân chấn thương là do tai nạn giao thông Hiện

thực xã hội cho thấy nam giới trong độ tuổi lao

động là nguồn nhân lực của xã hội, tham gia vào

các hoạt động sản xuất, lao động nặng, tham gia

đối tượng này dễ xảy ra tai nạn giao thông hơn

Thời gian trung bình từ khi tai nạn đến khi nhập viện trung bình là 14,2 giờ, trong đó 54,4% số bệnh nhân nhập viện sau 6 giờ Do đa số bệnh nhân đều ở ngoại thành, chỉ 17,5% có địa chỉ trong Thành phố Hồ Chí Minh Thời gian di chuyển đến bệnh viện kéo dài sẽ làm tăng nguy

cơ đoạn chi do tắc động mạch gây thiếu máu chi

Tổn thương tại vùng gối kèm theo tổn thương ĐM khoeo rất đa dạng, bao gồm các tổn thương xương, khớp (gãy đầu dưới xương đùi,

Trang 5

gãy mâm chày, gãy đầu trên hai xương cẳng

chân, trật khớp gối), hoặc chấn thương phần

mềm đơn thuần Trong đó hay gặp nhất là gãy

mâm chày 31%, trật khớp gối 31% Kết quả này

gần tương đồng với tác giả Bùi Thị Mỹ Trang

(2020), 35,5% chấn thương ĐM khoeo kèm theo

trật khớp gối(4) Tác giả Nicandri GT (2010) cho

biết sai khớp gối không phải là tổn thương

thường gặp trong chấn thương, nhưng tỷ lệ biến

chứng tổn thương ĐM khoeo lại chiếm từ 30%

đến 32% và nếu bỏ sót sau 8 giờ thì nguy cơ cắt

cụt chi là rất cao(5)

Trong phẫu thuật, hình thái tổn thương hay

gặp nhất là đụng dập động mạch không kèm

đứt rời với 55,2% Trong nghiên cứu của chúng

tôi có 1 trường hợp bóc tách thành mạch kèm

đụng dập, 1 trường hợp giả phình ĐM khoeo

sau chấn thương Nghiên cứu của chúng tôi

tương đồng với tác giả Đoàn Hữu Hoạt (2020),

83,6% đụng dập huyết khối tắc mạch, trong đó

58,9% không kèm đứt rời ĐM(6)

Phương pháp xử lý tổn thương ĐM tùy theo

mức độ tổn thương 47,8% bệnh nhân được ghép

tĩnh mạch hiển lớn đảo chiểu Witz M (2004)

nhận thấy tĩnh mạch hiển trong là vật liệu ghép

tốt nhất trong tổn thương mạch máu do chấn

thương vì có nhiều ưu điểm hơn mạch nhân tạo

là khả năng đề kháng với nhiễm khuẩn tốt hơn

và nguy cơ tắc mạch sớm thấp hơn, chịu đứng

tốt với các va chạm, không bị gấp khi cử động

các khớp nếu ghép ở các vùng này, không gây

tắc mạch muộn do thoái hóa sau một thời gian

ghép(7)

Đặc điểm hình ảnh CTA chi dưới

Hình ảnh cắt cụt ĐM trên CTA là do tổn

thương xuyên thành hoặc bóc tách thành mạch,

tạo huyết khối bít hoàn toàn lòng mạch(8) Tổn

thương xuyên thành có thể là rách thành bên,

đứt gần lìa hoặc đứt lìa ĐM Huyết khối tắc

mạch có thể ở tại ĐM khoeo tổn thương hoặc do

thuyên tắc(9) Cắt cụt ĐM là dấu hiệu hay gặp

nhất và dễ thấy nhất (Hình 1) Các hình ảnh tổn

thương động mạch khoeo khác được thể hiện

trong Hình 2

Hình 1 Hình ảnh cắt cụt ĐM khoeo Hình a của

bệnh nhân trật khớp gối, hình MIP xóa xương cho thấy hình ảnh cắt cụt ĐM khoeo trái 1 đoạn khoảng 3

cm, lòng mạch ngoại vi còn thấy thuốc Hình b của bệnh nhân gãy mâm chày, hình MIP cho thấy cắt cụt

ĐM, có dấu hiệu mỏ chim (mũi tên)

Hình 2 Các hình ảnh tổn thương ĐM khoeo Hình a:

thoát mạch thuốc tương phản Hình b: hẹp lòng mạch

Hình c, d: giả phình ĐM khoeo

Trong nghiên cứu của chúng tôi có 1 trường hợp CTA kết luận tắc mạch nhưng kết quả phẫu thuật là ĐM khoeo co thắt nhiều, thành mạch còn hồng và được xử trí xịt papaverin Tác giả

Trang 6

Uyeda JW (2010) nói rằng co mạch mức độ nặng

là tổn thương hay nhầm lẫn nhất và có thể bắt

chước hình ảnh tắc mạch(2) Nghiên cứu của tác

giả Iezzi R (2007), trong 47 bệnh nhân cũng gặp 2

trường hợp co mạch nhưng có hình ảnh tắc

mạch trên CTA(10) Hình ảnh tắc mạch trên CTA

có tương quan với hình thái tổn thương đụng

dập đơn thuần hoặc kèm đứt mạch (p <0,0001)

Trong 19 bệnh nhân đứt ĐM khoeo, tỉ lệ bệnh

nhân đoạn chi cao (p <0,0001), tỉ lệ bệnh nhân

không thấy thuốc trong lòng mạch ngoại vi cao

(p <0,0001) Có thể dự đoán khả năng đoạn chi

thông qua hình ảnh dòng chảy trong mạch ngoại

vi (p <0,0001)

