1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

272 Giải pháp kiềm chế lạm phát thông qua kiểm soát lượng tiền cung ứng của Ngân hàng Nhà nước,Luận văn Thạc sĩ Kinh tế

123 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 553,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THỊ DỊUGIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT THÔNG QUA KIEM SOÁT LƯỢNG TIỀN CUNG ỨNG CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC Chuyên ngành: Kinh tế tài chính - Ngân hàng Mã số: 60.31.12 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH

Trang 2

NGUYỄN THỊ DỊU

GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT THÔNG QUA KIEM SOÁT LƯỢNG TIỀN CUNG ỨNG CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2012

Trang 3

NGUYỄN THỊ DỊU

GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT THÔNG QUA KIEM SOÁT LƯỢNG TIỀN CUNG ỨNG CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

Chuyên ngành: Kinh tế tài chính - Ngân hàng

Mã số: 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS MAI THANH QUẾ

HÀ NỘI - 2012

Trang 4

nào Những thông tin và số liệu sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn xácthực Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình.

Hà Nội, ngày tháng năm 2012

Tác giả

Nguyễn Thị Dịu

Trang 5

1.1 Lý thuyết về lạm phát 5

1.1.1 Định nghĩa về lạm phát 5

1.1.2 Đo lường lạm phát 8

1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến lạm phát 12

1.1.4 Hậu quả của lạm phát 18

1.2 Lý thuyết về cung tiền 20

1.2.1 Xác định cung tiền 20

1.2.2 Quá trình cung ứng tiền 22

1.2.3 Mối quan hệ giữa cung tiền và lạm phát 25

1.3 Kinh nghiệm kiểm soát lạm phát thông qua cung tiền ở một số nước trên thế giới 27

1.3.1 Kiểm soát lạm phát ở một số quốc gia trên thế giới 27

1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG LẠM PHÁT VÀ CUNG TIỀN CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2011 33

2.1 Diên biến lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2000-2011 33

2.1.1 Giai đoạn 2000-2003 33

2.1.2 Giai đoạn 2004-2008 37

2.1.3 Giai đoạn từ năm 2009 đến 2011 41

2.2 Thực trạng cung tiền của Việt Nam giai đoạn 2000-2011 47

2.2.1 Diễn biến cung tiền (M1 & M2) của Việt Nam 47

2.2.2 Ảnh hưởng của cung tiền tới lạm phát tại Việt Nam 52

2.2.3 Kiểm soát cung tiền của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 54

2.3 Đánh giá chung 75

2.3.1 Kết quả đạt được 75

Trang 6

Viết tắt Nguyên nghĩa

NHNN Ngân hàng Nhà nước

NHTW Ngân hàng trung ương

TCTD Tổ chức tín dụng

NHTG Ngân hàng trung gian

M2 Tổng phương tiện thanh toán (hay lượng tiền cung ứng)

GDP Tổng sản phẩm trong nước

NHTM Ngân hàng thương mại

^DL Tiền vay chiết khấu từ ngân hàng trung ương

TPTTT Tổng phương tiện thanh toán

NSNN Ngân sách Nhà nước

CSTT Chính sách tiền tệ

DTBB Dự trữ băt buộc

OMO Nghiệp vụ thị trường mở

3.1 Định hướng chính sách tiền tệ của Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015 82

3.2 Giải pháp kiềm chế lạm phát thông qua kiểm soát lượng tiền cung ứng 84 3.2.1 Giải pháp chung 84

3.2.2 Giải pháp cụ thể 88

3.3 Kiến nghị 99

3.3.1 Kiến nghị đối với Chính phủ 99

3.3.2 Kiến nghị đối với các Bộ ngành liên quan 100

3.3.3 Kiến nghị đối với hệ thống các tổ chức tín dụng 101

KẾT LUẬN 103

Trang 8

Hình 1.3 Lạm phát do chi phí đẩy 14

Hình 1.4 Mô hình IS & LM 26

Sơ đồ 1.1 Bốn tác nhân cơ bản tham gia vào quá trình cung ứng tiền tệ 22

Sơ đồ 1.2 Mô hình lượng tiền cung ứng đơn 24

Bảng 2.1 Lạm phát hàng tháng giai đoạn 2000-2003 34

Bảng 2.2 Lạm phát hàng tháng giai đoạn 2004-2008 37

Bảng 2.3 Lạm phát hàng tháng giai đoạn 2009-2011 42

Bảng 2.4 Diễn biến của M, M7, M2 giai đoạn 2000-2011 47

Bảng 2.5 Diễn biến tốc độ tăng M0, M1, M2 giai đoạn2000-2011 48

Bảng 2.6 Tốc độ tăng trưởng M2 và huy động vốn giai đoạn 2006-2011 49

Bảng 2.7 Tốc độ tăng trưởng M2, GDP, CPI và tín dụng giai đoạn 2000-2011 .53

Bảng 2.8 Tỷ lệ dự trữ bắt buộc giai đoạn 2004-2011 57

Bảng 2.9 Lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu 60

Bảng 2.10 Hoạt động thị trường mở giai đoạn 2008-2011 63

Bảng 2.11 Lãi suất cơ bản giai đoạn 2008 - 2010 65

Bảng 2.12 Quy định trần lãi suất huy động năm 2011 67

Bảng 2.13 Tỷ giá và biên độ dao động của tỷ giá 71

Bảng 2.14 Tốc độ tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán giai đoạn 2005-2011 75

Biểu đồ 2.1 Chỉ số CPI của Việt Nam giai đoạn 2000-2011 33

Biểu đồ 2.2 Diễn biến tăng trưởng và lạm phát giai đoạn 2000-2003 35

Biểu đồ 2.3 Chi tiêu Chính phủ, thâm hụt ngân sách và lạm phát 39

Biểu đồ 2.4 Mối quan hệ M0, M1, M2 và CPI 53

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lạm phát trở thành căn bệnh cố hữu của mọi nền kinh tế Lạm phát làmột vấn đề phức tạp, luôn vận động, biến đổi cho nên ngay cả các nhà chuyênmôn nếu theo dõi thường xuyên cũng khó nắm bắt được ngay hình tháivận động của nó Đặc biệt trong bối cảnh của nước ta hiện nay lạm phát làvấn đề trung tâm và nhạy cảm hàng đầu của đời sống kinh tế xã hội Với tưcách là kết quả tổng hoà của các chính sách kinh tế xã hội vĩ mô cũng như cáchoạt động vi mô thì lạm phát đều có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp, nhanhhay chậm , tích cực hay tiêu cực, ở mức độ này hay mức độ khác đến toàn

bộ các lĩnh vực và khía cạnh hoạt động của chính phủ, doanh nghiệp và cánhân, đến các quan hệ kinh tế đối nội, đối ngoại của quốc gia và tác động đến

cả tình hình kinh tế khu vực và thế giới Vì vậy lạm phát luôn có ý nghĩa thời

sự cả về lý thuyết lẫn thực tiễn

Ngày 07/11/2006 đã đánh dấu một sự kiện quan trọng là Việt Namchính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới(WTO), đánh dấu bước chuyển mình mới của nền kinh tế Việt Nam với nhiều

cơ hội và thách thức mới Một trong những thay đổi quan trọng mà VN cầnphải thực hiện để theo kịp đà tiến của các nước trong khu vực là phải mở rộngthị trường cho các đối tác thương mại và cho phép tư nhân tham gia vào mọihoạt động kinh tế, nhanh chóng mở cửa thị trường nội địa cho các nhà đầu tưquốc tế trong các lĩnh vực dịch vụ và chế tạo, đồng thời bãi bỏ hàng rào thuếquan đánh trên các mặt hàng nhập khẩu Tiến trình mở rộng kinh tế nhanhhơn và nhiều hơn đã gây nguy hại cho các nhà sản xuất trong nước cũng nhưsách lược phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ Để hội nhập kinh tế thếgiới, Việt Nam đã phải thay đổi rất nhiều: điều chỉnh và ban hành thêm nhữngđiều luật mới, thay đổi chính sách tiền lương, điều chỉnh lại giá cả Sự thay

