Bên cạnh đó cũng có nhiềudoanh nghiệp thuộc các ngành kinh tế khác nhau đã đạt được thành công,khẳng định vị trí của mình trên thị trường trong nước và thế giới nhờ tậndụng được cơ hội s
TỔNG QUAN VỀ VỐN KINH DOANH VÀ NGUỒN HÌNH THÀNH VỐN KINH DOANH CỦADOANHNGHIỆP
Khái niệm về vốn kinh doanh
Để hoạt động sản xuất kinh doanh thực sự hiệu quả, điều đầu tiên mà các doanh nghiệp quan tâm là có đủ vốn và sử dụng vốn ấy một cách tối ưu để mang lại hiệu quả cao nhất Vốn được hiểu là nguồn lực tài chính cần thiết để bắt đầu và duy trì các hoạt động sản xuất–kinh doanh, từ mua máy móc và nguyên vật liệu đến chi phí vận hành và thanh toán nợ, đồng thời vừa duy trì vừa mở rộng quy mô Vậy vốn là gì và các doanh nghiệp cần bao nhiêu vốn để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của mình?
Vốn đóng vai trò là yếu tố cơ bản và tiền đề không thể thiếu của quá trình sản xuất và kinh doanh Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều bắt đầu từ nguồn vốn để huy động các yếu tố đầu vào thiết yếu Vốn được dùng để mua sắm các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, gồm sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động, nhằm đảm bảo hoạt động sản xuất diễn ra liên tục và hiệu quả, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Vốn kinh doanh thường xuyên vận động và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau trong các khâu của hoạt động sản xuất kinh doanh Nó có thể là tiền, máy móc thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm khi kết thúc một vòng luân chuyển thì vốn kinh doanh lại trở về hình thái tiền tệ Như vậy, với số vốn ban đầu, nó không chỉ được bảo tồn mà còn được tăng lên do hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi.
Vốn kinh doanh là đại diện bằng tiền cho toàn bộ giá trị các tài sản được doanh nghiệp huy động và sử dụng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm mục đích sinh lời Vốn này cho biết quy mô nguồn lực tài chính mà doanh nghiệp có thể huy động và triển khai để đạt được lợi nhuận từ quá trình sản xuất – kinh doanh Vì vậy, quản trị vốn hiệu quả đóng vai trò then chốt trong việc tối ưu hóa lợi nhuận và duy trì hoạt động kinh doanh bền vững.
Nhưng tiền không phải là vốn Nó chỉ trở thành vốn khi có đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất, tiền phải đại diện cho một lượng hàng hoá nhất định hay nói cách khác, tiền phải được đảm bảo bằng một lượng hàng hoá có thực.
Thứ hai, tiền phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định.
Có được một nguồn vốn đủ lớn mới tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư cho một dự án kinh doanh dù là nhỏ nhất Khi tiền bị rải rác ở nhiều nơi mà không được tập hợp thành một khoản vốn lớn thì sẽ không thể phát huy hiệu quả Vì vậy, để khởi sự kinh doanh, doanh nghiệp cần có một mức vốn pháp định đủ lớn Muốn kinh doanh tốt và bền vững, doanh nghiệp phải biết cách gom vốn thành một nguồn lực tập trung để đầu tư vào phương án sản xuất của mình.
Thứ ba, khi có đủ một lượng nhất định thì tiền phải được vận động nhằm mục đích sinh lời.
Từ những vấn đề trên ta thấy vốn có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, vốn là hàng hoá đặc biệt vì các lý do sau:
- Vốn là hàng hoá vì nó có giá trị và giá trị sử dụng.
+ Giá trị của vốn được thể hiện ở chi phí mà ta bỏ ra để có được nó.
+ Giá trị sử dụng của vốn thể hiện ở việc ta sử dụng nó để đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh như mua máy móc, thiết bị vật tư, hàng hoá
Hàng hóa đặc biệt được nhận diện bởi sự tách biệt rõ ràng giữa quyền sử dụng và quyền sở hữu Khi mua loại hàng hóa này, người tiêu dùng chỉ được quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu, và quyền sở hữu vẫn thuộc về chủ sở hữu ban đầu Sự phân chia quyền này cho phép khai thác giá trị sử dụng mà không làm mất quyền sở hữu của chủ sở hữu, đem lại sự khác biệt rõ rệt so với hàng hóa thông thường nơi quyền sử dụng đi kèm với quyền sở hữu.
Tính đặc biệt của vốn còn thể hiện ở chỗ: Trong quá trình sử dụng vốn có khả năng tạo ra giá trị lớn hơn bản thân nó Chính vì vậy, giá trị của nó phụ thuộc vào lợi ích cận biên của của bất kỳ doanh nghiệp nào Điều này đặt ra nhiệm vụ đối với các nhà quản trị tài chính là phải làm sao sử dụng tối đa hiệu quả của vốn để đem lại một giá trị thặng dư tối đa, đủ chi trả cho chi phí đã bỏ ra mua nó nhằm đạt hiệu quả lớn nhất.
Thứ hai, vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định chứ không thể có đồng vốn vô chủ.
Thứ ba, vốn phải luôn luôn vận động sinh lời.
Thứ tư, vốn phải được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy tác dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
Tuỳ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp mà có một lượng vốn nhất định, khác nhau giữa các doanh nghiệp.
Phân loại vốn
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải chi tiêu cho vật tư, nguyên vật liệu, hao mòn máy móc thiết bị và trả lương cho nhân viên, đó là các chi phí cần bỏ ra để đạt được mục tiêu kinh doanh Những chi phí này phát sinh với tính chất thường xuyên, liên tục và gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp, đòi hỏi quản lý chi phí sản xuất hiệu quả để duy trì sự cạnh tranh và tối ưu hóa hoạt động kinh doanh.
