Suy tĩnh mạch mạn tính (STMMT) chi dưới là bệnh lý rất phổ biến với các biểu hiện như giãn tĩnh mạch, phù, thay đổi trên da và loét da. Siêu âm Doppler tĩnh mạch chi dưới đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán xác định, đánh giá nguyên nhân và giải phẫu. Bài viết trình bày nghiên cứu mối tương quan giữa các đặc điểm siêu âm Doppler mạch máu và lâm sàng ở bệnh nhân suy tĩnh mạch chi dưới.
Trang 1TƯƠNG QUAN GIỮA ĐẶC ĐIỂM TRÊN SIÊU ÂM DOPPLER
VÀ TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG
Ở BỆNH NHÂN SUY TĨNH MẠCH CHI DƯỚI MẠN TÍNH
Hoàng Thuỷ Hằng 1 , Trần Minh Hoàng 1 , Nguyễn Thị Minh Trang 1 , Lâm Thanh Ngọc 1
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Suy tĩnh mạch mạn tính (STMMT) chi dưới là bệnh lý rất phổ biến với các biểu hiện như giãn
tĩnh mạch, phù, thay đổi trên da và loét da Siêu âm Doppler tĩnh mạch chi dưới đóng vai trò quan trọng trong
chẩn đoán xác định, đánh giá nguyên nhân và giải phẫu
Mục tiêu: nghiên cứu mối tương quan giữa các đặc điểm siêu âm Doppler mạch máu và lâm sàng ở bệnh
nhân suy tĩnh mạch chi dưới
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt trang trên 98 bệnh nhân có biểu hiện
STMMT chi dưới Bệnh nhân được thăm khám lâm sàng và siêu âm Doppler tĩnh mạch chi dưới tại khoa Chẩn
đoán hình ảnh bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh từ tháng 3/20201 đến tháng 5/2021
Kết quả: nữ giới chiếm đa số mẫu nghiên cứu (77,55%), tuổi thường gặp nhất 40-59 tuổi (46,94%) Tức
nặng chân (77,55%) và giãn tĩnh mạch nông (38,78%) là triệu chứng cơ năng và thực thể phổ biến nhất Tỷ lệ
xuất hiện dòng chảy ngược bệnh lý có xu hướng tăng theo độ tuổi và mức độ lâm sàng của bệnh Đường kính
trung bình của tĩnh mạch hiển lớn (TMHL) có xu hướng tăng theo mức độ biểu hiện lâm sàng của bệnh nhân
theo phân loại CEAP và tăng cao ở nhóm bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng nặng
Kết luận: Đường kính và tỷ lệ hiện diện dòng chảy ngược có mối tương quan thuận chiều với mức độ lâm
sàng trên bệnh STMMT ở chi dưới Siêu âm Doppler mạch máu là công cụ hữu ích trong chẩn đoán và đánh giá
bệnh nhân có biểu hiện suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính
Từ khoá: suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới, giãn tĩnh mạch, siêu âm Doppler mạch
ABSTRACT
DOPPLER ULTRASOUND CHARACTERISTICS AND CLINICAL CORRELATIONS
IN CHRONIC VENOUS INSUFFICIENCY
Hoang Thuy Hang, Tran Minh Hoang,Nguyen Thi Minh Trang, Lam Thanh Ngoc
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 26 - No 2 - 2022: 42 - 47
Background: Chronic venous insufficiency is a common disorder with various manifestations such as
varicose veins, edema, skin changes, and ulcerations Duplex ultrasound plays a vital role in confirming
diagnosis, and evaluating etiology and anatomy
Objectives: Identify the correlations between Doppler ultrasound characteristics and clinical signs and
symptoms in chronic venous insufficiency of the lower extremities
