ATM Máy rút tiền tự độngBHTG Bảo hiểm tiền gửi BHTGVN Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam CAMELS Bộ tiêu chuẩn được sử dụng để đánh giá hoạt động ngân hàng DICJ Tổ chức BHTG Nhật Bản FDIC Tổng cô
Trang 1⅛μ , _ IWNGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
^ffl^
NGUYỄN THỊ QUỲNH LIÊN
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
CƠ CHẾ BẢO HIỂM TIỀN GỬI Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2014
⅛
Trang 2HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
^ffl^
NGUYỄN THỊ QUỲNH LIÊN
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
CƠ CHẾ BẢO HIỂM TIỀN GỬI Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN ĐÌNH LƯU
HÀ NỘI, NĂM 2014
⅛
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học,độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và cónguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Quỳnh Liên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI, QUÁ TRÌNH HÌNH
THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM TIỀN GỬI TRÊN THẾ GIỚI 8
1.1.1 Một số khái niệm về bảo hiểm tiền gửi 8
1.1.2 Khái quát về quá trình hình thành và phát triển bảo hiểm tiền gửi
trên thế giới 10
1.1.3 Vai trò của bảo hiểm tiền gửi 12
1.2 CÁC VẤN ĐỀ VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI 14
gửi trong Mạng an toàn tài chính Quốc gia 29
1.3 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ HOÀN THIỆN TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM 36
1.3.1 Kinh nghiệm quốc tế 36
1.3.2 Bài học đối với Việt Nam 41
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG BẢOHIỂM TIỀN GỬI Ở VIỆT NAM 44
2.1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI Ở VIỆT NAM 44
Trang 52.1.1 Quá trình hình thành và phát triển hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở
Việt Nam 44
2.1.2 Tổ chức và hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 45
2.2 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY 46
2.2.1 Cơ sở pháp lý 46
2.2.2 Mô hình tổ chức của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 48
2.2.3 Năng lực tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 52
2.2.4 Hoạt động nghiệp vụ chủ yếu của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 54
2.2.5 Mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia thực hiện chính sách bảo hiểm tiền gửi 69
2.2.6 Mối quan hệ với các thành viên trong Mạng an toàn tài chính 71
2.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CƠ CHẾ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM 73
2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế 77
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ BẢO HIỂM TIỀN GỬI Ở VIỆT NAM 79
3.1. ĐỊNH HƯỚNG VỀ HOÀN THIỆN CƠ CHẾ BẢO HIỂM TIỀN GỬI Ở VIỆT NAM 79
3.1.1 Định hướngchung 79
3.1.2 Một số mục tiêucụ thể 80
3.2. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ BẢO HIỂM TIỀN GỬI Ở VIỆT NAM 81
3.2.1 Nhóm giải pháp chung
3.2.2 Nhóm giải pháp đối với người gửi tiền
75
81 85
Trang 63.3. KIẾN NGHỊ 94
3.3.1 Đối với Quốc hội 94
3.3.2 Đối với Chínhphủ 94
3.3.3 Đối với các bộ ngành có liên quan 95
KẾT LUẬN 96
Trang 7ATM Máy rút tiền tự động
BHTG Bảo hiểm tiền gửi
BHTGVN Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
CAMELS Bộ tiêu chuẩn được sử dụng để đánh giá hoạt động ngân
hàng
DICJ Tổ chức BHTG Nhật Bản
FDIC Tổng công ty BHTG Liên bang Mỹ
FFIEC Ủy ban Giám sát định chế tài chính Liên bang Mỹ
FSMIMS Hệ thống thông tin quản lý và hiện đại hoá ngân hàng
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
IADI Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi Quốc tế
NDIF Quỹ BHTG Quốc gia Hungary
NH Ngân hàng
NHTM Ngân hàng Thương mại
NHTW Ngân hàng Trung Ương
