1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

398 Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Bắc Hưng Yên

106 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 187,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (15)
    • 1.1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại (15)
    • 1.1.2 Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại (16)
    • 1.1.3 Khái niệm tín dụng Ngân hàng thương mại (17)
    • 1.1.4 Những quy định trong hoạt động tín dụng (18)
  • 1.2 CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA (21)
    • 1.2.1 Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa (21)
    • 1.2.2 Khái niệm chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa (38)
    • 1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (41)
    • 1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (45)
  • 1.3 SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA (48)
  • 1.4 KINH NGHIỆM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA -BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO BIDV (50)
  • CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH BẮC HƯNG YÊN (0)
    • 2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BIDV CHI NHÁNH BẮC HƯNG YÊN (56)
      • 2.2.1 Chính sách tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại BIDV chi nhánh Bắc Hưng Yên (64)
      • 2.2.2 Thực trạng chất lượng hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại (65)
    • 2.3 ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI BIDV CHI NHÁNH BẮC HƯNG YÊN (77)
      • 2.3.1. Những kết quả đạt được (77)
      • 2.3.2. Những hạn chế (78)
      • 2.3.3. Nguyên nhân của những tồn tại và hạn chế (79)
  • CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNGHOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH BẮC HƯNG YÊN (0)
    • 3.1. ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA76 (86)
      • 3.1.1 Định hướng phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa của Nhà nước (86)
      • 3.1.2 Định hướng hoạt động kinh doanh của BIDV chi nhánh Bắc Hưng Yên trong thời gian tới (87)
      • 3.1.3 Định hướng hoạt động tín dụng của BIDV chi nhánh Bắc Hưng Yên đối với (88)
    • 3.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI (89)
      • 3.2.2 Hoàn thiện chính sách khách hàng (90)
      • 3.2.3 Hoàn thiện cơ cấu cho vay (91)
      • 3.2.4 Xây dựng cơ chế trao đổi thông tin chất lượng (92)
      • 3.2.5 Nâng cao chất lượng cán bộ tín dụng (93)
      • 3.2.6 Thực hiện tốt công tác thẩm định trướckhi cho vay (94)
      • 3.2.7 Hoàn thiện bộ máy kiểm tra, giám sát nội bộ sau khi cho vay (95)
      • 3.2.8 Tạo lập mối quan hệ chặt chẽ giữa doanh nghiệp với Ngân hàng (96)
    • 3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ (97)
      • 3.3.1. Kiến nghị với Nhà nước (97)
      • 3.3.2 Kiến nghị với doanh nghiệp nhỏ và vừa (99)
      • 3.3.3 Kiến nghị với Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt (102)
  • KẾT LUẬN (55)

Nội dung

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOHỌC VIỆN NGÂN HÀNG PHẠM THỊ THU HÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Khái niệm Ngân hàng thương mại

Ngân hàng hay nhà băng là tổ chức tín dụng thực hiện các hoạt động cho vay như nhận tiền gửi, cho vay và đầu tư tài chính, các hoạt động thanh toán, phát hành các loại kỳ phiếu, hối phiếu, v.v và một số hoạt động khác Một số ngân hàng còn có chức năng phát hành tiền.

Sự ra đời của ngân hàng

Ngân hàng bắt nguồn từ một công việc rất đơn giản là giữ các đồ vật quý cho những người chủ sở hữu nó, tránh gây mất mát Đổi lại, người chủ sở hữu phải trả cho người giữ một khoản tiền công Khi công việc này mang lại nhiều lợi ích cho những người gửi, các đồ vật cần gửi ngày càng đa dạng hơn, và đại diện cho các vật có giá trị như vậy là tiền, dần dần, ngân hàng là nơi giữ tiền cho những người có tiền Khi xã hội phát triển, thương mại phát triển, nhu cầu về tiền ngày càng lớn, tức là phát sinh nhu cầu vay tiền ngày càng lớn trong xã hội Khi nắm trong tay một lượng tiền, những người giữ tiền nảy ra một nhu cầu cho vay số tiền đó, vì lượng tiền trong tay họ không phải bao giờ cũng bị đòi trong cùng một thời gian, tức là có độ chênh lệch lượng tiền cần gửi và lượng tiền cần rút của người chủ sở hữu Từ đó phát sinh nghiệp vụ đầu tiên nhưng cơ bản nhất của ngân hàng nói chung, đó là huy động vốn và cho vay vốn. Đầu tiên ngân hàng thương mại là một loại ngân hàng trung gian Ở mỗi nước có một cách định nghĩa riêng về ngân hàng thương mại Ví dụ: Ở Mỹ: ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính và họat động trong ngành dịch vụ tài chính Ở Pháp: ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên nhận tiền của công chúng dưới hình thức kí thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính Ở Ản Độ: ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản kí thác để cho vay hay tài trợ và đầu tư Ở Thổ Nhĩ Kì: ngân hàng thương mại là hội trách nhiệm hữu hạn thiết lập nhằm mục đích nhận tiền kí thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, nghiệp vụ công hối phiếu, chiết khấu và những hình thức vay mượn khác Ở Việt Nam Pháp lệnh ngân hàng ngày 23-5-1990 của hội đồng Nhà nướcViệt Nam xác định: ‘ ‘Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà họat động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán’ ’

Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại

* Hoạt động huy động vốn

Vốn huy động của ngân hàng thương mại dưới hình thức bằng tiền (nội tệ và ngoại tệ) bằng vàng được hình thành từ hai bộ phận : vốn huy động từ tiền gửi và vốn huy động thông qua phát hành các giấy tờ có giá.

- Vốn huy động tiền gửi: bao gồm tiền gửi của tổ chức kinh tế, tiền gửi của dân cư và tiền gửi khác.

+ Tiền gửi của tổ chức kinh tế: trong quá trình sản xuất kinh doanh, các tổ chức kinh tế thường có một bộ phận nhàn rỗi tạm thời như khấu hao đã trích nhưng chưa sử dụng, tiền thu bán hàng chưa phải mua nguyên vật liệu, trả lương hay các quỹ đầu tư phát triển, phúc lợi, khen thưởng đã trích lập nhưng chưa sử dụng đến. Để đảm bảo an toàn tài sản và đồng vốn vẫn sinh lời các tổ chức kinh tế có thể gửi số vốn đó vào ngân hàng.