Trang 10

đổi kinh tế quá nhanh cùng với những biến động của thị trường thế giới đãđưa đến tình trạng bong bóng đầu tư, giá cả hàng hoá tăng nhanh, lạmphát trong khi đó thì năng lực quản lý cũng như các công cụ điều tiết nềnkinh tế của Chính phủ còn chưa theo kịp và chưa thực sự phát huy hiệu quả,dẫn đến hậu quả là lạm phát ngày càng cao, gây khó khăn cho đời sống củanhiều tầng lớp dân cư đặc biệt là người nghèo Lạm phát có ảnh hưởng tiêucực đến nền kinh tế vì nó làm giảm năng suất lao động, lạm phát bóp méomức độ khan hiếm tương đối (phản ánh qua giá cả) của các nguồn lực sảnxuất và do đó bóp méo các quyết định đầu tư và sự phân bổ của các nguồn lựckhan hiếm này Thực tế cho thấy những năm gần đây, Việt Nam luôn đạt tốc

độ tăng trưởng kinh tế khá cao (7-8%), tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng cònthấp do tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế luôn ở mức cao

Do đó, vấn đề Đảng, Chính phủ Việt Nam luôn quan tâm hàng đầu làkiềm chế lạm phát Tuy nhiên, việc làm thế nào để kiềm chế lạm phát không

hề đơn giản Để đưa ra các giải pháp vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vềlượng đồng thời đảm bảo tăng trưởng về chất, chúng ta phải bắt nguồn từnguyên nhân gây ra lạm phát để tìm hiểu đâu là nguyên nhân chính dẫn đếnlạm phát và tìm cách khắc phục nó Trong những năm gần đây, nhiều người

đã nói rằng lạm phát là một hiện tượng tiền tệ và chịu ảnh hưởng khá lớn từviệc cung ứng tiền của Ngân hàng Nhà nước

Để làm rõ vấn đề lạm phát của Việt Nam trong những năm gần đây cóphải hoàn toàn do yếu tố cung tiền tệ hay không và mức độ ảnh hưởng củađiều hành cung tiền của NHNN đến tình hình lạm phát, trên cơ sở đó để đưa

ra những giải pháp trong điều hành chính sách tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát

là vấn đề khá nhạy cảm và quan trọng trong giai đoạn hiện nay

Nhận thức được tầm quan trọng vấn đề này, đặc biệt đối với nước ta lànước đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tác giả đã lựa chọn đề tài:

Trang 11

“Giải pháp kiềm chế lạm phát thông qua kiểm soát lượng tiền cung ứng của Ngân hàng Nhà nước”

- Thực trạng lạm phát của Việt Nam trong những năm gần đây và mức

độ ảnh hưởng của lượng tiền cung ứng đến lạm phát tại Việt Nam

- Đưa ra các giải pháp trong điều hành chính sách tiền tệ đặc biệt trongđiều hành lượng tiền cung ứng của NHNN nhằm kiềm chế lạm phát

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê: Các số liệu được sử dụng trong đề tài đượcthu thập từ Ngân hàng Nhà nước và Tổng Cục thống kê

- Phương pháp phân tích: được sử dụng để phân tích tác động của từngnhân tố hình thành nên cung tiền đến lạm phát

- Phương pháp so sánh, đối chứng: Sử dụng trong so sánh giữa mục

Trang 12

tiêu, kế hoạch đặt ra và kết quả thực hiện.

5 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận vănđược chia thành 3 chương:

- Chương 1: Tổng quan về lạm phát và cung tiền

- Chương 2: Thực trạng lạm phát và cung tiền của Việt Nam giai đoạn

2000-2011.

- Chương 3: Giải pháp kiềm chế lạm phát thông qua kiểm soát lượng

tiền cung ứng.

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT VÀ CUNG TIỀN

- Theo Các Mác: Lạm phát là sự tràn ngập trên các kênh lưu thông

những tờ giấy bạc thừa gây nên sự tăng của giá cả các mặt hàng trong nềnkinh tế [1]

- Theo quan điểm của phái tiền tệ - Milton Friedman: Lạm phát là

việc giá cả tăng nhanh và kéo dài Friedman cho rằng lạm phát luôn luôn vàbao giờ cũng là một hiện tượng tiền tệ [13] Để chứng minh điều đó, năm

1956, Friedman đã giới thiệu lý luận của mình về cầu tiền, theo đó lượng cầu

về tiền của nền kinh tế phụ thuộc vào một vài biến số kinh tế lớn như thunhập thường xuyên, lãi suất dự tính của trái phiếu, chứng khoán, tỷ lệ lạmphát dự tính và lợi tức từ tiền Friedman còn giả định rằng, người ta sẽ chuyểntài sản của mình từ dạng tiền sang hàng hóa nếu phát hiện tỷ lệ lạm phát dựtính tăng lên Như vậy, chính là cung tiền tăng làm tăng tiêu dùng và do đólàm tăng tổng cầu, gây ra biến động kinh tế

Việc gia tăng cung tiền dẫn đến lạm phát liên tục và kéo dài Bằng việcphân tích mô hình cân bằng tổng cung cầu hàng hóa và tiền tệ, phái tiền tệ đãchứng minh được điều đó Hình 1 cho thấy: Khởi đầu nền kinh tế cân bằng ởđiểm 1 (giao giữa AD1 và AS1) Nếu cung tiền gia tăng qua mỗi năm, làm cho

Trang 14

tổng cầu dịch chuyển sang phải đến AD2 Khi đó nền kinh tế tiến đến cânbằng ở điểm 1’ với đặc điểm: sản lượng gia tăng, thất nghiệp giảm.Thếnhưng, với sự mở rộng sản xuất đến lượt nó sẽ làm gia tăng chi phí Và đường

AS2 sẽ lập tức di chuyển qua trái, cắt đường AD2 tạo ra điểm cân bằng mới ởđiểm 2, với mức giá gia tăng từ P1>P2 Cứ như vậy, nếu cung tiền cứ gia tăngthì mức giá gia tăng và lạm phát xảy ra Nghĩa là M tăng lên à P tăng lên.Trong phân tích cùa các nhà kinh tế tiền tệ, cung tiền được xem như là nguồnduy nhất làm dịch chuyển đường cầu AD, không có yếu tố khác làm dichuyển nền kinh tế từ điểm 1 đến 2 và 3 và hơn nữa

Hinh 1.1 Cân bằng cung cầu hàng hóa và tiền tê

- Quan điểm của phái Keynes: Kinh tế học của Keynes cho rằng nếu

tổng cầu cao hơn tổng cung ở mức toàn dụng lao động, thì sẽ sinh ra lạm phát.Điều này có thể giải thích qua sơ đồ AD-AS, đường AD dịch sang phải trongkhi đường AS giữ nguyên sẽ khiến cho mức giá và sản lượng cùng tăng [14]

- Các nhà kinh tế học cổ điển - P Samuelson: Ông cho rằng lạm phát

chính là sự tăng lên của giá bánh mỳ, giá ô tô tăng, chi phí sản xuất tăng, tất

cả những thứ này cho chúng ta biết rằng lạm phát chính là sự gia tăng của mặtbằng giá cả của tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế [2] Theo ông, nguyên

Trang 15

nhân của lạm phát gồm: (1) do cầu kéo (do các cơn sốc về nhu cầu hàng hoátiêu dùng); (2) Nguyên nhân phí phí đẩy (do các cơn sốc về phía cung); hoặc(3) Nguyên nhân xuất phát từ tâm lý (kỳ vọng) về lạm phát tăng mạnh trongtương lai; (4) Cung tiền tăng nhanh hơn lượng hàng hóa sản xuất (giốngtrường phái tiền tệ).

Có thể nói có rất nhiều quan điểm khác nhau về lạm phát, tuy nhiên,qua các quan điểm trên có thể cho ta thấy lạm phát là vấn đề liên quan đến giá

cả Như vậy, trong kinh tế học [9] có thể hiểu: Lạm phát là sự gia tăng liên

tục của mức giá cả chung Mức giá cả chung ở đây được hiểu là mức giá cả trung bình của mọi loại hàng hóa dịch vụ, do đó, trong một nền kinh tế mặc

dù có một số loại hàng hóa dịch vụ giảm giá tuy nhiên vân rơi vào tình trạng lạm phát là do giá cả của các loại hàng hóa dịch vụ khác tăng cao đủ mạnh

để khiến mức giá cả trung bình của mọi loại hàng hóa tăng.

Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự suy giảm giá trị của đồng tiền, tức

là trong thời kỳ lạm phát, một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa, dịch vụhơn so với thời kỳ không lạm phát Khi so sánh với các nền kinh tế khác thìlạm

phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác

1.1.1.2 Lạm phát cơ bản

Lạm phát cơ bản (Core Inflation): là tỷ lệ lạm phát thể hiện sự thay đổimức giá mang tính chất lâu dài mà loại bỏ những thay đổi mang tính tạm thờinên lạm phát cơ bản chính là lạm phát xuất phát từ nguyên nhân tiền tệ (haychính lạm phát theo quan niệm của Friedman) Do đó, lạm phát cơ bản là mộtcông cụ đắc lực giúp Ngân hàng trung ương (NHTW) đánh giá đúng hơn vềlạm phát, qua đó mới có thể chỉ dẫn cho mục tiêu chính sách tiền tệ trongtương lai và một khi giá cả ổn định sẽ là tiền đề cho các chỉ tiêu kinh tế vĩ môkhác ổn định và phát triển Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý rằng các tác độngcủa chính sách tiền tệ luôn có một độ trễ về thời gian mới có hiệu quả, do đó

Trang 16

sẽ là quá muộn nếu các NHTW đợi cho đến khi tỷ lệ lạm phát cơ bản bắt đầutăng thì mới bắt đầu cố gắng làm giảm sức ép lạm phát.

Tùy vào các phương pháp đo lường khác nhau, các nước công nghiệptiên tiến có phân biệt rõ ràng giữa tỷ lệ lạm phát được công bố rộng rãi theothông lệ (thường là CPI, chỉ số giảm phát GDP) và tỷ lệ lạm phát cơ bản (cóthể công bố hoặc không công bố mà chỉ để sử dụng nội bộ tuỳ từng quốc gia)

Điểm khác nhau giữa CPI, chỉ số giảm phát GDP và tỷ lệ lạm phát cơbản là CPI và chỉ số giảm phát GDP đều do tổng hợp tất cả các nhân tố tácđộng lên mức giá bao gồm cả sức ép về cầu, cung cùng với những trông chờ

kỳ vọng vào tương lai còn lạm phát cơ bản thực chất chính là tỷ lệ lạm phát

đã được điều chỉnh theo các yếu tố sức ép bên cầu cùng với những trông chờ

kỳ vọng vào tương lai và loại bỏ những biến động lớn gây sốc bên cung Ví

dụ đối với một số loại giá được coi là biến động lớn, khá ngẫu nhiên màkhông theo bất kỳ một xu hướng nào như trường hợp của các loại lương thựcthực phẩm biến động theo thời vụ và theo chất lượng mùa màng; sự gia tăngcủa giá dầu thô cũng thường xuyên chịu tác động bởi nhân tố tạm thời, chẳnghạn như thời tiết; những thay đổi về giá các mặt hàng do nhà nước quản lý,thay đổi các mức thuế gián thu, Tất cả những yếu tố đó chỉ gây ra thay đổitạm thời về giá và sẽ biến mất sau đó mà không đưa ra được xu hướng củalạm phát về cơ bản và lâu dài Đây đều là những biến động nhất thời về giá cả

và làm méo mó việc đo lường xu hướng lạm phát nên đều phải loại trừ

1.1.2 Đo lường lạm phát

Hiện nay, khi nói đến lạm phát, ta thường hiểu là tỷ lệ tăng chỉ số giátiêu dùng (gọi tắt là CPI) Tuy nhiên, trên thực tế, hai khái niệm này có nhữngkhác biệt nhất định Để đo lường về lạm phát, có nhiều thước đo khác nhau.Tùy theo mục đích quản lý, đặc điểm kinh tế có thể chọn cách đo lường chỉ sốlạm phát khác nhau trên cơ sở lựa chọn rổ hàng hóa, quyền số của từng loại

Trang 17

hàng hóa khác nhau để tính chỉ số lạm phát Tuy nhiên, các cách đo lườnglạm phát sau được sử dụng khá phổ biến, cụ thể:

1.1.2.1 Chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index-CPI)

Đây là chỉ số lạm phát được sử dụng phổ biến nhất hiện nay trong đó

có Việt Nam Chỉ số giá tiêu dùng phản ánh sự thay đổi giá của một rổ hànghóa, dịch vụ đại diện cho cơ cấu tiêu dùng của nền kinh tế so với năm đượcchọn làm gốc, cụ thể CPI được tính theo công thức:

∑ Pit x Qio

CPI =

-∑ Pio x Qio

Trong đó: Pit là giá cả của rổ hàng hóa năm hiện tại

Pio là giá cả rổ hàng hóa năm được chọn làm gốc

Qio: lượng tiêu dùng ở kỳ gốc của rổ hàng hóaNhìn vào công thức trên, ta thấy chỉ số CPI phụ thuộc vào năm đượcchọn làm gốc và sự lựa chọn rổ hàng hoá tiêu dùng Chỉ số CPI phản ánhtương đối chính xác những biến động chung của mặt bằng giá cả hàng hóa vàdịch vụ Khi chỉ số này tăng tức là giá cả trung bình của rổ hàng hóa tăng,điều này có nghĩa hoặc tất cả các mặt hàng đều tăng giá hoặc số lượng hànghóa tăng giá nhiều hơn hàng hóa, dịch vụ giảm giá và mức tăng giá đủ lớn kéotheo mức giá trung bình tăng theo Như vậy, khi CPI tăng thì người tiêu dùng

sẽ bị ảnh hưởng vì cùng với thu nhập như trước nhưng giờ đây họ mua được íthàng hóa, dịch vụ hơn

Tuy nhiên, chỉ số CPI cũng có những nhược điểm nhất định Đó là CPIkhông phản ánh sự biến động của giá hàng hoá tư bản và không phản ánh

sự biến đổi trong cơ cấu hàng hoá tiêu dùng cũng như sự thay đổi trong phân

bổ chi tiêu của người tiêu dùng cho những hàng hoá khác nhau theo thời gian

Sở dĩ như vậy là do trong việc tính toán CPI phải sử dụng trọng số cố định

Trang 18

trong tính toán (dựa vào tỷ trọng chi tiếu đối với một số hàng hóa của ngườidân mua vào năm gốc), mức độ bao phủ của chỉ số CPI chỉ giới hạn đối vớimột rổ hàng hóa, dịch vụ là đại diện tiêu biểu cho hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng

xã hội như lương thực, thực phẩm, xăng dầu, khí đốt,

1.1.2.2 Chỉ số điều chỉnh GDP (GDP deflator)

∑ Pit x Qit

GDPdeflator =

-∑ Pio x Qit

Trong đó: Pit là giá cả của rổ hàng hóa năm hiện tại

Pio là giá cả rổ hàng hóa năm được chọn làm gốc

Qit: lượng tiêu dùng ở kỳ cuối cùng của rổ hàng hóaChỉ số điều chỉnh GDP phản ánh sự thay đổi giá của tất cả các hànghóa, dịch vụ cuối cùng trong nền kinh tế so với giá của thời kỳ được chọn làmgốc Như vậy, chỉ số điều chỉnh GDP là loại chỉ số có mức bao phủ rộng nhất

Nó bao gồm tất cả các hàng hoá và dịch vụ được sản xuất trong nền kinh

tế và trọng số tính toán được điều chỉnh tuỳ thuộc vào mức độ đónggóp tương ứng của các loại hàng hoá và dịch vụ vào giá trị gia tăng Về mặtkhái niệm, đây là chỉ số đại diện tốt hơn cho việc tính toán tỷ lệ lạm pháttrong nền kinh tế Tuy nhiên, chỉ số giá này không phản ánh trực tiếp sự biếnđộng trong giá hàng hóa nhập khẩu cũng như sự biến động của tỷ giá.Nhược điểm chính của chỉ số giá này là không thể hiện được sự thay đổi củagiá cả hàng hóa khi có sự biến đổi về chất lượng hàng hoá trongtính toán tỷ lệ lạm phát Bên cạnh đó, chỉ số này cũng không phản ánh được

sự biến động giá cả trong từng tháng

Ngoài CPI , GDPdeflator có nhiều chỉ số khác được sử dụng để giúp cómột cái nhìn toàn diện về giá cả trong nền kinh tế, như chỉ số giá sản xuất,lạm phát lõi/cơ bản (core inflation), chỉ số giá bán lẻ Tuy nhiên, chỉ số CPI

Trang 19

vẫn được sử dụng khá phổ biến để phản ánh mức độ lạm phát.