Trang 8Bảng 1.2: So sánh mục tiêu chính sách công của các mô hình tổ chức BHTG 28
Bảng 2.1: Tình hình cấp mới, cấp đổi, cấp bổ sung chứng nhận BHTG 56
Bảng 2.2: Tổng số dư tiền gửi được bảo hiểm năm 2011-2013 58
Bảng 2.3: Số lượt đơn vị tham gia BHTG được kiểm tra từ 2001 - 2012 63
Bảng 2.4: Kết quả chi trả bảo hiểm của BHTGVN 66
Bảng 2.5: Các hình thức đầu tư của BHTGVN 2007 - 2013 68
Bảng 3.1: Các nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam 81
DANH MỤC SƠ ĐÒ, ĐÒ THỊ Đồ thị 1.1: Số lượng Ngân hàng đổ vỡ tại Mỹ giai đoạn 1935 - 2002 38
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy của BHTGVN 51
Đồ thị 2.1: Quy mô nguồn vốn của BHTGVN giai đoạn 2000-2012 52
Đồ thị 2.2: Số lượng tổ chức tham gia BHTG giai đoạn năm 2000-2013 57
Đồ thị 2.3: Kết quả thu phí BHTG giai đoạn năm 2000-2013 59
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ • Hình 1.1: Các mô hình bảo hiểm tiền gửi trên thế giới 25
Hình 1.2: Mô hình Mạng an toàn tài chính Quốc gia phổ biến hiện nay 30
Hình 1.3: Mô hình giám sát hợp nhất tại Mỹ 41
Hình 2.1: Các hoạt động nghiệp vụ chủ yếu của BHTGVN 55
Hình 3.1: Các trụ cột phát triển bền vững của BHTGVN 89
Trang 9ro hệ thống.
Tuy nhiên, tái cấu trúc có thể dẫn tới những xáo trộn trên thị trường,đặc biệt là tâm lý và niềm tin của người gửi tiền rất dễ bị tổn thương trướcnhiều luồng thông tin trái chiều Nâng cao niềm tin của công chúng là nhiệm
vụ quan trọng của các cơ quan chức năng, trong đó có Bảo hiểm tiền gửi ViệtNam (BHTGVN)
BHTGVN được thành lập theo Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg ngày09/11/1999 và đã được điều chỉnh theo quyết định 1394/QĐ-TTg ngày13/08/2013 của Thủ tướng Chính phủ Đây là một cam kết mạnh mẽ của Đảng
và Nhà nước ta trong chuyển dịch mô hình quản lý kinh tế tập trung bao cấpsang mô hình kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong bốicảnh hậu khủng hoảng tài chính khu vực Châu Á Hoạt động của BHTGVN
có nền tảng pháp lý vững chắc là Luật BHTG 06/2012/QH13 có hiệu lực thihành ngày 01/01/2013 Theo đó, BHTGVN được xác định là tổ chức tài chínhNhà nước hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhằm bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của người gửi tiền, thực hiện chính sách bảo hiềm tiền gửi gópphần duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD), bảo đảm
sự phát triển an toàn, lành mạnh hoạt động ngân hàng
Trang 10BHTGVN qua 14 năm hoạt động, đến nay đã có những đóng góp đángghi nhận trong việc bảo vệ người gửi tiền, ổn định thị trường tài chính tiền tệ
và tạo dựng được niềm tin nơi người gửi tiền
Tuy nhiên, bên cạnh một số kết quả đạt được, thực tế hoạt động củaBHTGVN đang bộc lộ một số hạn chế về cơ chế, chính sách cần được khắcphục Cụ thể, mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng của Bảo hiểm tiền gửiViệt Nam chưa phát huy được đầy đủ chức năng; ngoài ra còn có các hạn chế
về cơ sở pháp lý, năng lực tài chính, trình độ cán bộ cũng như cơ sở vật chất
kỹ thuật dẫn đến khó khăn cho BHTGVN trong quá trình triển khai thực hiệnnhiệm vụ Bên cạnh đó công tác phối hợp, chia sẻ thông tin với các thành viêntham gia Mạng an toàn tài chính Quốc gia trong việc duy trì ổn định tài chínhcòn hạn chế; nhận thức của công chúng về hoạt động BHTG chưa cao
Trước những tồn tại đã nêu ở trên, BHTGVN đang đứng trước yêu cầucải cách nhằm: i) thực hiện tốt nhất mục tiêu chính sách công theo LuậtBHTG; ii) bảo vệ tốt nhất quyền lợi của người gửi tiền, nâng cao niềm tincông chúng; iii) và chủ động phối hợp với các thành viên tham gia Mạng antoàn tài chính Quốc gia duy trì ổn định hệ thống tài chính ngân hàng Với các
vấn đề như trên, đề tài “Giải pháp hoàn thiện cơ chế bảo hiểm tiền gửi ở
Việt Nam’” được lựa chọn làm nội dung nghiên cứu.