+ Tiền gửi của dân cư: là một bộ phận thu nhập bằng tiền của các tầng lớp dân cư trong xã hội gửi vào ngân hàng nhằm mục đích kiếm lời và để thanh toán.

+ Tiền gửi khác: ngoài hai loại tiền gửi trên, tại các NHTM còn có các khoản tiền gửi như:

V Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác

V Tiền gửi của kho bạc nhà nước

S Tiền gửi của các tổ chức đoàn thể xã hội

S Vốn huy động thông qua phát hành giấy tờ có giá: đây là nguồn vốn mà

NHTM có đuợc thông qua việc phát hành các giấy tờ có giá nhu kỳ phiếu ngân hàng, trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi.

Cho vay là hoạt động đem lại nguồn thu chủ yếu của NHTM.

Cho vay là sự chuyển nhuợng tạm thời một luợng giá trị từ nguời sở hữu (NHTM) sang nguời sử dụng ( nguời vay- khách hàng ) sau một thời gian nhất định lại quay về với luợng giá trị lớn hơn ban đầu.

+ Phân loại theo thời hạn cho vay

+ Phân loại theo đối tuợng cho vay

+ Phân loại theo mục đích sử dụng vốn

+ Phân loại theo xuất xứ tín dụng

+ Phân loại theo hình thức đảm bảo tiền vay

+ Phân loại theo phuơng pháp hoàn trả

* Hoạt động dịch vụ thanh toán

Thanh toán qua ngân hàng là chỉ các nghiệp vụ chi trả tiền hàng, dịch vụ và các khoản thanh toán khác giữa các tác nhân trong nuớc và quốc tế đuợc thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng.

Thanh toán qua ngân hàng bao gồm hai bộ phận: thanh toán bằng tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt.

*Các hoạt động khác: Hoạt động thanh toán quốc tế trong ngoại thuơng, hoạt động bảo lãnh, hoạt động marketing.

Khái niệm tín dụng Ngân hàng thương mại

Trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì:

Tín dụng được hiểu là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (Ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi vay cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.

Từ khái niệm trên, bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và có các đặc trưng sau:

Thứ nhất, tài sản trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản).

Thứ hai, xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả nên người cho vay khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn.

Thứ ba, giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc.

Thứ tư, trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở hoàn trả vô điều kiện.

Những quy định trong hoạt động tín dụng

Quy định trong hoạt động tín dụng là các quy định điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể (ngân hàng và khách hàng) khi tham gia hoạt động cho vay của ngân hàng Các quy định này có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động cho vay (về danh mục, lĩnh vực đầu tư) bởi vì nó quy định tính chất, quy mô, phạm vi giao dịch trong hoạt động cho vay của ngân hàng, nó có vai trò rất lớn đối với trạng thái rủi ro và an toàn trong hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay nói riêng.

Cho vay có hiệu quả là điều kiện và biện pháp hàng đầu đảm bảo cho ngân hàng duy trì sự tồn tại và phát triển ổn định Muốn vậy, hoạt động cho vay của ngân hàng phải lành mạnh và có hiệu quả Cụ thể, các TCTD phải thực hiện tốt việc kiểm tra khả năng hoàn trả của người xin vay trước khi cho vay, đảm bảo tính độc lập trong quá trình kiểm tra, tuân thủ quy trình cho vay, đảm bảo việc cho vay chỉ tiến hành trên cơ sở có bảo đảm theo đúng quy định Ngân hàng chỉ cho vay đối với khách hàng khi khách hàng đảm bảo được các nguyên tắc sau:

- Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.Đây là nguyên tắc cơ bản, vì có sử dụng vốn đúng mục đích thì khách hàng mới có thể thực hiện được dự án, phương án sản xuất kinh doanh theo lợi ích dự kiến và do vậy mới có thể thu hồi được vốn để hoàn trả nợ cho ngân hàng Nguyên tắc này nhằm hạn chế rủi ro đạo đức và hạn chế khả năng khách hàng dùng vốn vay để thực hiện các hành vi mà pháp luật cấm.

- Phải hoàn trả gốc và lãi đúng hạn Nguyên tắc này đảm bảo phương châm hoạt động của ngân hàng là ‘ ‘ đi vay để cho vay’ ’ và thực hiên nguyên tắc trong hạch toán kinh doanh lấy thu bù chi và có lãi.

(2) Điều kiện vay vốn Điều kiện vay vốn là những quy định cụ thể của ngân hàng đối với khách hàng đáp ứng được yêu cầu do ngân hàng đề ra Điều kiện vay vốn bao gồm:

- Địa vị pháp lý của khách hàng vay vốn: khách hàng vay vốn phải có năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định pháp luật, do mỗi khách hàng có một địa vị pháp lý khác nhau nên điều kiện vay vốn cần quy định cụ thể cho từng loại khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành.

- Có khả năng tài chính và đảm bảo trả nợ đúng hạn theo hợp đồng tín dụng đã ký kết Khả năng tài chính của khách hàng được thực hiện thông qua mức độ vốn chủ sở hữu của khách hàng tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống.

- Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp: khách hàng không được vay vốn để sử dụng cho các mục đích mà pháp luật cấm như: mua sắm, chi phí hình thành tài sản mà pháp luật cấm mua bán, chuyển nhượng; chuyển đổi; để thanh toán chi phí cho thực hiện các giao dịch mà pháp luật cấm cũng như khách hàng vay phải đúng với mục đích của đối tượng vay.

- Các tài liệu chứng minh khả năng hấp thụ vốn vay phù hợp với quy định của pháp luật và khả năng hoàn trả vốn vay ngân hàng.

Mục đích cho vay của các NHTM nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn hợp pháp của khách hàng, thông qua đó để tìm kiếm lợi nhuận Tuy nhiên ngân hàng chỉ cho vay đáp ứng những nhu cầu vay vốn hợp pháp, phù hợp với các quy định của pháp luật. Ở Việt Nam theo quy định tại thông tu 39/2016/TT-NHNN, các nhu cầu không đuợc vay vốn bao gồm:

- Để thực hiện các hoạt động đầu tu kinh doanh thuộc ngành, nghề mà pháp luật cấm đầu tu kinh doanh.

