1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đáp án mô đun 9 đầy đủ cả trắc nghiệm và tự luận

31 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đáp án mô đun 9 đầy đủ cả trắc nghiệm và tự luận

Trang 1

ĐÁP ÁN TRẶC NGHIỆM VÀ TỰ LUẬN MÔ DUN 9 ĐẦY ĐỬ CÁC HOẠT ĐỘNG

HOẠT ĐỘNG 1

1

Trang 4

TrẮC nghiệm cuối nội dung 2

4

Trang 8

Câu hỏi cuối nội dung 3

8

Trang 10

10

Trang 11

11

Trang 12

12

Trang 14

HOẠT ĐỘNG 23

CÂU 1

Bản thân tôi thường sử dụng nguồn học liệu số (hay học liệu điện tử) là các phương

tiện điện tử phục vụ dạy và học, bao gồm: Giáo trình điện tử, sách giáo khoa điện tử, tài liệu tham khảo điện tử, bài kiểm tra đánh giá điện tử, bản trình chiếu, bảng dữ liệu, các tệp âm thanh, hình ảnh, video, bài giảng điện tử, phần mềm dạy học, thí nghiệm mô phỏng và các học liệu được số hóa khác

Học liệu số và thiết bị công nghệ có vai trò rất quan trọng bởi đây là “nguồn tiềmlực” quan trọng để khai thác và sử dụng trong dạy học, giáo dục Thực tế cho thấy,khó có thể tách rời khi nói về vai trò của thiết bị công nghệ và học liệu số trong dạyhọc, giáo dục Bên cạnh đó, cần thấy rằng thiết bị công nghệ và học liệu số chính làthành phần của thành tố thiết bị dạy học và học liệu nói chung, vì thế có thể phân tíchvai trò của chúng từ cách tiếp cận tổng thể sau:

a) Tác động đến các thành tố của quá trình dạy học, giáo dục

Các thành tố xét theo quá trình có thể đề cập: mục tiêu, nội dung, phương pháp và kĩthuật, phương tiện và học liệu, phương pháp và công cụ kiểm tra đánh giá, Học liệu

14

Trang 15

số và thiết bị công nghệ tác động một cách toàn diện đến từng thành tố này, có thểphân tích một số nội dung sau

- Tác động đến mục tiêu dạy học

Mục tiêu dạy học bậc phổ thông ở Việt Nam hiện nay là phát triển các PC và NL ở

HS được quy định trong chương trình GDPT 2018 Việc sử dụng thiết bị công nghệ

và học liệu số để triển khai hoạt động học không những giúp HS phát triển NL đặcthù của môn học, các NL chung mà còn góp phần phát triển NL tin học Qua đó, HS

có thêm cơ hội thích nghi và hội nhập với thời kì cách mạng công nghiệp 4.0 Cũngcần thấy, khi máy vi tính, thiết bị di động thông minh chưa được đưa vào quá trìnhhọc tập thì người học chủ yếu làm việc với học liệu trong SGK hoặc các tài liệu do

GV biên soạn Khi máy vi tính và Internet đã phổ biến, người học có điều kiện chủđộng tiếp xúc với những nguồn dữ liệu đồ sộ, đa chiều trong học liệu số Cơ hội nàycũng tạo thách thức cho người học đứng trước các lựa chọn, sàng lọc các kiến thức,

dữ liệu, hoạt động phù hợp cho mục tiêu học tập Thách thức đó cũng chính là cơ hội

để người học hình thành, phát triển PC trách nhiệm, NL tự chủ và tự học Bên cạnh

đó, khi GV kết hợp tổ chức hoạt động học trên lớp với việc giao nhiệm vụ học tập tạinhà có ứng dụng thiết bị công nghệ và học liệu số thì HS có thêm cơ hội chủ độngphát triển được nhiều thành phần/thành tố của mỗi NL chung như NL tự chủ và tựhọc, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo trong quá trình tự học đó