Methods: 98 consecutive patients with signs and symptoms of venous insufficiency were selected for
this cross-sectional study from March 2021 to May 2021 at Diagnostic Imaging department, Universityl
Medical Center
Result: Majority of patients were female (77.55%), most of them are in 40-59 years old (46.94%) The most
common symptoms and signs are heavy leg (77.55%) and varicose vein (39%) The Frequency of reflux is
1 Bộ môn Chẩn Đoán Hình Ảnh – Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: BS Hoàng Thủy Hằng ĐT: 0976416025 Email: hoangthuyhang8794@gmail.com
Trang 2remarkedly higher with higher C-stages of the CEAP classification The percentages of reflux increased rapidly
with age The greater diameter correlated with a more severe clinical stage
Conclusion: There were correlations among saphenous diameter, ratio of reflux and clinical classification
Doppler ultrasound is an accurate and reproducible tool to diagnose and assess chronic venous insufficiency
Key words: chronic saphenous insufficiency, varicose vein, Doppler ultrasound
ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính là căn bệnh
vô cùng phổ biến Theo như kết quả của chương
trình tham vấn tĩnh mạch, một nghiên cứu được
tiến hành mang tính toàn cầu tại 23 quốc gia
trong đó có Việt Nam nhằm điều tra mức độ phổ
biến của bệnh suy tĩnh mạch mạn tính
(STMMT), đã đưa ra có đến 69,94% dân số mắc
các rối loạn tĩnh mạch mạn tính, con số này dành
cho STMMT là 32,3% Tính riêng tại châu Á hai
chỉ số này lần lượt là 51,93% và 19,84% dân số(1)
Các triệu chứng của suy tĩnh mạch mạn tính như
đau chân, tức nặng chân, chuột rút về đêm hay
các biểu hiện bên ngoài như giãn tĩnh mạch
trong và dưới da rất phổ biến tuy nhiên không
đặc hiệu và rõ ràng Thăm khám lâm sàng đơn
thuần không mang lại đầy đủ các thông tin về
nguyên nhân gây bệnh, giải phẫu và huyết động
học của tĩnh mạch chi dưới Hiện nay, siêu âm
Doppler tĩnh mạch chi dưới với ưu thế không
xâm lấn, rẻ tiền, phổ biến, có thể tiến hành nhiều
lần và cung cấp đầy đủ các thông tin trên Việc
kết hợp giữa đánh giá trên thăm khám lâm sàng
và thông tin mang lại từ siêu âm là không thể
thiếu trong quá trình chẩn đoán, lựa chọn
phương pháp điều trị và theo dõi đáp ứng điều
trị cũng như diễn tiến của bệnh Từ thực tế đó
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài với mục
tiêu: “Nghiên cứu tương quan giữa đặc điểm
trên siêu âm Doppler và triệu chứng lâm sàng ở
bệnh nhân suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính”
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Những bệnh nhân (BN) có dấu hiệu lâm
sàng của STMMT ở tuổi trưởng thành Thời gian
nghiên cứu từ tháng 03/2021 đến tháng 05/2021
tại khoa Chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Đại học
Y Dược TP Hồ Chí Minh
Tiêu chuẩn chọn mẫu
Bệnh nhân ≥18 tuổi
Những bệnh nhân có biểu hiện triệu chứng
cơ năng hay thực thể của bệnh suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính biểu hiện đơn độc hoặc ở cả hai chân được phân loại từ C0s đến C6 theo