Vì vậy, các doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn một cách tối đa nhằm đạt mục tiêu kinh doanh lớn nhất Để quản lý và kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện các định mức chi phí, hiệu quả sử dụng vốn, tiết kiệm chi phí ở từng khâu sản xuất và toàn doanh nghiệp Cần phải tiến hành phân loại vốn, phân loại vốn có tác dụng kiểm tra, phân tích quá trình phát sinh những loại chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh Có nhiều cách phân loại vốn, tuỳ thuộc vào mỗi góc độ khác nhau ta có các cách phân loại vốn khác nhau.
Phân loại vốn theo nguồn hình thành thì vốn của doanh nghiệp bao gồm hai loại là vốn lưu động và vốn cố định.
≠ Vổn lưu động: Là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động Vốn lưu động tham gia hoàn toàn vào quá trình kinh doanh và giá trị của vốn có thể trở lại hình thái ban đầu sau mỗi vòng chu chuyển của hàng hoá Nó là bộ phận của vốn sản xuất, bao gồm giá trị nguyên liệu, vật liệu phụ, tiền lương Những giá trị này được hoàn lại hoàn toàn cho chủ doanh nghiệp sau khi đã bán hàng hoá Trong quá trình sản xuất, bộ phận giá trị sức lao động biểu hiện dưới hình thức tiền lương đã bị người lao động hao phí nhưng được tái hiện trong giá trị mới của sản phẩm, còn giá trị nguyên, nhiên vật liệu được chuyển toàn bộ vào sản phẩm trong chu kỳ sản xuất kinh doanh đó Vốn lưu động ứng với loại hình doanh nghiệp khác nhau thì khác nhau.
Ví dụ: + Đối với doanh nghiệp thương mại thì vốn lưu động bao gồm: Vốn lưu động định mức và vốn lưu động không định mức Trong đó:
Vốn lưu động định mức là số vốn tối thiểu cần thiết để duy trì và đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong từng kỳ Nó bao gồm vốn dự trữ vật tư, hàng hoá và vốn phi hàng hoá nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất và tiêu thụ Việc xác định vốn lưu động định mức giúp quản trị tài chính cân đối thanh khoản, đảm bảo chu trình sản xuất diễn ra thông suốt và giảm thiểu rủi ro gián đoạn hoạt động.
Vốn lưu động không định mức là số vốn lưu động có thể phát sinh trong quá trình kinh doanh nhưng không có căn cứ để tính toán định mức được, chẳng hạn như các khoản biến động từ tiền gửi ngân hàng có thể rút ngay hoặc thanh toán tạm ứng Khác với vốn lưu động có định mức, loại này phản ánh các biến động ngắn hạn mà doanh nghiệp phải đối mặt mà chưa được ấn định mức tối ưu Việc nhận diện vốn lưu động không định mức giúp dự báo dòng tiền linh hoạt, quản lý thanh toán hàng ngày và lên kế hoạch tài chính hiệu quả hơn.
Đối với doanh nghiệp sản xuất, vốn lưu động bao gồm các yếu tố đầu vào thiết yếu như vật tư, nguyên liệu, nhiên liệu, công cụ và dụng cụ Những thành phần này là nguồn lực quan trọng cung cấp cho quá trình sản xuất và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đảm bảo chu trình sản xuất diễn ra liên tục và đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trường Quản lý hiệu quả vốn lưu động giúp tối ưu tồn kho, thanh toán nguyên vật liệu và duy trì khả năng sản xuất linh hoạt trước mọi biến động, từ đó đóng vai trò thiết yếu trong sự tăng trưởng và lợi nhuận của doanh nghiệp sản xuất.
≠ Vốn cố định: Là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định (TSCĐ),
Tài sản cố định (TSCĐ) được dùng trong hoạt động kinh doanh và tham gia trực tiếp vào quá trình vận hành, mang lại lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp Tuy nhiên, về mặt giá trị, vốn đầu tư vào TSCĐ chỉ có thể thu hồi dần thông qua quá trình khấu hao sau nhiều chu kỳ kinh doanh.
Vốn cố định biểu hiện dưới hai hình thái:
Hình thái hiện vật là toàn bộ tài sản cố định mà doanh nghiệp dùng trong hoạt động kinh doanh, là những tài sản hữu hình có thời gian sử dụng dài và đóng vai trò quan trọng trong quy trình sản xuất, dịch vụ và cung cấp hàng hóa Nó bao gồm nhà cửa, máy móc, thiết bị và công cụ, được quản lý và bảo trì để duy trì hiệu suất vận hành và tối ưu chi phí Việc ghi nhận và theo dõi hình thái hiện vật giúp doanh nghiệp đánh giá giá trị tài sản cố định, lên kế hoạch đầu tư, sửa chữa, thay thế và đảm bảo hoạt động kinh doanh liên tục Do vậy, quản trị hình thái hiện vật cần chú trọng tới định giá, bảo dưỡng, sửa chữa và quản lý vòng đời tài sản nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh và tăng lợi nhuận.
Hình thái tiền tệ là tổng giá trị của toàn bộ TSCĐ chưa khấu hao và vốn khấu hao chưa được dùng để sản xuất TSCĐ, đại diện cho bộ phận vốn cố định đã hoàn tất vòng luân chuyển và trở về hình thái tiền tệ ban đầu.
Đầu tư thành lập doanh nghiệp gồm xây dựng nhà xưởng, khu làm việc và hệ thống quản lý, lắp đặt máy móc thiết bị chế tạo sản phẩm và mua sắm phương tiện vận tải Khi các hạng mục được hoàn thành và bàn giao, doanh nghiệp mới có thể bắt đầu sản xuất Vốn đầu tư ban đầu sau đó được chuyển đổi thành vốn cố định của doanh nghiệp.
Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư trước vào tài sản cố định, được luân chuyển dần qua nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn tất một vòng tuần hoàn khi tài sản đạt đến thời hạn sử dụng Vốn cố định đóng vai trò then chốt trong sản xuất kinh doanh, đảm bảo hoạt động sản xuất diễn ra ổn định và nâng cao tính sẵn sàng của nguồn lực cho các dự án đầu tư Việc đầu tư đúng hướng vào tài sản cố định sẽ mang lại hiệu quả, tăng năng suất và khả năng cạnh tranh, giúp doanh nghiệp đứng vững và phát triển trên thị trường.
Việc phân bổ vốn theo phương thức này giúp doanh nghiệp nắm rõ tỷ trọng và cơ cấu của từng nguồn vốn, từ vốn tự có đến vốn vay, từ đó xác định và lựa chọn một cơ cấu vốn phù hợp với mục tiêu tăng trưởng và khả năng trả nợ Nhờ đó, doanh nghiệp tối ưu hóa cấu trúc vốn, cân bằng rủi ro tài chính và nâng cao hiệu quả huy động vốn cho các giai đoạn phát triển tiếp theo.
Phân loại vốn theo quá trình chu chuyển vốn:
Vốn của doanh nghiệp được xác định và phân bổ theo từng khâu hoạt động chính trong chu trình sản xuất và kinh doanh: vốn ở khâu thanh toán, vốn ở khâu dự trữ, vốn ở khâu sản xuất, vốn ở khâu tồn kho và vốn ở khâu tiêu thụ.
Vốn trong khâu thanh toán là các khoản mà doanh nghiệp phải thanh toán cho người bán phát sinh trong quá trình mua hàng hóa, dịch vụ Việc nhận diện và quản lý vốn thanh toán giúp doanh nghiệp nắm bắt dòng tiền, lập kế hoạch thanh toán đúng hạn và duy trì mối quan hệ tốt với nhà cung cấp.
Vốn dự trữ hiện diện ở dạng nguyên vật liệu và vật tư phục vụ cho quá trình sản xuất, nhằm đảm bảo sản xuất diễn ra liên tục Bản chất vốn dự trữ có hai mặt: một mặt bảo đảm cho quá trình sản xuất được tiến hành thuận lợi và liên tục; mặt khác làm giảm tính linh hoạt và tính tích cực của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, cần xác định mức vốn dự trữ tối thiểu nhưng vẫn đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động bình thường và đáp ứng yêu cầu sản xuất.
≠ Vốn trong khâu sản xuất: được biểu hiện bằng những sản phẩm dở dang, bán thành phẩm và những chi phí chờ phân bổ.
Vai trò vốn
Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh dù ở quy mô nào cũng đòi hỏi một lượng vốn nhất định, là nền tảng cho sự ra đời và phát triển của doanh nghiệp Về mặt pháp lý, điều kiện thành lập doanh nghiệp bắt buộc có vốn tối thiểu đúng bằng vốn pháp định để cơ sở pháp lý của doanh nghiệp được xác lập; ngược lại, nếu không đáp ứng sẽ gặp khó khăn trong việc thành lập và trong quá trình hoạt động, vốn không đáp ứng yêu cầu pháp luật có thể dẫn đến tuyên bố chấm dứt hoạt động, phá sản, giải thể hoặc sát nhập Như vậy, vốn được xem là một trong những cơ sở quan trọng nhất để đảm bảo tư cách pháp nhân trước pháp luật Về mặt kinh tế, vốn quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, vừa đảm bảo khả năng mua sắm máy móc thiết bị và dây chuyền công nghệ, vừa đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên và liên tục.
Vốn là yếu tố quyết định năng lực sản xuất kinh doanh và xác lập vị thế của doanh nghiệp trên thương trường Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, cạnh tranh ngày càng gay gắt đòi hỏi các doanh nghiệp không ngừng cải tiến máy móc thiết bị và đầu tư hiện đại hoá công nghệ Tất cả những yếu tố này có thể thực hiện được khi doanh nghiệp có một nguồn vốn đủ lớn để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao hiệu quả đầu tư và duy trì sức cạnh tranh lâu dài.
Vốn đóng vai trò quyết định trong việc mở rộng phạm vi hoạt động của doanh nghiệp Để quá trình tái sản xuất mở rộng diễn ra sau mỗi chu kỳ kinh doanh, vốn của doanh nghiệp phải sinh lời thông qua hoạt động kinh doanh có lãi, từ đó đảm bảo nguồn lực tiếp tục mở rộng thị trường tiêu thụ Lợi nhuận ổn định không chỉ giúp doanh nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng và đầu tư cho các dự án mới, mà còn nâng cao uy tín trên thương trường và củng cố vị thế cạnh tranh.
Nhận thức sâu sắc về vai trò của vốn giúp doanh nghiệp tập trung tối ưu hóa nguồn lực tài chính Khi nhận thức được vai trò quan trọng của vốn, doanh nghiệp có thể sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả hơn, giảm lãng phí và tận dụng mọi cơ hội đầu tư Việc luôn tìm cách nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trở thành mục tiêu then chốt, từ tối ưu chi phí vốn đến quản trị dòng tiền, nhằm tăng trưởng bền vững và nâng cao cạnh tranh trên thị trường.
Nguồn hình thành vốnkinhdoanh
Trong mỗi doanh nghiệp, vốn kinh doanh được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau và chỉ có thể khai thác ở giới hạn nhất định Vì vậy, việc huy động vốn đã khó, nhưng sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ấy còn khó khăn hơn Nghiên cứu, tìm hiểu và đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là rất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp; chỉ khi quản lý và sử dụng vốn đúng đắn mới làm vốn ngày càng sinh lợi và mang lại lợi ích kinh tế cao Tổng tài sản thể hiện quy mô hoạt động và đóng vai trò quan trọng; trong nền kinh tế thị trường, việc xác định nguồn vốn hình thành giá trị tài sản và trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với từng loại tài sản là vấn đề thiết yếu.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, các doanh nghiệp không chỉ sử dụng vốn của bản thân doanh nghiệp mà còn sử dụng các nguồn vốn khác,trong đó nguồn vốn vay đóng một vai trò khá quan trọng Do đó, nguồn vốn trong doanh nghiệp được hình thành từ hai nguồn sau:
-Nguồn vốn chủ sở hữu: thể hiện quyền sở hữu của người chủ về các tài sản của doanh nghiệp, là giá trị vốn của doanh nghiệp Vốn chủ sở hữu được tạo nên từ các nguồn vốn sau:
Nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước là nguồn vốn do Nhà nước cấp cho các doanh nghiệp Nhà nước để tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh và thực hiện các hoạt động công ích Nguồn vốn này hình thành từ các khoản thu của ngân sách Nhà nước được phân bổ cho mục tiêu đầu tư thông qua chi phí đầu tư nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa.