Hiện nay, nhiều yêu cầu cần đạt trong chương trình môn học, hoạt động giáo dục đòihỏi GV sử dụng thiết bị công nghệ và học liệu số Theo đó, nếu bối cảnh nhà trườngkhông có điều kiện cho HS tiến hành thí nghiệm thực thì việc sử dụng phần mềm thínghiệm ảo hoặc học liệu số dạng video là rất cần thiết để có thể giúp HS đáp ứngmục tiêu dạy học mà chương trình môn học, hoạt động giáo dục đã đặt ra Nhờ họcliệu số, khi HS khai thác phù hợp nghĩa là không chỉ phát triển về tri thức mà cònphát triển các kĩ năng sống có liên quan: kĩ năng lựa chọn và khai thác thông tin Bêncạnh đó, khi làm quen, tiếp cận và sử dụng các thiết bị công nghệ trong dạy học, giáodục, HS sẽ có cơ hội để thực hành, rèn luyện một cách trực tiếp hay mô phỏng, đồngthời đây cũng là cách để chuẩn bị cho HS về tư duy làm việc khoa học, công nghệ đểthay đổi cả suy nghĩ, định hướng thích ứng với các yêu cầu của cuộc cách mạng khoahọc công nghệ 4.0 Nói cách khác, thiết bị và công nghệ góp phần thực thi nhằm đạtđược mục tiêu dạy học, giáo dục thông qua các hoạt động học hay chuỗi hoạt độnghọc phù hợp

- Tác động đến nội dung dạy học

Theo chương trình GDPT 2018, nội dung trong SGK chỉ đóng vai trò tham khảo GV

có thể chủ động xây dựng nội dung dạy học phù hợp từ nhiều nguồn học liệu khácnhau: học liệu truyền thống trên trong SGK, hay học liệu số được chia sẻ trên

15

Trang 16

Internet hoặc từ đồng nghiệp nhất là các kho học liệu số hữu dụng, các học liệu sốđược kiểm duyệt và khuyến khích dùng chung Từ các nguồn học liệu đó, GV sẽ chủđộng thiết kế, biên tập thành các dạng học liệu số mới đa dạng hơn, sinh động hơn,phù hợp với nội dung dạy học và nội dung kiểm tra, đánh giá được xác lập

Đối với hoạt động học của HS, học liệu số có thể được coi là nguồn cung cấp thôngtin vô tận Nó bao gồm các học liệu số mà GV cung cấp và học liệu số mà HS tự tìmkiếm, tự lưu trữ để tham khảo phục vụ cho mục tiêu tìm hiểu, khám phá và vận dụng.Giúp người học có thể chủ động tiếp cận không giới hạn nguồn tài nguyên ở lĩnh vực

mà họ đang học tập và nghiên cứu, từ đó khai thác và thúc đẩy việc phát triển NL ởcác lĩnh vực người học quan tâm, hứng thú cũng như có tiềm lực, tố chất Thực tếcho thấy thiết bị công nghệ dần trở nên quen thuộc với HS, không chỉ tiếp xúc ởtrường học mà HS còn làm quen, tìm hiểu ở nhiều nơi khác nhau Điều này sẽ giúp

HS có thể tìm hiểu chính mình khi khai thác các nội dung có liên quan về tự đánhgiá, tự nhận thức thông qua các tính năng, giá trị của học liệu số và thiết bị côngnghệ Đây là cơ hội để nhận diện bản thân: hứng thú, tính cách, nhu cầu, ước mơ

và định hướng kế hoạch phát triển chính mình Trên cơ sở này, nội dung dạy học,giáo dục sẽ được HS chủ động tìm kiếm, sở hữu để khám phá, làm chủ và vận dụngmột cách hiệu quả

- Tác động đến phương pháp và kĩ thuật dạy học

Trong dạy học phát triển NL, HS là chủ thể của hoạt động chiếm lĩnh tri thức, kĩnăng và chuyển hóa kiến thức, kĩ năng thành NL Vì vậy, xét góc độ cách thức tổchức dạy học, để giúp HS phát triển NL thì GV cần sử dụng các phương pháp dạyhọc (PPDH) tích cực hóa hoạt động của HS như dạy học trực quan, dạy học khámphá, dạy học hợp tác, dạy học giải quyết vấn đề