Tại Việt Nam hiện nay vẫn đang sử dụng chỉ số CPI để đo lường mức

độ lạm phát, tuy nhiên do chỉ số CPI có nhiều nhược điểm như đã nêu ở trên,chỉ số CPI không phản ánh chính xác tình hình lạm phát khi giá cả thườngxuyên biến động và việc sử dụng chỉ số này làm mục tiêu điều hànhchính sách tiền tệ có thể làm chệch hướng chính sách Với mục tiêu là ổn địnhtiền tệ trung hạn, chính sách tiền tệ nên tập trung vào xu hướng tăng giáthay vì sự dao động của giá Hiện nay trên thế giới cũng có sự đồng thuận

là nên có một chỉ số giá mà không bị tác động của những cú sốc tạmthời để làm cơ sở cho việc hoạch định và đánh giá hoạt động của chính sáchtiền tệ Và chỉ số "Lạm phát cơ bản - Core inflation” được xây dựng để đápứng yêu cầu thực tế này Eckstein 1981 cho rằng lạm phát cơ bản

là sự gia tăng mức giá tổng quát xảy ra khi nền kinh tế đạt được trạng tháitoàn dụng [12] Bryan (1994) cho rằng lạm phát cơ bản là lạm phát "tiền tệ"

mà nó xảy ra là do cú sốc cung tiền [11] Nhìn chung, ta có thể hiểu lạmphát cơ bản là một phần của lạm phát mà nó có thể được kiểm soát bởi Ngânhàng Trung ương Vấn đề còn lại là lạm phát cơ bản được tính toán như thếnào Trong những năm qua một số nước tính toán dựa vào phương pháp thống

kê mà nó tìm cách loại những hàng hóa có mức giá dao động mạnh như giánăng lượng, thực phẩm Thực tế đòi hỏi phải có một khung lý thuyếtlàm cơ sở cho việc tính "lạm phát cơ bản" Mankiw và Ries đưa ra một cáchtính gọi là chỉ số giá ổn định dựa vào khung lý thuyết tiền tệ của chu kỳ kinh

tế [17] Chỉ số giá này là chỉ số giá trung bình có trọng số mà nếu đưa về mụctiêu thì hoạt động kinh tế sẽ ổn định Trong thời gian qua tại Việt Nam đã cónhiều đề xuất về việc tính chỉ số lạm phát cơ bản thay cho CPI để làm cơ sởcho việc điều hành chính sách tiền tệ Dù vậy, đề xuất này đến nay vẫn chưađược chấp thuận để áp dụng chính thức

Trang 20

Trong cuốn Lý thuyết tổng quát của mình, J M Keynes cho rằng giá cả

sẽ tăng bất cứ khi nào có sự gia tăng của tổng cầu, ngay cả trong ngắn hạn[14] Tuy nhiên, theo Keynes, lạm phát thực sự chỉ xảy ra khi có sự gia tăngcủa giá cả trong khi sản lượng không tăng được nữa Điều này hàm ý lạm phátchỉ xuất hiện khi tổng cầu tăng cao hơn mức sản lượng tiềm năng và mức độlạm phát phụ thuộc vào lỗ hổng lạm phát (inflation gap), nghĩa là giá trị củachi tiêu dự kiến trừ đi mức sản lượng tiềm năng Như vậy, nguyên nhân củalạm phát là do mức cầu hiệu quả quá cao

Keynes cho rằng nguyên nhân của tình trạng dư cầu là do hệ thống kinh

tế đã cố gắng chi tiêu nhiều hơn mức sản lượng được sản xuất ra Để cho kếtluận này có sức thuyết phục, họ đã đi sâu nghiên cứu các thành tố của tổng cầu

để giải thích được tại sao tổng cầu lại liên tục lớn hơn sản lượng tạo ra làmcho

giá cả có thể tăng liên tục theo thời gian Như chúng ta đã biết tổng cầu về

hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nước bao gồm bốn thành tố: (i) tiêu

dùng (C) như chi tiêu mua lương thực, thực phẩm, tivi, hay quần áo, tất cả

những thứ này do các hộ gia đình mua; (ii) đầu tư vào hàng tư bản (I) như các

doanh nghiệp xây dựng nhà xưởng mới và mua sắm thiết bị mới để tăng năng

lực sản xuất trong tương lai; (iii) chi tiêu chính phủ (G) bao gồm cả hàng hoá

và dịch vụ do chính phủ mua cho tiêu dùng hiện tại (tiêu dùng công) và hàng

hoá và dịch vụ cho các lợi ích tương lai như đường xá, cầu cống, bến cảng,

(đầu tư công); và (iv) xuất khẩu ròng (NX) là chênh lệch giữa lượng hàng hoá

và dịch vụ sản xuất trong nước được bán ở nước ngoài (xuất khẩu- X) và

lượng

Trang 21

hàng hoá và dịch vụ sản xuất ở nước ngoài được các hộ gia đình, doanhnghiệp

và chính phủ trong nước mua (nhập khẩu - IM) Dưới đây là các nhân tố chính

có thể làm cho các thành tố của tổng cầu tăng lên:

Hinh 1.2 Lạm phát do cầu kéo

- Sự gia tăng tổng cầu phát sinh từ tiêu dùng: Các sự kiện có thể thúc

đẩy người tiêu dùng chi tiêu nhiều hơn bao gồm: Lãi suất trong nền kinh tếgiảm xuống, Chính phủ giảm thuế thu nhập cá nhân, thị trường chứng khoánbùng nổ làm cho nhiều hộ gia đình trở nên giàu có hơn, các hộ gia đình trởnên lạc quan hơn về triển vọng việc làm và thu nhập trong tương lai

- Sự gia tăng tổng cầu phát sinh từ đầu tư: Các sự kiện có thể làm cho

các doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn bao gồm các nhà đầu tư lạc quan về triểnvọng mở rộng thị trường trong tương lai, ngân hàng trung ương tăng cung tiềnlàm cho việc tiếp cận tín dụng trở nên dễ hơn và lãi suất vay vốn thấp hơn

- Sự gia tăng tổng cầu phát sinh từ mua sắm chính phủ: Sự gia tăng

mua sắm chính phủ về hàng hoá và dịch vụ (chi tiêu nhiều hơn cho quốcphòng hoặc xây dựng các đường cao tốc) sẽ làm tăng tổng cầu và ngược lại

- Sự gia tăng tổng cầu phát sinh từ xuất khẩu ròng: Các biến cố làm

tăng chi tiêu cho xuất khẩu ròng bao gồm sự bùng nổ kinh tế ở nước ngoài,đồng nội tệ giảm giá so với tiền của các quốc gia có quan hệ thương mại với

Trang 22

Việt Nam.

Giống như các nhà tiền tệ, theo mô hình tổng cung - tổng cầu, các nhàkinh tế học theo trường phái Keynes coi lạm phát là do sự dịch chuyển sangphải của đường tổng cầu phát sinh từ sự gia tăng của một thành tố nào đótrong tổng cầu Những gì không rõ ràng trong mô hình này đó chính là lý dotại sao lại tồn tại sự dịch chuyển liên tục sang phải của đường tổng cầu Cácnhà kinh tế học theo Keynes tin rằng điều này cần phải có một sự gia tăng liêntục trong chi tiêu của Chính phủ

1.1.3.2 Lạm phát do chi phí đẩy

Theo lý thuyết của Keynes thì lạm phát là do tổng cầu tăng cao dẫn đếngiá cả hàng hóa tăng [14] Tuy nhiên, lý thuyết lạm phát do chi phí đẩy lạinghiêng về giải thích nguyên nhân dẫn đến lạm phát là do cung tức là lạmphát xảy ra khi giá cả các đầu vào quan trọng trong nền kinh tế tăng lên Khi

đó, các nhà sản xuất sẽ tìm cách chuyển mức chi phí cao hơn vào giá bánhàng hoá

Hinh 1.3 Lạm phát do chi phí đẩy

Theo lý thuyết này, lạm phát chi phí đẩy (cost-push inflattion), xảy rakhi chi phí sản xuất gia tăng hoặc năng lực sản xuất của quốc gia bị giảm sút,trong cả hai trường hợp đều tạo ra áp lực tăng giá Chi phí sản xuất tăng cóthể do các nguyên nhân sau: do gia tăng tiền lương danh nghĩa, tăng giá

Trang 23

nguyên, nhiên, vật liệu, Do chi phí sản xuất tăng nên doanh nghiệp buộcphải tăng giá sản phẩm nhằm bảo đảm lợi nhuận, cuối cùng, thị trường cânbằng tại mức giá cao hơn ban đầu Năng lực sản xuất của quốc gia giảm cóthể do các nguyên nhân như: giảm sút nguồn nhân lực, do sự gia tăng tỉ lệ thấtnghiệp tự nhiên, do sự biến động chính trị, chiến tranh, thiên tai, Do nănglực sản xuất suy giảm nên khả năng đáp ứng nhu cầu giảm, gây khan hiếmhàng hoá và tăng giá cả Cả hai trường hợp nêu trên tuy có cơ chế tác độngkhác nhau nhưng cùng có một kết quả sau cùng: nền kinh tế vừa bị lạm phátvừa giảm sản lượng.