2 Tổng quan nghiên cứu đề tài
Tình hình nghiên cứu trên thế giới
IADI (2009) core Principles for effective Deposit Insurance Systems
Đây là Bộ nguyên tắc cơ bản để xây dựng hệ thống BHTG hiệu quả do
Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS) và Hiệp hội BHTG Quốc tế(IADI) ban hành ngày 18/6/2009 (gồm 18 nguyên tắc) Mục tiêu chủ yếu của
bộ nguyên tắc nhằm đảm bảo các quốc gia xây dựng hệ thống BHTG hữu hiệudựa trên cơ sở áp dụng các thông lệ tốt nhất của các tổ chức BHTG Các
Trang 11nguyên tắc cơ bản được thiết kế không phải để đáp ứng tất cả các yêu cầu vàđiều kiện của mọi hệ thống tài chính Khi áp dụng những nguyên tắc này, cầnxem xét kỹ điều kiện cụ thể của từng quốc gia với hệ thống pháp luật hiệnhành và năng lực thực hiện các mục tiêu chính sách công, nhiệm vụ và quyềnhạn của hệ thống BHTG nước đó Việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sẽ gópphần ổn định hệ thống tài chính và tăng cường bảo vệ người gửi tiền
Tình hình nghiên cứu trong nước
Đã có khối lượng lớn các công trình nghiên cứu về BHTG Các côngtrình nghiên cứu đó có thể chia làm các nhóm như nhóm luận văn, luận án và
đề tài khoa học nghiên cứu về BHTG; nhóm bài báo về BHTG
Thứ nhất, nhóm công trình nghiên cứu gồm luận văn, luận án và đề tài khoa học nghiên cứu về bảo hiểm tiền gửi Trong nhóm này, phải kể đến các
"đại diện" sau:
- Cuốn chuyên khảo "Bảo hiểm tiền gửi- Nguyên lý, thực tiễn và định
hướng" của TS Nguyễn Thị Kim Oanh được ra đời năm 2004 (Nhà xuất bản
Lao động xã hội, Hà Nội) Đây là công trình nghiên cứu có qui mô lớn, đã đềcập đến các vấn đề cơ bản của hoạt động bảo hiểm tiền gửi, vai trò của hoạtđộng bảo hiểm tiền gửi trong nền kinh tế, cung cấp thông tin về triển khai hoạtđộng này ở Việt Nam cũng như một số nước tiêu biểu và trình bày các địnhhướng phát triển trong tương lai Chuyên khảo đã trở thành tiền đề để các nhàkhoa học, nhà quản lý tiếp tục nghiên cứu về hoạt động BHTG - một loại hìnhhoạt động bảo hiểm đặc thù trong nền kinh tế
- Luận án Tiến sĩ của Đào Văn Tuấn năm 2005, với đề tài: "Giảipháp hoàn
thiện chính sách bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” đã phân tích thực trạng hoạt động BHTG ở Việt Nam trong điều kiện hội
nhập sâu và rộng vào nền kinh tế quốc tế Luận văn đã phân tích những giải phápmang tính chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của BHTG ở Việt Nam
Trang 12trong bối cảnh các ngân hàng thực sự tham gia vào cuộc cạnh tranh trong lĩnh vựcngân hàng.