Học liệu số và thiết bị công nghệ tạo thêm cơ hội cho GV chủ động lựa chọn PPDH,lựa chọn cách thức triển khai hoạt động học mà ở đó HS là chủ thể của hoạt động.Chẳng hạn, với sự phối hợp giữa thiết bị trình chiếu đa phương tiện với học liệu sốdạng video thí nghiệm ảo, hình ảnh động, GV sẽ thuận lợi trong sử dụng PPDH trựcquan hoặc dạy học khám phá, thay thế cho phương pháp thuyết trình, diễn giảng.Nhờ đó, HS sẽ tiếp cận thế giới tự nhiên một cách “trực quan” hơn, hấp dẫn hơn để

dễ dàng nhận thức, khám phá và giải quyết được vấn đề

Nhìn chung, mỗi PPDH thường được triển khai qua bốn bước theo tiến trình chung.Thiết bị công nghệ cùng tính đa dạng của học liệu số sẽ thể hiện ưu thế khác nhautrong hỗ trợ đối với mỗi bước triển khai PPDH cụ thể Chẳng hạn, thiết bị trình chiếucác học liệu số dạng hình ảnh, video, câu hỏi sẽ rất hiệu quả trong bước chuyển giaonhiệm vụ học tập của PPDH trực quan Sử dụng thiết bị công nghệ và học liệu sốgiúp thể hiện thí nghiệm ảo sẽ hiệu quả trong bước HS thực hiện nhiệm vụ học tập

16

Trang 17

theo dạy học khám phá, dạy học giải quyết vấn đề Ở bước tổ chức thảo luận, việctrình chiếu các sản phẩm học tập dạng học liệu số khác nhau cũng dễ dàng được triểnkhai bởi các thiết bị công nghệ phù hợp (như máy vi tính với MS PowerPoint hoặcmáy vi tính kết nối Internet cùng phần mềm Padlet) Ở bước đánh giá, học liệu sốphục vụ kiểm tra đánh giá có thể được trình chiếu trực tiếp tại lớp học hoặc thể hiệnqua công cụ trực tuyến Bên cạnh đó, thiết bị công nghệ phù hợp như điện thoạithông minh, máy tính bảng còn hỗ trợ GV (và cả HS) cùng phân tích, đánh giá, phảnhồi nhanh từ kết quả trả lời, làm bài của cá nhân HS và tập thể HS

Trong quá trình triển khai PPDH cùng với việc sử dụng thiết bị công nghệ, GV sẽgiảm được thời gian ghi bảng, thay vào đó, có thể quan sát, kịp thời hỗ trợ, điềuchỉnh hoạt động của HS, nhất là ở bước HS thực hiện nhiệm vụ học tập, báo cáo,thảo luận

- Tác động đến phương tiện dạy học và học liệu dạy học, giáo dục

Về bản chất, thiết bị công nghệ và học liệu số cũng là phương tiện và học liệu dạyhọc, giáo dục Như vậy, chính thiết bị công nghệ và học liệu số có vai trò làm đadạng hoá, hiện đại hóa các phương tiện và học liệu dạy học, giáo dục, từ đó giúp choviệc dạy học, giáo dục trở nên “trực quan” hơn, hứng thú và hiệu quả hơn

- Tác động đến quá trình kiểm tra, đánh giá

Việc tổ chức kiểm tra đánh giá trong dạy học phát triển phẩm chất, năng lực đòi hỏi

đa dạng về hình thức, phương pháp, công cụ đánh giá Các thiết bị công nghệ và họcliệu số dạng câu hỏi, bài tập kiểm tra đánh giá góp phần giải quyết yêu cầu trên Nóicách khác, sự đa dạng của các thiết bị công nghệ và học liệu số sẽ thích ứng với sự

đa dạng về hình thức đánh giá, phương pháp và công cụ đánh giá Chẳng hạn, tronglựa chọn phương pháp kiểm tra đánh giá, dạng học liệu số là câu hỏi sẽ phù hợp vớiphương pháp hỏi - đáp và phương pháp kiểm tra viết, dạng học liệu số là bài tập sẽchủ yếu phù hợp với phương pháp kiểm tra viết Để đánh giá PC thông qua hành vi,bên cạnh sự quan sát trực tiếp, GV còn có thể sử dụng dữ liệu của thiết bị camera ghilại hình ảnh hoạt động của HS tại lớp, sử dụng các dữ kiện được ghi nhận trên hệthống hỗ trợ học tập khi HS tham gia trực tuyến Để có kết quả kiểm tra, khảo sátnhanh, đồng thời phân tích khách quan và lưu trữ dễ dàng thì GV có thể sử dụng máy

vi tính hoặc thiết bị di động thông minh có phần mềm thân thiện như Google Forms,Quizziz

