1. Trang chủ
  2. » Tất cả

HỘI NHẬP KINH TẾ CỦA TRUNG QUỐC SAU KHI GIA NHẬP WTO

10 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 105 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, Trung quốc sẽ vẫn giữ vai trò độc quyền nhà nước về ngoại thương đối với một số hàng hoá nhập khẩu quan trọng như dầu thô, những sản phẩm lọc dầu, phân bón, bông, ngũ cốc, dầu

Trang 1

HỘI NHẬP KINH TẾ CỦA TRUNG QUỐC SAU KHI GIA NHẬP WTO - QUÁ

TRÌNH THỰC HIỆN CAM KẾT SAU KHI GIA NHẬP

Việc Chính phủ Trung Quốc giảm một phần đáng kể thuế quan và áp dụng một số biện pháp tự do hoá thương mại vào những năm 1990 là một phần hết sức cần thiết trong tiến trình gia nhập WTO Trong cuộc đàm phán song phương quan trọng với Mỹ vào năm 1999, Trung Quốc đã cam kết mở cửa thị trường hơn nữa Điều này góp phần rất lớn vào tiến trình gia nhập WTO của Trung Quốc Trong tiến trình này, Trung Quốc đã chấp nhận những điều khoản cao hơn so với những điều khoản những nước đang phát triển khác đã cam kết, thậm chí trong một số lĩnh vực còn vượt quá những cam kết của các nước công nghiệp phát triển Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã xác định: Sự cạnh tranh tăng lên nhờ vào việc tham gia WTO sẽ thúc đẩy nền kinh tế Trung Quốc phát triển lành mạnh và nhanh chóng hơn Việc giảm các rào cản nhập khẩu là không đủ nếu Trung Quốc muốn thu được những lợi ích từ toàn cầu hoá Nền kinh tế cần trở thành nền kinh tế thị trường để có thể hội nhập với kinh tế toàn cầu Tóm lại, các cam kết mang tính mở rộng với WTO còn nhằm thúc đẩy quá trình cải cách trong nước

1 Các ngành kinh tế

1.1 Công nghiệp

Năm 1999, Trung Quốc đã đồng ý giảm mức thuế trung bình đối với các sản phẩm công nghiệp xuống mức 8,9% và hầu hết các mức thuế quan mới này đều được thực thi vào giữa năm 2005 Thậm chí một số mức thuế quan đã được thực hiện trước so với lộ trình mà WTO yêu cầu Thuế quan đối với một số loại hàng hoá như các sản phẩm công nghệ thông tin đã được cắt giảm đến mức 0% Đáng kể hơn là vào năm 2005 Trung Quốc đồng ý xoá bỏ tất cả hạn ngạch, giấy phép và các hàng rào phi thuế quan khác trong việc nhập khẩu những sản phẩm chế tác Trung Quốc cũng đồng ý thay đổi hệ thống đăng kýý nhập khẩu cho phù hợp với những quy định của WTO trong việc cấp phép nhập khẩu Gần đây, Mỹ đã chỉ trích Trung Quốc trong việc ưu đãi thuế VAT đối với những sản phẩm phân bón và chất bán dẫn trong nước Điều này tạo ra một mức thuế nhập khẩu không chính thức đối với các nhà xuất khẩu nước ngoài khi xuất khẩu sản phẩm vào thị trường Trung Quốc Sự ưu đãi về thuế đối với các sản phẩm bán dẫn đã được dỡ bỏ vào năm 2004 Vào tháng 1 năm 2005, Trung Quốc đã dỡ bỏ những hạn ngạch nhập khẩu cuối cùng đối với mặt hàng ô tô Tuy nhiên, Trung quốc có quyền duy trì mức thuế nhập khẩu ô tô Điều này dự đoán sẽ hạn chế tăng trưởng trong nhập khẩu ô

tô ở mức 25%

Tuy nhiên, Trung quốc sẽ vẫn giữ vai trò độc quyền nhà nước về ngoại thương đối với một

số hàng hoá nhập khẩu quan trọng như dầu thô, những sản phẩm lọc dầu, phân bón, bông, ngũ cốc, dầu thực vật và một số sản phẩm xuất khẩu như chè, vônfram, tơ lụa, các sản phẩm từ bông, than đá Ngoài các sản phẩm kể trên, đến cuối năm 2004 Trung Quốc cam kết cho phép tất cả các công ty trong nước và nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Trung Quốc thực hiện các hoạt động xuất nhập khẩu

Những ý kiến phản đối sự gia nhập WTO của Trung Quốc cho rằng Trung Quốc có thể sẽ

sử dụng những tiêu chuẩn phân biệt hàng hoá để tránh không phải nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp Trong tháng 12 năm 2001, Chính phủ Trung Quốc đã ban hành một hệ thống chứng nhận sản phẩm bắt buộc mới theo đó trên 100 chủng loại hàng hoá trong và ngoài nước phải có dấu chứng nhận bắt buộc của Trung Quốc (CCC) Quá trình chứng nhận này bao gồm việc kiểm tra tại các nhà máy sản xuất của nước ngoài và người sản xuất phải chịu chi phí Tuy nhiên, không có bằng chứng nào cho thấy quy định này là rào cản quan trọng trong hoạt

Trang 2

động buôn bán những mặt hàng này.