Nguồn vốn chủ doanh nghiệp là vốn tự có tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, được xác định dựa trên loại hình doanh nghiệp: đối với doanh nghiệp Nhà nước, vốn tự có thể hiện qua vốn điều lệ; đối với doanh nghiệp tư nhân, vốn tự có là số vốn do chủ doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư; còn với các công ty cổ phần và các loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, vốn tự có là phần vốn do cổ đông hoặc thành viên góp vào công ty.
Nguồn vốn liên doanh được hình thành từ sự đóng góp vốn của các tổ chức kinh tế trong nước với nhau hoặc giữa các tổ chức kinh tế trong nước và các tổ chức kinh tế ở nước ngoài, với mức đóng góp được xác định theo thỏa thuận giữa các bên tham gia liên doanh.
Các nguồn vốn tín dụng là nguồn vốn doanh nghiệp phải đi vay dài hạn từ các ngân hàng, công ty bảo hiểm và các tổ chức tài chính trung gian khác nhằm phục vụ cho quá trình kinh doanh Việc huy động vốn vay dài hạn giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô, đầu tư vào tài sản cố định và triển khai các dự án dài hạn một cách ổn định Đồng thời, nguồn vốn này hỗ trợ quản lý cấu trúc vốn và tối ưu hóa chi phí vốn theo thời gian, góp phần cải thiện dòng tiền và khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua mà doanh nghiệp buộc phải thanh toán bằng nguồn lực của chính mình Đây là khái niệm chỉ ra các nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải thực hiện khi nhận một tài sản, tham gia một cam kết hoặc phát sinh các nghĩa vụ pháp lý.
Việc thanh toán các nghĩa vụ hiện tại có thể thực hiện qua nhiều phương thức, như trả bằng tiền mặt, trả bằng tài sản khác, cung cấp dịch vụ, thay thế nghĩa vụ này bằng nghĩa vụ khác, hoặc chuyển đổi nghĩa vụ nợ phải trả thành vốn chủ sở hữu; các tùy chọn này giúp tối ưu hóa dòng tiền, quản trị rủi ro tài chính và bảo đảm nghĩa vụ được thanh toán đầy đủ, linh hoạt theo từng hoàn cảnh.
Nợ phải trả phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã xảy ra trong quá khứ, bao gồm mua hàng hóa chưa trả tiền, sử dụng dịch vụ chưa thanh toán, vay nợ, cam kết bảo hành hàng hóa và nghĩa vụ hợp đồng, tiền lương phải trả cho nhân viên, thuế phải nộp và các khoản phải trả khác Đây là các nghĩa vụ tài chính mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán trong tương lai và được ghi nhận trên bảng cân đối kế toán, giúp quản trị dòng tiền, theo dõi nợ và đảm bảo tuân thủ các cam kết với nhà cung cấp, khách hàng, cơ quan thuế và người lao động, từ đó tăng tính minh bạch và ổn định tài chính.
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH
Khái niệm về hiệu quả
Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế phản ánh mức độ tối ưu trong việc sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp nhằm đạt được kết quả sản xuất cao nhất với chi phí thấp nhất Việc không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh luôn là ưu tiên hàng đầu của mọi nền sản xuất nói chung và của doanh nghiệp nói riêng, đặc biệt là vấn đề cấp bách đối với các doanh nghiệp Nhà nước hiện nay Nâng cao hiệu quả kinh doanh vừa đặt ra câu hỏi vừa là thách thức mà các doanh nghiệp phải đối mặt trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể được thể hiện thông qua một hàm số mô tả mối quan hệ giữa kết quả sản xuất và các yếu tố nguồn lực như vốn và lao động.
Vì vậy, kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có quan hệ hàm với các yếu tố tài nguyên, vốn, công nghệ Xét trong tầm vi mô, với một doanh nghiệp trong ngắn hạn thì các nguồn lực đầu vào này bị giới hạn Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm biện pháp nhằm khai thác và sử dụng vốn, sử dụng tối đa các nguồn lực sẵn có của mình, trên cơ sở đó so sánh và lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh tối ưu.
Vậy hiệu quả sử dụng vốn là gì? Để hiểu được ta phải hiểu được hiệu quả là gì?
• Hiệu quả của bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào cũng đều thể hiện mối quan hệ giữa “kết quả sản xuất và chi phí bỏ ra”.
Hiệu quả kinh doanh = Doanh thu - Chi phí
- về mặt định lượng: Hiệu quả kinh tế của việc thực hiện mỗi nhiệm vụ kinh tế xã hội biểu hiện ở mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra Người ta chỉ thu được hiệu quả khi kết quả đầu ra lớn hơn chi phí đầu vào Hiệu quả càng lớn chênh lệch này càng cao.
Về mặt định tính, hiệu quả kinh tế cao thể hiện sự cố gắng nỗ lực và trình độ quản lý ở từng khâu, từng cấp trong hệ thống công nghiệp, đồng thời cho thấy sự gắn bó của việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu chính trị - xã hội.