phân loại CEAP
Phân loại CEAP trên lâm sàng(2):
C0s: Không có dấu hiệu sờ nắn hay nhìn thấy được của bệnh tĩnh mạch nhưng có triệu chứng
cơ năng như đau, tức nặng chân, sưng chân, chuột rút về đêm hay rối loạn cảm giác ở da
C1: Giãn các tiểu tĩnh mạch trong da hoặc các tĩnh mạch lưới dưới da
C2: Giãn các tĩnh mạch nông (lớn hơn hoặc bằng 3mm) thành búi ngoằn ngoèo
C3: Phù nề
C4: Các biến đổi ở da và mô dưới da
C5: Ổ loét đã liền sẹo
C6: Vết loét đang hoạt động
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân được điều trị và can thiệp mạch
liên quan đến hệ tĩnh mạch chi dưới trước đó
BN có huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới
Người bệnh không thể đứng hoặc không
có năng lực hiểu và làm theo những chỉ dẫn
của bác sĩ
BN không đồng ý tham gia nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện: các BN đến khám và điều trị tại bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh đáp ứng đủ tiêu chuẩn chọn mẫu
Trang 3Cỡ mẫu
Trong đó:
n: là cỡ mẫu tối thiểu cần thiết,
Z: là trị số phân phối chuẩn (Z0,95=1,96),
: xác suất sai lầm loại 1, =0,05,
r: cỡ mẫu được tính dựa trên chỉ số tương
quan r giữa phân loại lâm sàng theo CEAP và
đường kính tĩnh mạch hiển lớn ở nghiên cứu của
Mendoza E với r=0,46
Nghiên cứu cần tối thiểu 46 mẫu Thời gian
lấy mẫu từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2021
Phương tiện nghiên cứu
Phiếu thu thập số liệu Tất cả các bệnh nhân
được siêu âm bằng máy siêu âm Samsung HS40
Bục thang tĩnh mạch có 2 bậc cấp và tay vịn
KẾT QUẢ
Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân
chủ yếu là nữ giới (77,55%) trong khi đó nam
giới chiếm số lượng xấp xỉ 1/4 tổng số bệnh nhân
tham gia nghiên cứu (22,45%) Tuổi trung bình
của nhóm nghiên cứu là 51,89 ± 14,18 Trong đó
tuổi nhỏ nhất là 20 và lớn nhất là 88 Chiếm tỷ lệ
cao nhất là bệnh nhân ở trong nhóm tuổi 40 đến
59 tuổi với 46,94%, sau đó là nhóm bệnh nhân từ
60 tuổi trở lên với 32,65%, nhóm tuổi từ 18 đến
39 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất với 20,41%
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tức nặng
chân là triệu chứng phổ biến nhất hiện diện ở
77,55% bệnh nhân, sau đó là đau chân với
67,35% Triệu chứng sưng chân xuất hiện ít nhất
với 41,32%
Bệnh nhân có triệu chứng thực thể thuộc
phân độ C2 chiếm tỷ trọng lớn nhất trong mẫu
nghiên cứu của chúng tôi với 38,78% Trong khi
đó nhóm bệnh nhân có triệu chứng thực thể mức
độ nặng chiếm tỷ lệ nhỏ với 5,61% người bệnh
C4 và 1,53% C5 Trong nghiên cứu này chúng tôi không ghi nhận bệnh nhân có triệu chứng thực
thể ở phân độ C6 (Bảng 1)
Bảng 1: Đặc điểm của mẫu nghiên cứu
Số lượng hoặc giá trị trung bình
Tỷ lệ hoặc phương sai
Tổng số bệnh nhân 98
Số chân khảo sát 196
Giới
Triệu chứng cơ năng Đau chân 132/196 67,35%
Tức nặng chân 152/196 77,55%
Sưng chân 81/196 41,32%
Chuột rút 104/196 53,06%
Rối loạn cảm giác ở chân 89/196 45,41%
Triệu chứng thực thể