Tiêu chuẩn kép cho Trung Quốc

Trung Quốc chấp thuận nghị định thư gia nhập WTO trong đó cho phép các đối tác thương mại áp đặt các hạn chế đối với hàng xuất khẩu của Trung Quốc Các rào cản này có thể được duy trì mà không giới hạn về mặt thời gian, trong khi theo Hiệp định Tự vệ của WTO thì thời hạn này là 8 năm Hơn nữa, Trung Quốc đã chấp thuận các quy định về hạn chế khả năng trả đũa cao hơn so với những quy định trong Hiệp định Tự vệ của WTO Ngoài ra, Trung Quốc chấp thuận biện pháp bảo vệ hàng dệt may đặc biệt, cho phép các đối tác thương mại hạn chế tăng mặt hàng dệt may và quần áo ở mức 7,5% mỗi năm sau khi Hiệp định Dệt may của WTO kết thúc (các điều khoản này sẽ có hiệu lực đến năm 2008)

Trung Quốc cũng đồng ý chấp thuận các điều khoản về phân biệt đối xử trong lĩnh vực chống phá giá Theo Luật Thương mại Mỹ, trong các vụ kiện bán phá giá các năm qua, Trung Quốc vẫn bị coi là nền kinh tế phi thị trường Theo đó, Bộ Thương mại Mỹ không so sánh giá các mặt hàng được bán ở thị trường Mỹ với giá bán thịnh hành ở Trung Quốc hoặc ở những nước thứ ba vì những đầu vào quan trọng của các công ty Trung Quốc có thể có giá thấp hơn mức giá thị trường Thay vào đó, Bộ Thương mại Mỹ tính toán "giá trị thông thường" bằng cách thu thập thông tin từ các công ty Trung Quốc về lượng đầu vào, rồi sử dụng giá đầu vào của một nước thứ ba, nơi giá đầu vào được coi là do thị trường xác định, sau đó tính tổng các chi phí sản xuất trực tiếp của các mặt hàng này gồm chi phí quản lý, bán hàng, các chi phí khác và tiền lãi Ngoài ra, Bộ Thương mại Mỹ có thể sử dụng chi phí sản xuất ở một nước thứ

ba làm tiêu chuẩn cho "giá trị thông thường" Điều này tạo ra một tiêu chuẩn kép mà các nhà sản xuất Mỹ có thể sử dụng để cạnh tranh với các nhà xuất khẩu của Trung Quốc Tuy nhiên, Trung Quốc đã cho phép Mỹ và các đối tác thương mại khác coi Trung Quốc là "nền kinh tế phi thị trường" trong điều tra chống bán phá giá trong vòng 15 năm tính từ thời điểm Trung Quốc gia nhập WTO

Trước khi Trung Quốc gia nhập WTO, một số nghiên cứu dự báo rằng Trung Quốc sẽ phải chịu chi phí lớn trong việc tái cơ cấu nền kinh tế theo cam kết khi gia nhập Tuy nhiên, những dự báo như vậy đã cường điệu hoá ảnh hưởng của việc gia nhập WTO do chưa tính tới việc Trung Quốc đẩy nhanh quá trình cải cách trong những năm ngay trước khi trở thành thành viên WTO

Trước khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã cắt giảm thuế, mở rộng các quyền về thương mại, tự do hoá trong thu hút FDI Chính phủ Trung Quốc cũng rất nỗ lực tái cơ cấu ngành chế tác, giảm cắt trong khu vực kinh tế nhà nước và tăng khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp Bên cạnh đó, giá dầu, giá dịch vụ vận tải, giá điện bán buôn, giá nước, giá ga của Trung Quốc cũng được điều chỉnh ngang bằng với giá thế giới Do Trung Quốc đã tiến hành những cải cách sâu rộng như vậy trước khi gia nhập nên những tác động của việc gia nhập WTO là nhỏ hơn so với dự báo

Cải cách kinh tế tại Trung Quốc trước và sau khi gia nhập WTO đã đưa Trung Quốc trở thành nước có độ mở lớn nhất trong số các nền kinh tế lớn đang phát triển Tính đến 2005, mức thuế trung bình đánh trên sản phẩm công nghiệp của Trung Quốc là 8,9%, thấp hơn nhiều so với các nước như Áchentina, Braxin, Ấn Độ và Inđônêxia (tương ứng là 30,9%, 27%, 32,4% và 36,9%) Trung Quốc cũng cam kết không tăng thuế đánh vào sản phẩm công nghiệp Ngược lại, Ấn Độ chỉ cam kết đối với 2/3 số dòng thuế Chế độ thu hút FDI của Trung Quốc cũng được đánh giá là khá hấp dẫn Trung Quốc cũng cam kết tự do hoá tất cả các ngành dịch vụ quy định trong khuôn khổ Hiệp định chung về thương mại dịch vụ của WTO,

Trang 3

WTO tiến gần với tiêu chuẩn này.

Việc Trung Quốc mở cửa được minh chứng rõ nét qua sự tăng mạnh về nhập khẩu trong những năm gần đây, theo đó ảnh hưởng ngày càng tăng tới kinh tế khu vực Đông Á và kinh tế toàn cầu

1.2 Nông nghiệp

Trung Quốc cũng đồng ý tự do hoá đáng kể thị trường nông nghiệp trong nước, cam kết giảm mức thuế nhập khẩu trung bình theo luật định đối với các mặt hàng nông sản từ 21% xuống còn 15% Trước khi gia nhập WTO, cũng giống như những nước khác, Trung Quốc hạn chế nhập khẩu các mặt hàng nông sản nhạy cảm thông qua việc cấp hạn ngạch và sử dụng những rào cản phi thuế khác Theo Hiệp định nông nghiệp trong vòng đàm phán Uruguay, Trung Quốc được yêu cầu phải xoá bỏ các hàng rào phi thuế đối với các mặt hàng nông sản nhập khẩu và thay thế bằng thuế quan có mức bảo hộ tương đương, nhằm mục tiêu đưa cơ chế bảo hộ nông nghiệp trở nên minh bạch hơn và thiết lập một cơ sở chung giữa các nước cho việc đàm phán về cắt giảm thuế quan trong tương lai