Có rất nhiều cách phân loại hiệu quả kinh tế khác nhau, nhưng ở đây tác giả chỉ đề cập đến vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp Như vậy, ta có thể hiểu hiệu quả sử dụng vốn như sau:
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác và tận dụng nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh Đây thể hiện khả năng quản lý nguồn vốn, tối ưu hóa cơ cấu vốn và dòng tiền nhằm nâng cao lợi nhuận Mục tiêu là sinh lời tối đa với chi phí thấp nhất thông qua các quyết định đầu tư, tài trợ và chi tiêu hợp lý Việc đo lường hiệu quả sử dụng vốn giúp doanh nghiệp nâng cao giá trị và tăng cạnh tranh trên thị trường bằng cách tối ưu vòng quay vốn, vốn cố và vốn lưu động Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, quản trị hiệu quả nguồn vốn trở thành yếu tố quyết định sự bền vững và tăng trưởng lâu dài.
Hiệu quả sử dụng vốn là một vấn đề phức tạp liên quan đến tất cả các yếu tố của quá trình sản xuất, kinh doanh (ĐTLĐ, TLLĐ) Do đó, doanh nghiệp chỉ có thể nâng cao hiệu quả bằng cách tối ưu hóa việc sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh Để đạt được hiệu quả cao trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần giải quyết các vấn đề cốt lõi như đảm bảo tiết kiệm vốn và huy động thêm vốn để mở rộng quy mô sản xuất – kinh doanh, đồng thời phải xác định và đạt được các mục tiêu sử dụng vốn đã đề ra.
1.2.2 Tiêu chí phản ánh hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Các doanh nghiệp Việt Nam, dù vốn được huy động từ nguồn vốn tự có hay vốn vay hay vốn điều lệ, không phải là vốn để nuôi dưỡng một cách khô khan mà phải chịu các nghĩa vụ như trả cổ tức, nộp thuế vốn và hạch toán bảo toàn vốn Vậy số vốn tăng lên bao nhiêu là đủ, hợp lý và hiệu quả cho quá trình sản xuất kinh doanh? Khi thị trường tiêu thụ mở rộng, sức mua ngày càng lớn và nhu cầu của khách hàng tăng, vốn đầu tư cho phát triển sẽ càng nhiều; tuy nhiên nếu công tác quản trị và điều hành không tốt, doanh nghiệp có thể phải phát hành thêm cổ phiếu để gọi vốn hoặc gặp khó khăn trong xoay vòng vốn, thậm chí đứng trước nguy cơ phá sản vì nghĩ nhầm rằng đang trên đỉnh thành công Để phục vụ cho việc phân tích hiệu quả sử dụng vốn, người ta thường dựa trên một số tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng vốn như sau:
• Nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán
- Khả năng thanh toán tổng quát:
Khả năng thanh toán Tổng tài sản tổng quát
Tiêu chí này có ý nghĩa: với lượng tài sản hiện có, doanh nghiệp có đáp ứng được việc thanh toán các khoản nợ không?
Tiêu chí này > 1 chứng tỏ tài sản của doanh nghiệp có khả năng đáp ứng được việc thanh toán nợ.
Về lý thuyết, tiêu chí này càng lớn càng tốt.
- Khả năng thanh toán nhanh:
Khả năng Tiền & tương đương tiền + đầu tư NH + khoản phải thu thanh toán Nợ phải trả nhanh t
Tiêu chí này dùng để đánh giá việc thanh toán nợ phải trả được đảm bảo bới các tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp.
Tiêu chí này >1 chứng tỏ tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có khả năng đáp ứng được việc thanh toán các khoản nợ phải trả.
- Khả năng thanh toán tức thời:
Khả năng thanh Tiền & , "'" lg đươn § tiền toán tức thời Nợ ngắn hạn
Tiêu chí này đo lường khả năng thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp, được đảm bảo bởi các tài sản có tính thanh khoản cao Nhóm tài sản này cho phép doanh nghiệp dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt để đáp ứng nghĩa vụ tài chính kịp thời, từ đó giảm thiểu rủi ro thanh khoản và tăng sự ổn định tài chính.
Tiêu chí này >1 chứng tỏ tài sản có tính thanh khoản cao của d oanh nghiệp có khả năng đáp ứng được việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
• Nhóm tiêu chí về khả năng hoạt động
- Vòng quay các khoản phải thu:
Vòng quay các khoản Doanh thu thuần bình q uân phải thu Các khoản phải thu
Vòng quay nợ phải thu càng cao cho thấy doanh nghiệp thu hồi các khoản phải thu từ khách hàng càng nhanh Quá trình thu hồi nhanh hơn cải thiện dòng tiền, giảm rủi ro tài chính và tăng tính thanh khoản cho doanh nghiệp Nhờ đó, hiệu quả hoạt động và biên lợi nhuận có xu hướng được cải thiện, mang lại kết quả kinh doanh tốt hơn Vì vậy, quản trị nợ phải thu và tối ưu chu kỳ thu hồi nợ là yếu tố then chốt để duy trì dòng tiền lành mạnh và đẩy mạnh tăng trưởng kinh doanh.
Chỉ tiêu này phản ánh việc chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt của doanh nghiệp.
- Vòng quay các khoản phải trả:
Vòng quay các khoản D oanh thu thuần bình quân phải trả Các khoản phải trả
Vòng quay càng lớn cho thấy việc thanh toán các khoản phải trả của doanh nghiệp càng nhanh.
- Vòng quay hàng tồn kho:
Vòng quay hàng tồn Giá vốn hàng bán kho Hàng tồn kho bq trong kỳ
Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt, vì thể hiện doanh nghiệp đầu tư vào hàng tồn kho ít nhưng vẫn thu doanh thu cao.
• Nhóm tiêu chí về khả năng sinh lời
- Tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA):
Lợi nhuận sau thuế ROA = _: _
Tiêu chí này phản ánh cứ 1 đồng tài sản tạo ra được mấy đồng lợi nhuận sau thuế.
Tiêu chí này càng cao càng chứng tỏ khả sử dụng hiệu quả tài sản của doanh nghiệp để tạo ra lợi nhuận.
- Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE):
Lợi nhuận sau thuế ROE = _: _
Tiêu chí này phản ánh việc doanh nghiệp sử dụng 1 đồng vốn chủ sở hữu thì tạo ra được mấy đồng lợi nhuận sau thuế.
Tiêu chí này càng cao càng tốt, điều đó cho thấy khả năng sử dụng vốn của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao.
- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu:
Tỷ suất lợi nhuận trên _ L ợi nhuận sau thuế doanh thu Doanh thu
Tiêu chí này phản ánh cứ 1 đồng doanh thu thuần trong kỳ thì doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu đồng là lợi nhuận sau thuế.
• Tiêu chí về cơ cấu vốn:
- Tỷ trọng hiệu quả sử dụng TSCĐ & TSLĐ
Vốn của doanh nghiệp được thể hiện chủ yếu qua tài sản cố định và tài sản lưu động; với một lượng vốn nhất định, doanh nghiệp muốn đạt hiệu quả cao đòi hỏi một cơ cấu vốn hợp lý, cân đối giữa các loại tài sản để tối ưu hóa khả năng sinh lợi và thanh khoản Vì vậy, ta cần xem xét cách thức đầu tư vào tài sản sao cho hợp lý hay chưa hợp lý, từ đó phân bổ vốn một cách phù hợp cho từng loại tài sản, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững, tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn và tăng trưởng của doanh nghiệp.
Tỷ trọng hiẹu quả Tài sản cố định và đầu tư dài hạn sử d u n g T SCD Tổng tài sản
Công thức trên cho biết một đồng vốn mà doanh nghiệp đang sử dụng có bao nhiêu phần thể hiện bởi TSCD.
Mức tài sản cố định hợp lý cho từng doanh nghiệp phụ thuộc vào nghành nghề mà doanh nghiệp đó tham gia vào sản xuất.
Tỷ trọng hiệu quả Tài sản lưu động sử dụng TSLD Tổng tài sản
Chỉ số này chỉ ra tỷ trọng của tài sản lưu động trong tổng tài sản của doanh nghiệp.
Ở mỗi loại hình sản xuất, tỷ lệ sử dụng vốn có sự khác biệt, tuy nhiên khi cơ cấu vốn được bố trí hợp lý thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao; cơ cấu vốn hợp lý là sự cân đối giữa các nguồn vốn nhằm đảm bảo doanh nghiệp đáp ứng đủ nhu cầu vốn ở từng khâu, không gặp hiện tượng thiếu vốn hay thừa vốn, từ đó tối ưu hóa hiệu quả đầu tư và quản trị nguồn lực tài chính.
- Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu (DER)
Tỷ số nợ trên Tổng nợ vốn chủ sở hữu VCSH
Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu (Debt-to-Equity Ratio) là chỉ số phản ánh quy mô tài chính và cấu trúc vốn của một doanh nghiệp, cho biết tỉ lệ giữa nguồn vốn nợ và vốn chủ sở hữu được dùng để tài trợ cho hoạt động và đầu tư Chỉ số này đo mức độ đòn bẩy tài chính mà công ty đang sử dụng, đồng thời giúp đánh giá mức độ rủi ro tài chính và khả năng chịu áp lực dòng tiền khi phải thanh toán nợ Nợ và vốn chủ sở hữu có đặc tính riêng biệt: nợ mang lại hiệu quả đòn bẩy nhưng đi kèm nghĩa vụ trả lãi và gốc, còn vốn chủ sở hữu cung cấp quyền sở hữu và sự ổn định mà không phải trả nợ cố định Quan hệ giữa hai nguồn vốn này được dùng rộng rãi để phân tích và so sánh tình hình tài chính giữa các doanh nghiệp hoặc ngành, từ đó hỗ trợ quyết định cấu trúc vốn tối ưu và đánh giá khả năng thanh toán Tóm lại, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu cho thấy mức đòn bẩy tài chính và rủi ro liên quan, đồng thời giúp nhà quản trị đánh giá cấu trúc vốn và hiệu quả sử dụng vốn của công ty.
Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu được tính bằng cách chia tổng nợ cho vốn chủ sở hữu Nợ của doanh nghiệp bao gồm cả nợ ngắn hạn và nợ dài hạn Vốn chủ sở hữu hay vốn cổ phần của cổ đông gồm cổ phần thông thường, cổ phần ưu đãi, các khoản lãi phải trả và nợ ròng.
Những nhân tố tác động đến hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau và mỗi nhân tố này có ảnh hưởng nhất định tới các chỉ số phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Các nhân tố này có nhiều nhưng chúng ta có thể chia ra thành hai nhóm sau:
1.2.3.1 Các nhân tố chủ quan
Nhân tố này gồm nhiều yếu tố tác động trực tiếp đến kết quả cuối cùng của hoạt động kinh doanh cả về trước mắt cũng như lâu dài Bởi vậy, việc xem xét, đánh giá và ra quyết định đối với các yếu tố này cực kỳ quan trọng. Thông thường, trên góc độ tổng quát, người ta xem xét những yếu tố sau:
Yếu tố này đóng vai trò là điểm xuất phát và kim chỉ nam cho sự tồn tại cũng như định hướng của doanh nghiệp trong suốt quá trình hoạt động Khi đã lựa chọn một ngành nghề kinh doanh, chủ doanh nghiệp cần ưu tiên giải quyết các vấn đề tài chính ban đầu, từ huy động vốn, lập ngân sách, quản lý dòng tiền cho tới đánh giá rủi ro tài chính, nhằm đảm bảo sự ổn định và tăng trưởng bền vững.
+ Cơ cấu vốn hợp lý
+ Chi phí vốn của công ty bao nhiêu là hợp lý để giữ không làm thay đổi số lợi nhuận dành cho chủ sở hữu công ty.
+ Cơ cấu tài sản được đầu tư như thế nào thì hợp lý, mức độ hiện đại so với đối thủ cạnh tranh đến đâu.