Hai trong số những yêu cầu quan trọng của quá trình kiểm tra đánh giá là bảo đảmtính khách quan và nhanh chóng có sự phản hồi kết quả Sự kết hợp hợp lí giữa một

số thiết bị công nghệ và học liệu số cùng với đội ngũ nhân sự tinh gọn cũng sẽ chocho phép tiến hành quá trình kiểm tra, đánh giá hay các kì thi đáp ứng hai yêu cầutrên Việc tổ chức các kì thi đánh giá NL HS phổ thông trên máy vi tính gần đây ở

17

Trang 18

Việt Nam đã chứng minh vai trò đắc lực của thiết bị công nghệ và học liệu số trongkiểm tra, đánh giá.

b) Tạo điều kiện và kích thích GV tổ chức hoạt động dạy học, giáo dục đa dạng, hiệuquả

- Thiết bị công nghệ và học liệu số tạo động lực, kích thích người dạy khai thác ýtưởng dạy học mới, thiết kế kế hoạch bài dạy hiện đại với sự kết hợp giữa CNTT, họcliệu số và yêu cầu khác có liên quan đến thiết bị công nghệ Chẳng hạn với một ýtưởng sư phạm tổ chức kế hoạch bài dạy thành một “game show”- trò chơi giáo dụcliên hoàn, nếu không có học liệu số hay thiết bị công nghệ, GV khó có thể thực hiệnmột cách khả thi với các điều kiện về thời gian, môi trường, thiết bị dạy học khôngthay đổi Hay ý tưởng sư phạm tổ chức dạy học bằng hình thức thi đua các nhóm, độihoặc du lịch qua từng chặng nhờ vào thiết bị công nghệ và học liệu số, GV cùng HS

sẽ có thể cùng đầu tư, cùng tương tác một cách hiệu quả Song song đó, học hiệu số

và thiết bị công nghệ còn góp phần hỗ trợ cho việc số hóa các nguồn học liệu, tàinguyên phục vụ dạy học, giáo dục theo các ý tưởng, kịch bản sư phạm đã được đầutư

- Thiết bị công nghệ còn hỗ trợ người dạy triển khai các ý tưởng sư phạm để tổ chứcdạy học, giáo dục đa dạng theo hình thức dạy học trực tuyến, dạy học bán trực tuyếnkết hợp Thực tế cho thấy, các hình thức dạy học này đã và đang trở thành yêu cầuthực tiễn đáp ứng nhu cầu đa dạng và phong phú của người học, cũng như thực hiệntrong bối cảnh có thể xảy ra thiên tai, bất thường cho nên thiết bị công nghệ và họcliệu số trở thành “tài nguyên, công cụ” quan trọng và thiết yếu để có thể thực hiệndạy học, giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn, phát triển người học Ngoài ra, cóthể hỗ trợ việc kiểm tra, đánh giá và tổ chức công tác kiểm tra, thi cử trong dạy học,giáo dục một cách thuận lợi và đạt hiệu quả trong những điều kiện khó khăn về giãncách xã hội

Thiết bị công nghệ và học liệu số còn tạo điều kiện để GV chủ động chọn lựaphương pháp, kĩ thuật dạy học, hình thức dạy học, công cụ kiểm tra, đánh giá kết quảhọc tập, giáo dục đáp ứng yêu cầu của dạy học, giáo dục phát triển NL, PC Ví dụvới sự phối hợp giữa thiết bị trình chiếu đa phương tiện và học liệu số có liên quannhư video thí nghiệm ảo, hình ảnh động GV sẽ kết hợp các phương pháp, kĩ thuậtdạy học trực quan, trải nghiệm gây hiệu ứng với HS Các thiết bị công nghệ sẽ giảmthời gian thao tác trực tiếp như: ghi bảng, sắp xếp các đồ dùng thực để có thể cùng