Hiệp định này yêu cầu các nước đề xuất các mức hạn ngạch theo đó hàng nông sản chịu thuế suất tương đối thấp, nếu nhập khẩu quá mức hạn ngạch trên sẽ phải chịu thuế suất cao hơn nhiều Đáng chú ý là Trung Quốc đồng ý chỉ đánh thuế 1% đối với các mặt hàng bột

mỳ, ngô, gạo và hàng bông nhập khẩu trong hạn ngạch chịu thuế suất thấp và mức hạn ngạch này cao hơn mức nhập khẩu thực tế những sản phẩm này trong năm 1998

Tiêu chuẩn y tế thường được dùng như một rào cản phi thuế đối với các mặt hàng nông sản nhập khẩu Trung Quốc đồng ý tuân thủ Hiệp định các tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm của WTO Việc ký kết hiệp định song phương với Mỹ trước khi gia nhập WTO dẫn đến việc Trung Quốc xoá bỏ những lệnh cấm nhập khẩu mặt hàng cam, quýt, bột mỳ, lá thuốc lá nhập

từ Mỹ và mặt hàng thịt từ một số vùng của Mỹ Tuy nhiên từ khi gia nhập WTO, Trung Quốc

đã ban hành trên 100 tiêu chuẩn mới về y tế và chất lượng thực phẩm

Trung Quốc cũng đồng ý hạn chế trợ cấp nông nghiệp trong nước ở mức 8,5% giá trị sản lượng nông nghiệp và hạn chế trợ cấp đối với một loại cây trồng cụ thể ở mức tối đa là 8,5% giá trị sản lượng cây trồng đó Theo Hiệp định Nông nghiệp của WTO, giới hạn trợ cấp cho ngành nông nghiệp của các nước đang phát triển là 10% Không giống phần lớn các nước đang phát triển, Trung Quốc buộc phải tính cả trợ cấp đầu tư và trợ cấp đối với những đầu vào nông nghiệp như phân bón khi tính tổng trợ cấp nông nghiệp Trung Quốc cũng đồng ý xoá bỏ trợ cấp xuất khẩu đối với các mặt hàng nông sản khi gia nhập WTO, điều mà Mỹ cũng như Liên minh châu Âu đã không phê chuẩn

1.3 Dịch vụ

Trung Quốc đã có những cam kết mang tính đột phá khi gia nhập WTO về mở cửa ngành dịch vụ cho đầu tư và cạnh tranh từ nước ngoài, trong đó đáng chú ý nhất là lĩnh vực phân phối, viễn thông và dịch vụ tài chính Đồng thời, Trung Quốc cũng cam kết mạnh mẽ trong việc mở cửa các dịch vụ chuyên môn, dịch vụ nghe nhìn và xây dựng

Trước khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã hạn chế quyền phân phối hàng hoá trên thị trường Trung Quốc của các doanh nghiệp nước ngoài Những doanh nghiệp này có thể nhập khẩu trực tiếp đầu vào, trang thiết bị và các nguyên vật liệu khác có liên quan đến hoạt động sản xuất và chế biến Tuy nhiên, để nhập khẩu những hàng hoá được chế tạo ngoài Trung Quốc, họ phải thông qua một đại lý và nói chung không thể bán những hàng hoá này trong cùng kênh mà dùng để bán hàng hoá những công ty này sản xuất tại Trung Quốc Do đó, các

Trang 4

doanh nghiệp như General Motors hay Volks Wagen gặp nhiều khó khăn khi nhập khẩu và phân phối các phương tiện vận tải được sản xuất ngoài Trung Quốc

Tính đến cuối năm 2004, theo cam kết khi gia nhập, Trung Quốc đã xoá bỏ dần các giới hạn về mặt địa lý, sở hữu và các giới hạn khác trong lĩnh vực bán buôn và bán lẻ, dịch vụ trong lĩnh vực phân phối như nhượng quyền kinh doanh, đại lý uỷ quyền, dịch vụ sửa chữa bảo dưỡng Kết quả là Trung Quốc đã tuân thủ các cam kết với WTO về quyền thương mại đối với tất cả các doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, các doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài

Trung Quốc đồng ý mở cửa đáng kể thị trường trong ngành ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, quản lý quỹ và các dịch vụ tài chính khác Nhiều hạn chế trong ngành ngân hàng đã được bãi bỏ, ví dụ như xoá bỏ quy định về giới hạn số thành phố tại đó các ngân hàng nước ngoài có thể hoạt động vào đầu năm 2005 Tuy nhiên, phải đến cuối năm 2006, tức sau 5 năm Trung Quốc gia nhập WTO, Trung Quốc mới thực hiện nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT) với các ngân hàng nước ngoài, đồng nghĩa với việc xoá bỏ các hạn chế còn áp dụng cho các ngân hàng nước ngoài Theo đó, các ngân hàng nước ngoài sẽ được phép cung cấp dịch vụ bằng đồng NDT

Tự do hoá đã dẫn đến việc các ngân hàng nước ngoài có mặt ngày càng nhiều tại Trung Quốc Trước khi Trung Quốc gia nhập WTO, mới có hơn 150 chi nhánh của các ngân hàng nước ngoài hoạt động tại hơn 23 thành phố, chiếm 1,5% tổng tài sản của ngành ngân hàng trong năm 2000 Từ thời điểm Trung Quốc gia nhập WTO đến cuối 2004, Trung Quốc đã cấp phép cho thêm 31 chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, tỷ trọng trong tổng tài sản chỉ tăng lên mức 1,8% vào cuối năm 2004 Theo đó, vẫn còn những hạn chế trong lĩnh vực kinh doanh đối với các ngân hàng nước ngoài Đồng thời, những hạn chế này làm tăng chi phí trong việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng

Tuy nhiên, các ngân hàng nước ngoài đã tăng tốc đầu tư vào các ngân hàng của Trung Quốc Quá trình này đã bắt đầu trước khi Trung Quốc gia nhập WTO nhưng được đẩy mạnh trong những năm gần đây Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) và Tập đoàn tài chính quốc tế (IFC) đã đầu tư vào các ngân hàng Trung Quốc từ năm 1996 Tính đến năm 2005, khoảng trên một chục các ngân hàng nước ngoài đã có cổ phần trong nhiều ngân hàng thương mại tại các thành phố và các ngân hàng cổ phần cấp quốc gia Quá trình này đã được đẩy mạnh khi Trung Quốc tăng mức giới hạn nắm giữ cổ phần của một tổ chức tài chính nước ngoài trong một ngân hàng Trung Quốc từ 15% lên 20% trong năm 2003 Quan trọng hơn, trong nỗ lực tái cơ cấu và niêm yết trên thị trường chứng khoán các ngân hàng thương mại nhà nước lớn, Chính phủ Trung Quốc đã bán cổ phần chiến lược trong Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc và Ngân hàng Trung Quốc cho các nhà đầu tư nước ngoài

Tương tự những cải cách trong lĩnh vực ngân hàng, vào đầu năm 2005, Trung Quốc đã bãi bỏ các giới hạn về mặt địa lý đối với các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài Thực hiện các cam kết, Chính phủ cũng xoá bỏ những hạn chế về sản phẩm dịch vụ, cho phép các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài cung cấp bảo hiểm tài sản, bảo hiểm thương tật, bảo hiểm y tế và các loại hình dịch vụ bảo hiểm khác như bảo hiểm hưu trí và trợ cấp hàng năm Tuy nhiên, các doanh nghiệp nước ngoài vẫn bị giới hạn tỷ lệ cổ phần nắm giữ khi tham gia liên doanh với đối tác Trung Quốc với mức giới hạn là 51% trong doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ và 50% đối với bảo hiểm nhân thọ Mặc dù doanh thu phí bảo hiểm của toàn thị trường Trung Quốc tăng rất nhanh, tỷ trọng của các doanh nghiệp nước ngoài chỉ chiếm

2 - 3%

Trang 5

ngân hàng và bảo hiểm do có mức hạn chế cao hơn về tỷ lệ nắm giữ cổ phần Hơn nữa, các công ty chứng khoán liên doanh không được phép giao dịch cổ phiếu loại A, nguồn doanh thu lớn nhất đối với các doanh nghiệp trong ngành chứng khoán Tuy nhiên, một số các công ty chứng khoán liên doanh và các doanh nghiệp quản lý quỹ đã được thành lập Các doanh nghiệp nổi tiếng thế giới về quản lý quỹ như UBS, JP Morgan, Credit Suisse First Boston, Prudential Financial và Schroder Investment Management đã thiết lập những liên doanh tại Trung Quốc

Trong lĩnh vực viễn thông, Trung Quốc cam kết giảm dần những hạn chế đối với đầu tư nước ngoài Quan trọng hơn, Trung Quốc cam kết các nguyên tắc ủng hộ cạnh tranh như minh bạch trong cấp phép, định giá dựa trên chi phí và quyền kết nối giữa các mạng di động Trung Quốc đã tách biệt chức năng quản lý và chức năng điều hành của Bộ Công nghệ Thông tin (trước là Bộ Bưu chính viễn thông) và ban hành Quy định về các doanh nghiệp viễn thông có vốn đầu tư nước ngoài (được xem là cam kết về môi trường thể chế cho hoạt động đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực viễn thông)

Việc mở cửa sớm thị trường dịch vụ của Trung Quốc được dự báo sẽ đem lại nhiều lợi ích Tuy nhiên, vẫn có những hạn chế trong việc thực hiện các cam kết khi gia nhập WTO và tác động trong dài hạn là rất khó dự báo Nhiều ngành dịch vụ như y tế, giáo dục và điện vẫn hạn chế sự gia nhập của các doanh nghiệp nước ngoài Thậm chí trong những ngành dịch vụ có độ

mở lớn hơn, trong ngắn hạn, các nhà cung cấp dịch vụ phương Tây cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn khi chuyển đổi mô hình kinh doanh cho phù hợp với bối cảnh Trung Quốc như mức thu nhập dân cư, sức mua của các khu vực địa lý, và sở thích của người tiêu dùng rất khác so với người tiêu dùng phương Tây

Tình hình thực hiện cam kết của Trung Quốc trong lĩnh vực dịch vụ tính đến 8/2005

Cam kết của Trung Quốc (tính đến 11/12/2004)

Tình hình thực hiện (tính đến 8/2005)

Quyền thương mại

Cho phép các công ty có vốn đầu tư nước

ngoài và các công ty trong nước tham gia

vào hoạt động xuất nhập khẩu

Đã thực hiện

Phân phối

1 Cho phép các doanh nghiệp 100% vốn

nước ngoài tham gia dịch vụ bán buôn,

bán lẻ và đại lý uỷ quyền

2 Cho phép nhượng quyền kinh doanh

3 Cho phép bán trực tiếp

4 Cho phép bán buôn và bán lẻ mặt hàng

dược phẩm

5 Cho phép bán lẻ mặt hàng nhiên liệu

tinh chế

6 Cho phép bán buôn các ấn phẩm in

Các công ty chế tác tại Trung Quốc có quyền phân phối, tuy nhiên khuyến khích mức doanh thu từ hoạt động phân phối thấp hơn 30% tổng doanh thu để tiếp tục được hưởng ưu đãi thuế áp dụng cho các doanh nghiệp chế tác.