- Để thanh toán các chi phí, đáp ứng các nhu cầu tài chính của các giao dịch, hành vi mà pháp luật cấm

- Để mua, sử dụng các hàng hóa, dịch vụ thuộc ngành, nghề mà pháp luật cấm đầu tu kinh doanh.

- Để trả nợ khoản vay tại chính TCTD cho vay.

- Để trả nợ khoản vay tại TCTD khác và trả nợ khoản vay nuớc ngoài.

(4) Quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay

- Điều kiện và biện pháp hàng đầu để đảm bảo sự ổn định của ngân hàng là hoạt động cho vay lành mạnh, có hiệu quả Để thực hiện đuợc điều này, các ngân hàng phải thực hiện tốt việc kiểm tra, đánh giá khả năng hoàn trả của nguời xin vay truớc khi cho vay và trong quá trình sử dụng vốn vay việc cho vay chỉ tiến hành trên cơ sở khách hàng có đầy đủ điều kiện đuợc vay theo đúng quy định.

- Các hạn chế để đảm bảo an toàn tín dụng có vai trò quan trọng trong việc thực hiện cho vay bởi nó quy định giới hạn cho vay của ngân hàng đối với mỗi khách hàng, mỗi lĩnh vực kinh doanh Thông qua các hạn chế cho vay, ngân hàng hạn chế đuợc việc tập trung vốn vào một số ít khách hàng, một số ngành, lĩnh vực kinh doanh, nhờ đó tránh đuợc rủi ro ngành và thực hiệ phân tán rủi ro tín dụng.

- Các biện pháp bảo đảm trong cho vay nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi đuợc các khoản nợ cho đã cho khách hàng vay Tùy từng truờng hợp cụ thể mà ngân hàng có thể áp dụng riêng lẻ hoặc phối hợp sử dụng các biện pháp cho vay có bảo đảm bằng tài sản, cho vay không có bảo đảm bằng tài sản.

- Hợp đồng tín dụng/ Hợp đồng đảm bảo tiền vay là văn bản pháp lý thể hiện mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và người đi vay, là cơ sở pháp lý để ngân hàng thực hiện cho vay, quản lý khoản vay, thu hồi nợ và xử lý các khiếu kiện/ tranh chấp (nếu có).

- Nội dung của hợp đồng phải logic, thống nhất, phản ánh đầy đủ các điều khoản và điều kiện tín dụng, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, cam kết chung giữa các bên và tuân thủ tuyệt đối các quy định pháp lý về tín dụng và quản lý hiện hành của các cơ quan quản lý và ngân hàng.

- Hợp đồng chỉ có hiệu lực khi đã được ngân hàng và khách hàng (bên cho vay và bên đi vay/ bên nhận bảo lãnh) ký tên chấp nhận.

(6) Xét duyệt cho vay, kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng vốn vay.

Xét duyệt cho vay, kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng vốn vay là nhân tố quan trọng để đảm bảo cho vốn tín dụng phát huy được hiệu quả như mong muốn Vì vậy ngân hàng phải tổ chức xét duyệt cho vay theo nguyên tắc phân định trách nhiệm giữa các khâu thẩm định và quyết định cho vay, trong trường hợp cần thiết, ngân hàng có quyền yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh phương án kinh doanh khả thi, khả năng tài chính của mình và của người bảo lãnh trước khi quyết định cho vay.

CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.2.1.1 Khái niệm, đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa

Theo khoản 7 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2 015 quy định: ‘ ‘ Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh’ ’. Để thuận lợi cho việc quản lý, hỗ trợ các doanh nghiệp, các nước thường dựa theo tiêu thức quy mô để phân loại Theo tiêu thức này, doanh nghiệp được chia thành: doanh nghiệp quy mô lớn, DNNVV Tiêu chí xác định thường dựa vào các yếu tố: vốn, lao động, doanh thu, Tùy từng nước có thể dùng một, hai, hoặc cả ba tiêu chí để phân biệt Sự khác nhau về tiêu chí xác định là hoàn toàn khách quan, phụ thuộc vào điều kiện, trình độ phát triển cũng nhu các chính sách, biện pháp hỗ trợ và định huớng phát triển của mỗi nuớc.

Khi nói đến Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là nói đến quy mô của doanh nghiệp DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu.

Căn cứ vào quy mô, Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro) , doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số luợng lao động duới 10 nguời, doanh nghiệp nhỏ có số luợng lao động từ 10 đến duới 50 nguời, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động Ở mỗi nuớc, nguời ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nuớc mình Ở Việt Nam, không phân biệt lĩnh vực kinh doanh, các doanh nghiệp có số vốn đăng ký duới 10 tỷ đồng hoặc số luợng lao động trung bình hàng năm duới 300 nguời đuợc coi là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đối với đa phần các quốc gia phát triển nhu: Mỹ, Pháp, Nhật những doanh nghiệp có số lao động từ 5 nguời trở xuống thì đuợc coi là có quy mô nhỏ và vừa, trong số đó những doanh nghiệp có số lao động 200 nguời trở xuống đuợc coi là doanh nghiệp nhỏ Ở Việt nam, tiêu chí phân loại doanh nghiệp tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu của các tổ chức, các quỹ, yêu cầu của các ngành nghề doanh nghiệp hoạt động Ngày 30/6/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về ‘ ‘ Trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa’ ’ Theo đó, Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, đuợc chia thành ba cấp: siêu nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tuơng đuơng tổng tài sản đuợc xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp hoặc số lao động bình quân năm tổng nguồn vốn là tiêu chí uu tiên cụ thể nhu sau:

I Nông, lâm nghiệp và thủy sản

2 0 tỷ đồng trở xuống từ trên 1 người đến

200 người từ trên 2 0 tỷ đồng đến 1 tỷ đồng

II Công nghiệp và xây dựng

2 0 tỷ đồng trở xuống từ trên 1 người đến

200 người từ trên 2 0 tỷ đồng đến 1 tỷ đồng

III Thương mại và dịch vụ

10 tỷ đồng trở xuống từ trên 1 người đến

50 người từ trên 2 0 tỷ đồng đến 5 tỷ đồng

Bảng 1.1Quy mô Doanh nghiệp nhỏ và vừa

(Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ) Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Doanh nghiệp nhỏ và vừa là một loại hình doanh nghiệp nên nó mang đầy đủ đặc điểm của một doanh nghiệp Tuy nhiên doanh nghiệp nhỏ và vừa còn có các đặc điểm riêng sau:

❖ Những đặc điểm thể hiện ưu điểm của DNNVV

• DNNVV có vốn đầu tư ban đầu thấp, chu kỳ kinh doanh ngắn, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp

Vốn đầu tư ban đầu của một DNNVV là tương đối thấp Do các DNNVV thường chọn sản xuất những mặt hàng, sản phẩm có vòng đời ngắn nhằm rút ngắn chu kỳ kinh doanh, mau chóng thu hồi vốn để tái sản xuất Những mặt hàng có vòng đời ngắn lại thuờng có chi phí cố định bình quân trên một sản phẩm thấp, điều này cho phép các DNNVV hoạt động hiệu quả với chi phí cố định không cao Mặt khác, trong số các DNNVV có nhiều doanh nghiệp đuợc thành lập trên quan hệ gia đình, bạn bè, nguời thân, vì thế giá thành lao động thuờng không cao, cả công nhân và chủ doanh nghiệp chấp nhận hạ thấp luơng để đầu tu trang thiết bị, máy móc cho doanh nghiệp.

Cơ cấu tổ chức của DNNVV là doanh nghiệp có quy mô nhỏ, cơ cấu tổ chức đơn giản gọn nhẹ, có tính linh hoạt cao nên dễ thích nghi với sự thay đổi của môi truờng kinh doanh, hoạt động tuơng đối hiệu quả so với các lọai hình doanh nghiệp còn lại Cơ cấu gọn nhẹ là điều kiện thuận lợi để chủ doanh nghiệp quản lý, giám sát chặt chẽ tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời làm giảm thiểu sai lệch thông tin do giảm bớt cấp trung gian Vì có tính linh hoạt cao nên các DNNVV có thể nhanh chóng điều chỉnh các mục tiêu và chiến luợc kinh doanh để thích ứng với tình hình thị truờng Chi phí quản lý của các DNNVV tuơng đối thấp. Tuy nhiên tính ổn định trong sản xuất kinh doanh của DNNVV không cao, gây khó khăn cho ngân hàng trong việc thẩm định và theo dõi khoản vay.

• DNNVV năng động, nhạy bén, dễ thích nghi với thay đổi của thị trường

DNNVV thuờng có mối liên hệ trực tiếp với thị truờng và nguời tiêu thụ nên có phản ứng nhanh nhạy với sự biến đổi của thị truờng Với cơ sở vật chất kĩ thuật không lớn, DNNVV đổi mới linh hoạt hơn, dễ dàng chuyển đổi sản xuất hoặc thu hẹp quy mô mà không gây ra những hậu quả nặng nề cho xã hội Vì thế các DNNVV đuợc ví nhu ‘ ‘ thanh giảm sốc’ ’ của nền kinh tế.

Thêm vào đó lĩnh vực sản xuất kinh doanh thuờng huớng tới phục vụ trực tiếp đời sống xã hội, chủ yếu nhằm vào những sản phẩm có sức mua cao, nên có thể huy động đuợc các nguồn lực xã hội, các nguồn vốn còn tiềm ẩn trong dân, do đó các DNNVV có khả năng đầu tu rất đa dạng và linh hoạt.Vì loại hình DNNVV có quy mô vừa phải nên yêu cầu về vốn đầu tu sản xuất không quá lớn hơn nữa chu kỳ sản xuất kinh doanh thuờng ngắn, vòng quay của mỗi đồng vốn nhanh Chính vì thế mà quy mô cấp tín dụng cho loại hình doanh nghiệp này cũng không lớn.

Các DNNVV rất năng động và có tính linh hoạt cao DNNVV có khả năng nắm bắt và ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại và thường có những sáng kiến đổi mới công nghệ cho phù hợp cho phù hợp với quy mô nhỏ và vừa của mình; có thể kết hợp cả những công nghệ hiện đại, sản xuất ra những sản phẩm chất lượng cao trong điều kiện sản xuất không thuân lợi Trong thời đại bùng nổ khoa học công nghệ như hiện nay thì các doanh nghiệp không chỉ phải cạnh tranh về sản phẩm, về thị phần tiêu thụ mà còn phải cạnh tranh gay gắt về công nghệ kỹ thuật Việc đổi mới dây chuyền công nghệ của DNNVV đòi hỏi nguồn vốn bổ sung không nhiều lại có thể thu hồi nhanh Lợi thế này giúp cho các DNNVV nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá bán giúp DNNVV tồn tại trên thị trường Tuy nhiên do tài chính thấp nên các DNNVV khó có thể tiếp cận được công nghệ mới, các sản phẩm đưa ra trên thị trường không có tính cạnh tranh.

• Phạm vi hoạt động rộng khắp, lĩnh vực phong phú đa dạng khai thác tối ưu tiềm lực trong nước

Với lợi thế là vốn đầu tư ban đầu không lớn, bộ máy quản trị nhỏ gọn, DNNVV dễ dàng hoạt động trong nhiều lĩnh vực, xâm lấn tới nhiều địa bàn Tuy quy mô còn hạn chế, nhưng với số lượng lớn, các DNNVV đã tạo thành mạng lưới kinh doanh rộng khắp, có mặt ở mọi nơi, từ thành thị tới nông thôn Các DNNVV sẵn sàng điền khuyết vào những khe hở thị trường mà doanh nghiệp lớn bỏ ngỏ và sẵn sàng tham gia thế chỗ khi có mảng thị trường được nhường lại DNNVV biết tận dụng nguồn lao động địa phương và các lợi thế về nguồn tài nguyên, tư liệu sản xuất sẵn có cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