- Chuyên đề nghiên cứu chuyên sâu do Văn phòng Quốc hội kết hợp với
BHTGVN biên soạn năm 2008 mang tên: " Vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền
gửi Việt Nam trong việc bảo vệ người gửi tiền và bảo đảm an sinh xã hội" đã
phân tích bản chất của BHTG, phân tích các mô hình BHTG trên thế giới, vaitrò của BHTG đối với việc bảo vệ người gửi tiền, góp phần bảo đảm an sinh xãhội và phương hướng xây dựng pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích củangười gửi tiền tại tổ chức tham gia BHTG
Thứ hai, nhóm bài báo nghiên cứu về BHTG: Từ năm 2000, khi hoạt
động BHTG bắt đầu triển khai thực hiện tại Việt Nam, đã có rất nhiều bài báo,bài tham luận của các chuyên gia nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế, nhà quản
lí trong lĩnh vực tài chính, NH (PGS.TS Đinh Dũng Sỹ; TS Nguyễn Thị KimOanh v.v ) được đăng tải trên các tạp chí như Tạp chí Ngân hàng, Tạp chí tàichính
tiền tệ, các tờ báo điện tử, các website của BHTGVN, NHNN Việt Nam v.v
Bài viết: “Phương pháp xác định hạn mức bảo hiểm tiền gửi” được
đăng trên Thông tin BHTGVN, số 22, năm 2012 của PGS.TS Đinh Dũng Ths.Phạm Thúy Hạnh Trong đó, Tác giả bài báo đã phân tích những yếu tốảnh hưởng đến việc xác định hạn mức BHTG, những kinh nghiệm quốc tếtrong việc xác định hạn mức bảo hiểm tiền gửi và đưa ra những bài học đốivới Việt Nam
Sỹ-Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về BHTG đã xây dựng được một
số vấn đề thuộc hệ thống lý luận về BHTG, đánh giá thực trạng hoạt động củaBHTGVN, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện các hoạt động nghiệp vụcủa BHTGVN, bảo đảm quyền và lợi ích của người gửi tiền, góp phần bảo đảm antoàn cho cả hệ thống ngân hàng Việt Nam trong thời kì hội nhập Đó là hệ thống
Trang 13thức có giá trị rất lớn trong lĩnh vực kinh tế
Tuy nhiên, các nghiên cứu liên quan đến hoạt động BHTG trên được thựchiện trong thời kỳ Việt Nam chưa có Luật BHTG Hệ thống qui định pháp luật
về BHTG chỉ được thể hiện trong các văn bản dưới Luật và mang tính tản mạn,không đồng bộ Vì vậy, các kiến nghị, đề xuất chủ yếu đề cập đến việc sửa đổi,
bổ sung các qui định liên quan đến hoạt động BHTG trong các văn bản pháp luậthiện hành nhằm mục đích góp ý xây dựng Luật BHTG
Trong bối cảnh tình hình nghiên cứu như trên, việc chọn đề tài "Giải
pháp hoàn thiện cơ chế bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam" là cần thiết.
Những điểm mới của luận văn
Thứ nhất, luận văn đã làm rõ nguyên lý chung về hoạt động BHTG.
Ngoài việc đưa ra những khái niệm, những quy định liên quan tới hoạt độngBHTG theo thông lệ quốc tế thì luận văn đã đưa ra những khái niệm, những quyđịnh theo Luật BHTG Việt Nam
Thứ hai, luận văn đánh giá một cách tổng thể, toàn diện về thực trạng cơ
chế tổ chức và hoạt động của BHTGVN từ khi thành lập tới nay và được phântích dưới hai giai đoạn là trước khi có Luật BHTG và sau khi có Luật BHTG.Trong nhiều công trình nghiên cứu trước đây, cũng đã có một số đánh giá vềthực trạng hoạt động BHTG Tuy nhiên, những đánh giá đó được thực hiện từcác góc độ nghiên cứu khác nhau Trên cơ sở tiếp thu những kết quả nghiêncứu của các công trình nghiên cứu đó, luận văn đánh giá một cách tổng thể,toàn diện thực trạng cơ chế tổ chức và hoạt động BHTG ở Việt Nam, chỉ rađược những bất cập về cơ chế BHTG ở Việt Nam, đặc biệt là phần đánh giá
về cơ sở pháp lý cho hoạt động BHTG trước và sau khi có Luật BHTG
Thứ ba, luận văn mạnh dạn đề xuất 4 nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện cơ
chế BHTG ở Việt Nam Những đề xuất của luận văn được đưa ra trên cơ sởđánh giá mặt hạn chế của cơ chế BHTG ở Việt Nam, nghiên cứu và tiếp thu có
Trang 14chọn lọc kinh nghiệm về hoàn thiện cơ chế BHTG ở các nước trên thế giới.