Đã thực hiện

Chưa thực hiện

Đã thực hiện, chậm hơn hạn định

Đã thực hiện nhưng giới hạn ở mức tối đa

30 cửa hàng trên cả nước.

Không rõ ràng

Viễn thông

1 Cho phép 25% vốn đầu tư nước ngoài Các quy định đã được ban hành nhưng

Trang 6

Cam kết của Trung Quốc (tính đến 11/12/2004)

Tình hình thực hiện (tính đến 8/2005)

trong liên doanh cung cấp những dịch vụ

cơ bản (đàm thoại, fax) tại Bắc Kinh,

Quảng Châu và Thượng Hải

2 Cho phép 49% vốn đầu tư nước ngoài

trong liên doanh cung cấp dịch vụ không

dây tại phần lớn các thành phố lớn

chưa được thực hiện đầy đủ Một số ít các công ty viễn thông nước ngoài đã bắt đầu hoạt động tại Trung Quốc.

Đã thực hiện.

Ngân hàng

Mở cửa lĩnh vực kinh doanh bằng đồng

NDT tại Bắc Kinh, Côn Minh, Vân Nam,

Hạ Môn, Phúc Kiến

Đã thực hiện

Bảo hiểm

1 Cho phép FIE cung cấp bảo hiểm y tế,

bảo hiểm hưu trí, trợ cấp cho cả người

nước ngoài và người dân Trung Quốc

2.Cho phép 51% vốn sở hữu nước ngoài

trong liên doanh môi giới bảo hiểm

3 Dỡ bỏ tất cả các hạn chế về mặt địa lý

4 Giảm mức tái bảo hiểm tại Công ty Tái

bảo hiểm Trung Quốc của các công ty nước

ngoài xuống mức 5%

Đã thực hiện

Đã thực hiện

Đã thực hiện

Đã thực hiện

Chứng khoán

1 Cho phép thành lập công ty chứng khoán

liên doanh, với tối đa 33,3% vốn nước

ngoài, bảo lãnh phát hành cổ phiếu loại A,

bảo lãnh phát hành và giao dịch cổ phiếu

loại B và H.

2 Cho phép 49% vốn nước ngoài trong các

liên doanh quản lý quỹ

Đã thực hiện

Đã thực hiện

Du lịch

Giảm yêu cầu mức vốn tối thiểu khi thành

lập các đại lý du lịch xuống 2,5 triệu NDT

Đã thực hiện (Trung Quốc đã dỡ bỏ hạn chế về địa lý sớm hơn 3 năm so với hạn định)

Nguồn: US-China Business Council (8/2005).

2 Thu hút FDI

Cơ chế quản lý FDI của Trung Quốc trước khi gia nhập WTO quy định một số FIE phải đạt được một tỷ lệ nội địa hóa nhất định và cân đối giữa việc nhập khẩu các linh kiện và xuất khẩu các sản phẩm cuối cùng, hoặc phải đáp ứng những yêu cầu về tỷ lệ ngoại tệ bắt buộc Ngoài ra, việc phê duyệt còn phụ thuộc vào việc chuyển giao công nghệ cho các đối tác trong nước hoặc thành lập các trung tâm nghiên cứu tại Trung Quốc Hiệp định Các biện pháp đầu

Trang 7

dụng các biện pháp hạn chế mà có thể cản trở hoặc làm méo mó thương mại Những biện pháp bị cấm bao gồm những yêu cầu về tỷ lệ nội địa hoá, yêu cầu về cân đối thương mại và cân đối ngoại tệ Trung Quốc đã đồng ý thực hiện đầy đủ những điều khoản của TRIMs khi gia nhập WTO, và đồng thời cũng chấp thuận không thực hiện những điều khoản hiện có trong các hợp đồng với các công ty nước ngoài trái với TRIMs

Cụ thể, Trung Quốc cam kết giảm thiểu các thông lệ vốn buộc những công ty nước ngoài phải chuyển giao công nghệ cho các đối tác trong nước và tăng tỷ lệ nội địa của các ô tô được lắp ráp trong nước Mặc dù TRIMs bác bỏ việc chuyển giao công nghệ bắt buộc, nhưng vẫn

có một số lượng lớn các thông lệ khuyến khích chuyển giao công nghệ được phép theo TRIMs, và nhiều thông lệ này vẫn còn tiếp tục được thực hiện ở Trung Quốc, gây ra một số phản ứng từ phía các công ty nước ngoài và Cơ quan đại diện thương mại Mỹ (USTR) Các công ty nhà nước có quyền “yêu cầu” phía đối tác chuyển giao công nghệ như một phần trong hợp đồng mua bán, và chính vì tính cạnh tranh quốc tế nên các nhà đầu tư nước ngoài đều sẵn sàng chuyển giao công nghệ cho các công ty trong nước

Theo đánh giá của các nhà đầu tư nước ngoài, Trung Quốc nhìn chung đã thực hiện đúng các nghĩa vụ khi gia nhập WTO, ngoại trừ lĩnh vực sở hữu trí tuệ Về nguyên tắc, Trung Quốc phải tuân thủ TRIPs trong việc ban hành và thực thi các tiêu chuẩn đầy đủ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Sau các cuộc đàm phán song phương với Mỹ năm 1993, Trung Quốc ban hành Luật Sáng chế tương thích với TRIPs Tuy nhiên, hiệu lực thực thi yếu vẫn còn là một vấn đề đối với các công ty nước ngoài Trong khi các quan chức chính quyền trung ương luôn khẳng định cam kết đẩy mạnh việc thực thi các điều luật, các nhà đầu tư nước ngoài lại phàn nàn về việc các quan chức địa phương quá buông lỏng trong vấn đề vi phạm thương hiệu và bản quyền sáng chế