• Những đặc điểm thể hiện nhược điểm của DNNVV

• Khả năng tài chính của DNNVVbị hạn chế

Các DNNVV ở Việt nam thường có quy mô nhỏ hơn so với các nước trong khu vực Vốn chủ yếu tồn tại dưới dạng sản phẩm, hàng hoá, nguyên vật liệu, một phần là tiền và một phần rất nhỏ là tài sản cố định Số vốn ít ỏi có thể giúp doanh nghiệp dễ chuyển đổi, cũng như ít bị tổn thất khi thị trường có biến động Tuy nhiên đối với các doanh nghiệp này, nhu cầu vốn là rất lớn để thay đổi cấu trúc, phát triển đầu tư công nghệ để sản xuất Do nguồn vốn chủ sở hữu thấp, hầu như không đáp ứng được điều kiện để có mặt trên thị trường chứng khoán Vì vậy, họ phải huy động vốn chủ yếu từ nhiều nguồn: ngân hàng và của bản thân chủ doanh nghiệp, gia đình, bạn bè, Nguồn vốn của DNNVV lâu nay chủ yếu dựa vào nguồn vay phi chính thức Số doanh nghiệp được vay từ nguồn vốn chính thức (ngân hàng) rất hạn chế, bởi một phần do bản thân doanh nghiệp và một phần do các định chế quá chặt chẽ từ phía ngân hàng Còn lại hầu hết phải tìm các nguồn tài chính phi chính thức với lãi suất cao để bổ sung vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Các DNNVV có vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm và đóng góp vào GDP của nền kinh tế đất nước Tuy nhiên, vốn ít, khó khăn trong mặt bằng sản xuất, trình độ quản lý doanh nghiệp kém, không chuyên nghiệp là những khó khăn hầu hết các DNNVV của Việt Nam Lúc này, một ‘ ‘bà đỡ tài chính’ ’ hữu hiệu là điều cần thiết hơn bao giờ hết với các DNNVV.

Xuất phát từ đặc điểm là vốn nhỏ nên nhu cầu vốn lưu động của các DNNVV trở nên thường xuyên nhằm mục đích trang trải chi phí sản xuất kinh doanh của mình Cụ thể:

- Vốn vay mua hàng dự trữ.

- Vốn để mua nguyên vật liệu phục vụ sản xuất đối với doanh nghiệp sản xuất, thu mua hàng hoá để bán đối với doanh nghiệp thương mại, bao gồm cả nhập khẩu hoặc thu mua trong nước.

- Vốn để trả tiền điện, nước, trả lương nhân công,

- Vốn để thực hiện các công trình xây dựng, thuê máy móc thiết bị, trả lương công nhân và chi phí phát sinh trong quá trình thi công đối với các doanh nghiệp xây dựng.

• Thiếu thông tin về thị trường, trình độ quản lý còn hạn chế, tri thức và quản lý tri thức chưa phát triển

Khái niệm chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.2.2.1 Khái niệm chất lượng hoạt động tín dụng đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa

Hoạt động tín dụng là một hoạt động sinh lời chủ yếu của Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường, nhưng cũng là nơi chứa đựng nhiều rủi ro nhất Chính vì thế vấn đề chất lượng tín dụng là vấn đề quan trọng, sống còn đối với tất cả các Ngân hàng Tuy vậy để đưa ra một khái niêm đúng về chất lượng tín dụng không phải là dễ, bởi lẽ mỗi khái niệm đưa ra đòi hỏi phải chỉ ra nó xuất phát từ đâu trên quan điểm nào Như ta đã biết mỗi quan điểm khác nhau sẽ có những quan niệm khác nhau về chất lượng tín dụng.

• Chất lượng tín dụng theo quan điểm của khách hàng

Khách hàng là đối tượng sử dụng các dịch vụ của ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ tín dụng vì nó là một nguồn tài trợ quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp Mục tiêu của họ là tối đa hoá giá trị tài sản của mình hay nói cụ thể hơn là tối đa hoá giá trị sử dụng của khoản vốn vay Chính vì thế với khách hàng để đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng cái họ quan tâm đầu tiên là lãi suất, kỳ hạn, quy mô, phương thức giải ngân và phương thức thu nợ của khoản tín dụng mà ngân hàng cung cấp có thoả mãn nhu cầu của họ hay không, làm sao để các thủ tục được giải quyết một cách nhanh gọn, tiết kiệm thời gian và chi phí hợp lý Nếu tất cả các yếu tố này đều đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì khoản tín dụng đó được coi là có chất lượng tốt và ngược lại Do đó theo quan điểm của khách hàng thì chất lượng tín dụng là: Sự thoả mãn nhu cầu của họ về khoản tín dụng trên các phương diện, lãi suất, quy mô, thời hạn, phương thức giải ngân, phương thức thu nợ

• Chất lượng tín dụng theo quan điểm của ngân hàng

Cũng như bất cứ một doanh nghiệp nào trong nền kinh tế Ngân hàng cũng phải hoạt động kinh doanh làm sao để đem lại càng nhiều thu nhập cho chủ sở hữu thì càng tốt Nhưng điều rất khác của Ngân hàng đối với các doanh nghiệp khác làNgân hàng thương mại là đơn vị kinh tế kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với 3 nghiệp vụ cơ bản: Nhận gửi, cho vay, cung ứng các dịch vụ thanh toán Vì thế theo quan điểm của Ngân hàng thì chất lượng tín dụng với các yếu tố cấu thành cơ bản đó là mức độ an toàn của tín dụng và khả năng sinh lời do hoạt động tín dụng mang lại. Mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận hay mối quan hệ giữa an toàn và khả năng sinh lời là mối quan hệ biện chứng Mối quan tâm hàng đầu của tất cả các nhà đầu tư là phải cân nhắc giữa mức độ an toàn và khả năng sinh lời về nguyên tắc đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận thì mức độ rủi ro của lĩnh vực đầu tư càng cao thì sẽ có khả năng sinh lợi càng cao và ngược lại. Đối với Ngân hàng, một khoản tín dụng có khả năng sinh lời cao khi khoản tín dụng đó đến hạn thanh toán thì sẽ hoàn trả đầy đủ vốn gốc và lãi Do đó theo quan điểm của Ngân hàng chất lượng tín dụng được hiểu là: Chất lượng tín dụng là một thuật ngữ phản ánh mức độ an toàn và khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng Ngân hàng.

• Chất lượng tín dụng theo quan điểm của xã hội

Thông qua các khoản tín dụng mà Ngân hàng cung cấp cho các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế, các hoạt động như tái sản xuất mở rộng, đầu tư phát triển theo chiều sâu sẽ được tiến hành và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế Như vậy đứng trên quan điểm của xã hội để đánh giá chất lượng tín dụng thì chất lượng tín dụng là: Sự đáp ứng cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội mà các khoản tín dụng của Ngân hàng đem lại.

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chất lượng tín dụng đối với DNNVV sẽ được xem xét dựa trên góc độ quan điểm của ngân hàng chính là chất lượng hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.