HS thực hành, lấy kết quả phản hồi, lưu trữ và tái phân tích để rút kinh nghiệm Hayđòi hỏi đa dạng hóa về phương thức và công cụ kiểm tra đánh giá sẽ khả thi khi cónguồn học liệu phong phú để lựa chọn, sắp xếp; thiết bị công nghệ kết hợp phầnmềm cho phép thiết kế các công cụ đánh giá khách quan và phản hồi kết quả nhanh

18

Trang 19

chóng mà việc đánh giá NL trên máy tính là một minh chứng Thiết bị công nghệ còn

hỗ trợ GV kết hợp dữ liệu quan sát trực tiếp với dữ kiện ghi hình, thu âm cả học trựctiếp và trực tuyến để làm rõ, đối chiếu nhằm đánh giá không chỉ về NL mà còn thái

độ của HS khách quan, thuyết phục

- Thiết bị công nghệ và học liệu số còn góp phần hỗ trợ, cải tiến các phương phápdạy học, giáo dục truyền thống cũng như thay thế khi cần thiết, phù hợp nhất là trongđiều kiện tự nhiên, các bối cảnh khó khăn của dịch bệnh, các tác động khó kiểm soátkhác từ bối cảnh ảnh hưởng đến việc dạy học, giáo dục để triển khai dạy học, giáodục một cách chủ động Cụ thể, có học liệu số và thiết bị công nghệ, có thể dạy họctrong các điều kiện khác nhau với thời gian hạn định vẫn đảm bảo các yêu cầu cầnđạt và mục tiêu mong đợi ở người học Khi có học liệu số, thiết bị công nghệ, thờigian đầu tư trực tiếp để chuẩn bị học liệu và đồ dùng dạy học sẽ giảm đi, thay vào đó

là đầu tư để làm chủ thiết bị công nghệ, đánh giá, lựa chọn và sử dụng học liệu sốphù hợp Mỗi GV sẽ có thể khai thác học liệu số và thiết bị công nghệ theo địnhhướng sư phạm để hoạt động trên lớp dành thời gian tối đa, điều kiện tối đa cho HSthể hiện và rèn luyện bản thân

c) Góp phần phát triển hứng thú học tập và kĩ năng của người học

- Thiết bị công nghệ và học liệu số góp phần “trực quan hoá” các dữ liệu học tậpcùng với các tiện ích của chúng đã tạo thêm sự hứng thú học tập, kích thích ý tưởng

và hoạt động khám phá, sáng tạo của người học Ngoài ra, còn giúp người học cóđộng lực và trách nhiệm hơn trong việc tự học để hoàn thiện chính mình, góp phầnphát triển khả năng người học nói chung và khả năng công nghệ trong việc khai tháchọc liệu số và thiết bị công nghệ Nhờ học liệu số, khi HS khai thác phù hợp nghĩa làkhông chỉ phát triển về tri thức mà còn phát triển các kĩ năng sống có liên quan: kĩnăng lựa chọn và khai thác thông tin Bên cạnh đó, khi làm quen, tiếp cận và sử dụngcác thiết bị công nghệ trong dạy học, giáo dục, HS sẽ có cơ hội để thực hành, rènluyện một cách trực tiếp hay mô phỏng, đồng thời đây cũng là cách để chuẩn bị cho

HS về tư duy làm việc khoa học, công nghệ để thay đổi cả suy nghĩ, định hướngthích ứng với các yêu cầu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0

Thiết bị công nghệ và học liệu số giúp người học có thể chủ động tiếp cận không giớihạn nguồn tài nguyên ở lĩnh vực mà họ đang học tập và nghiên cứu, từ đó khai thác

và thúc đẩy việc phát triển NL ở các lĩnh vực người học quan tâm, hứng thú cũngnhư có tiềm lực, tố chất Thực tế cho thấy thiết bị công nghệ dần trở nên quen thuộcvới HS, không chỉ tiếp xúc ở trường học mà HS còn làm quen, tìm hiểu ở nhiều nơikhác nhau Điều này sẽ giúp HS có thể tìm hiểu chính mình khi khai thác các nộidung có liên quan về tự đánh giá, tự nhận thức thông qua các tính năng, giá trị củahọc liệu số và thiết bị công nghệ Đây là cơ hội để nhận diện bản thân: hứng thú, tính

19

Ngày đăng: 17/04/2022, 09:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w