+ Nguồn tài trợ được huy động từ đâu, có bảo đảm lâu dài và an toàn không.
Qua ngành nghề kinh doanh, doanh nghiệp có thể tự xác định mức lợi nhuận kỳ vọng và khả năng chiếm lĩnh, cũng như dự báo triển vọng phát triển thị trường trong tương lai Việc đánh giá mức lợi nhuận và tiềm năng thị trường giúp doanh nghiệp nhận diện cơ hội cạnh tranh và lập kế hoạch chiến lược phù hợp Bên cạnh đó, đổi mới và đa dạng hóa sản phẩm là các yếu tố then chốt để duy trì vị thế cạnh tranh và mở rộng quy mô thị trường Dựa trên những phân tích này, doanh nghiệp lên kế hoạch bố trí nguồn lực một cách hiệu quả nhằm tối ưu hóa chi phí, tăng trưởng bền vững và đáp ứng nhu cầu khách hàng.
• Trình độ tổ chức hạch toán nội bộ doanh nghiệp và tổ chức quản lý sản xuất. Để có hiệu quả cao thì bộ máy quản lý doanh nghiệp phải thực sự gọn nhẹ và thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình đồng thời phải phối hợp tốt với nhau trong quá trình thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp. Mặt khác trong quá trình tổ chức hạch toán trong doanh nghiệp những bộ phận thực hiện nhiệm vụ quản lý và sử dụng vốn thực hiện công tác kế toán sẽ phát hiện ra những tiềm năng và những tồn tại trong quá trình sử dụng vốn để từ đó có những biện pháp phát huy khai thác nhưng tiềm năng và nhưng thành tựu về vốn của doanh nghiệp đồng thời có những biện pháp khắc phục và hạn chế những tồn tại để nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp nói chung Công tác quản lý sản xuất cũng có tác động không nhỏ tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Nếu công tác tổ chức sản xuất được thực hiện tốt thì sẽ làm cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp tiến hành bình thường và sẽ giảm được khoản ứ đọng vốn của doanh nghiệp như giảm hàng tồn kho, nguyên vật liệu dự trữ, sử dụng dở dang và bán thành phẩm, chi phí cho sản phẩm hỏng, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp.
Chu kỳ sản xuất và kỹ thuật sản xuất là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Nếu chu kỳ ngắn, doanh nghiệp có thể thu hồi vốn nhanh và tái đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh một cách hiệu quả Ngược lại, chu kỳ dài khiến vốn bị ứ đọng và đặt gánh nặng lên chi phí lãi vay cũng như các khoản phải trả cho nguồn vốn từ bên ngoài, ảnh hưởng tới khả năng tài chính và tăng áp lực tài chính cho doanh nghiệp.
Những đặc điểm về kỹ thuật sản xuất tác động gián tiếp tới hiệu quả sử dụng vốn và hiệu quả sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp Khi kỹ thuật sản xuất còn ở mức đơn giản, tỷ lệ thiết bị máy móc chiếm dụng trong cơ cấu tài sản sẽ nhỏ, làm cho các chỉ tiêu này có xu hướng cao nhưng doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với cạnh tranh gay gắt trên thị trường Ngược lại, với kỹ thuật sản xuất hiện đại và máy móc tiên tiến, các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng vốn và tài sản cố định có thể thấp hơn, giúp doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh rõ rệt nhờ tăng năng suất và tối ưu chi phí.
Sản phẩm của doanh nghiệp là nơi chứa đựng chi phí và tạo ra doanh thu, là cơ sở quan trọng để xác định lợi nhuận Nếu vòng đời của sản phẩm ngắn và tiêu thụ nhanh, doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh và tăng lợi nhuận Hơn nữa, chi phí máy móc cho sản xuất những sản phẩm này tương đối rẻ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đổi mới và thay thế thiết bị Ngược lại, nếu sản phẩm có vòng đời dài, có giá trị lớn và được sản xuất hàng loạt theo dây chuyền, giá thành sản phẩm sẽ cao và doanh nghiệp sẽ thu hồi vốn chậm.
• Trình độ tập thể lao động, cơ chế khuyến khích và trách nhiệm vật chất trong doanh nghiệp
Trình độ công nhân đáp ứng yêu cầu của dây chuyền sản xuất có tác động trực tiếp đến việc khai thác hiệu quả máy móc thiết bị, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, đồng thời tối ưu hóa việc sử dụng vốn đầu tư Khi công nhân có trình độ cao và được đào tạo bài bản, thiết bị được vận hành đúng kỹ thuật và phát huy tối đa khả năng của máy móc Ngược lại, trình độ lao động thấp không đáp ứng yêu cầu sản xuất sẽ khiến máy móc không làm việc hết công suất, gây lãng phí, hao mòn và làm giảm chất lượng, năng suất, làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Do đó, nâng cao trình độ công nhân và cải thiện kỹ năng vận hành thiết bị là yếu tố then chốt để tối ưu hóa hiệu quả sản xuất và sử dụng vốn.
Để khai thác tối đa tiềm năng về lao động, doanh nghiệp cần xây dựng một cơ chế khuyến khích và nâng cao trách nhiệm vật chất cho người lao động Việc thực thi cơ chế này một cách hiệu quả sẽ nâng cao tinh thần trách nhiệm và ý thức tập thể của đội ngũ lao động, từ đó đóng góp vào tăng hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
1.2.3.2 Các nhân tố khách quan
• Các chính sách vĩ mô của Nhà nước
Trên cơ sở pháp luật kinh tế và các biện pháp kinh tế, Nhà nước thiết lập môi trường điều hành thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh và định hướng hoạt động theo kế hoạch vĩ mô Mọi thay đổi trong chế độ chính sách hiện hành đều tác động và chi phối các lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, từ quy trình sản xuất đến thị trường, đầu tư và quản trị nguồn lực.