Là một phần trong cam kết mở rộng ngành dịch vụ phân phối, Trung Quốc cũng đồng ý cho phép các công ty nước ngoài có quyền kiểm soát lớn hơn trong vấn đề quảng cáo, phân phối và dịch vụ hậu mãi đối với các sản phẩm, bao gồm cả những sản phẩm sản xuất tại Trung Quốc và các sản phẩm nhập khẩu Sự tham gia ngày càng nhiều của các công ty phân phối tại Trung Quốc được dự báo sẽ cải thiện tính hiệu quả của ngành phân phối, một trong những vấn

đề các công ty nước ngoài gặp phải khi tìm cách tiếp cận thị trường bên ngoài các thành phố lớn

3 Chuyển đổi cơ cấu hàng xuất khẩu

Trong hai thập kỷ qua cơ cấu xuất khẩu của Trung Quốc đã thay đổi đáng kể Mười lăm năm trước, các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Trung Quốc là dầu thô, các sản phẩm hoá dầu

và hàng may mặc Tuy nhiên, trong những năm gần đây Trung Quốc đã xếp thứ 2 sau Mỹ trong việc sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm điện tử và công nghệ thông tin, cụ thể là hàng điện tử gia dụng, máy tính, trang thiết bị văn phòng và các thiết bị truyền thông Kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm này của Trung Quốc tăng từ 39 tỷ USD năm 1999 lên 142 tỷ USD năm 2003, trong đó Mỹ là thị trường tiêu thụ lớn nhất về mặt hàng này của Trung Quốc, kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ tăng gấp đôi từ 25 tỷ USD năm 1999 lên 59 tỷ USD năm 2003 Năm 2000, Trung Quốc đứng sau Nhật Bản, Mêhicô và EU trong việc xuất khẩu hàng hoá công nghệ cao vào Mỹ Tuy nhiên, năm 2002 Trung Quốc đã vươn lên vị trí thứ nhất

Tuy nhiên, có 3 lý do cho thấy sự thay đổi cơ cấu xuất khẩu của Trung Quốc chưa hẳn là bước nhảy vọt về công nghệ và khả năng sản xuất hàng công nghệ cao

Thứ nhất, phần lớn các sản phẩm điện tử công nghệ thông tin nhập khẩu từ Trung Quốc

được Liên minh các nhà sản xuất và Hiệp hội điện tử Mỹ phân loại là những sản phẩm công

Trang 8

nghệ cao hay công nghệ tiên tiến chưa hẳn đã là những sản phẩm công nghệ cao Sản phẩm

Mỹ nhập nhiều nhất từ Trung Quốc là hàng điện tử tiêu dùng, máy tính, trang thiết bị văn phòng, trang thiết bị truyền thông, cụ thể là đầu máy DVD, máy tính xách tay, điện thoại di động Mỗi loại hàng này được sản xuất hàng loạt với số lượng lớn, chủ yếu được bán bởi các hãng lớn cung ứng các sản phẩm điện tử Ví dụ, năm 2003 Mỹ nhập khẩu hơn 31 triệu đầu máy DVD từ Trung Quốc với mức giá trung bình dưới 80 USD, hơn 7,5 triệu máy tính xách tay với giá trung bình khoảng 550 USD và hơn 20 triệu điện thoại di động với mức giá trung bình dưới 100 USD Việc sản xuất khối lượng lớn và chi phí thấp như vậy cho thấy những sản phẩm này không phải là những sản phẩm công nghệ cao

Thứ hai, mặc dù Trung Quốc xuất khẩu số lượng lớn các sản phẩm điện tử và công nghệ

thông tin nhưng Trung Quốc lại nhập khẩu hầu hết các linh kiện lắp ráp các sản phẩm đó Trong thực tế Trung Quốc không sản xuất những sản phẩm này mà thực hiện việc lắp ráp linh kiện nhập khẩu Giá trị gia tăng tạo ra trong nước chỉ chiếm 15% giá trị xuất khẩu các sản phẩm điện tử và công nghệ thông tin, còn lại là giá trị nhập khẩu Năm 2003, Trung Quốc xuất khẩu 142 tỷ USD các sản phẩm điện tử và công nghệ thông tin, nhưng lại nhập khẩu đến

127 tỷ USD, chủ yếu là nhập các linh kiện lắp ráp hơn là các sản phẩm hoàn chỉnh (xuất khẩu ròng đạt 15 tỷ USD) Mặt khác, Trung Quốc đang nhập khẩu ngày càng nhiều các đầu vào phục vụ xuất khẩu, đặc biệt là từ các nước Đông Á Năm 2002, Trung Quốc bị thâm hụt thương mại lớn đến 25 tỷ USD với Đài Loan (TQ), 2/3 mặt hàng nhập khẩu từ Đài Loan (TQ)

là linh kiện được dùng để lắp ráp cho các thành phẩm của các nhà máy Đài Loan (TQ) Năm

2003, khi xuất khẩu các mặt hàng công nghệ thông tin của Trung Quốc tăng lên, nhập khẩu các linh kiện điện tử từ Nhật Bản cũng tăng lên 60% Có quan điểm cho rằng mặc dù Trung Quốc là nước thu lợi lớn nhất về thị phần xuất khẩu các sản phẩm công nghệ cao trong thập

kỷ qua, nhưng giữa Trung Quốc và các nước láng giềng là quan hệ bổ sung lẫn nhau hơn là cạnh tranh trong xuất khẩu các sản phẩm công nghệ cao