1.2.2.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa

Tín dụng NH có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của các doanh nghiệp nói chungvà các DNNVV nói riêng.Tuy nhiên khu vực này đang gặp khó khăn về vốn.Đa phần các DNNVV có quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ lại luôn trong tình trạng thiếu vốn, khát vốn cho mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đầu tư cải tiến máy móc, trang thiết bị mới Nhưng vốn huy động từ các dự án, hay nguồn vốn tài trợ của nước ngoài là rất hiếm, hơn nữa vốn huy động từ thị trưòng chứng khoán thì các DNNVV không dủ điều kiện Chính vì vậy, DNNVV chỉ có thể tiếp cận nguồn vốn duy nhất là vốn tín dụng ngân hàng để mở rộng hoạt động kinh doanh Nhưng việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng đang gặp nhiều trở ngại DNNVV đang ‘ ‘ khát vốn’ ’ ngân hàng, chứng tỏ tín dụng ngân hàng có vai trò lớn đối với DNNVV.

*Tín dụng ngân hàng giúp các DNNVV mở rộng sản xuất kinh doanh

Ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động của mình thông qua việc huy động nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để tài trợ cho các thành phần kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng Tín dụng ngân hàng giúp các doanh nghiệp duy trì sản xuất kinh doanh, tái sản xuất mở rộng, phát triển các ngành nghề mũi nhọn Ngoài ra, ngân hàng còn cung cấp các dịch vụ khác cho doanh nghiệp như dịch vụ bảo lãnh, mở LC, tài trợ xuất nhập khẩu, nâng cao năng lực hoạt động đem lại ngày càng nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp.

*Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các DNNVV Đặc trưng của tín dụng ngân hàng không chỉ là cung cấp một lượng giá trị trên cơ sơ lòng tin mà còn phải hoàn trả lượng giá trị đó trên nguyên tắc phải hoàn trả cả gốc và lãi.Vì vậy khi doanh nghiệp sử dụng vốn vay của các ngân hàng phải tìm mọi biện pháp để đồng vốn đó sinh lời.Doanh nghiệp phải đảm bảo sử dụng tiết kiệm vốn, tăng nhanh vòng quay vốn, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận lớn hơn lãi suất đi vay của ngân hàng thì doanh nghiệp mới có khả năng trả được nợ và có lợi nhuận.

*Nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNNVV

Trong điều kiện nền kinh tế có sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay, cácDNNVV muốn tiếp tục đứng vững và phát triển thì phải không những cải tiến công nghệ, giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm để dáp ứng nhu cầu càng cao của khách hàng Muốn làm được những điều đó thì điều kiện tiên quyết là doanh nghiệp phải có đủ vốn Nhưng các DNNVV lại có ít vốn, trong khi đó trình độ tổ chức lại yếu kém, lao động có tay nghề không cao vì thế buộc các doanh nghiệp phải tìm đến tín dụng ngân hàng Nguồn vốn của Ngân hàng sẽ đem lại cho các doanh nghiệp nguồn lợi ích to lớn với mức lãi suất phù hợp đảm bảo cho các doanh nghiệp kinh doanh có lãi, giúp doanh nghiệp thực hiện mục đích của mình, mở rộng sản xuất kinh doanh, chiếm lĩnh thị phần.

*Góp phần thúc đẩy quá trình cổ phần hoá các DNNVV thuộc loại hình doanh nghiệp Nhà nước.

Trong thời gian qua Nhà nước ta đã và đang tập trung tiến hành cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước Cụ thể, các doanh nghiệp sau khi có quyết định cổ phần hoá sẽ tự phát hành cổ phiếu hay các hình thức huy động vốn khác để có vốn hoạt động Trước tình hình đó các ngân hàng cũng tập trung phát triển các dịch vụ trên thị trường chứng khoán nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp huy động vốn như dịch vụ lưu ký chứng khoán, mua bán cổ phiếu, trái phiếu, bảo lãnh phát hành, tư vấn tài chính Hơn nữa các doanh nghiệp cũng có thể sử dụng các cổ phiếu, trái phiếu làm tài sản đảm bảo vay vốn ngân hàng Với hình thức cấp tín dụng này, các doanh nghiệp có thể yên tâm hơn khi tham gia vào quá trình cổ phần hoá và đó chính là động lực thúc đẩy quá trình cổ phần hoá hiện nay

Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

❖ Số lượng khách hàng, doanh số cho vay, doanh số thu nợ, dư nợ

- Số lượng khách hàng: phản ánh số lượng doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định Con số này phản ánh quy mô cũng như xu hướng phát triển phục vụ nhóm khách hàng nào của ngân hàng.

- Doanh số cho vay: phản ánh lượng vốn mà ngân hàng giải ngân cho doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định (thường tính theo quý/năm) Con số và tốc độ của doanh số cho vay qua các năm phản ánh quy mô và xu hướng của hoạt động tín dụng là mở rộng hay thu hẹp.

- Doanh số thu nợ: cho biết lượng vốn mà ngân hàng thu hồi được trong một khoảng thời gian nhất định (quý/năm) , phản ánh tình hình thu nợ khách hàng, so sánh con số này với doanh số cho vay để xem hoạt động thu nợ của ngân hàng có hiệu quả hay không, từ đó cho thấy chất lượng của khoản vay giúp ta quan sát được diễn biến hoạt động của ngân hàng.

- Dư nợ: phản ánh lượng vốn mà khách hàng sử dụng của ngân hàng tại một thời điểm cụ thể, con số này mà tăng trưởng đều và ổn định qua các năm chứng tỏ quy mô hoạt động cho vay tăng lên, điều đó đồng nghĩa với việc hiệu quả cho vay được nâng cao, tình hình hoạt động của ngân hàng tiến triển tốt.

Cùng chỉ tiêu dư nợ cho vay, các ngân hàng thương mại còn sử dụng thêm chỉ tiêu tỷ trọng dư nợ cho vay đối với DNNVV khi xem xét đến chất lượng cho vay đối với DNNVV.

Tỷ trọng dư nợ cho vay Dư nợ cho vay DNNVV

Chỉ tiêu này là một số tương đối, cho biết trong tổng dư nợ của ngân hàng thì hoạt động cho vay DNNVV đóng góp tỷ trọng bao nhiêu.

❖ Nợ quá hạn, nợ xấu

Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn.