Bốn loại chi phí có thể gây ra lạm phát loại này là: tiền lương, thuế giánthu, lãi suất và giá nguyên liệu nhập khẩu Khi tiền lương lên cao, các doanhnghiệp sẽ tìm cách tăng giá để bù lại phần chi phí tăng do tăng lương Hay,khi Chính phủ tăng thuế gián thu (kể cả thuế nhập khẩu) sẽ tác động trực tiếptới giá hàng hoá làm giá hàng hóa tăng cao Hoặc đối với các doanh nghiệp cóhuy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá, nếu lãi suất tăng có nghĩachi phí huy động vốn tăng và dẫn đến chi phí về vốn tăng buộc các doanhnghiệp phải tăng giá hàng hóa Gía nguyên vật liệu tăng cao dẫn đến chi phínguyên vật liệu đầu vào để sản xuất hàng hóa tăng và dẫn đến giá cả hàng hóatăng theo

Những yếu tố nêu trên có thể tác động riêng rẽ, nhưng cũng có thể gây

ra tác động tổng hợp, làm cho lạm phát gia tăng với tốc độ cao (lạm phát cao)

và rất cao (siêu lạm phát) Nếu Chính phủ phản ứng quá mạnh thông qua mởrộng tài khóa và tiền tệ, thì lạm phát có thể trở nên không kiểm soát được, nhưtình hình của các nước đang phát triển trong thập niên 1970 và 1980

1.1.3.3 Lạm phát do cơ cấu

Thuật ngữ “Chủ nghĩa cơ cấu ” lần đầu tiên được sử dụng để chỉ một

loại kinh tế học mô tả phân tích của các nhà kinh tế Mỹ Latinh về lạm phát ở

Trang 24

các nước của họ Những tư tưởng này được phổ biến rộng rãi vào thập niên

1950 và 1960 Tư tưởng chủ đạo của chủ nghĩa cơ cấu Mỹ Latinh là: Lạm

phát ở các nước chậm phát triển có nguồn gốc sâu xa trong cấu trúc của nền kinh tế này và là điều không thể tránh khỏi trong quá trình phát triển [15] Tư

tưởng này cho thấy theo các nhà cơ cấu lạm phát không chỉ đơn giản là do dưcầu và do đó nó không thể tách riêng và chữa trị trong ngắn hạn thông quathắt chặt tài khoá và tiền tệ nhằm cắt giảm tổng cầu

Để làm cho tư tưởng này có sức thuyết phục, chủ nghĩa cơ cấu MỹLatinh đã chỉ ra những “nút thắt cổ chai” mang tính cơ cấu trong nền kinh tếgây áp lực tạo ra lạm phát Theo các tác giả này, ba “nút thắt cổ chai” quantrọng nhất bao gồm: sự hạn chế về cung ứng lương thực và thực phẩm; sự hạnchế về ngoại tệ; và thâm hụt ngân sách Chính phủ Trong đó, sự hạn chế ngoại

tệ gây ra bởi những khó khăn về cán cân thanh toán của các nước đang pháttriển, sự hạn chế về ngoại tệ dẫn đến phá giá đồng bản tệ và gây ra lạm phát.Trong khi đó, thâm hụt ngân sách gây ra lạm phát thông qua làm tăng cungtiền Khác với các nước phát triển, Chính phủ ở các nước đang phát triểnthường can thiệp mạnh hơn vào các hoạt động kinh tế do khu vực tư nhân yếukém Chính phủ thường đóng vai trò chủ đạo không chỉ trong việc cung cấpcác dịch vụ truyền thống như dịch vụ công, giáo dục, y tế, xây dựng cơ sở hạtầng xã hội mà cả trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, dẫn đến cáckhoản chi tiêu lớn trong ngân sách Trong khi đó, phần lớn các nước đangphát triển đều phải đối phó với những khó khăn trong việc mở rộng nguồn thu

từ thuế do thu nhập bình quân đầu người thấp Đồng thời, họ cũng có ít cơ hội

để tài trợ cho thâm hụt ngân sách bằng nguồn vay trên thị trường vốn trongnước vì thị trường này thường chưa phát triển Thực tế cho thấy Chính phủcác nước này thường phải dựa vào nguồn tiền do ngân hàng trung ương pháthành Một khi lượng tiền liên tục được phát hành quá lớn thì lạm phát cao sẽ

Trang 25

là điều không tránh khỏi.

1.1.3.4 Lạm phát do nguyên nhân tiền tệ

Chủ nghĩa tiền tệ gắn liền với các tên tuổi lớn như M Friedman, K.Brunner, A Metzer, H Johnson, D Laidler và M Parkin Tư tưởng cơ bảncủa các nhà tiền tệ là luận điểm cho rằng lạm phát về cơ bản là hiện tượngtiền tệ [16] Tuy nhiên, nhiều tác giả khác, ví dụ như Friedman đã đi xa hơn

và đề ra một hình thái mạnh hơn của chủ nghĩa tiền tệ Ông đã chỉ ra mốiquan hệ nhân quả trực tiếp giữa cung tiền và lạm phát: "Lạm phát ở đâu vàbao giờ cũng là hiện tượng tiền tệ và nó chỉ có thể xuất hiện một khi cungtiền tăng nhanh hơn sản lượng" [13] Thực ra, kết luận này dựa trên hai điều:

Thứ nhất, lạm phát được giả thiết gây ra bởi sự dư thừa tổng cầu so với tổng

cung, và nguyên nhân của sự dư cầu này là do có quá nhiều tiền trong lưuthông Điều này có nghĩa lạm phát gây ra bởi sức ép từ phía cầu, chứ không

phải từ phía cung Thứ hai, mối quan hệ nhân quả được coi là bắt nguồn từ

cung tiền: thay đổi cung tiền dẫn đến thay đổi mức giá, chứ không phải ngượclại là giá cả tăng lên buộc ngân hàng trung ương phải tăng cung tiền thíchứng Để hiểu mối quan hệ đó, chúng ta cần làm rõ cơ chế truyền tải từ thayđổi cung tiền dẫn đến sự thay đổi mức giá

Với giả thiết các thị trường luôn ở trạng thái cân bằng các nhà tiền tệtin rằng ban đầu sự gia tăng lượng tiền cung ứng sẽ gây ra hiện tượng dư cungtrên thị trường tiền tệ Để thiết lập trạng thái cân bằng mới, một phần của sốtiền dư thừa được dùng để mua hàng hoá và dịch vụ Tuy nhiên, vì số lượnghàng hoá và dịch vụ được quyết định bởi cung về các nhân tố sản xuất vàcông nghệ chưa kịp thay đổi, nên xuất hiện sự dư cầu trên thị trường hànghoá Kết quả là giá cả tăng lên để thiết lập trạng thái cân bằng mới trên thịtrường hàng hoá Trong mô hình tổng cung - tổng cầu, sự gia tăng cung ứngtiền tệ sẽ làm cho đường tổng cầu dịch chuyển sang phải làm tăng mức giá

Trang 26

chung do đường tổng cung có độ dốc dương không thay đổi vị trí Tuy nhiên,lạm phát chỉ xuất hiện khi giá cả liên tục tăng, điều này đòi hỏi cung tiền cũngphải liên tục tăng.