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 59,69%
số chân được khảo sát có dòng phụt ngược xuất hiện ở hệ tĩnh mạch nông Trong số chân có sự hiện diện của dòng phụt ngược bệnh lý ở hệ tĩnh mạch nông, tỷ lệ hiện diện ở TM hiển lớn chiếm phần lớn với 82,91% Tỷ lệ xuất hiện dòng phụt ngược bệnh lý tăng theo độ tuổi và mức độ biểu hiện triệu chứng lâm sàng của người bệnh, phổ biến nhất trên nhóm bệnh nhân ≥60 tuổi (84,38%) và bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng nặng C4-5 (83,71%) (Bảng 2)
Bảng 2: Đặc điểm về dòng chảy ngược bệnh lý
Đặc điểm dòng phụt ngược Tỷ lệ (%)
Hệ tĩnh mạch nông 59,69
Các nhánh hợp lưu 7,69
Trang 4Đặc điểm dòng phụt ngược Tỷ lệ (%)
Trong nghiên cứu này chúng tôi ghi nhận
đường kính trung bình của tĩnh mạch hiển trong
nhóm có dòng chảy ngược bệnh lý cao hơn
nhóm không có sự hiện diện của dòng phụt
ngược bệnh lý (Bảng 3)
Bảng 3: Đặc điểm về đường kính tĩnh mạch
Vị trí đo
Dòng phụt ngược Không có
(mm)
Có (mm)
TMHL
Hội lưu tĩnh mạch
hiển-đùi 6,3 ± 1,19 7,82 ± 1,89
Dưới hội lưu hiển đùi
5cm 3,99 ± 1,27 5,73 ± 1,51
Đùi cao 3,47 ± 1,11 5,12 ± 1,32
TMHB Dưới hội lưu hiển
khoeo 5cm 2,86 ± 0,96 4,98 ± 1,12
Trong nghiên cứu của chúng tôi đường kính
trung bình của TM hiển lớn có xu hướng chung
tăng theo mức độ nặng của các triệu chứng lâm
sàng Trong đó không có sự chệnh lệch quá lớn ở
nhóm triệu chứng vừa và nhẹ (C1 đến C3) nhưng
có sự gia tăng rõ rêt ở nhóm bệnh nhân có triệu
chứng nặng (C4-5)
Đường kính TMHL tại 3 vị trí tại hội lưu
hiển đùi, dưới hội lưu hiển đùi 5cm và đùi cao
đều có mối thương quan thuận chiều mức độ
cao Tuy nhiên mức độ tương quan giữa đường
kính TMHL ở vị trí dưới hội lưu 5cm và đùi cao
chặt chẽ hơn (r=0,73) so với giữa đường kính tại
vị trí hội lưu hiển đùi và dưới hội lưu 5 cm
(r=0,56) cũng như tại hội lưu hiển đùi và đùi cao
(r=0,57)
BÀN LUẬN
Trong nghiên cứu của chúng tôi độ tuổi
trung bình của người bệnh STMMT tương đối
cao 51,89 ± 14,18 kết quả này tương tự các nghiên
cứu khác như nghiên cứu của Phạm Mai Hương
(48,68±11,87) ở các bệnh nhân đến khám tại viện Tim mạch Bạch Mai, Menmoza E (56±15), Joh JH (54,5±14,5) và Wrona M (48±16)(3,4,5,6) Nhóm tuổi thường gặp nhất là từ 40 đến 59 tuổi tương tự với kết quả nghiên cứu của Phạm Mai Hương, Wrona M(3,6) Các nghiên cứu hầu hết đều cho thấy suy tĩnh mạch tăng theo tuổi và tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc bệnh càng cao Tuổi cao cũng được là yếu tố nguy cơ của bệnh Bệnh nhân nữ chiếm phần lớn trong nghiên cứu này với 77,55% tương tự với kết quả nghiên cứu của Phạm Mai Hương là 81,4% và Mendoza E là 64%(3,4) Sự chênh lệch này là chủ yếu là do những thay đổi trong quá trình mang thai ở phụ
nữ và các triệu chứng lâm sàng ở STMMT chi dưới ảnh hưởng về mặt thẩm mỹ nên phụ nữ cũng chú ý và đi khám bệnh nhiều hơn Triệu chứng cơ năng phổ biến nhất là tức nặng chân
và đau chân, kết quả này tương đồng với nghiên cứu Vuylsteke ME và Chiesa R(1,7) Nghiên cứu của chúng tôi sử dụng phân loại lâm sàng CEAP