Chất bán dẫn và bộ vi xử lý nhập khẩu (những bộ phận quan trọng nhất trong sản phẩm điện tử và công nghệ thông tin) chiếm tỷ lệ lớn trong các linh kiện lắp ráp nhập khẩu Nhập khẩu của Trung Quốc về chất bán dẫn và bộ vi xử lý đã tăng gấp 4 lần từ 12 tỷ USD năm

1999 lên hơn 47 tỷ USD năm 2003, chiếm hơn 1/4 cầu thế giới (166 tỷ USD) Giá trị sản xuất chất bán dẫn và bộ vi xử lý trong nước của Trung Quốc là rất thấp so với giá trị nhập khẩu các sản phẩm này Năm 2003 sản xuất trong nước các sản phẩm bán dẫn chỉ đạt 4,6 tỷ USD, ít hơn 1/10 giá trị nhập khẩu Đầu tư sản xuất chất bán dẫn đã tăng đáng kể trong những năm gần đây và có khả năng sẽ làm sản xuất trong nước tăng nhanh hơn Tuy nhiên, do công suất sản xuất các sản phẩm điện tử và công nghệ thông tin của Trung Quốc tiếp tục tăng, Trung Quốc có thể vẫn là nước nhập khẩu lớn nhất thế giới về chất bán dẫn và bộ vi xử lý trong những năm tới

Thứ ba, hầu hết các sản phẩm điện tử và công nghệ thông tin xuất khẩu là do các công ty

nước ngoài lắp ráp, đặc biệt là các công ty của Đài Loan (TQ) Năm 2003, các công ty nước ngoài chiếm 92% trong 41 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu máy tính, linh kiện máy tính, và các thiết bị ngoại vi, chiếm 74% trong 89 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu thiết bị điện tử và viễn thông

Tóm lại, cơ cấu xuất khẩu hàng hoá thay đổi nhanh của Trung Quốc không cho thấy các công ty Trung Quốc có bước tiến vượt bậc về mặt công nghệ, vì các công ty trong nước chưa nâng cao được khả năng nghiên cứu và phát minh Khoảng cách về công nghệ giữa các công

ty nước ngoài đang hoạt động tại Trung Quốc và các công ty trong nước đang tăng lên Điều này là do các công ty nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực điện tử và công nghệ thông tin ở

Trang 9

Trung Quốc chủ yếu là các công ty 100% vốn nước ngoài chứ không phải là các công ty liên doanh Theo đó, các công ty này thường giữ bí mật các bí quyết công nghệ trước các đối thủ cạnh tranh cả ở trong nước và nước ngoài, vì vậy hạn chế khả năng phổ biến công nghệ tới các công ty trong nước của Trung Quốc Hơn nữa, nhiều công ty trong nước chi rất ít cho nghiên cứu và triển khai để phát triển công nghệ mới của riêng mình

4 Chế độ tỷ giá hối đoái

Trung Quốc cũng như các nước châu Á khác đã từng có thời gian dài quản lý tỷ giá hối đoái của mình bằng cách can thiệp vào thị trường ngoại hối để hạn chế sự lên giá của đồng NDT nhằm duy trì mức thặng dư thương mại, thúc đẩy tăng trưởng Vậy có phải đồng nội tệ của Trung Quốc đang bị định giá thấp? Và nếu điều đó xảy ra thì Trung Quốc cần có phản ứng như thế nào? Và phản ứng này sẽ tạo ra những thay đổi gì đối với thương mại toàn cầu của Trung Quốc và thương mại song phương của Trung Quốc với Mỹ?

Trước hết, cần nhấn mạnh rằng khác với Nhật Bản và một số nước khác trong khu vực, đồng NDT của Trung Quốc được định giá thấp mới chỉ xảy ra gần đây Từ giữa năm 1994 đến năm 2001, khi đồng NDT còn neo theo đồng USD, thặng dư tài khoản vãng lai trung bình của Trung Quốc chỉ chiếm 1,8% GDP Đến giai đoạn 2002-2003, con số này đã tăng lên mức trung bình là 3,1% và sau đó là 4,2% năm 2004 Khác với các nước láng giềng Đông Nam Á, trong 5 năm kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á (1999-2003), tài khoản vốn của Trung Quốc luôn thặng dư Mức thặng dư này chiếm trung bình 1,3% GDP trong giai đoạn 1999-2001, sau đó tăng lên 3,2% trong giai đoạn 2002-2003 và 6,7% năm 2004 Cần chú ý rằng trong khi tỷ giá danh nghĩa giữa NDT và USD không đổi, từ đầu năm 2002 đến nay, đồng NDT tính theo trọng số thương mại đã mất giá đáng kể do thặng dư tài khoản vãng lai

và tài khoản vốn của Trung Quốc tăng mạnh

Mặc dù trên danh nghĩa Trung Quốc vẫn duy trì một tài khoản vốn tương đối đóng, nhưng lượng vốn ra bên ngoài từ trước năm 2001 đã bù đắp phần lớn thặng dư tài khoản vãng lai và tài khoản vốn Kết quả là mức dự trữ ngoại hối của Trung Quốc vẫn còn khiêm tốn so với tiêu chuẩn của châu Á Tuy nhiên năm 2001, nguồn vốn ra bên ngoài đã giảm đáng kể và đến giai đoạn 2002-2004 luồng vốn vào trong nước tăng mạnh Để giữ cho đồng NDT neo theo đồng USD ở mức 8,28 NDT/USD trong điều kiện thặng dư tài khoản vãng lai và tài khoản vốn lớn cũng như luồng vốn vào trong nước tăng, từ năm 2001, Trung Quốc đã phải mua một lượng lớn ngoại tệ, từ đó làm tăng dự trữ ngoại tệ của nước này Ví dụ, chỉ riêng năm 2004, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc đã tăng thêm 206,3 tỷ USD, tương đương 12,5% GDP