Theo Mankiw , lạm phát xảy ra khi Chính phủ in quá nhiều tiền Theoông trong nền kinh tế có phương trình cân bằng như sau:

M x V = P x Q

Trong đó: + M là lượng tiền cung ứng

+ V là vòng quay của tiền+ P là giá cả hàng hóa+ Q là lượng hàng hóa

1.1.4 Hậu quả của lạm phát

Ở mức độ thấp và vừa phải, lạm phát có tác động tích cực đến tăngtrưởng kinh tế, tuy nhiên lạm phát cao sẽ ảnh hưởng trầm trọng đến nền kinh

tế, nó làm cho nền kinh tế bị suy giảm thậm chí có thể dẫn đến khủng hoảng

Cụ thể, hậu quả của lạm phát có thể được nhìn trên các khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, lạm phát sẽ làm suy giảm giá trị của đồng tiền do đó nó làm

mất đi chức năng là thước đo giá trị của tiền tệ Thước đo giá trị của tiền tệ bịmất đi sẽ làm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp gặp khó khăn dokhông tính toán chính xác được hiệu quả của hoạt động kinh doanh để điềuchỉnh kịp thời

Thứ hai, giá trị của tiền tệ bị suy giảm, thước đo giá trị của tiền của một

Trang 27

quốc gia bị mất đi trong khi tiền tệ là một công cụ để điều tiết nền kinh tế củaChính phủ Do đó, có thể nói lạm phát cao sẽ dẫn đến các công cụ điều tiếtnền kinh tế của một quốc gia sẽ bị vô hiệu hóa (như thuế).

Thứ ba, lạm phát cao dẫn đến sự phân phối lại thu nhập trong xã hội,

dẫn đến một số người sẽ có giá trị tài sản rất lớn trong khi đó phần lớn người

sẽ bị nghèo đi Có thể nói lạm phát sẽ dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo ngàycàng lớn

Thứ tư, lạm phát dẫn đến tâm lý tích trữ hàng hóa, vàng, ngoại tệ, bất

động sản và dẫn đến sự khan hiếm hàng hóa Cứ như vậy, việc khan hiếmhàng hóa làm giá cả leo thang và lạm phát cũng leo thang

Thứ năm, lạm phát sẽ làm bóp méo các điều kiện thị trường vì các

thông tin kinh tế được thể hiện qua giá cả hàng hóa, giá cả lao động, trongkhi đó lạm phát làm suy giảm giá trị tiền tệ, nó làm biến dạng giá cả của hànghóa, giá cả không phản ánh đúng giá trị thực của sản phẩm, hàng hóa

Thứ sáu, lạm phát dẫn đến sự phát triển kinh tế không đều giữa các

ngành, lĩnh vực vì khi đó vốn sẽ tập trung vào các ngành có lợi nhuận cao

Thứ bảy, lạm phát dẫn đến bội chi ngân sách ngày càng lớn

Thứ tám, lạm phát làm cho hoạt động huy động vốn của các ngân hàng

ngày cũng gặp khó khăn, hoạt động kinh doanh gặp nhiều rủi ro

Cuối cùng, lạm phát sẽ làm giảm nhu cầu tiêu dùng của xã hội.

Có thể nói lạm phát cao sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho một nền kinh

tế, ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội, lạm phát sẽ dẫn đến sự khôngcông bằng trong xã hội, phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn và suy cho cùnglạm phát ảnh hưởng trầm trọng đến đời sống của đa số người lao động, chi phíđắt đỏ hơn trong khi thu nhập không thay đổi

Trang 28

1.2 Lý thuyết về cung tiền

1.2.1 Xác định cung tiền

Học thuyết kinh tế nói chung, lý thuyết tài chính, tiền tệ nói riêng đều

không đưa ra khái niệm Tổng phương tiện thanh toán -TPTTT (hay Khối

lượng tiền trong nền kinh tế - Money supply, Broad Money), mà chỉ đưa ra

khái niệm “Tiền” và cách xác định Khối lượng tiền trong nền kinh tế

Theo cuốn sách “Kinh tế vĩ mô” của Gregory Mankiw Tiền là một

lượng tài sản có thể sử dụng ngay để tiến hành các giao dịch [9] Theo cuốn

sách “Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính” của Frederic S Mishkin,

Tiền là bất cứ cái gì được chấp nhận chung cho việc thanh toán hàng hóa và dịch vụ [7].

Theo đó, tất cả lượng tiền do dân chúng (cá nhân/tổ chức ngoài hệthống ngân hàng) nắm giữ tạo thành Khối lượng tiền trong nền kinh tế Khốilượng tiền đó tương đương với giá trị sản phẩm hàng hóa và dịch vụ được tạo

ra trong nền kinh tế

Cẩm nang Thống kê tài chính, tiền tệ - Monetary and Financial

Statistics Manual (MFSM) do Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) xuất bản năm 2000

và Sách hướng dẫn biên soạn số liệu thống kê tài chính, tiền tệ (Monetary and

Financial Statistics Compilation Guide) do IMF xuất bản năm 2008 [18] cũng

không đưa ra các quy ước về định nghĩa quốc gia về TPTTT mà để tùy từngquốc gia quy định trên cơ sở đặc thù nền kinh tế cũng như cơ chế quản lý thịtrường tài chính, tiền tệ của từng quốc gia Song tại các cuốn sách này, IMFđưa ra hướng dẫn chung về cách xác định TPTTT (việc xác định các cấuthành của M1, M2, M3, do từng quốc gia quy định) Theo cách xác định củaCục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) thì các cấu phần của TPTTT được tính toánnhư sau:

Trang 29

1.2.1.1 Tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng (M 0 )

Tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng hay còn gọi là tiền tronglưu

thông là khối lượng tiền do các tổ chức, kinh tế nắm giữ phục vụ mục đíchtrao

đổi, lưu thông hàng hóa Đây là lượng tiền có tính thanh khoản cao nhất Tiềnmặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng (M0) được xác định như sau:

M0 = Tiền mặt phát hành - Tiền mặt tồn quỹ trong hệ thống ngân hàng

1.2.1.2 Tiền mở rộng (M 1 )

M1 có tính thanh khoản thấp hơn so với M0 và được xác định như sau:

' Séc du lịchMl= Tiền mặt (M0) + < Tiền gửi không kỳ hạn

Tiền gửi có kỳ hạn, lượng lớn

Cổ phần quỹ tương trợ thị trường tiền tệ (có tổ chức)

M3 = M2 + < Hợp đồng mua lại dài hạn

Đôla châu Âu có kỳ hạn

l Khoản điều chỉnh

Tại Việt Nam, hiện nay, khi nhắc tới Tổng lượng tiền cung ứng(TPTTT) người ta thường nói tới M2, tuy nhiên, về bản chất thì TPTTT củaViệt Nam gần giống với M3 hơn và TPTTT được tính toán như sau:

Trang 30

Tổng phương tiện thanh toán (M2) =

+ Tiền mặt trong lưu thông (M0)+ Tiền gửi không kỳ hạn bằng VND+ Tiền gửi có kỳ hạn bằng VND

M 1

+ Trái phiếu VND do các NHTG phát hành+ Huy động vốn bằng ngoại tệ

1.2.2 Quá trình cung ứng tiền

Có 4 tác nhân tham gia vào quá trình cung ứng tiền tệ: Ngân hàng

trương ương; Người gửi tiền; Ngân hàng thương mại; Người vay tiền

Sơ đồ 1.1 Bốn tác nhân cơ bản tham gia vào quá trình cung ứng tiền tệ

1.2.2.1 Ngân hàng trung ương cung ứng tiền mặt

NHTW là một nhân tố quan trọng bậc nhất trong quá trình cung ứngtiền tệ Đây là cơ quan Chính phủ có chức năng theo dõi bao quát hoạt độngcuả hệ thống ngân hàng và điều hành chính sách tiền tệ của một quốc gia Mộttrong những chức năng quan trọng bậc nhất của NHTW là chức năng pháthành tiền NHTW là đơn vị xác định số lượng tiền cần phát hành, thời điểm,phương thức, nguyên tắc phát hành tiền Thông qua nghiệp vụ phát hành tiền,NHTW đưa một lượng phương tiện thanh toán vào nền kinh tế Khối lượngtiền này sẽ được các tổ chức cá nhân sử dụng để thanh toán trong nền kinh tế.Khối lượng tiền mặt mà NHTW đã phát hành đang lưu thông trong nền kinh

Trang 31

MB = C + RTrong đó:

+ MB là Khối lượng tiền cơ sở

+ C là tiền lưu thông ngoài hệ thống ngân hang

+ R là tiền mặt tại quỹ và tiền gửi của các ngân hàng tại NHNN

Bên cạnh đó, NHTW bằng các công cụ chính sách tệ như quy định tỷ lệ

dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ cấp tín dụng, NHTW tác động trực tiếp vào quátrình tạo tiền thông qua hệ số nhân tiền tệ Cụ thể ta có:

Số nhân tiền m đầy đủ (tương ứng với phép đo lượng tiền cung ứng làM1) được xác định như sau:

m = h + {E^DỈ+ÍƠDÍI

Trong đó:

+ rD là tỷ lệ dự trữ bắt buộc+ C là tiền mặt

+ D là tiền gửi có thể phát séc (hay là tiền gửi không kỳ hạn)+ ER là tiền dự trữ vượt

1.2.2.2 Ngân hàng trung gian tạo tiền gửi

Giả sử tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10%, thì quá trình tạo tiền tại các NHTG

có thể được mô tả theo quy trình sau:

Trang 32

Sơ đồ 1.2 Mô hình lượng tiền cung ứng đơn

Nhìn sơ đồ trên ta thấy chỉ với một lượng tiền cung ứng ban đầu từNHTW, tuy nhiên sau khi được đưa vào nền kinh tế để sử dụng, lượng tiềngửi tại các NHTG đã tăng lên gấp nhiều lần theo phương trình sau: MS =MB.m Trong đó: MS là lượng tiền cung ứng, MB là tiền dự trữ và m là hệ sốnhân tiền

1.2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến cung tiền (M 2 )

c) Thói quen nắm giữ tiền mặt

Thói quen nắm giữ tiền mặt của người dân ảnh hưởng trực tiếp đếnlượng tiền lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng Khi người dân ưa thích nắm

Trang 33

giữ tiền mặt hơn nên mọi hoạt động thanh toán của tổ chức, cá nhân đều thựchiện bằng tiền mặt ■=> tiền gửi tại NHTG giảm ■=> m giảm l=> M2 giảm vàngược lại.

d) An toàn hoạt động của Tổ chức tín dụng

Hoạt động kinh doanh ngân hàng là hoạt động kinh doanh niềm tin, do

đó, mức độ an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng sẽ ảnh hưởngđến niềm tin của người gửi tiền Khi hoạt động kinh doanh của ngân hàng gặprủi ro, khách hàng thay vì gửi tiền tại NHTG sẽ nắm giữ tiền mặt ■=> m giảm

c> M2 giảm

1.2.3 Mối quan hệ giữa cung tiền và lạm phát

Lạm phát có thể do nhiều nguyên nhân gây ra như đã nói ở trên Đểkiểm soát lạm phát cần xác định lạm phát là do đâu để từ đó tìm ra giải phápphù hợp Tuy nhiên, trong luận văn này, tác giả muốn đề cập đến lạm phát donguyên nhân cung tiền, do đó chỉ tập trung nghiên cứu về mối quan hệ giữalạm phát và cung tiền, các quan điểm kiểm soát lạm phát thông qua kiểm soátlượng tiền cung ứng

1.2.3.1 Cung tiền và lạm phát

a) Chính sách tiền tệ mở rộng

Khi NHTW thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng, NHTW thực hiệngiảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, giảm lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu, cung ứngthêm tiền, dẫn đến lượng tiền cung ứng tăng, cụ thể nhìn vào hình vẽ, tathấy ở trạng thái cân bằng đường LM0 cắt đường IS tại mức lãi suất ro vàlượng hàng hóa Y0 Khi NHTW quyết định nới lỏng chính sách tiền tệ, đường

LM dịch chuyển từ LM0 sang đường LM1 làm cho mức lãi suất giảm xuống

r1 Do lãi suất giảm, chi phí về vốn giảm dẫn đến nhu cầu đầu tư gia tăng, dẫnđến đường tổng cầu AD dịch chuyển từ AD0 sang AD1 trong khi đường ASgiữ nguyên Lúc này trạng thái cân bằng chuyển sang điểm (P1, Q1) tại đó P1

Trang 34

Hinh 1.4 Mô hình IS & LM

b) Chính sách tiền tệ thắt chặt

Ngược lại với chính sách tiền tệ mở rộng, khi NHTW thắt chặt chínhsách tiền tệ làm cho đường LM dịch chuyển sang trái LM2 và cắt đường IS tạiđiểm E(r2;Y2) tại đó r2 > r1 Khi lãi suất tăng làm cho nhu cầu đầu tư giảm,đường AD dịch chuyển sang trái AD2 cắt đường AS tại điểm C(P2, Q2) và P2

< Po, tức là giá cả hàng hóa giảm ■=> lạm phát giảm

1.2.3.2 Kiểm soát lạm phát thông qua cung tiền

a) Theo quan điểm thụ động (Friedman)

Theo quan điểm của Friedman, sự tăng trưởng kinh tế ổn định và cóhiệu quả chỉ có thể dựa trên sự kiểm soát chặt chẽ khối lượng tiền tệ pháthành trong lưu thông, nghĩa là kiểm soát sự cung ứng tiền tệ kết hợp với chínhsách kiềm chế lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng dài hạn Theo Friedman,nguyên nhân chính gây ra các biến động của nền kinh tế là biến động củacung tiền, do đó để kiểm soát lạm phát, ngân hàng trung ương sẽ ấn định mứctăng trưởng cung tiền hàng năm ở mức thấp và ổn định nhằm duy trì sự ổn

Trang 35

định của sản lượng, việc làm và giá cả, thông thường tốc độ tăng trưởng cungtiền được ấn định ở mức lớn hơn đôi chút so với tốc độ tăng trưởng kinh tếhàng năm Phương thức hạn chế tiền tệ được áp dụng ở Mỹ trong nhiều thậpniên và tỏ ra có hiệu quả, vì vậy nó được nhiều nước thừa nhận như là phươngthức chủ yếu để ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát.

Quan điểm này có ưu điểm có thể giúp cho nền kinh tế tránh khỏi nhiềubiến động trong quá khứ, tuy nhiên đây không phải là quan điểm chính sáchtối ưu vì sự ổn định của cung tiền chỉ giúp ổn định tổng cầu nếu như tốc độchu chuyển của tiền là không đổi

b) Quan điểm năng động (Keynes)

Keynes cho rằng một nền kinh tế tăng trưởng và có hiệu quả là giảiquyết đầy đủ công ăn việc làm Muốn vậy phải kích cầu bằng các chính sách

vĩ mô của nhà nước Trong đó, việc nới lỏng tiền tệ, mở rộng việc cung ứngtiền tệ sẽ kích thích mặt cầu, giải quyết được nạn thất nghiệp, thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế, từ đó lạm phát sẽ được kiểm soát [14]

Theo quan điểm này, người ta coi lạm phát và chống lạm phát như mộtquá trình liên tục, nghĩa là vừa chống lạm phát lại vừa thực hiện chính sáchtiền tệ lạm phát Phương thức này được thừa nhận ở Mỹ vào những thập niên

40, 50, 60 sau đó ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nước Nam Mỹ, Argentina,Peru, Brazil, Bolivia có tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ bình quân hàng năm lên đếntrên dưới 300%, các nước khác như Urugoay, Mexico có tỷ lệ tăng trưởngtiền tệ bình quân hàng năm khoảng trên dưới 60% là một trong những bằngchứng về thực hiện quan điểm nói trên

1.3 Kinh nghiệm kiểm soát lạm phát thông qua cung tiền ở một số nước trên thế giới

1.3.1 Kiểm soát lạm phát ở một số quốc gia trên thế giới

Lạm phát là hiện tượng vốn có của một nền kinh tế có sử dụng tiền tệ,

Trang 36

do đó nó xảy ra ở mọi quốc gia Lạm phát tại mỗi quốc gia xuất phát từ nhữngnguyên nhân khác nhau và tùy vào nguyên nhân gây ra lạm phát cần phải cógiải pháp phù hợp để kiểm soát Sau đây là kinh nghiệm của một số quốc giatrong kiểm soát lạm phát thông qua giải pháp kiểm soát cung tiền:

1.3.1.1 Trung Quốc

Sau 30 năm cải tổ, nền kinh tế của Trung Quốc đã đạt được nhữngthành tựu vượt bậc với con số tăng trưởng bình quân hàng năm từ 1979 đếnnay là gần 10% Ngay trong thời kỳ nền kinh tế thế giới suy thoái nghiêmtrọng, tăng trưởng của Trung Quốc vẫn đạt 8,9% Quý II/2010, tốc độ tăngtrưởng là 10.3%; GDP của Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản để trở thànhnền kinh tế đứng thứ 2 thế giới