Tỷ lệ nợ quá hạn = _ ×100%

Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ngày 22/04/2005 về việc “ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ” thì nợ của NHTM được chia thành 0 5 nhóm sau:

Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn): các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn.

Nhóm 2 (Nợ cần chú ý): gồm các khoản nợ quá hạn dưới 9 0 ngày và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại.

Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): gồm các khoản nợ quá hạn từ 9 0 ngày đến

180 ngày và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 9 0 ngày theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại.

Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 36 0 ngày và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 9 0 ngày đến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại.

Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn): bao gồm các khoản nợ quá hạn trên 36 0 ngày, các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã đuợc cơ cấu lại.

Nhu vậy, chỉ tiêu nợ quá hạn là một chỉ tiêu quan trọng trong việc xem xét chất luợng hoạt động tín dụng của ngân hàng thuơng mại Tỷ lệ nợ quá hạn cao thể hiện các khoản nợ của ngân hàng không đuợc thu hồi đúng hạn càng cao, vốn tín dụng bị doanh nghiệp chiếm dụng càng lớn, rủi ro của các khoản vay cao dẫn đến chất luợng cho vay của ngân hàng thuơng mại thấp Nguợc lại, tỷ lệ nợ quá hạn thấp thể hiện các khoản vay có tỷ lệ rủi ro thấp, khả năng các khoản vay không đuợc hoàn trả thấp, ngân hàng thuơng mại thu hồi đuợc nợ gốc và lãi từ khoản vay đảm bảo cho hoạt động kinh doanh không bị gián đoạn.

Theo quy định của Ngân hàng nhà nuớc thì tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng du nợ

> 7% đuợc xem là ngân hàng yếu kém, nếu chỉ số này ở mức duới 5% ngân hàng đó đuợc đánh giá là ngân hàng có nghiệp vụ tín dụng tốt, chất luợng cho vay cao.

Nợ xấu theo Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nuớc ngày 22/04/2005 về việc “ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng "la các khoản nợ thuộc các nhóm 3 (Nợ duới tiêu chuẩn) , nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) , nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn).

Tổng dư nợ Đây là một chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá chất luợng hoạt động tín dụng của ngân hàng thuơng mại Cũng giống nhu tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ này càng thấp thì chất luợng cho vay của ngân hàng càng cao và nguợc lại Theo quy định

❖ Mức độ tập trung tín dụng

Mức độ tập trung tín dụng là sự phân chia khoản mục vốn tín dụng trong tổng dư nợ cho vay theo các tiêu chí khác nhau như: ngành nghề kinh doanh, thời hạn, đối tượng khách hàng, loại tiền, khu vực địa lý.qua đó phản ánh cơ cấu tín dụng và định hướng hoạt động tín dụng của ngân hàng Nó phụ thuộc vào chính sách tín dụng của ngân hàng trong từng thời kỳ Mỗi ngân hàng có một chiến lược phát triển khác nhau Tuy nhiên, nếu việc phân bổ dư nợ cho vay vào một lĩnh vực nào đó quá nhiều lại càng tiềm ẩn nhiều rủi ro cho hoạt động tín dụng Chính vì vậy, các NHTM hiện nay thường đa dạng hóa danh mục cho vay nhằm tăng khả năng sinh lời và hạn chế rủi ro.

- Mức độ tập trung tín dụng theo thời hạn vay.

Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Ngân hàng là một chủ thể trong nền kinh tế Đặc biệt nó đóng vai trò là trung gian kinh tế, là cầu nối giữa các khu vực khác nhau của nền kinh tế Chính vì vậy, sự ổn định hay mất ổn định của nền kinh tế sẽ tác động mạnh mẽ đến hoạt động của ngân hàng Khi nền kinh tế trong giai đoạn tăng trưởng ổn định, sản xuất cũng phát triển là lúc nhu cầu vay vốn ngân hàng của các DNNVV để đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh tăng lên Đây là cơ hội cho các ngân hàng mở rộng hoạt động cho vay, nâng cao chất lượng của các khoản vay, thu hồi các khoản nợ đến hạn được thuận lợi và đây là giai đoạn ngân hàng thu đựơc mức lợi nhuận cao nhất.

Sự ổn định chính trị sẽ tạo điều kiện thuận lợi giúp nền kinh tế của một nước phát triển Tính ổn định của chính trị sẽ giúp các chủ DNNVV an tâm hơn khi bỏ vốn vào thị trường để đầu tư Khi đó các DNNVV sẽ mở rộng đầu tư, muốn mở rộng đầu tư thì nguồn tín dụng ngân hàng là nguồn tài trợ có hiệu quả Nếu tình hình chính trị bất ổn, nhu cầu tín dụng sẽ giảm làm ảnh hưởng đến chất lượng của các khoản tín dụng.

Một hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất với các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay ngân hàng liên quan đến việc cấp tín dụng cho các DNNVV sẽ thực sự là kim chỉ nam giúp các ngân hàng có cơ sở để tiến hành hoạt động của mình một cách trôi chảy cũng như có điều kiện mở rộng tín dụng cho các DNNVV hơn Ngoài ra, với chính sách pháp luật tạo ra được một sân chơi bình đẳng cho các DNNVV với các thành phần kinh tế khác về mọi lĩnh vực sẽ là một trong những nhân tố giúp cho các DNNVV dễ dàng tiếp các các nguồn vốn, trong đó có nguồn vốn tín dụng ngân hàng.

Môi trường tự nhiên không thuận lợi như: hạn hán, lũ lụt, động đất, hoả hoạn sẽ làm giảm đầu tư, gây khó khăn cho nền kinh tế nói chung và các DNNVV nói riêng Các DNNVV sẽ không thể trả được nợ cho ngân hàng làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp dẫn đến ảnh hưởng tới khả năng trả nợ của khách hàng, làm giảm hiệu quả của khoản vay.

(5) Môi trường văn hoá-xã hội

Nhu cầu tiêu dùng hàng hoá được tạo lập từ thói quen của người dân và nó ảnh hưởng rất lớn đến lĩnh vực hoạt động, khả năng tiêu thụ hàng hoá của các DNNVV cũng như khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do đó nó ảnh hưởng ít nhiều đến tín dụng ngân hàng b Nhân tố chủ quan

(1) Nhân tố thuộc về ngân hàng.