Các chính sách vĩ mô của nhà nước có tác động đáng kể đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, thông qua các quy định về khấu hao, các mức thuế như VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế trên vốn, cùng các quy định về tài sản cố định, bảo vệ môi trường và các chính sách bảo hộ sản xuất hoặc khuyến khích sử dụng nguyên vật liệu nội địa Những yếu tố này tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh và các kế hoạch của doanh nghiệp, từ kế hoạch thu mua vật tư, tiêu thụ đến đổi mới công nghệ, từ đó ảnh hưởng đến các chỉ tiêu và hiệu quả sử dụng vốn.
Thị trường có tác động mạnh tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, vì biến động ở thị trường đầu vào làm tăng hoặc giảm chi phí nguyên vật liệu và, đối với các doanh nghiệp có sản phẩm nhập khẩu, còn chịu thêm tác động từ biến động giá thế giới và tỷ giá ngoại hối Biến động trên thị trường đầu ra cũng tác động trực tiếp đến hiệu quả vốn thông qua sự thay đổi về giá bán, lượng hàng hóa tiêu thụ và doanh thu Khi cung cầu trên thị trường thay đổi, doanh nghiệp đối mặt với rủi ro biên lợi nhuận và dòng tiền do sự điều chỉnh về giá và lượng tiêu thụ Vì vậy, doanh nghiệp cần dự toán chính xác biến động ở cả thị trường đầu vào và đầu ra và nắm bắt kịp thời các thông tin thị trường để đưa ra quyết định chiến lược nhằm tối ưu hóa vốn.
Giá cả là yếu tố do doanh nghiệp quyết định nhưng vẫn phụ thuộc vào mức chung của thị trường Khi giá cả tăng, kết quả kinh doanh được cải thiện và từ đó tăng hiệu quả sử dụng vốn; đồng thời sự biến động về giá cả có thể khiến hoạt động của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.
Những tiến bộ về khoa học và công nghệ mở ra cơ hội cho doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất và học hỏi kinh nghiệm từ các doanh nghiệp khác, đồng thời cũng đặt ra thách thức từ sự xuất hiện của đối thủ cạnh tranh mới Đối thủ cạnh tranh có thể ảnh hưởng đến quá trình sản xuất và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các yếu tố như chi phí, công nghệ và chất lượng sản phẩm Nếu đối thủ sản xuất những sản phẩm tương tự với giá thành thấp hơn, doanh thu tiêu thụ, thị phần và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp có thể giảm Ngược lại, khi doanh nghiệp có khả năng nâng cao công nghệ, tối ưu chi phí và tạo sự khác biệt, doanh nghiệp sẽ có lợi thế cạnh tranh lớn.
Phương pháp xác định hiệu quả sử dụng vốn
Trong phân tích tài chính và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, có hai phương pháp cốt lõi là phân tích so sánh và phân tích tỷ lệ Phân tích so sánh cho phép đối chiếu các chỉ tiêu tài chính theo thời gian, giữa các kỳ tài chính và giữa các doanh nghiệp cùng ngành để nhận diện xu hướng, điểm mạnh và rủi ro Phân tích tỷ lệ tổng hợp mối quan hệ giữa các yếu tố tài chính thành các tỷ số chuẩn như tỷ lệ thanh toán, vòng quay vốn, lợi nhuận trên vốn và biên lợi nhuận, từ đó đánh giá hiệu quả sử dụng vốn và tiềm năng sinh lời Khi kết hợp cả hai phương pháp, doanh nghiệp có cái nhìn toàn diện về tình hình tài chính và hiệu quả vận hành, hỗ trợ ra quyết định tối ưu và tối ưu hóa nguồn lực vốn đầu tư.
Phương pháp so sánh được áp dụng khi đảm bảo các điều kiện so sánh cho các chỉ tiêu tài chính, gồm sự thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán, đồng thời tùy theo mục đích phân tích để xác định gốc so sánh Gốc so sánh có thể được chọn là gốc về thời gian hoặc không gian; kỳ phân tích có thể là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch; giá trị so sánh có thể thể hiện dưới dạng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân Nội dung so sánh được xác định dựa trên các tiêu chí phân tích và mục tiêu so sánh, nhằm đảm bảo tính nhất quán và dễ diễn giải kết quả trong các báo cáo tài chính.
So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp đánh giá sự tăng trưởng hay thụt lùi trong hoạt động kinh doanh để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới.
So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu của doanh nghiệp.
Để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, cần thực hiện so sánh số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình của ngành và với các doanh nghiệp cùng ngành Qua benchmarking, các chỉ số tài chính như lợi nhuận, biên lợi nhuận, nợ trên vốn và dòng tiền được đặt trong bối cảnh chuẩn mực ngành, giúp nhận diện điểm mạnh, điểm yếu và mức độ tốt xấu của doanh nghiệp Kết quả so sánh này là cơ sở để đưa ra quyết định chiến lược, tối ưu hóa chi phí và tăng hiệu quả hoạt động Hãy trình bày số liệu một cách rõ ràng, có tham chiếu ngành để người đọc dễ hiểu và có thể áp dụng cho phân tích tài chính nhanh chóng.
Phân tích theo chiều dọc giúp xem xét tỉ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể và đánh giá đóng góp của chúng vào cấu trúc tổng thể Phân tích theo chiều ngang qua nhiều niên độ kế toán liên tiếp cho thấy sự biến động của một chỉ tiêu ở cả số tương đối và số tuyệt đối, từ đó nắm bắt xu hướng và mức độ thay đổi theo thời gian.
• Phương pháp phân tích tỷ lệ :
Phương pháp phân tích tỷ lệ tài chính dựa trên ý nghĩa chuẩn mực của các tỷ lệ giữa các đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính của doanh nghiệp Sự biến động của các tỷ lệ phản ánh sự biến động của các đại lượng tài chính liên quan Nguyên tắc của phương pháp này là xác định ngưỡng và định mức để nhận xét và đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với các tỷ lệ tham chiếu hoặc giá trị chuẩn.