Tuy nhiên, nền kinh tế của Trung Quốc hiện nay được nhận định làphát triển quá nóng và thiếu tính bền vững, mặc dù kết quả thu được hàngnăm vẫn đạt con số rất cao Để cố đạt được những tham vọng về công nghiệphoá, Trung Quốc tăng cường đầu tư một cách ồ ạt vào công nghiệp nặng và cơ

sở hạ tầng Chính phủ Trung Quốc đưa ra các biện pháp hỗ trợ cũng như nớilỏng tiền tệ và tài khoá để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, đặcbiệt là những doanh nghiệp nhà nước, tiến hành tràn lan các dự án đầu tư, bấtchấp hiệu quả kinh tế

Việc làm trên đã dẫn tới tình trạng hàng hoá dư thừa trong khi tiêu thụnội địa vẫn thấp khiến Trung Quốc phải tìm đầu ra cho các sản phẩm nàythông qua xuất khẩu Sự lệ thuộc vào xuất khẩu khiến cho Trung Quốc phảiđiêu đứng trước các cuộc khủng hoảng kinh tế Cuối năm 2008, Chính phủTrung Quốc đã phải tung ra gói kích thích kinh tế lên đến 586 tỷ USD nhằmduy trì tốc độ tăng trưởng cao của mình

Nhằm ổn định hệ thống tài chính và kiểm soát lạm phát, Trung Quốc đã

sử dụng những biện pháp khá mạnh tay Tháng 3/2010, rút lượng tiền 31,2 tỷ

Trang 37

USD trong 1 ngày khỏi hệ thống tài chính bằng cách bán trái phiếu ngắn hạncho các ngân hàng Đây là khoản tiền rút khỏi hệ thống tài chính hàng tuầnlớn nhất trong vòng 2 năm qua nhằm hạn chế việc các ngân hàng cho vay ồ ạtkhiến lo ngại lạm phát và tăng giá.

Bên cạnh đó, Chính phủ Trung Quốc đã triển khai một loạt biện phápnhằm hạ nhiệt thị trường bất động sản như cấm các ngân hàng cho kháchhàng vay tiền để mua nhà thứ ba, tăng lãi suất đối với các khoản cho vay muanhà và tỷ lệ tiền trả trước đối với việc mua nhà thứ hai Giá nhà đã tăng11,79% ở 70 thành phố trong tháng 3 vừa qua so với cùng kỳ năm trước, mứctăng mạnh nhất kể từ năm 2005 Chính phủ Trung Quốc cũng quyết địnhkhông tăng lãi suất cho vay, song lại tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với cácngân hàng nhằm kiềm chế giá bất động sản Trong vòng một giờ sau khi Ngânhàng Nhân dân Trung Quốc công bố tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngânhàng, Bộ trưởng Tài chính Trung Quốc khẳng định, chính phủ nước này trungthành với các cam kết về củng cố sự phục hồi của nền kinh tế

Những thông tin trên đây phản ánh thực trạng của nền kinh tế, hệ thốngtài chính ngân hàng của Trung Quốc và kinh nghiệm quản lý tỷ giá, kiểm soátlạm phát của Trung Quốc Những kinh nghiệm thành công và không thànhcông của Trung Quốc có thể là những bài học cho Việt Nam trong việc lựachọn cơ chế và chính sách phát triển, đặc biệt là cơ chế điều hành tỷ giá, kiểmsoát lạm phát phù hợp và phải có những biện pháp đồng bộ để đảm bảo tínhhiệu quả, loại trừ nguy cơ kinh tế phát triển “quá nóng” như đang diễn ra tạiTrung Quốc

1.3.1.2 Ấn Độ

Chỉ số lạm phát bán buôn (WPI - gồm 435 mặt hàng) đã tăng từ tháng9/2009 và vẫn tiếp tục ở mức cao, sau khi lên đỉnh điểm là 11,0% trong tháng4/2010, lạm phát bắt đầu giảm tốc và đứng ở mức 8,6% trong tháng 10/2010

Trang 38

Tính theo chỉ số tích tụ trong năm tài chính hiện hành thì lạm phát tăng 4,3%trong tháng 10/2010 so với 5,9% cùng kỳ năm 2009, chứng tỏ sức ép lạm pháttrong nửa năm tài chính hiện hành đã giảm 1,17% Tuy nhiên giá lương thựccao một phần do nạn hạn hán trong nước năm ngoái và giá thế giới cũng tăng

đã đẩy lạm phát lên Nguyên nhân lạm phát WPI tăng cao là do giá lươngthực tăng cùng với giá nhiên liệu, điện, nhóm dầu nhẹ và dầu bôi trơn và tácđộng của chỉ số lạm phát thấp năm trước (âm hoặc ôn hòa trong nửa đầu nămtài chinh trước) Trong khi đó, chỉ số lạm phát giá tiêu dùng (CPI) vẫn cao do

tỷ trọng các mặt hàng lương thực, thực phẩm chiếm đại đa số trong nhóm,nhưng nhìn chung ít biến động hơn trước.”

Trong một loạt các biện pháp kiểm soát lạm phát khá hiệu quả củaChính phủ Ân Độ có giải pháp về tài chính tiền tệ, cụ thể là: Rút từng bước vàrút hết (vào tháng 3/2011) các biện pháp giải cứu nền kinh tế (bơm 40 tỷUSD) trong cuộc khủng hoảng vừa qua, chỉ bơm thêm 10 tỷ USD từ nay đếnhết Q4; Ngân hàng trung ương đã nâng tỷ lệ lãi suất liên ngân hàng lên 6.25%

và nâng tỷ lệ dự trữ tiền mặt của mỗi ngân hàng lên 5.25% Đây là lần thứ 6trong năm Ngân hàng trung ương nâng lãi suất và dự trữ bắt buộc nhằm kiểmsoát lạm phát Những biện pháp này có hiệu lực ngay lập tức Ngân hàng đãcấp tín dụng dễ dàng cho người mua nhà; công bố dự thảo quy định về việcphép mở ngân hàng mới để lấy ý kiến phản hồi; đưa ra văn bản vể thỏa thuận

tỷ lệ lãi suất để các ngân hàng trao đổi thống nhất; và sẵn sàng hành động nếuluồng vốn đầu tư gián tiếp (FII) biến động có tình bốc hơi hoặc trì trệ; lới lỏngtín dụng cho giới thương nhân buôn bán/phân phát lương thực Chính phủtrung ương cũng phối hợp tốt với chính phủ các bang thống nhất các biệnpháp thực hiện và hoạch định các biện pháp chính sách tài chinh, tiền tệ vàcác biện pháp chế tài khác

Trang 39

1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Qua kinh nghiệm kiềm chế lạm phát của các nước trên ta có thể rút ramột số bài học như sau: Từ các phân tích nêu trên ta thấy nguyên nhân cơ bảndẫn đến tình trạng lạm phát của một quốc gia là nền kinh tế hoạt động kémhiệu quả, không tạo ra được thu nhập hoặc có tạo ra nhưng thấp, không đủtrang trải chi tiêu nên đã phát hành tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách và dẫnđến lạm phát Do vậy, để kiểm soát lạm phát do nguyên nhân mất cân đối vềtiền hàng và hạn chế tác động của việc cung ứng tiền đến lạm phát cần phải:

- Quản lý chặt chẽ việc cung ứng tiền,thực hiện chính sách đóng băngtiền tệ, cung ứng tiền đảm bảo đáp ứng đủ nhu cầu thanh toán

- Tách bạch giữa việc phát hành tiền với ngân sách nhà nước, NHTWchỉ phát hành tiền cho nhu cầu lưu thông hàng hóa không được thực hiện pháthành tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách, chấm dứt phát hành tiền bù đắp thâmhụt ngân sách nhà nước

- Để kiểm soát lạm phát hiệu quả cần có sự đồng bộ về chính sách, tức

là có sự phối hợp thống nhất giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ

- Quản lý và hạn chế khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại bằngcách tăng dự trữ bắt buộc, xiết chặt tín dụng,

- Đặc biệt, trong thời kỳ lạm phát, về cơ bản ngân hàng trung ương cần

áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt, trong đó thị trường tiền vốn được điềuchỉnh cao hơn mức thông thường Bên cạnh đó, chính sách tỷ giá cũng cầnđược hỗ trợ từ việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài Công tác này được thựchiện tốt sẽ thu hút lượng ngoại tệ lớn nhằm cung ứng ngoại tệ cho nền kinh tế,góp phần ổn định tỷ giá Trong công tác điều hành thị trường tiền tệ, ngânhàng trung ương cần sử dụng hiệu quả các công cụ chính sách tiền tệ nhằmđạt được mục tiêu trong từng thời kỳ

Ngày đăng: 17/04/2022, 09:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w