để đánh giá các triệu chứng thực thể của bệnh nhân Trong nghiên cứu, bệnh nhân ở phân loại C2 là chủ yếu; kết quả này tương tự với kết quả
ở các nghiên cứu của Phạm Mai Hương (50,9%)
và Menmoza E (35%)(3,4) Tuy nhiên trong các nghiên cứu Vuylsteke ME và Wrona M thì phân loại C1 lại chiếm tỷ lệ cao nhất (21,7% và 60,3%)(1,6) Nguyên nhân là do ở trong hai nghiên cứu này đối tượng được chọn là những người trong cộng đồng cho rằng họ đang có một rối loạn về tĩnh mạch mạn tính, còn trong nghiên cứa của chúng tôi, Phạm Mai Hương và Menmoza E đối tượng là những người bệnh đến khám tại các bệnh viện cơ sở y tế khi có những dấu hiệu hay triệu chứng của các rối loạn tĩnh mạch mạn tính
Tỷ lệ dòng phụt ngược bệnh lý ở hệ tĩnh mạch nông chiếm 59,69% Kết quả này cao hơn nghiên cứu của Chiesa R nhưng thấp hơn nghiên cứu của Labropoulos N(7,8) Trong nghiên
Trang 5cứu của chúng tôi dòng phụt ngược tại hệ tĩnh
mạch nông chi dưới hiện diện phần lớn ở tĩnh
mạch hiển lớn điều này phù hợp với kết quả các
nghiên cứu trước đó của các tác giả Labropoulos
N (65%), Pittaluga P (82,7) và Carrison V
(53%)(8,9,10) Dòng phụt ngược tại hệ tĩnh mạch
nông xuất hiện nhiều nhất tai TMHL vởi vì đây
là tĩnh mạch nông lớn và dài nhất đóng vai trò
chính trong dẫn lưu máu từ hệ tĩnh mạch nông
về hệ tĩnh mạch sâu nên dòng chảy ngược tại
TMHL ngoài bắt nguồn từ chính TMHL còn có
thể xuất phát từ nhiều nguồn khác như tĩnh
mạch sâu hay các nhánh hợp lưu
Kết quả nghiên cứu cho thấy đường kính
trung bình của tĩnh mạch hiển tại các vị trí khảo
sát khi có sự hiện diện của dòng chảy ngược
bệnh lý cao hơn so với nhóm không có dòng
chảy ngược bệnh lý Kết quả này tương đồng với
nhiều nghiên cứu trước đó được tiến hành bởi
Menmoza E, Joh JH Sự gia tăng đường kính tĩnh
mạch là kết quả của quá trình dòng phụt ngược
bệnh lý tác động lên TM hiển Dòng chảy ngược
trong TM hiển gây gia tăng áp suất thuỷ tĩnh
làm giãn tĩnh mạch và khiến các lá van không
thể đóng lại một cách thích hợp Hơn nữa sự gia
tăng áp lực tĩnh mạch kéo dài khởi phát một loạt
quá trình sinh lý bệnh dẫn đến thay đổi thành
phần của thành mạch máu như sự gia tăng của
thành phần collagen và tổ chức xơ trong khi đứt
gãy các sợi đàn hồi và giảm tỷ lệ cơ trơn khiến
thành mạch trở nên yếu, giãn và kéo dài(4,5)
Đường kính TMHL tại các vị trí khảo sát có
mối tương quan thuận chiều với mức độ lâm
sàng theo phân loại CEAP Kết quả này tương
đồng với nghiên cứu của Mendoza E và
Mdez-Herrero A Lý do có thể bởi vì tỷ lệ van tĩnh
mạch suy trong các nhóm phân loại mức độ
triệu chứng lâm sàng CEAP gia tăng theo mức
độ biểu hiện lâm sàng của người bệnh(4,11)
Trong nghiên cứu của chúng tôi đường kính
tĩnh mạch hiển lớn ở các vị trí khảo sát có mối