Việc chia thành 4 nhóm giải pháp gồm nhóm giải pháp chung, nhóm giảipháp đối với người gửi tiền, nhóm giải pháp đối với tổ chức tham gia BHTG,nhóm giải pháp đối với BHTGVN là nhằm mục đích nâng cao tính khả thi khithực hiện các giải pháp này Cơ chế BHTG chỉ hoàn thiện khi có sự phối hợp,thống nhất giữa nhận thức và hành động của các bên có liên quan tới hoạt độngbảo hiểm tiền gửi
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về hoạt động bảo hiểm tiền gửi
Việt Nam kết hợp với nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về hoạt động bảo hiểmtiền gửi
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chọn điển hình nghiên cứu cụ thể là
hoạt động của BHTGVN giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2013 Trên cơ sởđánh giá những kết quả đạt được và các mặt còn tồn tại, từ đó đưa ra các giảipháp nhằm hoàn thiện cơ chế bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam Các giai đoạnkhác cũng được đề cập đến để hỗ trợ nghiên cứu các vấn đề được nêu trongluận văn
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, các phương pháp chủ yếu được sửdụng bao gồm: phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch
Trang 15sử Ngoài ra, các phương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích; phươngpháp tổng hợp; thống kê; so sánh, quy nạp v.v cũng góp phần tạo nên tínhkhoa học của luận văn
6 Tên và kết cấu luận văn
Tên luận văn: Giải pháp hoàn thiện cơ chế bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận vănđược bố cục thành 03 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Tong quan về bảo hiểm tiền gửi và kinh nghiệm quốc tế
Chương 2: Thực trạng cơ chế tổ chức và hoạt động bảo hiểm tiền gửi
ở Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện cơ chế bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
Trang 16CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI
VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM TIỀN GỬI TRÊN THẾ GIỚI
1.1.1 Một số khái niệm về bảo hiểm tiền gửi
Theo tài liệu "Xây dựng hệ thống BHTG hiệu quả" của Diễn đàn ổn
định tài chính (Financial Stability Forum) tháng 9/2001: “BHTG là một sự
đảm bảo rằng số dư tiền gửi và lãi cộng dồn của các tài khoản tiền gửi nhất định khi các ngân hàng có khoản tiền gửi đó lâm vào tình trạng phá sản và mất khả năng thanh toán sẽ được thanh toán ” [7].
Theo Luật về BHTG của nhiều nước trên thế giới và cả Luật BHTG củaViệt Nam thì khái niệm bảo hiểm tiền gửi được hiểu như sau: Bảo hiểm tiềngửi là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được bảo hiểm tiền gửi tronghạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lâm vào tìnhtrạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản
Quan niệm chung của đa số các nước thực hiện chính sách BHTG trênthế giới cho rằng người gửi tiền được bảo hiểm là khách hàng có tiền gửithuộc đối tượng được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG Những người gửitiền này không phải đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG nhưng có quyềnyêu cầu tổ chức BHTG thanh toán tiền gửi, kể cả tiền lãi tích lũy trên tiền gửi
đó trong hạn mức chi trả tiền BHTG (nếu chi trả tiền BHTG có xác định hạnmức), hoặc thanh toán toàn bộ tiền gửi (nếu chỉ trả tiền BHTG không xác địnhgiới hạn)
Luật bảo hiểm tiền gửi Việt Nam giải thích: “Người được bảo hiểm tiền
gửi là cá nhân có tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi” [14, tr.1].