Các ngân hàng là chủ thể huy động lượng tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế và sử dụng nó để cho vay lại đối với nền kinh tế Ngân hàng có thể cho vay nhiều hay ít tuỳ thuộc vào nguồn vốn tự có của ngân hàng, vào khả năng huy động vốn, công nghệ, uy tín, kinh nghiệm và nhận thức của cán bộ nhân viên ngân hàng về DNNVV Một yếu tố vô cùng quan trọng nữa ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay đó là đạo đức của cán bộ tín dụng.

Hiệu quả của các khoản vay đối với DNNVV thể hiện khi ngân hàng đáp ứng tốt nhất nhu cầu vay vốn của DNNVV Khi nhu cầu vốn vay được đáp ứng tốt nhất cũng có nghĩa là ngân hàng đang tạo điều kiện để các doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh được liên tục, tái đầu tư mở rộng sản xuất, tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp, đảm bảo cho doanh nghiệp hoàn trả đủ gốc và lãi đúng hạn Để có đủ vốn đáp ứng nhu cầu của các DNNVV, ngân hàng phải khai thác tối đa các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế Nguồn vốn đó bao gồm tiền gửi các tổ chức kinh tế và tiền gửi của dân cư.

Chất lượng thẩm định tín dụng và quy trình cho vay cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động cho vay Hoạt động cho vay là một trong những hoạt động chính của ngân hàng thương mại, một hoạt động rất phức tạp và chứa nhiều rủi ro Để ra được một quyết định đúng đắn, tiết kiệm thời gian, chi phí, đảm bảo an toàn vốn trong kinh doanh thì đòi hỏi ngân hàng phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình cho vay vốn.

Sự phát triển của khoa học công nghệ trong ngân hàng cũng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng Chính vì vậy, cán bộ ngân hàng cũng cần phải là người có trình độ nghiệp vụ, có khả năng tiếp thu và ứng dụng công nghệ mới, hiện đại Công nghệ càng cao sẽ giúp ngân hàng giảm chi phí, quản lý sát sao các khoản huy động, vốn vay và đưa ra mức lãi suất cạnh tranh, góp phần nâng cao chất lượng cạnh tranh của các ngân hàng.

Bên cạnh đó, đạo đức của cán bộ ngân hàng cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng Cán bộ có đạo đức không tốt sẽ ảnh hưởng xấu đến chất lượng công tác thẩm định dẫn đến làm giảm chất lượng cho vay đối với DNNVV Khi DNNVV cần vốn để hoạt động kinh doanh, họ sẽ tìm mọi cách để vay đựơc vốn Các DNNVV có thể tiếp xúc, móc nối với cán bộ tín dụng để đạt được mục đích Do vậy, đạo đức của cán bộ ngân hàng là vô cùng quan trọng.

(2) Nhân tố thuộc về doanh nghiệp

- Nhu cầu đầu tư của DNNVV: Bất kỳ loại hàng hóa hay dịch vụ nào muốn tiêu thụ được thì cần phải có người mua Tín dụng ngân hàng cũng vậy, ngân hàng không thể cho vay nếu như không có người vay Xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế thì nhu cầu vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển luôn là cần thiết nhưng với từng NHTM thì không phải lúc nào cũng như vậy Do số lượng DNNVV có quan hệ với ngân hàng là có hạn và có những lúc nhu cầu đầu tư của cácDNNVV này không cao, chẳng hạn trong giai đoạn hoạt động kinh doanh gặp khó khăn các DNNVV thường có xu hướng thu hẹp sản xuất Trong trường hợp đó nhu cầu vốn trung và dài hạn của các doanh nghiệp sẽ không cao và do đó ngân hàng sẽ gặp khó khăn nếu muốn mở rộng tín dụng.

- Khả năng của DNNVV trong việc đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn tín dụng của ngân hàng: để đảm bảo an toàn, tránh rủi ro khi cho vay, các NHTM thuờng đặt ra những điều kiện, tiêu chuẩn tín dụng nhằm phân loại, chọn ra những khách hàng có thể hay không thể cho vay Chỉ những khách hàng nào đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của ngân hàng thì mới đuợc xem xét cho vay Những điều kiện tiêu chuẩn này có thể rất khác nhau tùy theo ngân hàng cụ thể, song nhìn chung các ngân hàng đều quan tâm tới một số vấn đề sau: tính hợp lý, hợp pháp của mục đích sử dụng vốn, năng lực sản xuất kinh doanh của DNNVV, tính khả thi của dự án/phuơng án, các biện pháp bảo đảm.

Trên thực tế các DNNVV thuờng không có báo cáo tài chính đuợc kiểm toán hoặc quyết toán thuế, hầu hết là các báo cáo do đơn vị tự lập do đó số liệu trên báo cáo tài chính chua thật sự minh bạch, rõ ràng và chuẩn xác Bên cạnh đó DNNVV có vốn chủ sở hữu thuờng thấp, ít có thuơng hiệu trên thị truờng, quy mô hoạt động thu hẹp do đó khả năng chiếm lĩnh thị truờng thấp hơn các doanh nghiệp lớn và rõ ràng điều này ảnh huởng trực tiếp đến chất luợng tín dụng của ngân hàng Bởi nếu đa số các khách hàng không thể đáp ứng đuợc yêu cầu của ngân hàng, có thể do điều kiện đặt ra quá khắt khe, không thực tế hoặc do khả năng của các DNNVV quá thấp, thì ngân hàng không thể mở rộng cho vay trong khi vẫn bảo đảm an toàn tín dụng.

- Khả năng của DNNVV trong việc quản lý và sử dụng khoản vay có hiệu quả: khi cho vay thì ngân hàng trông đợi khoản trả nợ sẽ đuợc lấy từ kết quả hoạt động của dự án chứ không phải bằng cách phát mại tài sản thế chấp, cầm cố Điều này lại phụ thuộc vào hiệu quả quản lý và sử dụng vốn vay của DNNVV Có nhiều yếu tố cần thiết để đảm bảo cho việc sử dụng vốn vay của DNNVV đạt hiệu quả cao, trong đó có một số nhân tố giữ vai trò quyết định nhu vị thế, năng lực thị truờng của DNNVV, năng lực công nghệ, chất luợng đội ngũ nhân sự, trình độ quản lý DNNVV.

TRẠNG CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH BẮC HƯNG YÊN

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNGHOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH BẮC HƯNG YÊN

Ngày đăng: 17/04/2022, 10:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w