tương quan thuận chiều mức độ mạnh Tuy nhiên mối tương quan giữa đường kính TMHL tại vị trí dưới hội lưu hiển đùi 5 cm và đùi cao chặt chẽ hơn giữa đường kính TMHL tại vị trí hội lưu hiển đùi và dưới hội lưu 5cm cũng như tại hội lưu hiển đùi và đùi cao Điều này là do đường kính ở vị trí chỗ đổ của TMHL rất biến đổi vì ảnh hưởng của các nhánh tính mạch hợp lưu đổ vào cung TMHL và hướng của cung TMHL không thuận lợi để thu được mặt cắt lý tưởng Đường kính TMHL đo tại các vị trí khác
ít biến động hơn(4)
KẾT LUẬN
Tần suất hiện diện của dòng phụt ngược bệnh lý gia tăng theo độ tuổi và phân độ lâm sàng của bệnh nhân STMMT
Đường kính tĩnh mạch có xu hướng chung tăng theo mức độ biểu hiện bệnh và thay đổi rõ rệt ở nhóm bệnh nhân có biểu hiện nặng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Vuylsteke ME, Colman R, Thomis S, Guillaume G, et al (2018)
An epidemiological survey of venous disease among general practitioner attendees in different geographical regions on the
globe: the final results of the Vein Consult Program Angiology,
69(9):779-785
2 Lurie F, Passman M, Meisner M, Dalsing M, et al (2020) CEAP classification system and reporting standard, revision 2020 J
Vascular Surg: Venous Lymphatic Disorders, 8(3):342-352
3 Lê Quang Hưng, Phạm Mai Hương (2015) Nghiên cứu đặc điểm siêu âm Doppler mạch và lâm sàng ở bệnh nhân suy tĩnh
mạch chi dưới Y Học Việt Nam 2:21-26
4 Mendoza E, Blättler W, Amsler F (2013) Great saphenous vein diameter at the saphenofemoral junction and proximal thigh as
parameters of venous disease class European Journal of Vascular
and Endovascular Surgery, 45(1):76-83
5 Joh JH, Park HC (2013) The cutoff value of saphenous vein
diameter to predict reflux Journal of the Korean Surgical Society,
85(4):169-174
6 Wrona M, Jöckel KH, Pannier F, Bock E, et al (2015) Association
of venous disorders with leg symptoms: results from the Bonn
Vein Study 1 European Journal of Vascular and Endovascular
Surgery, 50(3):360-367
7 Chiesa R, Marone EM, Limoni C, Volonté M, et al (2005)
Demographic factors and their relationship with the presence of
CVI signs in Italy: the 24-cities cohort study European journal of
Vascular and Endovascular Surgery, 30(6):674-680
8 Labropoulos N, Delis K, Nicolaides A, Leon M, et al (1996) The
role of the distribution and anatomic extent of reflux in the development of signs and symptoms in chronic venous
insufficiency Journal of Vascular Surgery, 23(3):504-510
Trang 69 Pittaluga P, Chastanet S, Rea B, Barbe R (2008) Classification of
saphenous refluxes: implications for treatment Phlebology,
23(1):2-9
10 Carrison V, Tompkins B, Fronek L, Loerzel N, et al (2017)
Patterns of venous reflux in 1,027 lower limbs with primary
varicose veins Journal for Vascular Ultrasound, 41(2):59-65
11 Mdez-Herrero A, Gutierrez J, Camblor L, Carreno J, et al (2007)
The relation among the diameter of the great saphenous vein, clinical state and haemodynamic pattern of the saphenofemoral
junction in chronic superficial venous insufficiency Phlebology,
22(5):207-213
Ngày nhận bài báo: 28/11/2021 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 10/02/2022 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2022