Trang 17Luật BHTG của nhiều nước trên thế giới quy định tổ chức tham giaBHTG là các ngân hàng và các trung gian tài chính phi ngân hàng có hoạtđộng huy động tiền gửi theo quy định của pháp luật Các tổ chức này khi đượctham gia BHTG có trách nhiệm đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG vàđược quyền yêu cầu tổ chức BHTG chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiềntại tổ chức đó trong trường hợp tổ chức này mất khả năng thanh toán hoặc cơquan có thẩm quyền chấm dứt hoạt động
Luật bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam quy định: “Tổ chức tham gia bảo
hiểm tiền gửi là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thành lập
và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng được nhận tiền gửi của cá nhân”[14, tr.1].
Tổ chức BHTG là đối tác nhận đóng góp tài chính từ tổ chức tham giaBHTG và có trách nhiệm thực hiện chi trả tiền bảo hiểm tới người có tiền gửithuộc đối tượng được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG khi tổ chức đóchấm dứt hoạt động và mất khả năng thanh toán
Ngoài ra, tổ chức bảo hiểm tiền gửi còn thực hiện một số vai trò, chứcnăng vận hành hoạt động BHTG theo các quy định của Nhà nước và thực hiện cácnhiệm vụ khác có liên quan đến các hoạt động BHTG, đồng thời góp phần bảo vệ
hệ thống các trung gian tài chính và đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng
Luật BHTG Việt Nam giải thích: “Tổ chức bảo hiểm tiền gửi là tổ chức
tài chính Nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, thực hiện chính sách bảo hiểm tiền gửi, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các Tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng”[14, tr.4].
Trang 181.1.1.5 Cơ chế bảo hiểm tiền gửi
Từ “Cơ chề” là chuyển ngữ của từ “mécanisme” trong tiếng pháp, từ điển Le Petit Larousse (1999) giảng nghĩa “mécanisme” là “cách thức hoạt
động của một tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau ” Còn theo từ điển
Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học biên soạn và xuất bản năm 2000 thì “Cơchế là cách thức mà theo đó một quá trình được thực hiện” [1, tr.1-2]
Vì vậy, “Cơ chế bảo hiểm tiền gửi ” được hiểu là cách thức tổ chức và
vận hành hoạt động bảo hiểm tiền gửi trong khuôn khổ pháp luật cho phépnhằm đạt được các mục tiêu cụ thể của quốc gia
Cách thức tổ chức và vận hành đó phải có sự liên hệ, phối hợp của cácbên có liên quan tới hoạt động bảo hiểm tiền gửi như: Tổ chức BHTG; tổ chứctham gia BHTG; Người gửi tiền; Cơ quan quản lý Nhà nước về BHTG, Cơquan giám sát
1.1.2 Khái quát về quá trình hình thành và phát triển Bảo hiểm tiền gửi trên thế giới
Hoạt động tài chính, ngân hàng luôn gắn liền với sự nhạy cảm và tiềm
ẩn rủi ro, chính vì vậy mỗi quốc gia cần phải có tổ chức đứng ra bảo vệ ngườigửi tiền trong trường hợp ngân hàng xảy ra đổ vỡ để ổn định tình hình an n inh
xã hội Trong thực tế, khi các quốc gia chưa hình thành tổ chức BHTG thì họcũng đã sử dụng công cụ “bảo vệ ngầm”
Hình thức “bảo vệ ngầm” là việc Ngân hàng Trung Ương (NHTW) hayChính phủ không cam kết công khai trước công chúng về việc đảm bảo hoàntrả tiền gửi cho người gửi tiền nếu xảy ra hiện tượng đóng cửa ngân hàng vàngân hàng đó không có khả năng thanh toán cho người gửi tiền Tuy nhiên,việc bảo vệ ngầm đó không thực sự mang lại lợi ích cho quốc gia cũng nhưkhông mang lại niềm tin của công chúng đối với hệ thống tài chính ngân hàng,