Thông qua các hành động của mình, Trung Quốc đã ngầm thừa nhận rằng đồng NDT đang được định giá thấp Cho đến trước ngày 21/7/2005, Trung Quốc đã chọn cách cố gắng giảm sức ép đối với đồng nội tệ thông qua một loạt các biện pháp đặc biệt chứ không thay đổi tỷ giá hối đoái Trung Quốc cũng nới lỏng quy trình phê chuẩn các hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài; tự do hoá các quy định về du lịch ra nước ngoài; và cho phép một tổ chức tài chính trong nước được phát hành nợ bằng đồng USD Vào tháng 3 và tháng 8/2004, Quỹ bảo hiểm xã hội quốc gia và các công ty bảo hiểm trong nước đã đầu tư ra thị trường nước ngoài Các biện pháp này đều có xu hướng sẽ làm tăng cầu hoặc giảm cung về ngoại

tệ, từ đó làm giảm lượng dự trữ ngoại hối chính thức của Trung Quốc Việc khuyến khích Trung Quốc tự do hoá tài khoản vốn và thực hiện một tỷ giá hối đoái thả nổi chắc chắn phù hợp nếu đây được coi là một mục tiêu dài hạn Trong nhiều năm qua, chính quyền Trung Quốc đã liên tục nhấn mạnh mục tiêu hướng tới một đồng tiền có khả năng chuyển đổi và một cơ chế tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn

Tuy nhiên, trong ngắn hạn và trung hạn, một đồng tiền có khả năng chuyển đổi với một tỷ

Trang 10

giá hối đoái thả nổi là một lựa chọn đầy rủi ro đối với Trung Quốc Các hộ gia đình của Trung Quốc nắm giữ hơn 12 nghìn tỷ NDT tiền tiết kiệm trong các tài khoản ngân hàng (tương đương GDP của Trung Quốc) Có rất ít người Trung Quốc gửi tiết kiệm có cơ hội để đa dạng hoá cơ cấu tiền gửi tiết kiệm của họ Việc xoá bỏ kiểm soát vốn có thể dẫn đến việc các tài khoản sẽ dần chuyển thành các tài khoản tài chính định giá theo đồng ngoại tệ, phần lớn là không được gửi ở các ngân hàng Trung Quốc Do các ngân hàng Trung Quốc vốn nổi tiếng là yếu kém nên động thái này có thể sẽ nhanh chóng dẫn đến một cuộc khủng hoảng của các ngân hàng trong nước Kết quả là chính quyền không có ý định thả lỏng kiểm soát vốn đối với tiết kiệm hộ gia đình cho đến khi họ giải quyết triệt để các vấn đề về khả năng thanh toán của các ngân hàng nhà nước lớn Quá trình này đang diễn ra khá suôn sẻ nhưng để hoàn thành thì

có thể phải mất từ 3-5 năm

Nếu đồng NDT tiếp tục được định giá thấp trong vòng 3-5 năm tới sẽ gây ra những tác động ngược chiều đối với các đối tác thương mại của Trung Quốc và Ngân hàng trung ương Trung Quốc sẽ tiếp tục bị hạn chế trong việc sử dụng lãi suất như một công cụ chính sách kinh tế vĩ mô Những rủi ro này cho thấy cách tiếp cận tốt nhất nên là định giá lại đồng NDT trong ngắn hạn và sau khi hoàn thành việc chuyển đổi hệ thống ngân hàng trong nước, sẽ tiến tới xoá bỏ kiểm soát vốn, cùng lúc với thả nổi đồng tiền

Tháng 7/2005, Chính phủ Trung Quốc đã đáp ứng phần nào mục tiêu này khi tuyên bố một

hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi có kiểm soát mới trong đó cho phép đồng nội tệ tăng giá 2,1% lên đến mức mới là 8,11 NDT/1 USD; cho phép biên độ giao dịch là 0,3%/ngày; và đồng NDT sẽ không neo cố định với đồng USD mà được tham chiếu với một rổ tiền tệ

Bộ Tài chính Mỹ ngay lập tức đã đưa ra ý kiến rằng cơ chế tỷ giá thả nổi có kiểm soát mới

sẽ cho phép đồng tiền tăng tới 6%/tháng Tuy nhiên cách giải thích này có vẻ không hợp lý vì hai lý do Thứ nhất, Chính phủ Trung Quốc đã gọi cơ chế tỷ giá của họ là thả nổi có kiểm soát

từ 1/1994, vì vậy đây không phải là một cơ chế tỷ giá mới Thứ hai, biên độ giao dịch 0,3%/ngày và việc sử dụng giá đóng cửa của ngày hôm trước làm giá mở cửa ngày hôm sau cũng đã được áp dụng từ năm 1994 Tuy nhiên, từ giữa năm 1995 đến tháng 7/2005, tỷ giá danh nghĩa hoàn toàn không thay đổi Từ tháng 7/2005 đến nay, tỷ giá có thay đổi một số lần nữa nhưng rất từ từ và không đáng kể

Cần phải có thêm thời gian mới đánh giá hết được tầm quan trọng của quyết định tháng 7/2005 Theo đó, giá trị của đồng NDT sẽ phần lớn được quyết định bởi yếu tố cung và cầu trên thị trường Điều này sẽ khiến đồng nội tệ tăng giá hơn nữa và theo thời gian sẽ làm tăng tính linh hoạt của đồng tiền Cả hai điều này đều rất đáng mong đợi vì chúng không chỉ góp phần làm giảm những mất cân đối toàn cầu mà còn cho phép các nhà chức trách linh hoạt hơn trong việc sử dụng chính sách lãi suất như một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô

Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - xã hội Quốc gia

Ngày đăng: 17/04/2022, 10:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w