1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tương quan giữa đặc điểm trên siêu âm doppler và triệu chứng lâm sàng ở bệnh nhân suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính

6 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 867,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Suy tĩnh mạch mạn tính (STMMT) chi dưới là bệnh lý rất phổ biến với các biểu hiện như giãn tĩnh mạch, phù, thay đổi trên da và loét da. Siêu âm Doppler tĩnh mạch chi dưới đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán xác định, đánh giá nguyên nhân và giải phẫu. Bài viết trình bày nghiên cứu mối tương quan giữa các đặc điểm siêu âm Doppler mạch máu và lâm sàng ở bệnh nhân suy tĩnh mạch chi dưới.

Trang 1

TƯƠNG QUAN GIỮA ĐẶC ĐIỂM TRÊN SIÊU ÂM DOPPLER

VÀ TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG

Ở BỆNH NHÂN SUY TĨNH MẠCH CHI DƯỚI MẠN TÍNH

Hoàng Thuỷ Hằng 1 , Trần Minh Hoàng 1 , Nguyễn Thị Minh Trang 1 , Lâm Thanh Ngọc 1

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Suy tĩnh mạch mạn tính (STMMT) chi dưới là bệnh lý rất phổ biến với các biểu hiện như giãn

tĩnh mạch, phù, thay đổi trên da và loét da Siêu âm Doppler tĩnh mạch chi dưới đóng vai trò quan trọng trong

chẩn đoán xác định, đánh giá nguyên nhân và giải phẫu

Mục tiêu: nghiên cứu mối tương quan giữa các đặc điểm siêu âm Doppler mạch máu và lâm sàng ở bệnh

nhân suy tĩnh mạch chi dưới

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt trang trên 98 bệnh nhân có biểu hiện

STMMT chi dưới Bệnh nhân được thăm khám lâm sàng và siêu âm Doppler tĩnh mạch chi dưới tại khoa Chẩn

đoán hình ảnh bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh từ tháng 3/20201 đến tháng 5/2021

Kết quả: nữ giới chiếm đa số mẫu nghiên cứu (77,55%), tuổi thường gặp nhất 40-59 tuổi (46,94%) Tức

nặng chân (77,55%) và giãn tĩnh mạch nông (38,78%) là triệu chứng cơ năng và thực thể phổ biến nhất Tỷ lệ

xuất hiện dòng chảy ngược bệnh lý có xu hướng tăng theo độ tuổi và mức độ lâm sàng của bệnh Đường kính

trung bình của tĩnh mạch hiển lớn (TMHL) có xu hướng tăng theo mức độ biểu hiện lâm sàng của bệnh nhân

theo phân loại CEAP và tăng cao ở nhóm bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng nặng

Kết luận: Đường kính và tỷ lệ hiện diện dòng chảy ngược có mối tương quan thuận chiều với mức độ lâm

sàng trên bệnh STMMT ở chi dưới Siêu âm Doppler mạch máu là công cụ hữu ích trong chẩn đoán và đánh giá

bệnh nhân có biểu hiện suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính

Từ khoá: suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới, giãn tĩnh mạch, siêu âm Doppler mạch

ABSTRACT

DOPPLER ULTRASOUND CHARACTERISTICS AND CLINICAL CORRELATIONS

IN CHRONIC VENOUS INSUFFICIENCY

Hoang Thuy Hang, Tran Minh Hoang,Nguyen Thi Minh Trang, Lam Thanh Ngoc

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 26 - No 2 - 2022: 42 - 47

Background: Chronic venous insufficiency is a common disorder with various manifestations such as

varicose veins, edema, skin changes, and ulcerations Duplex ultrasound plays a vital role in confirming

diagnosis, and evaluating etiology and anatomy

Objectives: Identify the correlations between Doppler ultrasound characteristics and clinical signs and

symptoms in chronic venous insufficiency of the lower extremities

Methods: 98 consecutive patients with signs and symptoms of venous insufficiency were selected for

this cross-sectional study from March 2021 to May 2021 at Diagnostic Imaging department, Universityl

Medical Center

Result: Majority of patients were female (77.55%), most of them are in 40-59 years old (46.94%) The most

common symptoms and signs are heavy leg (77.55%) and varicose vein (39%) The Frequency of reflux is

1 Bộ môn Chẩn Đoán Hình Ảnh – Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: BS Hoàng Thủy Hằng ĐT: 0976416025 Email: hoangthuyhang8794@gmail.com

Trang 2

remarkedly higher with higher C-stages of the CEAP classification The percentages of reflux increased rapidly

with age The greater diameter correlated with a more severe clinical stage

Conclusion: There were correlations among saphenous diameter, ratio of reflux and clinical classification

Doppler ultrasound is an accurate and reproducible tool to diagnose and assess chronic venous insufficiency

Key words: chronic saphenous insufficiency, varicose vein, Doppler ultrasound

ĐẶT VẤN ĐỀ

Suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính là căn bệnh

vô cùng phổ biến Theo như kết quả của chương

trình tham vấn tĩnh mạch, một nghiên cứu được

tiến hành mang tính toàn cầu tại 23 quốc gia

trong đó có Việt Nam nhằm điều tra mức độ phổ

biến của bệnh suy tĩnh mạch mạn tính

(STMMT), đã đưa ra có đến 69,94% dân số mắc

các rối loạn tĩnh mạch mạn tính, con số này dành

cho STMMT là 32,3% Tính riêng tại châu Á hai

chỉ số này lần lượt là 51,93% và 19,84% dân số(1)

Các triệu chứng của suy tĩnh mạch mạn tính như

đau chân, tức nặng chân, chuột rút về đêm hay

các biểu hiện bên ngoài như giãn tĩnh mạch

trong và dưới da rất phổ biến tuy nhiên không

đặc hiệu và rõ ràng Thăm khám lâm sàng đơn

thuần không mang lại đầy đủ các thông tin về

nguyên nhân gây bệnh, giải phẫu và huyết động

học của tĩnh mạch chi dưới Hiện nay, siêu âm

Doppler tĩnh mạch chi dưới với ưu thế không

xâm lấn, rẻ tiền, phổ biến, có thể tiến hành nhiều

lần và cung cấp đầy đủ các thông tin trên Việc

kết hợp giữa đánh giá trên thăm khám lâm sàng

và thông tin mang lại từ siêu âm là không thể

thiếu trong quá trình chẩn đoán, lựa chọn

phương pháp điều trị và theo dõi đáp ứng điều

trị cũng như diễn tiến của bệnh Từ thực tế đó

chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài với mục

tiêu: “Nghiên cứu tương quan giữa đặc điểm

trên siêu âm Doppler và triệu chứng lâm sàng ở

bệnh nhân suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính”

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Những bệnh nhân (BN) có dấu hiệu lâm

sàng của STMMT ở tuổi trưởng thành Thời gian

nghiên cứu từ tháng 03/2021 đến tháng 05/2021

tại khoa Chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Đại học

Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Bệnh nhân ≥18 tuổi

Những bệnh nhân có biểu hiện triệu chứng

cơ năng hay thực thể của bệnh suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính biểu hiện đơn độc hoặc ở cả hai chân được phân loại từ C0s đến C6 theo

phân loại CEAP

Phân loại CEAP trên lâm sàng(2):

C0s: Không có dấu hiệu sờ nắn hay nhìn thấy được của bệnh tĩnh mạch nhưng có triệu chứng

cơ năng như đau, tức nặng chân, sưng chân, chuột rút về đêm hay rối loạn cảm giác ở da

C1: Giãn các tiểu tĩnh mạch trong da hoặc các tĩnh mạch lưới dưới da

C2: Giãn các tĩnh mạch nông (lớn hơn hoặc bằng 3mm) thành búi ngoằn ngoèo

C3: Phù nề

C4: Các biến đổi ở da và mô dưới da

C5: Ổ loét đã liền sẹo

C6: Vết loét đang hoạt động

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân được điều trị và can thiệp mạch

liên quan đến hệ tĩnh mạch chi dưới trước đó

BN có huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới

Người bệnh không thể đứng hoặc không

có năng lực hiểu và làm theo những chỉ dẫn

của bác sĩ

BN không đồng ý tham gia nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu thuận tiện: các BN đến khám và điều trị tại bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh đáp ứng đủ tiêu chuẩn chọn mẫu

Trang 3

Cỡ mẫu

Trong đó:

n: là cỡ mẫu tối thiểu cần thiết,

Z: là trị số phân phối chuẩn (Z0,95=1,96),

: xác suất sai lầm loại 1, =0,05,

r: cỡ mẫu được tính dựa trên chỉ số tương

quan r giữa phân loại lâm sàng theo CEAP và

đường kính tĩnh mạch hiển lớn ở nghiên cứu của

Mendoza E với r=0,46

Nghiên cứu cần tối thiểu 46 mẫu Thời gian

lấy mẫu từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2021

Phương tiện nghiên cứu

Phiếu thu thập số liệu Tất cả các bệnh nhân

được siêu âm bằng máy siêu âm Samsung HS40

Bục thang tĩnh mạch có 2 bậc cấp và tay vịn

KẾT QUẢ

Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân

chủ yếu là nữ giới (77,55%) trong khi đó nam

giới chiếm số lượng xấp xỉ 1/4 tổng số bệnh nhân

tham gia nghiên cứu (22,45%) Tuổi trung bình

của nhóm nghiên cứu là 51,89 ± 14,18 Trong đó

tuổi nhỏ nhất là 20 và lớn nhất là 88 Chiếm tỷ lệ

cao nhất là bệnh nhân ở trong nhóm tuổi 40 đến

59 tuổi với 46,94%, sau đó là nhóm bệnh nhân từ

60 tuổi trở lên với 32,65%, nhóm tuổi từ 18 đến

39 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất với 20,41%

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tức nặng

chân là triệu chứng phổ biến nhất hiện diện ở

77,55% bệnh nhân, sau đó là đau chân với

67,35% Triệu chứng sưng chân xuất hiện ít nhất

với 41,32%

Bệnh nhân có triệu chứng thực thể thuộc

phân độ C2 chiếm tỷ trọng lớn nhất trong mẫu

nghiên cứu của chúng tôi với 38,78% Trong khi

đó nhóm bệnh nhân có triệu chứng thực thể mức

độ nặng chiếm tỷ lệ nhỏ với 5,61% người bệnh

C4 và 1,53% C5 Trong nghiên cứu này chúng tôi không ghi nhận bệnh nhân có triệu chứng thực

thể ở phân độ C6 (Bảng 1)

Bảng 1: Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

Số lượng hoặc giá trị trung bình

Tỷ lệ hoặc phương sai

Tổng số bệnh nhân 98

Số chân khảo sát 196

Giới

Triệu chứng cơ năng Đau chân 132/196 67,35%

Tức nặng chân 152/196 77,55%

Sưng chân 81/196 41,32%

Chuột rút 104/196 53,06%

Rối loạn cảm giác ở chân 89/196 45,41%

Triệu chứng thực thể

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 59,69%

số chân được khảo sát có dòng phụt ngược xuất hiện ở hệ tĩnh mạch nông Trong số chân có sự hiện diện của dòng phụt ngược bệnh lý ở hệ tĩnh mạch nông, tỷ lệ hiện diện ở TM hiển lớn chiếm phần lớn với 82,91% Tỷ lệ xuất hiện dòng phụt ngược bệnh lý tăng theo độ tuổi và mức độ biểu hiện triệu chứng lâm sàng của người bệnh, phổ biến nhất trên nhóm bệnh nhân ≥60 tuổi (84,38%) và bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng nặng C4-5 (83,71%) (Bảng 2)

Bảng 2: Đặc điểm về dòng chảy ngược bệnh lý

Đặc điểm dòng phụt ngược Tỷ lệ (%)

Hệ tĩnh mạch nông 59,69

Các nhánh hợp lưu 7,69

Trang 4

Đặc điểm dòng phụt ngược Tỷ lệ (%)

Trong nghiên cứu này chúng tôi ghi nhận

đường kính trung bình của tĩnh mạch hiển trong

nhóm có dòng chảy ngược bệnh lý cao hơn

nhóm không có sự hiện diện của dòng phụt

ngược bệnh lý (Bảng 3)

Bảng 3: Đặc điểm về đường kính tĩnh mạch

Vị trí đo

Dòng phụt ngược Không có

(mm)

Có (mm)

TMHL

Hội lưu tĩnh mạch

hiển-đùi 6,3 ± 1,19 7,82 ± 1,89

Dưới hội lưu hiển đùi

5cm 3,99 ± 1,27 5,73 ± 1,51

Đùi cao 3,47 ± 1,11 5,12 ± 1,32

TMHB Dưới hội lưu hiển

khoeo 5cm 2,86 ± 0,96 4,98 ± 1,12

Trong nghiên cứu của chúng tôi đường kính

trung bình của TM hiển lớn có xu hướng chung

tăng theo mức độ nặng của các triệu chứng lâm

sàng Trong đó không có sự chệnh lệch quá lớn ở

nhóm triệu chứng vừa và nhẹ (C1 đến C3) nhưng

có sự gia tăng rõ rêt ở nhóm bệnh nhân có triệu

chứng nặng (C4-5)

Đường kính TMHL tại 3 vị trí tại hội lưu

hiển đùi, dưới hội lưu hiển đùi 5cm và đùi cao

đều có mối thương quan thuận chiều mức độ

cao Tuy nhiên mức độ tương quan giữa đường

kính TMHL ở vị trí dưới hội lưu 5cm và đùi cao

chặt chẽ hơn (r=0,73) so với giữa đường kính tại

vị trí hội lưu hiển đùi và dưới hội lưu 5 cm

(r=0,56) cũng như tại hội lưu hiển đùi và đùi cao

(r=0,57)

BÀN LUẬN

Trong nghiên cứu của chúng tôi độ tuổi

trung bình của người bệnh STMMT tương đối

cao 51,89 ± 14,18 kết quả này tương tự các nghiên

cứu khác như nghiên cứu của Phạm Mai Hương

(48,68±11,87) ở các bệnh nhân đến khám tại viện Tim mạch Bạch Mai, Menmoza E (56±15), Joh JH (54,5±14,5) và Wrona M (48±16)(3,4,5,6) Nhóm tuổi thường gặp nhất là từ 40 đến 59 tuổi tương tự với kết quả nghiên cứu của Phạm Mai Hương, Wrona M(3,6) Các nghiên cứu hầu hết đều cho thấy suy tĩnh mạch tăng theo tuổi và tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc bệnh càng cao Tuổi cao cũng được là yếu tố nguy cơ của bệnh Bệnh nhân nữ chiếm phần lớn trong nghiên cứu này với 77,55% tương tự với kết quả nghiên cứu của Phạm Mai Hương là 81,4% và Mendoza E là 64%(3,4) Sự chênh lệch này là chủ yếu là do những thay đổi trong quá trình mang thai ở phụ

nữ và các triệu chứng lâm sàng ở STMMT chi dưới ảnh hưởng về mặt thẩm mỹ nên phụ nữ cũng chú ý và đi khám bệnh nhiều hơn Triệu chứng cơ năng phổ biến nhất là tức nặng chân

và đau chân, kết quả này tương đồng với nghiên cứu Vuylsteke ME và Chiesa R(1,7) Nghiên cứu của chúng tôi sử dụng phân loại lâm sàng CEAP

để đánh giá các triệu chứng thực thể của bệnh nhân Trong nghiên cứu, bệnh nhân ở phân loại C2 là chủ yếu; kết quả này tương tự với kết quả

ở các nghiên cứu của Phạm Mai Hương (50,9%)

và Menmoza E (35%)(3,4) Tuy nhiên trong các nghiên cứu Vuylsteke ME và Wrona M thì phân loại C1 lại chiếm tỷ lệ cao nhất (21,7% và 60,3%)(1,6) Nguyên nhân là do ở trong hai nghiên cứu này đối tượng được chọn là những người trong cộng đồng cho rằng họ đang có một rối loạn về tĩnh mạch mạn tính, còn trong nghiên cứa của chúng tôi, Phạm Mai Hương và Menmoza E đối tượng là những người bệnh đến khám tại các bệnh viện cơ sở y tế khi có những dấu hiệu hay triệu chứng của các rối loạn tĩnh mạch mạn tính

Tỷ lệ dòng phụt ngược bệnh lý ở hệ tĩnh mạch nông chiếm 59,69% Kết quả này cao hơn nghiên cứu của Chiesa R nhưng thấp hơn nghiên cứu của Labropoulos N(7,8) Trong nghiên

Trang 5

cứu của chúng tôi dòng phụt ngược tại hệ tĩnh

mạch nông chi dưới hiện diện phần lớn ở tĩnh

mạch hiển lớn điều này phù hợp với kết quả các

nghiên cứu trước đó của các tác giả Labropoulos

N (65%), Pittaluga P (82,7) và Carrison V

(53%)(8,9,10) Dòng phụt ngược tại hệ tĩnh mạch

nông xuất hiện nhiều nhất tai TMHL vởi vì đây

là tĩnh mạch nông lớn và dài nhất đóng vai trò

chính trong dẫn lưu máu từ hệ tĩnh mạch nông

về hệ tĩnh mạch sâu nên dòng chảy ngược tại

TMHL ngoài bắt nguồn từ chính TMHL còn có

thể xuất phát từ nhiều nguồn khác như tĩnh

mạch sâu hay các nhánh hợp lưu

Kết quả nghiên cứu cho thấy đường kính

trung bình của tĩnh mạch hiển tại các vị trí khảo

sát khi có sự hiện diện của dòng chảy ngược

bệnh lý cao hơn so với nhóm không có dòng

chảy ngược bệnh lý Kết quả này tương đồng với

nhiều nghiên cứu trước đó được tiến hành bởi

Menmoza E, Joh JH Sự gia tăng đường kính tĩnh

mạch là kết quả của quá trình dòng phụt ngược

bệnh lý tác động lên TM hiển Dòng chảy ngược

trong TM hiển gây gia tăng áp suất thuỷ tĩnh

làm giãn tĩnh mạch và khiến các lá van không

thể đóng lại một cách thích hợp Hơn nữa sự gia

tăng áp lực tĩnh mạch kéo dài khởi phát một loạt

quá trình sinh lý bệnh dẫn đến thay đổi thành

phần của thành mạch máu như sự gia tăng của

thành phần collagen và tổ chức xơ trong khi đứt

gãy các sợi đàn hồi và giảm tỷ lệ cơ trơn khiến

thành mạch trở nên yếu, giãn và kéo dài(4,5)

Đường kính TMHL tại các vị trí khảo sát có

mối tương quan thuận chiều với mức độ lâm

sàng theo phân loại CEAP Kết quả này tương

đồng với nghiên cứu của Mendoza E và

Mdez-Herrero A Lý do có thể bởi vì tỷ lệ van tĩnh

mạch suy trong các nhóm phân loại mức độ

triệu chứng lâm sàng CEAP gia tăng theo mức

độ biểu hiện lâm sàng của người bệnh(4,11)

Trong nghiên cứu của chúng tôi đường kính

tĩnh mạch hiển lớn ở các vị trí khảo sát có mối

tương quan thuận chiều mức độ mạnh Tuy nhiên mối tương quan giữa đường kính TMHL tại vị trí dưới hội lưu hiển đùi 5 cm và đùi cao chặt chẽ hơn giữa đường kính TMHL tại vị trí hội lưu hiển đùi và dưới hội lưu 5cm cũng như tại hội lưu hiển đùi và đùi cao Điều này là do đường kính ở vị trí chỗ đổ của TMHL rất biến đổi vì ảnh hưởng của các nhánh tính mạch hợp lưu đổ vào cung TMHL và hướng của cung TMHL không thuận lợi để thu được mặt cắt lý tưởng Đường kính TMHL đo tại các vị trí khác

ít biến động hơn(4)

KẾT LUẬN

Tần suất hiện diện của dòng phụt ngược bệnh lý gia tăng theo độ tuổi và phân độ lâm sàng của bệnh nhân STMMT

Đường kính tĩnh mạch có xu hướng chung tăng theo mức độ biểu hiện bệnh và thay đổi rõ rệt ở nhóm bệnh nhân có biểu hiện nặng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Vuylsteke ME, Colman R, Thomis S, Guillaume G, et al (2018)

An epidemiological survey of venous disease among general practitioner attendees in different geographical regions on the

globe: the final results of the Vein Consult Program Angiology,

69(9):779-785

2 Lurie F, Passman M, Meisner M, Dalsing M, et al (2020) CEAP classification system and reporting standard, revision 2020 J

Vascular Surg: Venous Lymphatic Disorders, 8(3):342-352

3 Lê Quang Hưng, Phạm Mai Hương (2015) Nghiên cứu đặc điểm siêu âm Doppler mạch và lâm sàng ở bệnh nhân suy tĩnh

mạch chi dưới Y Học Việt Nam 2:21-26

4 Mendoza E, Blättler W, Amsler F (2013) Great saphenous vein diameter at the saphenofemoral junction and proximal thigh as

parameters of venous disease class European Journal of Vascular

and Endovascular Surgery, 45(1):76-83

5 Joh JH, Park HC (2013) The cutoff value of saphenous vein

diameter to predict reflux Journal of the Korean Surgical Society,

85(4):169-174

6 Wrona M, Jöckel KH, Pannier F, Bock E, et al (2015) Association

of venous disorders with leg symptoms: results from the Bonn

Vein Study 1 European Journal of Vascular and Endovascular

Surgery, 50(3):360-367

7 Chiesa R, Marone EM, Limoni C, Volonté M, et al (2005)

Demographic factors and their relationship with the presence of

CVI signs in Italy: the 24-cities cohort study European journal of

Vascular and Endovascular Surgery, 30(6):674-680

8 Labropoulos N, Delis K, Nicolaides A, Leon M, et al (1996) The

role of the distribution and anatomic extent of reflux in the development of signs and symptoms in chronic venous

insufficiency Journal of Vascular Surgery, 23(3):504-510

Trang 6

9 Pittaluga P, Chastanet S, Rea B, Barbe R (2008) Classification of

saphenous refluxes: implications for treatment Phlebology,

23(1):2-9

10 Carrison V, Tompkins B, Fronek L, Loerzel N, et al (2017)

Patterns of venous reflux in 1,027 lower limbs with primary

varicose veins Journal for Vascular Ultrasound, 41(2):59-65

11 Mdez-Herrero A, Gutierrez J, Camblor L, Carreno J, et al (2007)

The relation among the diameter of the great saphenous vein, clinical state and haemodynamic pattern of the saphenofemoral

junction in chronic superficial venous insufficiency Phlebology,

22(5):207-213

Ngày nhận bài báo: 28/11/2021 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 10/02/2022 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2022

Ngày đăng: 17/04/2022, 11:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w