Hình ảnh cắt cụt đột ngột ĐM có thể do

đụng dập huyết khối hoặc đứt rời Từ Bảng 3,

chúng tôi đưa ra gợi ý giúp phân biệt hai loại

tổn thương này: thứ nhất khi ĐM bị đứt đôi, các đầu mạch co rút lại và chạy ngoằn ngoèo, đầu trung tâm của mạch máu còn chảy máu có thể thấy dấu hiệu thoát mạch thuốc tương phản, đầu ngoại biên ngừng chảy sớm hơn vì huyết áp ở đây rất thấp, tuần hoàn bàng hệ yếu sẽ không thấy hình ảnh mạch máu ngoại

biên (Hình 3); thứ hai ĐM bị đụng dập kèm

huyết khối tắc mạch hoàn toàn thường có dấu hiệu mỏ chim (beak sign) và không thay đổi phương của mạch máu Kết quả nghiên cứu của Yadav SG (2017)(11) cũng tương tự với chúng tôi, hệ số phù hợp Kappa = 0,904 giữa CTA và phẫu thuật/can thiệp nội mạch, các trường hợp mạch máu đứt đôi thì các đầu mạch cũng co rút lại và chạy ngoằn ngoèo

Hình 3 Phân biệt đứt mạch và đụng dập huyết khối tắc mạch Hình a và b là hai trường hợp đứt mạch với đầu

trung tâm co rút, chạy ngoằn ngoèo Hình c là trường hợp đụng dập huyết khối tắc mạch với dấu hiệu mỏ chim

và động mạch vẫn giữ hướng chạy

Hạn chế của đề tài

Cỡ mẫu trong nghiên cứu của chúng tôi

không đủ lớn (57 bệnh nhân) do chấn thương

ĐM khoeo không phổ biến trong dân số Vì vậy

hình ảnh tổn thương ĐM khoeo không đa dạng

và các phân tích không thể bao quát hết cho tất

cả các trường hợp tổn thương ĐM khoeo do

chấn thương Ngoài ra đây là nghiên cứu hồi

cứu nên việc thu thập số liệu phụ thuộc vào

thông tin trong hồ sơ bệnh án

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 58 trường hợp chấn thương

tháng 1/2020 đến 12/2020, kết quả cho thấy:

Hình ảnh tổn thương ĐM khoeo hay gặp nhất là cắt cụt ĐM Có sự phù hợp chẩn đoán tổn thương giữa CTA và phẫu thuật Không thấy thuốc tương phản trong mạch máu ngoại

vi có tỉ lệ cao đoạn chi (p <0,05) Hình ảnh ĐM khoeo hai đầu đoạn tắc mạch giúp phân biệt tổn thương đứt đoạn hay đụng dập đơn thuần (p <0,05)

KIẾN NGHỊ

Chụp CTA là một phương pháp chẩn đoán không xâm nhập, đáng tin cậy, có thể thay thế

Trang 7

và lập kế hoạch điều trị phù hợp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Alarhayem AQ, Cohn SM, Cantu-Nunez O, Eastridge BJ, et al

(2019) Impact of time to repair on outcomes in patients with

lower extremity arterial injuries J Vasc Surg, 69(5):1519-1523

2 Uyeda JW, Anderson SW, Sakai O, Soto JA (2010) CT

angiography in trauma Radiol Clin North Am, 48(2):423-38

3 Cernic S, Pozzi Mucelli F, Pellegrin A, Pizzolato R, et al (2009)

Comparison between 64-row CT angiography and digital

subtraction angiography in the study of lower extremities:

personal experience Radiol Med, 114(7):1115-29

4 Bùi Thị Mỹ Trang (2019) Nghiên cứu đặc điểm của siêu âm

Doppler trong chấn thương động mạch khoeo, Luận văn Bác sĩ

Chuyên khoa II, Trường Đại học Y Phạm Ngọc Thạch

5 Nicandri GT, Dunbar RP, Wahl CJ (2010) Are evidence-based

protocols which identify vascular injury associated with knee

dislocation underutilized? Knee Surg Sports Traumatol Arthrosc,

18(8):1005-12

6 Đoàn Hữu Hoạt (2020) Đặc điểm dịch tễ học lâm sàng và

thương tổn giải phẫu bệnh chấn thương động mạch chi dưới tại

bệnh viện hữu nghị Việt Đức giai đoạn 2017 – 2019 Luận Văn

Thạc Sĩ Y Học, Trường Đại học Y Hà Nội

7 Witz M, Witz S, Tobi E, Shnaker A, et al (2004) Isolated

complete popliteal artery rupture associated with knee

dislocation Case reports Knee Surg Sports Traumatol Arthrosc,

12(1):3-6

8 Foster BR, Anderson SW, Soto JA (2006) CT angiography of

extremity trauma Tech Vasc Interv Radiol, 9(4):156-66

9 Raniga SB, Mittal AK, Bernstein M, Skalski MR, et al (2019)

Multidetector CT in Vascular Injuries Resulting from Pelvic

Fractures: A Primer for Diagnostic Radiologists Radio Graphics,

39(7):2111-2129

10 Iezzi R, Cotroneo AR, Pascali D, et al (2007) Multi-slice CT

(MSCT) angiography for assessment of traumatic lesions of

lower limbs peripheral arteries Emerg Radiol, 14(6):389-94

11 Yadav T, Gamanagatti SG, Kumar A (2017) Spectrum of peripheral vascular trauma: A comprehensive review of

imaging features with surgical correlation European Society of

Radiology, pp.1726

Ngày nhận bài báo: 28/11/2021 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 10/02/2022 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2022

Ngày đăng: 17/04/2022, 11:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm