Tính cấp thiết của đề tài Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuấtkinh doanh, là chỉ tiêu chất lượng đánh giá hiệu quả kinh tế của các hoạt độngcủa doanh nghiệ
Trang 3LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LƯU THỊ HƯƠNG
HÀ NỘI - 2016
Trang 4liệu được nêu trong luận văn là trung thực và có trích nguồn Kết quảnghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳcông trình nghiên cứu nào khác.
Học viên
Hoàng Ngọc Trang
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP 3
1.1 KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP 3
1.1.1 Khái niệm và phân loại doanh nghiệp 3
1.1.2 Hoạt động cơ bản của doanh nghiệp 6
1.2 LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP 7
1.2.1 Khái niệm và vai trò của lợi nhuận 7
1.2.2 Xác định lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận 10
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP 15
1.3.1 Nhóm nhân tố chủ quan 15
1.3.2 Nhóm nhân tố khách quan 23
1.4 ĐẶC THÙ VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÀNH DƯỢC 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY DƯỢC PHẨM HƯNG YÊN 30
2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY DƯỢC PHẨM HƯNG YÊN 30
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Công ty Dược phẩm Hưng Yên 30 2.1.2 Cơ cấu tổ chức Công ty Dược phẩm Hưng Yên 30
Trang 6qua các năm 32
2.2 THỰC TRẠNG LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY DƯỢC PHẨM HƯNG YÊN 41
2.2.1 Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh 42
2.2.2 Lợi nhuận từ hoạt động tài chính 47
2.2.3 Lợi nhuận từ hoạt động khác 50
2.3 PHÂN TÍCH LỢI NHUẬN VÀ TỶ SUẤT LỢINHUẬN 52
2.3.1 Lợi nhuận trước thuế và cơ cấu lợi nhuận trước thuế 52
2.3.2 Lợi nhuận thực hiện so với kế hoạch đặt ra 54
2.3.3 Tỷ suất lợi nhuận 55
2.4 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY DƯỢC PHẨM HƯNG YÊN 61
2.4.1 Kết quả đạt được 61
2.4.2 Hạn chế và nguyênnhân 63
2.4.3 Cơ hội và thách thức 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 69
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY DƯỢC PHẨM HƯNG YÊN 70
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY DƯỢC PHẨM HƯNG YÊN 70
3.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY DƯỢC PHẨM HƯNG YÊN 71
3.2.1 Tăng cường công tác quản lý và sử dụng hiệu quả vốn kinh doanh 71 3.2.2 Giải pháp tăng doanh thu 73
3.2.3 Giải pháp giảm chi phí 77
3.2.4 Quản lý tồn kho, đảm bảo dự trữ hợp lý 78
Trang 7Viết tắt Nguyên nghĩa
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 81
3.3.1 Kiến nghị đối với Nhà nước 81
3.3.2 Kiến nghị đối với Bộ Y tế 83
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 9Bảng 2.2: Sự biến động của tổng sản lượng giai đoạn 2012-2014 34
Bảng 2.3: Bảng DT, CP, và LN của DPHY giai đoạn 2012-2014 35
Bảng 2.4: Tài sản ngắn hạn của công ty giai đoạn 2012-2014 37
Bảng 2.5: Quy mô, cơ cấu nguồn vốn 40
Bảng 2.6 Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của DPHY giai đoạn 2012-2014 42
Bảng 2.7 Cơ cấu chi phí từ hoạt động kinh doanh của DPHY giai đoạn 2012-2014 46
Bảng 2.8 Lợi nhuận từ hoạt động tài chính của DPHY giai đoạn 2012-2014 48
Bảng 2.9 Lợi nhuận khác của DPHY giai đoạn 2012-2014 50
Bảng 2.10 Lợi nhuận của DPHY giai đoạn 2012-2014 52
Bảng 2.11 LN thực hiện và LN kế hoạch của DPHY giai đoạn 2012-2014 55 Bảng 2.12 Các chỉ số về khả năng sinh lời của DPHY giai đoạn 2012-2014 56
Bảng 2.13: Bảng phân tích các nhân tố ảnh hưởng ROA 57
Bảng 2.14: Bảng phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ROE 59
Bảng 2.15 Cơ cấu vốn của DPHY giai đoạn 2012-2014 64
Trang 10Hình 2.2: Biểu đồ doanh thu, chi phí, lợi nhuận trước thuế của DPHY giaiđoạn 2012-2014 36Hình 2.3: Biểu đồ Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh giai đoạn2012-2014 45Hình 2.4: Biểu đồ LN và cơ cấu LN của DPHY giai đoạn 2012-2014 54Hình 2.5: Hệ số khả năng sinh lời 61
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuấtkinh doanh, là chỉ tiêu chất lượng đánh giá hiệu quả kinh tế của các hoạt độngcủa doanh nghiệp, vì thế mục tiêu lợi nhuận luôn là mục tiêu quan trọng, mứclợi nhuận cao là sự cần thiết cho việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển củadoanh nghiệp, đảm bảo cho đời sống của người lao động cũng như khuyếnkhích họ tận tụy với công việc Mặt khác, mức lợi nhuận cao thể hiện khảnăng tài chính của doanh nghiệp, từ đó tạo được uy tín và lấy được lòng tincủa từ khách hàng; và lợi nhuận là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả hoạtđộng của doanh nghiệp Chính vì vậy việc nâng cao chỉ tiêu lợi nhuận luôn làmối quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp
Công ty Dược phẩm Hưng Yên cũng không phải là ngoại lệ Mặc dùcông ty đã rất chú trọng tới lợi nhuận và đạt được kết quả nhất định nhưng lợinhuận của công ty vẫn chưa đạt mức mong đợi
Trước thực tế đó, làm thế nào để tăng trưởng lợi nhuận bền vững, ổnđịnh là vấn đề được tập thể lãnh đạo và các phòng chức năng của Công tyDược phẩm Hưng Yên rất coi trọng Tăng lợi nhuận có nghĩa là làm thế nào đểtăng doanh thu, tối ưu hóa chi phí Mục tiêu đó liên quan tới một loạt các vấn
đề về chính sách bán hàng, giá thành sản phẩm, mở rộng kênh phân phối, đadạng hóa hoạt động Rất nhiều câu hỏi được đặt ra và cần tìm lời giải đáp
Đó là lý do tác giả đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao lợi nhuận tại
Công ty Dược phẩm Hưng Yên” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ.
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về lợi nhuận của doanh
nghiệp
Trang 12- Phân tích thực trạng lợi nhuận của Công ty Dược phẩm Hưng Yên, từ
đó đánh giá các kết quả đã đạt được cũng như các hạn chế và nguyên nhân
- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao lợi nhuận của Công tyDược phẩm Hưng Yên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Lợi nhuận của doanh nghiệp
Phạm vi: Lợi nhuận từ việc cung cấp Dược phẩm của Công ty Dượcphẩm Hưng Yên từ năm 2012 đến năm 2014
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử, trong quá trình thực hiện luận văn, các phương phápnghiên cứu được sử dụng:
> Phương pháp tổng hợp, phân tích so sánh
> Phương pháp thống kê
> Phương pháp thay thế liên hoàn
Ngoài ra một số kết quả nghiên cứu thị trường tiến hành tại Công ty Cổphần Dược phẩm Hưng Yên cũng được sử dụng
5 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về lợi nhuận của doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng lợi nhuận của Công ty Dược phẩm Hưng Yên Chương 3: Giải pháp nâng cao lợi nhuận tại Công ty Dược phẩm Hưng
Yên
Trang 13CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LỢI NHUẬN
CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm và phân loại doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp
Có thể hiểu doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách phápnhân, hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị tài sản củachủ sở hữu
Khái niệm doanh nghiệp được Pháp luật của các nước quy định Ở ViệtNam, Luật doanh nghiệp quy định: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tênriêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy địnhcủa pháp luật nhằm mục đích kinh doanh
1.1.1.2 Phân loại doanh nghiệp
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, trước hết các doanh nghiệpcần xác định cho mình một hình thức pháp lý nhất định Ở Việt Nam, Luậtdoanh nghiệp năm 2014 quy định có các loại hình doanh nghiệp chủ yếu sau:
Doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằngtoàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của DN; Chủ sở hữu duy nhất củaDNTN là một cá nhân; Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một DNTN;DNTN không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào
Trong hoạt động kinh doanh, chủ DNTN phải chịu trách nhiệm toàn bộtài sản của mình về mọi hoạt động cũng như được toàn quyền quyết định đốivới tất cả các hoạt động kinh doanh và tài chính của DN
Ưu điểm: Do là chủ sở hữu duy nhất của DN nên DNTN hoàn toàn chủđộng trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh
Trang 14của DN Chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ DNTN tạo sự tin tưởng cho đốitác, khách hàng và giúp cho DN ít chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi pháp luậtnhư các loại hình DN khác.
Nhược điểm: Bên cạnh những lợi thế đó thì loại hình DN này cũng cómột số nhược điểm như: do không có tư cách pháp nhân và tính chịu tráchnhiệm vô hạn về tài sản nên mức độ rủi ro của chủ DNTN cao, chủ DNTNphải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của DN và của chủ DN chứ khônggiới hạn số vốn mà chủ DN đã đầu tư vào DN
Công ty hợp danh
Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó phải có ít nhất hai thànhviên hợp danh, ngoài các thành viên hợp danh, có thể có thành viên góp vốn.Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghềnghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa
vụ của công ty Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ củacông ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty Mọi quyền quản lý và raquyết định trong công ty hợp danh đều thuộc về thành viên hợp danh
Thành viên hợp danh có quyền quản lý công ty; tiến hành các hoạtđộng kinh doanh nhân danh công ty; cùng liên đới chịu trách nhiệm về cácnghĩa vụ của công ty Thành viên góp vốn có quyền được chia lợi nhuận theo
tỷ lệ được quy định tại Điều lệ công ty; không được tham gia quản lý công ty
và hoạt động kinh doanh nhân danh công ty Các thành viên hợp danh cóquyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề quản lý công ty
Ưu điểm của công ty hợp danh là kết hợp được uy tín cá nhân củanhiều người Do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viênhợp danh mà công ty hợp danh dễ dàng tạo được sự tin cậy của các bạn hàng,đối tác kinh doanh Việc điều hành quản lý công ty không quá phức tạp do sốlượng các thành viên ít và là những người có uy tín, tuyệt đối tin tưởng nhau
Trang 15Hạn chế của công ty hợp danh là do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vôhạn nên mức độ rủi ro của các thành viên hợp danh là rất cao, mọi thành viêncông ty đều có quyền quản lý công ty như nhau
Trên thực tế loại hình doanh nghiệp này ít phổ biến hơn các loại hìnhdoanh nghiệp khác
Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên
Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên là DN trong đóthành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác củadoanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp Các vấn
đề về hoạt động của công ty thuộc quyền quyết định của Hội đồng thành viên
Ưu điểm của loại hình này là DN có tư cách pháp nhân nên các thànhviên công ty chỉ chịu trách nhiệm về các hoạt động của công ty trong phạm vi
số vốn góp vào công ty, do đó người góp vốn hạn chế được rủi ro hơn Mặtkhác, số lượng thành viên công ty không nhiều và các thành viên thường làngười quen biết, tin cậy nhau, nên việc quản lý, điều hành công ty không quáphức tạp Chế độ chuyển nhượng vốn được điều chỉnh chặt chẽ nên nhà đầu
tư dễ dàng kiểm soát được việc thay đổi các thành viên, hạn chế sự thâm nhậpcủa người lạ vào công ty
Tuy nhiên, hình thức công ty TNHH cũng có những hạn chế nhất địnhnhư: chế độ TNHH nên uy tín của công ty trước đối tác, bạn hàng cũng phầnnào bị ảnh hưởng; công ty TNHH chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luậthơn là DNTN hay công ty hợp danh Ngoài ra, việc huy động vốn của công tyTNHH bị hạn chế do không có quyền phát hành cổ phiếu
Công ty TNHH là loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất ở Việt Namhiện nay
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Công ty TNHH một thành viên là một hình thức đặc biệt của công ty
Trang 16TNHH Theo quy định của pháp luật Việt Nam công ty TNHH một thành viên
là DN do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu, chủ DN chịu tráchnhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi sốvốn điều lệ của DN Quyền ra quyết định đối với các hoạt động sản xuất kinhdoanh cũng như tài chính của công ty thuộc về chủ sở hữu của công ty
Công ty cổ phần có rất nhiều lợi thế như: Chế độ trách nhiệm của công
ty CP là TNHH, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tàisản khác của công ty trong phạm vi vốn góp nên mức độ rủi do của các cổđông không cao; khả năng hoạt động của công ty cổ phần rất rộng, trong hầuhết các lịch vực, ngành nghề; cơ cấu vốn của công ty CP hết sức linh hoạt tạođiều kiện nhiều người cùng góp vốn vào công ty; khả năng huy động vốn củacông ty CP cao thông qua việc phát hành cổ phiếu ra công chúng là khônggiới hạn, đây là lợi thế riêng của công ty CP Ngoài ra, việc chuyển nhượngvốn trong công ty CP là tương đối dễ dàng, do vậy phạm vi đối tượng đượctham gia công ty CP là rất rộng, ngay cả các cán bộ công chức cũng có quyềnmua cổ phiếu của công ty CP
1.1.2 Hoạt động cơ bản của doanh nghiệp
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thịtrường rất đa dạng và phong phú nhưng bao gồm ba hoạt động chính như sau:
Trang 17Thứ nhất, hoạt động sản xuất kinh doanh: Đây là hoạt động sản xuất
tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ của các ngành sản xuất kinh doanh chính
và sản xuất kinh doanh phụ
Thứ hai, hoạt động tài chính: Đây là hoạt động đầu tư về vốn và đầu tư
về tài chính ngắn hạn, dài hạn với mục đích kiếm lời như đầu tư chứng khoán,cho thuê tài sản, mua bán ngoại tệ
Thứ ba, hoạt động bất thường: Đây là hoạt động diễn ra không thường
xuyên, không dự tính trước hoặc có dự tính trước nhưng ít khả năng thực hiệnnhư giải quyết vấn đề xử lý tài sản thừa, thiếu chưa rõ nguyên nhân
Như đã trình bày ở mục 1.1.1.1 mục tiêu cơ bản và cuối cùng của mộtdoanh nghiệp là tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu Lợi nhuận sẽ làphương tiện chủ yếu để doanh nghiệp hướng tới mục tiêu đó Không mộtdoanh nghiệp nào nói rằng có thể tăng giá trị tài sản chủ sở hữu mà không cầnlàm ăn có lãi Lợi nhuận chính là nguồn chủ yếu và quyết định để tang giá trịtài sản chủ sở hữu một cách lâu dài và bền vững.Do đó lợi nhuận trong doanhnghiệp vừa là một chỉ tiêu phấn đấu, vừa là một tiêu chí để đánh giá hiệu quảhoạt động của doanh nghiệp
Vậy lợi nhuận là gì, vai trò của lợi nhuận đối với DN nói riêng và nềnkinh tế nói chung được thể hiện như thế nào?
1.2 LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1 Khái niệm và vai trò của lợi nhuận
1.2.1.1 Khái niệm lợi nhuận của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường lợi nhuận là một tiêu chí quan trọng, là chỉtiêu phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp, là nguồn quan trọng đểdoanh nghiệp tái đầu tư mở rộng sản xuất Do đó khi tiến hành bất kỳ mộthoạt động sản xuất kinh doanh nào doanh nghiệp phải tính toán đến lợi nhuậnthu được từ hoạt động đó Nói cách khác một doanh nghiệp muốn tồn tại và
Trang 18phát triển phụ thuộc rất lớn vào việc doanh nghiệp có tạo ra được lợi nhuậnhay không?
Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuấtkinh doanh, là chỉ tiêu chất lượng đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động củadoanh nghiệp Từ góc độ của nhà quản trị tài chính doanh nghiệp có thể thấyrằng: Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu vàchi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được doanh thu đó
- Lợi nhuận trước thuế
Lợi nhuận trước thuế hay thu nhập trước thuế của doanh nghiệp đượchiểu là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí phải bỏ ra để đạt đượcdoanh thu đó
Lợi nhuận trước thuế = Tổng doanh thu - Tổng chi phí
Lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp bao gồm lợi nhuận từ hoạt độngkinh doanh, lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận từ hoạt động khác.Lợi nhuận trước thuế là cơ sở để tính thuế thu nhập doanh nghiệp và lợinhuận sau thuế của doanh nghiệp
- Lợi nhuận sau thuế
Lợi nhuận sau thuế còn gọi là thu nhập sau thuế của doanh nghiệp, làphần chênh lệch giữa lợi nhuận trước thuế và thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế thu nhập = Lợi nhuận Thuế suất thuế thu nhập
x
Lợi nhuận trước Thuế thu nhập doanh
Lợi nhuận sau thuế là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện phân phối lợinhuận nhằm mục đích chủ yếu tái đầu tư mở rộng năng lực sản xuất kinhdoanh, khuyến khích người lao động nâng cao năng suất
Trang 19về bản chất lợi nhuận sau thuế là thu nhập của chủ sở hữu và chỉthuộc về thu nhập của chủ sở hữu mà thôi.
Bên cạnh lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế, doanh nghiệp cònquan tâm tới một số các chỉ tiêu lợi nhuận khác như lợi nhuận thực tế, lợinhuận dự tính, lợi nhuận kế hoạch
1.2.1.2 Vai trò của lợi nhuận
> Vai trò của lợi nhuận đối với doanh nghiệp
- Lợi nhuận là đòn bẩy kinh tế quan trọng, là chỉ tiêu đánh giá hiệu quảhoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Mục tiêu cuối cùng của doanhnghiệp chính là tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu và lợi nhuận là nguồn
cơ bản để doanh nghiệp thực hiện mục tiêu đó
- Lợi nhuận có tác động đến mọi hoạt động của doanh nghiệp và ảnhhưởng trực tiếp tới tình hình tài chính của doanh nghiệp đó
- Sản xuất kinh doanh có hiệu quả đạt lợi nhuận cao có điều kiện nângcao thu nhập, cải thiện đời sống người lao động
- Lợi nhuận là nguồn tích lũy cơ bản để tái đầu tư mở rộng sản xuất
- Doanh nghiệp hoạt động trong mối quan hệ tác động qua lại với nhiềuchủ thể như Nhà nước, đối tác làm ăn, nhà đầu tư, khách hang Tình hìnhtài chính của doanh nghiệp được tất cả các chủ thể quan tâm Một doanhnghiệp có lợi nhuận cao sẽ góp phần tạo dựng hình ảnh tốt trong con mắt đốitác, từ đó từng bước xây dựng giá trị thương hiệu - một trong những tài sản
cố định vô hình rất được coi trọng trong nền kinh tế thị trường
- Lợi nhuận là điều kiện tài chính để doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụtrách nhiệm với Nhà nước và xã hội Thông qua việc nộp ngân sách đầy đủtạo điều kiện cho đất nước phát triển, tăng trưởng kinh tế Ở Việt Nam, lợinhuận sau thuế là nguồn để trích lập các quỹ
> Vai trò của lợi nhuận đối với nền kinh tế
Trang 20Lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp là cơ sở để xác định thuế thunhập doanh nghiệp.
- Là nguồn quan trọng bậc nhất hình thành nên Ngân sách Nhà nước.Lợi nhuận của doanh nghiệp càng nhiều thì phần thuế nộp Ngân sách Nhànước càng lớn và Nhà nước có điều kiện để tái sản xuất mở rộng xã hội, qua
đó lại gián tiếp tác động ngược trở lại tới hoạt động của mỗi doanh nghiệp
- Thuế thu nhập doanh nghiệp góp phần điều hòa thu nhập, điều chỉnhcác quan hệ phân phối, phân phối lại thu nhập giữa các tổ chức kinh tế, thựchiện công bằng xã hội
Lợi nhuận của doanh nghiệp không chỉ là một bộ phận thu nhập thuầntúy của doanh nghiệp mà đồng thời là nguồn thu quan trọng của ngân sáchNhà nước và là nguồn tích lũy quan trọng nhất để thực hiện tái sản xuất mởrộng xã hội và đáp ứng các nhu cầu phát triển của xã hội
> Vai trò của lợi nhuận đối với người lao động
Doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, có lợi nhuận cao thì sẽ có điềukiện nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống vật chất cũng như tinh thần chongười lao động trong doanh nghiệp Ngoài việc để tái đầu tư, chi trả cho cổđông, lợi nhuận còn được dùng để trích lập các quỹ phúc lợi, khen thưởng, dựphòng Các quỹ này được trích nhằm mục đích động viên, khích lệ tinh thầncủa cán bộ công nhân viên làm việc sáng tạo, gắn bó với doanh nghiệp Mộtdoanh nghiệp muốn bền vững thì lợi ích của doanh nghiệp phải gắn với lợi íchcủa người lao động
1.2.2 Xác định lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận
Trang 21> Lợi nhuận từ hoạt động SXKD
Đây là khoản lợi nhuận thu được do tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, dịch
vụ từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh thường chiếm một tỷ trọng lớntrong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp, là điều kiện tiền đề để doanh nghiệpthực hiện tích lũy cho tái sản xuất kinh doanh mở rộng Đồng thời cũng làđiều kiện để lập ra các quỹ của doanh nghiệp
Lợi nhuận trước thuế từ hoạt động sản xuất kinh doanh được tính bằngphần chênh lệch giữa doanh thu từ hoạt động kinh doanh và chi phí cho hoạtđộng kinh doanh, được xác định như sau:
LN trước thuế từ DT từ hoạt động Chi phí từ hoạt động
Doanh thu được xác định bằng cách nhân số lượng các đơn vị sản
phẩm tiêu thụ được với đơn giá mỗi đơn vị sản phẩm Đối với các loại hìnhdoanh nghiệp với các hoạt động khác nhau thì doanh thu từ hoạt động sảnxuất kinh doanh cũng khác nhau:
- Đối với các cơ sở sản xuất, khai thác, chế biến : DT từ hoạt độngSXKD là toàn bộ tiền bán sản phẩm, nửa thành phẩm, bao bì, nguyên vật liệu
- Đối với ngành xây dựng: doanh thu SXKD là giá trị công trình hoànthành bàn giao
- Đối với ngành vận tải: doanh thu SXKD là tiền cước phí
- Đối với ngành thương nghiệp, ăn uống: doanh thu SXKD là tiền bánhàng
- Đối với các hoạt động đại lý, ủy thác: doanh thu SXKD là tiền hoahồng
- Đối với ngành kinh doanh dịch vụ: doanh thu SXKD là tiền bán dịchvụ
- Đối với các hoạt động kinh doanh tiền tệ: doanh thu SXKD là tiềnlãi
- Đối với hoạt động bảo hiểm: doanh thu SXKD là phí bảo hiểm
- Đối với hoạt động cho thuê: doanh thu SXKD là tiền thuê
Trang 22- Đối với hoạt động biểu diễn văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao:
doanh thu SXKD là tiền bán vé
Chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm tất cả các khoản chi
phí có liên quan tới quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Chi phí sản xuất kinh doanh gồm có: chi phí nguyên nhiên vật liệu,chi phí vật tư, chi phí khấu hao tài sản cố dịnh, chi phí tiền lương và cáckhoản phụ cấp có tính chất lương, chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,kinh phí công đoàn, chi phí dịch vụ mua ngoài, thuế và các chi phí khác
Chi phí hoạt động kinh doanh thường được doanh nghiệp chia thành 3
bộ phận: giá vốn bán hàng, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
> Lợi nhuận từ hoạt động tài chính
Lợi nhuận thu được từ hoạt động tài chính của doanh nghiệp là phầnchênh lệch giữa doanh thu và chi phí về hoạt động tài chính của doanhnghiệp đó
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính gồm nhiều nguồn khác nhau, từ hoạtđộng mua bán chứng khoán, kinh doanh bất động sản, do tham gia góp vốnliên doanh, do hoạt động cho thuê tài sản, cho vay
LN trước thuế từ DT từ hoạt động Chi phí từ hoạt
-hoạt động tài chính tài chính động tài chính
Doanh thu từ hoạt động tài chính: Là khoản thu do doanh nghiệp tiến
hành các hoạt động đầu tư tài chính hoặc kinh doanh vốn đem lại bao gồm lãitiền gửi, lãi bán hàng trả chậm, trả góp, chiết khấu thanh toán được hưởng domua hàng hóa, dịch vụ hoạt động góp vốn liên doanh liên kết, đầu tư chứngkhoán, thu nhập từ việc cho thuê tài sản, lãi cho vay
Chi phí từ hoạt động tài chính: Là các khoản chi phí cho các hoạt động
đầu tư tài chính và các chi phí liên quan đến hoạt động về vốn gồm chi phí vềliên doanh không tính vào giá trị vốn góp, lỗ liên doanh, lỗ do bán chứng
Trang 23khoán, chi phí đầu tư tài chính, chi phí liên quan đến vay vốn, chi phí liênquan
đến việc mua bán ngoại tệ, chi phí khấu hao tài sản cố định, thuê tài chính
> Lợi nhuận từ hoạt động khác
Lợi nhuận khác là khoản lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được ngoàihoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài dự tính hoặc có dự tính đến, nhưng ít cókhả năng thực hiện hoặc là những khoản lợi nhuận thu được không mang tínhchất thường xuyên
Lợi nhuận khác được tính bằng chênh lệch giữa doanh thu và chi phí từcác hoạt động khác của doanh nghiệp
LN trước thuế từ DT từ hoạt Chi phí từ hoạt
-hoạt động khác động khác động khác
Doanh thu từ hoạt động khác: bao gồm doanh thu từ thanh lý, nhượngbán TSCĐ, các khoản thuế được Ngân sách Nhà nước hoàn lại, quà tặng, quàbiếu, các khoản nợ khó đòi đã xử lý
Chi phí từ hoạt động khác: bao gồm chi phí nhượng bán, thanh lýTSCĐ, tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế, giá trị tổn thất sau khi đã giảmtrừ chi phí bất thường khác
Tóm lại, thông qua phân tích cơ cấu lợi nhuận giúp doanh nghiệp xác
định được phần lợi nhuận nào chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng lợi nhuận củadoanh nghiệp, từ đó tập trung tìm ra nguyên nhân để xây dựng các biện phápnhằm nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp Trong điều kiện các doanh nghiệp
ở Việt Nam hiện nay, hoạt động tài chính còn rất hạn chế, hoạt động khác xảy
ra không thường xuyên và cũng không quan trọng như bản chất của nó do vậyhoạt động SXKD là hoạt động chính tạo ra hầu hết lợi nhuận cho doanhnghiệp
Chính vì vậy, mục đích của đề tài này là tập trung nghiên cứu và tìm ra cácgiải
pháp nâng cao lợi nhuận hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 241.2.2.2 Xác định tỷ suất lợi nhuận (LN/DT; LN/TS; LN/VCSH)
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp có tồn tại và phát triển đượchay không phụ thuộc rất lớn vào việc doanh nghiệp có tạo ra được lợi nhuậnhay không Lợi nhuận là một chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính của doanhnghiệp, là nguồn quan trọng để doanh nghiệp tái đầu tư mở rộng sản xuất, lànguồn để thực hiện tái sản xuất xã hội Tuy vậy lợi nhuận không phải là chỉtiêu
duy nhất để đánh giá chất lượng hoạt động của một doanh nghiệp, mà người tathường kết hợp chỉ tiêu lợi nhuận với các chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận như tỷsuất lợi nhuận trên doanh thu, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ hữu
Tỷ suất lợi nhuận là chỉ tiêu tương đối cho phép so sánh hiệu quả sảnxuất kinh doanh giữa các thời kỳ khác nhau, giữa kế hoạch với thực tế trongmột doanh nghiệp hoặc giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành nghềkinh
doanh Tỷ suất lợi nhuận càng cao cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanhcàng có hiệu quả
Là chỉ tiêu tương đối phản ánh quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận trước thuếhoặc sau thuế của sản phẩm tiêu thụ với doanh thu tiêu thụ sản phẩm đạt đượctrong kỳ
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = Lợi nhuận/Doanh thu (%)Chỉ tiêu này phản ánh trong 100 đơn vị doanh thu có bao nhiêu đơn vịlợi nhuận Tỷ suất này càng cao, hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao
Là chỉ tiêu tương đối phản ánh quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế với
số vốn mà chủ sở hữu bỏ ra trong quá trình kinh doanh, được ký hiệu là ROE:
ROE = LNST/Vốn chủ sở hữu (%)
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là một chỉ tiêu quan trọng đượccác nhà quản trị tài chính đặc biệt quan tâm, chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng
Trang 25vốn chủ sở hữu bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh sẽ thu được baonhiêu đồng lợi nhuận Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu càng cao chứng
tỏ hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ngày càng lớn.Chỉ tiêunày phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu và được các nhà đầu tưđặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp Tăngmức doanh lợi vốn chủ sở hữu là một mục tiêu quan trọng nhất trong hoạtđộng quản lý tài chính doanh nghiệp
> Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh quan hệ giữa lợi nhuận sau thuế với tổng tài sảncủa doanh nghiệp và được ký hiệu là ROA
ROA = LNST/Tài sản (%)Hoặc
ROA = EBIT/Tài sản (%)
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản phản ánh cứ một đồng tài sản màdoanh nghiệp dùng vào sản xuất kinh doanh trong kỳ thì tạo ra được baonhiêu đồng lợi nhuận Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất dùng để đánh giá khảnăng sinh lợi của một đồng vốn đầu tư Chỉ tiêu này cao cho biết tài sản được
sử dụng hiệu quả để tạo ra được lợi nhuận, ngược lại chỉ tiêu này càng thấpchứng tỏ doanh nghiệp chưa khai thác hết hiệu quả sử dụng tài sản, doanhnghiệp cần có những chính sách sử dụng tài sản hợp lý hơn
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP
1.3.1 Nhóm nhân tố chủ quan
1.3.1.1 Quản lý vốn của doanh nghiệp
Nói đến quản lý vốn của doanh nghiệp là đề cập tới các hình thức huyđộng vốn, tìm kiếm các nguồn tài trợ và xây dựng cơ cấu vốn
Trang 26Việc xác định được một cơ cấu vón hợp lý sẽ tác động tới lợi nhuậncũng như tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp thông qua hiệu quả của đòn bẩytài chính Một doanh nghiệp khi có nhu cầu về vốn để đầu tư cho hoạt độngsản xuất kinh doanh sẽ đặt ra câu hỏi nên tài trợ bằng vốn chủ sở hữu hay tàitrợ bằng nợ Tài trợ bằng vốn chủ sở hữu có ưu điểm là giúp doanh nghiệpkhông bị phụ thuộc vào bên ngoài, tuy nhiên chi phí vốn chủ sở hữu luôn caohơn chi phí nợ, hơn nữa không phải doanh nghiệp nào cũng có nguồn tiền dồidào để có thể sử dụng 100% vốn chủ sở hữu để tài trợ cho các hoạt động củamình Đó là lý do giải thích vì sao mà trong nền kinh tế hầu hết các doanhnghiệp đều thực hiện vay nợ thông qua hệ thống các tổ chức tín dụng Tỷ lệ
nợ vay trên vốn chủ sở hữu hay trên tổng tài sản cao hay thấp tùy thuộc vàoviệc xác định cơ cấu vốn hợp lý của từng doanh nghiệp
• Chi phí nợ rẻ hơn chi phí vốn chủ sở hữu
• Chi phí trả lãi vay là một khoản chi phí hợp lý, do đó sẽ giúp doanhnghiệp có được một khoản tiết kiệm thuế Khoản tiết kiệm thuế này được xácđịnh bằng công thức: T*lãi vay (T là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp)
Tuy nhiên vì sử dụng nợ có tiềm ẩn những rủi ro tài chính khi doanhnghiệp hoạt động không tốt và không có đủ khả năng thanh toán gốc và lãicho tổ chức tín dụng/chủ nợ Vậy doanh nghiệp cần căn cứ vào đâu để xácđịnh có nên vay nợ hay không?
• Khi EBIT/Tổng tài sản (ROA) < lãi suất vay nợ: doanh nghiệpkhông nên sử dụng nợ
• Khi EBIT/Tổng tài sản (ROA) > lãi suất vay nợ: doanh nghiệp nên
Trang 271.3.1.2 Hiệu quả của hoạt động đầu tư
Hoạt động đầu tư có tác động trực tiếp tới tổng tài sản của doanhnghiệp Mục đích của doanh nghiệp khi đầu tư tài sản lưu động là để đáp ứngnhu cầu sản xuất kinh doanh hàng ngày, mục đích khi đầu tư TSCĐ là trang
bị máy móc, thiết bị, công nghệ mới nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh Vìđầu tư tài sản lưu động diễn ra liên tục trong quá trình tác nghiệp và đưa lạikết quả trong ngắn hạn nên khi nói tới hiệu quả của hoạt động đầu tư người tathường đề cập tới hiệu quả của đầu tư TSCĐ Một hoạt động đầu tư TSCĐđược xem là hiệu quả khi không những đem lại lợi nhuận dương cho doanhnghiệp mà lợi nhuận đó còn phải tương xứng với số tiền đã bỏ ra Vấn đề đó
có liên quan rất lớn tới hoạt động thẩm định tính khả thi của dự án, trong đó
có thẩm định ở khía cạnh tài chính
Đối với hoạt động đầu tư theo các dự án dài, việc phân tích hiệu quả tàichính của dự án được căn cứ vào việc tính toán chỉ tiêu NPV, IRR, thời gianhoàn vốn :
Nếu NPV >0: có nghĩa dự án đem lại dòng tiền dương cho doanhnghiệp và nên đầu tư vào dự án
Nếu NPV <0: có nghĩa dự án đem lại dòng tiền âm cho doanh nghiệp
và không nên đầu tư cho dự án
Nếu IRR > tỷ lệ chiết khấu của dự án: thì nên đầu tư vào dự án
Nếu IRR < tỷ lệ chiết khấu của dự án: không nên đầu tư vào dự ánKhi doanh nghiệp có nhiều dự án khác nhau để lựa chọn thì việc quyếtđịnh dự án nào sẽ dựa trên cơ sở so sánh NPV, IRR và thời gian hoàn vốn củatừng dự án Dự án nào có NPV, IRR cao hơn sẽ được lựa chọn Tuy nhiên cónhững trường hợp có thể NPV của dự án này cao hơn NPV của dự án khácnhưng IRR lại thấp hơn Khi đó việc lựa chọn sẽ được căn cứ vào lãi suấtchiết khấu của dự án cũng như tiêu chí nào được doanh nghiệp cho rằng quantrọng hơn
Trang 28Việc phân tích NPV, IR là cho cả vòng đời của dự án Hàng năm,doanh nghiệp vẫn có thể xác định được tác động của việc đầu tư TSCĐ tới lợinhuận của doanh nghiệp thông qua chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên tài sản ROA.
Nếu ROA trước khi thực hiện dự án nhỏ hơn so với ROA sau khi thựchiện dự án có nghĩa dự án làm tăng hiệu quả sinh lời trên tài sản của doanhnghiệp
Nếu ROA trước khi thực hiện dự án lớn hơn ROA sau khi thực hiện dự
án có nghĩa dự án làm tăng hiệu quả sinh lời trên tài sản của doanh nghiệp
1.3.1.3 Khối lượng sản phẩm/dịch vụ tiêu thụ
Giả sử giá vốn bình quân trên một sản phẩm hàng hóa/ dịch vụ khôngđổi, chi phí bán hàng, quản lý doanh nghiệp không đổi thì lợi nhuận từ hoạtđộng sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp sẽ tăng lên cùng với sựtăng lên của khối lượng sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ, do lợi nhuận trung bìnhtrên một sản phẩm hàng hóa tăng
LN trung bình trên DT trung bình mà Chi phí trung bình
-1 sản phẩm hàng hóa -1 sản phẩm đem lại cho 1 sản phẩm
Tổng LN từ hoạt động LN trung bình Khối lượng sản
cung cấp HHDV trên 1 SP HH phẩm HH tiêu thụ
Đối với các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm hàng hóa/ dịch vụ chongười tiêu dùng thì việc tiêu thụ được ít hay nhiều sản phẩm phụ thuộc vào rấtnhiều yếu tố như cầu thị trường, công tác bán hàng, chất lượng sản phẩm, cáchoạt động quảng cáo, khuếch trương
Khối lượng sản phẩm/ dịch vụ tiêu thụ được lại phụ thuộc vào các yếu
tố sau:
- Giá bán sản phẩm
- Chất lượng sản phẩm
Trang 29Như đã đề cập ở trên chất lượng sản phẩm hiện nay là yếu tố rất quantrọng tác động tới hành vi người tiêu dùng Một sản phẩm hàng hóa có chấtlượng tốt có giá cả hợp lý, thậm chí có thể cao hơn so với các sản phẩm cùngloại khác có chất lượng không bằng sẽ hấp dẫn người tiêu dùng hơn, đặc biệtvới đối tượng khách hàng có mức thu nhập khá trở lên Ngược lại một sảnphẩm có chất lượng không tốt, kém hơn so với sản phẩm cùng loại của doanhnghiệp khác sẽ chỉ thu hút được đối tượng khách hàng có mức thu nhập thấp
và trung bình Chất lượng sản phẩm tác động trực tiếp tới việc xác định giásản phẩm và khối lượng sản phẩm tiêu thụ, theo đó tác động tới doanh thu vàlợi nhuận của doanh nghiệp
Tất cả các doanh nghiệp đều mong muốn có chất lượng sản phẩm tốt
mà giá cả lại hợp lý để hấp dẫn người tiêu dùng Đó là mục tiêu khó và đôikhi doanh nghiệp phải chấp nhận một sự đánh đổi Tùy thuộc vào sản phẩmcủa doanh nghiệp là gì, nội lực của doanh nghiệp đến đâu mà nhà quản lý sẽxác định một mức chất lượng và giá cả phù hợp, đồng thời lựa chọn phânđoạn thị trường mà sản phẩm của doanh nghiệp mình có thể cạnh tranh và tiêuthụ tốt nhất Các công ty lớn với nhiều dòng sản phẩm khác nhau, chất lượngkhác nhau cũng xây dựng các chiến lược xâm nhập thị trường khác nhau chotừng dòng sản phẩm Ví dụ sản phẩm thuộc dòng cao cấp sẽ được tiêu thụ ởcác thành phố lớn, các sản phẩm dòng cao cấp thấp sẽ được tiêu thụ ở thịtrường tỉnh Việc phân đoạn thị trường không chỉ theo địa bàn mà còn theolứa tuổi, giới tính
1.3.1.4 Công tác bán hàng và các dịch vụ sau bán hàng
Bán hàng là khâu quan trọng của chuỗi quy trình từ khi tập hợp yếu tốsản xuất, sản xuất đến tiêu thụ bởi đây là khâu trực tiếp quan hệ với ngườitiêu dùng, trực tiếp đem lại doanh thu cho doanh nghiệp Ở nhiều d oanhnghiệp bộ phận bán hàng được tách thành phòng ban riêng và có vai trò, vị trí
Trang 30lớn Các đội bán hàng có trách nhiệm phát triển các kênh bán hàng, phân phốisản phẩm, điều tiết lượng hàng cung ứng để đáp ứng nhu cầu thị trường.Doanh số bán của công ty phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả hoạt động của mảngbán hàng Nếu mảng bán hàng hoạt động hiệu quả, phát triển được nhiều kênhbán hàng đa dạng, xâm nhập được vào các thị trường mới thì hiển nhiêndoanh số bán của công ty tăng Ngược lại doanh số giảm.
Sau khi tiêu thụ sản phẩm, không phải doanh nghiệp đã hết tráchnhiệm, đối với nhiều loại sản phẩm doanh nghiệp còn phải chăm sóc kháchhàng, có những dịch vụ hậu mãi đối với khách hàng Do đó các dịch vụ saubán hàng tốt hay không tốt ảnh hưởng rất nhiều tới doanh số bán của công ty.Khi công ty có dịch vụ hậu mãi tốt sẽ tạo ấn tượng cho người tiêu dùng, mặc
dù có thể họ không bao giờ cần dùng tới những dịch vụ đó nếu chất lượng sảnphẩm tốt Các công ty lớn trên thế giới là những công ty có dịch vụ sau bánhàng tốt, đội ngũ chăm sóc khách hàng chu đáo, có trình độ không chỉ vềchuyên môn mà còn trong kỹ năng giao tiếp, ứng xử Một công ty có dịch vụchăm sóc khách hàng tốt sẽ gây được cảm tình với khách hàng Một kháchhàng có cảm tình sẽ giới thiệu với những khách hàng tiềm năng khác Tự bảnthân dịch vụ biến một khách hàng trở thành một người quảng cáo cho công ty
Do đó dịch vụ tốt sẽ là một quảng cáo tốt, dịch vụ không tốt sẽ là một quảngcáo không tốt Các doanh nghiệp hiện nay đã nhận thức được rằng không phải
“bán cái mình có” mà là “bán cái khách hàng cần”, đặt khách hàng ở vị trítrung tâm và cố gắng hết sức để đáp ứng nhu cầu khách hàng trong mối cânđối hài hòa với lợi ích của công ty và lợi ích xã hội
Trang 31phẩm tăng, khối lượng tiêu thụ và ngược lại khi giá bán sản phẩm giảm, khốilượng tiêu thụ tăng Tùy thuộc vào tốc độ tăng/giảm của giá bán so với tốc độtăng/giảm của khối lượng tiêu thụ mà doanh thu tăng hoặc giảm Hay nói cáchkhác doanh thu tăng hay giảm khi giá bán sản phẩm thay đổi phụ thuộc vào
độ co giãn giữa khối lượng tiêu thụ và giá bán
Hiện nay khi mức sống của người tiêu dùng ngày càng tăng, xu hướnglựa chọn sản phẩm không chỉ dựa vào giá cả mà còn rất quan tâm tới chấtlượng sản phẩm như thế nào, có tốt hay không Phương châm “tiền nào củađấy” được người tiêu dùng nhận thức khá rõ Họ sẵn sàng bỏ ra một số tiềnlớn để mua 1 sản phẩm cùng loại mà họ cho rằng tốt hơn, đặc biệt là với sảnphẩm lên quan đến sưc khỏe Khi một sản phẩm bỗng nhiên giảm giá đột ngột
có thể khiến người tiêu dùng đặt ra câu hỏi liệu có phải chất lượng sản phẩmkém hơn hay đó là các sản phẩm tồn kho Vì vậy khi có quyết sách giảm giádoanh nghiệp cần tính toán mức giảm giá phù hợp và có những thông điệp tớikhách hàng để khách hàng không nghi ngờ về chất lượng sản phẩm, đồng thờikhông ngừng giữ ổn định chất lượng sản phẩm
1.3.1.6 Năng lực quản lý chi phí
Vì một trong những yếu tố tác động mạnh nhất tới chi phí của doanhnghiệp là chi phí đầu vào lại phụ thuộc lớn vào thị trường, doanh nghiệp rấtkhó chủ động trong việc điều tiết giá cả Do đó, yếu tố thuộc về bản thândoanh nghiệp tác động tới chi phí có thể kể đến là năng lực quan lý chi phícủa doanh nghiệp
Năng lực quản lý chi phí được thể hiện ở các khía cạnh: Khả năng dựbáo tình hình, khả năng xây dưng kế hoạch chi phí, nó còn thể hiện ở viecjnhà quản lý doanh nghiệp có tuyên truyền được tới cán bộ nhân viên trongcông ty ý thức tiết kiệm, không lãng phí trong việc sử dụng các nguồn lực củacông ty hay không Khi mỗi cán bộ công nhân viên trong công ty có ý thức
Trang 32tiết kiệm sẽ tạo động lực cho sự ra đời các sáng kiến trong sản xuất nhằm tối
ưu hóa các khoản chi phí
1.3.1.7 Năng lực của nhà quản lý doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, năng lực của nhà quản lý doanh nghiệp cótác động rất lớn tới thành bại của doanh nghiệp đó Năng lực quản lý của nhàquản lý thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau:
Khả năng hoạch định chiến lược phát triển cho doanh nghiệp trongtừng giai đoạn cụ thể
Quản lý tài chính: gốm có quản lý vốn, quản lý tài sản, quản lý đầu tư,quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận, quản lý rủi ro
Quản lý hoạt động bán hàng và sau bán hàng cũng như hoạt độngMarketing của doanh nghiệp
Quản lý nguồn nhân lực: năng lực quản lý nguồn nhân lực của nhàquản lý doanh nghiệp thể hiện ở khả năng thu hút người tài và giữ người tàigắn bó với công ty
1.3.1.8 Chất lượng nguồn nhân lực
Vì con người là chủ thể trực tiếp thực hiện hoạt động sản xuất kinhdoanh hàng ngày của doanh nghiệp nên chất lượng của nguồn nhân lực sẽquyết định tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói chung và lợi nhuậndoanh nghiệp nói riêng Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện ở các tiêuchí như trình độ đào tạo chuyên môn, trình độ ngoại ngữ, khả năng thích ứngvới công việc, khả năng tiếp cận công nghệ mới., và một tiêu chí quan trọngnữa là tinh thần thái độ, ý thức làm việc
Nếu như doanh nghiệp có được một đội ngũ giỏi về chuyên môn nghiệp
vụ đồng thời có ý thức gắn bó cống hiến cho doanh nghiệp thì đó sẽ là tiền đề
cơ bản để doanh nghiệp đạt được những thành công trong kinh doanh Ngượclại, nếu như doanh nghiệp có được chiến lược kinh doanh tốt, các điều kiện về
Trang 33vốn, công nghệ tốt nhưng đội ngũ lao động không có trình độ, không muốnphấn đấu vì lợi ích của công ty, không đặt mục tiêu của công ty lên hàng đầuthì doanh nghiệp đó sẽ thất bại hoặc nếu có thành công thì thành công đó chắcchắn không được kỳ vọng cũng như tiềm năng của công ty.
1.3.2 Nhóm nhân tố khách quan
Đế đạt được các mục tiêu đặt ra, doanh nghiệp cần phải có những quyếtđịnh về tổ chức hoạt động sản xuất và vận hành quá trình trao đổi Mọi quyếtđịnh đều phải gắn kết với môi trường xung quanh Bao quanh doanh nghiệp làmột môi trường kinh tế - xã hội phức tạp và luôn biến động Có thể kể tới một
số nhân tố khách quan tác động tới hoạt động của doanh nghiệp:
1.3.2.1 Chính sách của Nhà nước, các Bộ ngành đối với lĩnh vực kinh doanh
Tất cả các doanh nghiệp đều phải hoạt động theo các Luật, quy định vàchính sách của Nhà nước Khi các quy định và chính sách thay đổi, các doanhnghiệp cũng phải thay đổi cho phù hợp Mỗi doanh nghiệp muốn hoạt độngđược hiệu quả và thông suốt luôn phải bám sát các chính sách của Nhà nướcbởi các chính sách đối với ngành, lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp sẽ
Trang 34tác động trực tiếp tới việc sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm của doanhnghiệp đó Ví dụ đối với doanh nghiệp sản xuất mũ vải thì việc nắm bắt kịpthời quy định, chính sách của Nhà nước về việc đội mũ bảo hiểm đối với tất
cả các phương tiện moto, xe máy sẽ giúp doanh nghiệp đánh giá được thịtrường trong thời gian tới cũng như vạch ra các hướng kinh doanh mới.Ngược lại đối với các doanh nghiệp sản xuất mũ bảo hiểm thì quy định, chínhsách này lại là cơ hội để mở rộng sản xuất Hay một ví dụ khác trong Chiếnlược quốc gia phát triển ngành Dược Việt Nam giai đoạn đến năm 2020 vàtầm nhìn đến năm 2030 của Chính phủ đã đưa ra nhiều giải pháp, trong đó,giải pháp về xây dựng pháp luật, chính sách cần thực hiện là nghiên cứu sửađổi, bổ sung Luật dược nhằm khuyến khích sản xuất và sử dụng thuốc trongnước, chuẩn hóa điều kiện kinh doanh thuốc, áp dụng các tiêu chuẩn thựchành tốt (GPs), cung ứng, đấu thầu, quản lý chặt chẽ giá thuốc, như vậy thìcác doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực dược phẩm sẽ phải đặt ra mụctiêu và hướng kinh doanh sắp tới cho doanh nghiệp mình
1.3.2.2 Thị trường yếu tố đầu vào
Yếu tố đầu vào của doanh nghiệp bao gồm nguyên vật liệu, nhiên liệu,nhân công Giá cả yếu tố đầu vào ảnh hưởng tới chi phí của doanh nghiệp,kéo theo ảnh hưởng tới giá cả sản phẩm, dịch vụ doanh nghiệp sẽ cung cấpcho thị trường Thực tế cho thấy nhiều trường hợp vì giá cả đầu vào quá cao
đã khiến các doanh nghiệp lao đao, thâm chí đứng trước nguy cơ phá sản Tất
cả các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với vấn đề tối ưu hóa chi phí đầu vào,làm thế nào để tìm kiếm được nguồn đầu vào ổn định, chất lượng tốt mà giá
cả lại hợp lý nhất Đó là bài toán khó mà mỗi doanh nghiệp thường xuyênphải dự báo và tính toán cho từng thời kỳ nhất định Việc điều tiết giá cảkhông chỉ phụ thuộc vào bản thân mỗi doanh nghiệp mà còn cần tới sự điềutiết của các hiệp hội ngành nghề và cao hơn nữa là sự điều tiết vĩ mô của Nhà
Trang 35nước Thực tế hiện DN dược trong nước vẫn phụ thuộc nhiều vào nguyên liệunhập khẩu, chưa đầu tư các nhà máy hóa dược và các vùng nguyên liệu tậptrung Do vậy chúng ta vẫn nhập khẩu 60% lượng thuốc Khi giá cả đầu vàotăng cao, các doanh nghiệp phải xác định mức giá bán sẽ là bao nhiêu, vớimức giá bán đó thì sản lượng tiêu thụ thay đổi như thế nào, tương quan giữagiá bán tăng và sản lượng giảm là bao nhiêu Khi giá cả đầu vào giảm, doanhnghiệp có điều kiện để giảm giá bán và tỷ lệ tăng sản lượng tiêu thụ để đảmbảo doanh thu đạt được tăng lên Nếu tỷ lệ giá bán giảm lớn hơn tỷ lệ sảnlượng tiêu thụ thì doanh thu giảm, và ngược lại thì doanh thu tăng.
Thị trường yếu tố đầu vào không chỉ là thị trường yếu tố sản xuất nhưnguyên vật liệu, nhiên liệu mà còn là thị trường vốn, thị trường lao động.Thị trường vốn là nơi cung cấp cho doanh nghiệp các sự lựa chọn về nguồntài trợ, vay nợ bằng tín dụng ngân hàng, bằng phát hành trái phiếu, hay tài trợthông qua việc phát hành thêm vốn cổ phần Thị trường lao động là nơi cungcấp cho doanh nghiệp những người trực tiếp tác nghiệp vận hành hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Bất kỳ sự thay đổi nào của các thịtrường cung cấp yếu tố đầu vào này đều trực tiếp gây ra những tác động tớidoanh thu hoặc chi phí hoặc cả doanh thu và chi phí, từ đó làm thay đổi lợinhuận của doanh nghiệp
1.3.2.3 Đối thủ cạnh tranh
Nói đến đối thủ cạnh tranh là đề cập tới đối thủ cạnh tranh sản xuất,cung cấp cùng một sản phẩm hàng hóa, dịch vụ và đối thủ cạnh tranh sảnxuất, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ thay thế Trong bối cảnh kinh tế thịtrường ngày càng rõ nét, công thêm xu hướng hội nhập như hiện nay, độcquyền của một doanh nghiệp ở một lĩnh vực nào đó gần như là không còn, cácdoanh nghiệp phải đối mặt với sức ép cạnh tranh ngày càng tăng, phải khôngngừng đổi mới bản thân, không ngừng cải thiện để giữ vững cũng như nâng
Trang 36cao vị trí của mình trên thương trường Mỗi một động thái dù là nhỏ của đốithủ cạnh tranh cũng có thể ảnh hưởng tới doanh thu, lợi nhuận của doanhnghiệp Có thể lấy ví dụ, về đấu thầu thuốc khi Việt Nam tham gia vào TPP.Việc đấu thầu sẽ công khai, các hãng dược trên thế giới tham gia bình đẳngvới các DN trong nước nên sẽ có cạnh tranh khốc liệt và phần thua chắc chắn
sẽ rơi vào DN nội khi công nghiệp dược của chúng ta còn yếu, phụ thuộcnhiều vào nguyên liệu Đây là thách thức không nhỏ cho các DN trong nướcvốn lâu nay vẫn chưa quan tâm đầu tư công nghệ, nghiên cứu và lệ thuộc vàonguồn nguyên liệu nước ngoài
Cạnh tranh gay gắt một mặt là bài toán, là những khó khăn mà doanhnghiệp phỉa tìm lời giải đáp để vượt qua, một mặt cũng là động lực thúc đẩydoanh nghiệp đổi mới và cải tiến trong hoạt động của mình
1.3.2.4 Công nghệ
Doanh nghiệp luôn phải đối đầu với công nghệ Sự phát triển của côngnghệ là một yếu tố góp phần thay đổi phương thức sản xuất, tạo ra nhiều kỹthuật mới dẫn tới những thay đổi mạnh mẽ trong quản lý doanh nghiệp.Doanh nghiệp nào nắm bắt được công nghệ thì doanh nghiệp đó sẽ chiếm ưuthế trong cạnh tranh
1.3.2.5 Khách hàng
Mục tiêu của tất cả các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm dịch vụ làthỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng Vì vậy mọi sự thay đổi trong xuhướng tiêu dùng, trong cách nhìn nhận, tâm lý của khách hàng đều có tácđộng rất lớn tới việc tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ khác nhau thì nhu cầu củakhách hàng sẽ thay đổi theo các chiều hướng khác nhau và đó chính là yếu tốmấu chốt mà mỗi doanh nghiệp cần phải nắm bắt Ví dụ với các mặt hàngthuốctâm lý “sính ngoại” của người dân cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đốivới thị trường thuốc nội Tâm lý này đã ăn sâu vào tiềm thức của đại đa số
Trang 37dân chúng, nhiều người nghĩ rằng thuốc ngoại thì hơn hẳn thuốc nội về mặtchất lượng Do đó giá thuốc ngoại cao hơn nhiều lần so với thuốc sản xuấttrong nước nhưng họ vẫn có thể chấp nhận Chính ví vậy họ đã góp phầntrong việc các doanh nghiệp nhập khẩu và sản xuất thuốc tăng giá
1.3.2.6 Đối tác
Đối tác của một doanh nghiệp có thể là đối tác góp vốn Doanh nghiệpthường phải đáp ứng được đòi hỏi của các đối tác về mức vốn chủ sở hữutrong cơ cấu vốn Sự tăng, giảm vốn chủ sở hữu có tác động đáng kể tới hoạtđộng của doanh nghiệp Đối tác của doanh nghiệp cũng có thể là các đối táchợp tác trong kinh doanh Hiệu quả hoạt động của các đối tác sẽ gián tiếp ảnhhưởng tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Việc nghiên cứu lợi nhuận thông qua phân tích các chỉ tiêu, và các nhân
tố ảnh hưởng là cơ sở để doanh nghiệp đề ra các giải pháp nhằm gia tăng lợinhuận một cách ổn định và bền vững Các chương tiếp theo của luận văn phântích thực trạng lợi nhuận tại Công ty cổ phần Dược phẩm Hưng Yên sẽ là một
ví dụ minh họa cho lý luận về lợi nhuận đã trình bày tại chương 1
1.4 ĐẶC THÙ VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÀNH DƯỢC
- Chính sách giá:Theo quy định của Bộ Y tế ban hành ngày 31/8/2007
thì nhà nước quản lý giá thuốc theo nguyên tắc các cơ sở sản xuất, nhập khẩubán buôn và bán lẻ tự định giá, cạnh tranh về giá và chịu sự kiểm tra kiểmsoát của cơ quan nhà nước Việc kê khai giá thuốc là do cơ sở kinh doanh báocáo với cơ quan nhà nước về giá nhập khẩu, giá bán buôn và giá bán lẻ dựkiến Tất cả các công ty không được tự phép nâng giá thuốc mà không có sựcho phép của Bộ y tế Theo quy định các cơ sở bán buôn và bán lẻ thuốc phảiniêm yết giá bán và không được bán cao hơn giá đã niêm yết Mức giá niêmyết bán dựa trên mức giá do cơ sở sản xuất, giá nhập khẩu đã kê khai với cơquan quản lý dược phẩm
Trang 38- Quyền phân phối: Kể từ 1/1/2009 các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài và chi nhánh doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ đượcphép trực tiếp xuất khẩu mà không phải thông qua nhập khẩu ủy thác và uỷthác nhập khẩu Tuy nhiên, các doanh nghiệp nước ngoài vĩnh viễn khôngđược phép phân phối trực tiếp dược phẩm tại Việt Nam mà phải bán lại chocác doanh nghiệp Việt Nam có chức năng phân phối Như vậy, các doanhnghiệp nước ngoài và chi nhánh doanh nghiệp nước ngoài Việt Nam nhậpkhẩu trực tiếp sẽ phải bán lại cho các doanh nghiệp trong nước có chức năngphân phối
- Bản quyền: Tự do hoá thương mại cũng làm tăng nguy cơ tranh chấp
pháp lý về quyền sở hữu công nghiệp giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanhnghiệp nước ngoài Các doanh nghiệp Việt Nam vốn ít kinh nghiệm trên thịtrường quốc tế sẽ có thể gặp tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ đốivới các sản phẩm thuốc nhập khẩu, công nghệ sản xuất và các phát minh, sángchế Khi gia nhập WTO Việt Nam phải cam kết bảo mật dữ liệu lâm sàng cótrong hồ sơ đăng ký của các thuốc mới trong thời hạn 5 năm và bảo hộ cácphát minh sáng chế trong 20 năm
- Nguyên liệu: Ngành dược Việt Nam vẫn đang trong tình trạng pháttriển mất cân đối, mới tập trung vào công nghiệp bào chế thuốc trong khikhông xây dựng được ngành sản xuất nguyên liệu Hiện nay, nguồn nguyênliệu cho sản xuất thuốc trong nước vẫn phải nhập khẩu đến 90% Tình trạngthiếu cung nguyên liệu sản xuất trong nước vẫn không được khắc phục khi tốc
độ tăng trưởng của nguyên liệu nhập khẩu hàng năm vẫn tăng nhanh hơn tốc
độ tăng của thuốc sản xuất Việc phụ thuộc quá nhiều vào nguồn dược liệunước ngoài khiến cho giá thuốc trong nước luôn chịu tác động từ biến độnggiá của thế giới và tỷ giá giữa VND và ngoại tệ
Trang 39KẾT LUẬN CHƯƠNG 1Chương 1 luận văn tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản
về lợi nhuận của doanh nghiệp như: khái niệm, cách xác định lợi nhuận của
DN, các nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp.Qua đó, luận văn khẳng định được sự cần thiết phải nâng cao lợi nhuận đốivới mỗi doanh nghiệp
Đây là cơ sở lý thuyết quan trọng, là nền tảng để phân tích thực trạnglợi nhuận tại Công ty cổ phần Dược phẩm Hưng Yên trong chương 2
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY
DƯỢC PHẨM HƯNG YÊN 2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY DƯỢC PHẨM HƯNG YÊN
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Công ty Dược phẩm Hưng Yên
Công ty Cổ phần dược phẩm Hưng Yên (gọi tắt là Công ty Dược phẩmHưng Yên), tiền thân là doanh nghiệp nhà nước duy nhất của tỉnh, được thànhlập từ năm 1960 Hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh thuốc, vật tư
y tế, phục vụ cho nhu cầu bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân địa phương.Năm 2005 được chuyển đổi sang Công ty Cổ phần theo Nghị định 64/ 2002/
CP của Chính phủ, Công ty chính thức hoạt động theo mô hình Công ty Cổphần từ ngày 01/ 01/ 2005
Địa điểm trụ sở chính: Tại số 154, đường Điện Biên I, phường Lê Lợi,thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên
Công ty có 04 phòng chức năng, 01 phân xưởng sản xuất pha chế và 09chi nhánh trực thuộc có trụ sở tại trung tâm các huyện trong tỉnh, với gần 100điểm bán lẻ hoạt động rộng khắp trong toàn tỉnh
2.1.2 Cơ cấu tổ chức Công ty Dược phẩm Hưng Yên
Công ty Dược phẩm Hưng Yên là một đơn vị hạch toán độc lập, mỗiphòng ban của công ty đảm nhiệm các nhiệm vụ khác nhau vì vậy mỗi phòngban lại có những chức năng, nhiệm vụ riêng nhưng đồng nhất với chức năng,nhiệm vụ tổng thể của toàn công ty