vì vậy hệ thống BHTG công khai đã ra đời
Nguồn gốc ra đời của BHTG xuất phát từ hoạt động “bảo vệ tiền gửicông khai” Bảo vệ tiền gửi công khai là chính sách đảm bảo tất cả hoặc một
Trang 19phần tiền gửi cùng với tiền lãi nhập gốc trên tài khoản tiền gửi sẽ được thanhtoán cho người gửi tiền khi ngân hàng đổ bể theo hợp đồng hoặc cam kết côngkhai Việc bảo hiểm tiền gửi công khai đầu tiên được thành lập ở Mỹ với tên
gọi “Chương trình bảo hiểm trách nhiệm ngân hàng” được thực hiện ở New
York vào năm 1829 “Trách nhiệm” được hàm ý trong chương trình nàymuốn đề cập đến tiền gửi ngân hàng và chứng chỉ tiền gửi Tiếp theo chươngtrình này, từ năm 1831 đến 1858 các bang tiếp theo là Vermont, Indiana,Michigan, Ohio và Iowa đã triển khai chương trình BHTG với hai mục đíchlà: i) bảo vệ cộng đồng khi có ngân hàng đổ bể; ii) bảo vệ người gửi tiền cáthể và người giữ các công cụ huy động tiền gửi Các tổ chức BHTG này đềuhoạt động rất thành công và đã có tác dụng rất lớn đối với hệ thống ngân hàng
Mỹ thời kỳ đó
Trong giai đoạn 1930 - 1933, nước Mỹ phải đối mặt với khủng hoảngtài chính, mỗi năm có hơn 1.000 Ngân hàng thương mại (NHTM) ngừng hoạtđộng, đỉnh cao là năm 1933 có 4.000 NHTM phải ngừng hoạt động [11] Hiệntượng đổ vỡ ngân hàng trở nên phổ biến và số lượng ngân hàng mất khả năngchi trả ngày càng tăng dẫn tới niềm tin của công chúng vào hệ thống ngânhàng bị sụp đổ, nền kinh tế Mỹ bị rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng.Trước tình hình đó, tổng công ty BHTG liên bang Mỹ (FDIC) đã ra đời vào01/01/1934 Đây là mô hình tổ chức BHTG công khai đầu tiên trên thế giới
Nhận thức rõ vai trò quan trọng của hoạt động BHTG đối với hệ thốngngân hàng cũng như nền kinh tế, Hiệp hội BHTG quốc tế (IADI) đã đượcthành lập ngày 05/6/2002 tại Thụy Sỹ theo sáng kiến của Ngân hàng thế giới,Quỹ tiền tệ Quốc tế, Cộng đồng tài chính Quốc tế Mục tiêu hoạt động củaIADI là góp phần bảo đảm sự ổn định của hệ thống tài chính quốc tế, đẩymạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực BHTG, khuyến khích giao lưu quốc tếgiữa các tổ chức thực hiện hoạt động BHTG và các tổ chức liên quan, tăng
Trang 20cường phối hợp khi xảy ra khủng hoảng tài chính trên toàn cầu Tính đến năm
2013 đã có 72 tổ chức BHTG trong tổng số 113 tổ chức BHTG trên thế giới làthành viên của IADI
Việc gia tăng mạnh số lượng tổ chức BHTG trong thời gian gần đâykhẳng định xu hướng rõ ràng là các nhà hoạch định chính sách đã coi tổ chứcBHTG như một công cụ hữu hiệu để ngăn ngừa rủi ro, ngăn ngừa khủnghoảng, bảo vệ người gửi tiền và giảm gánh nặng xử lý đổ vỡ cho ngân sáchQuốc gia
1.1.3 Vai trò của bảo hiểm tiền gửi
Là sản phẩm của nền kinh tế thị trường và chỉ xuất hiện trong nền kinh
tế thị trường, vai trò của BHTG xuất phát từ bản chất của của hoạt động tàichính luôn gắn liền với yếu tố niềm tin và mang tính nhạy cảm, lan truyềncao Trong hoạt động ngân hàng, nếu niềm tin của người gửi tiền vào ngânhàng bị khủng hoảng thì nó không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động của mộtTCTD đơn lẻ mà còn tác động đến toàn bộ nền kinh tế Vai trò của BHTGđược thể hiện rõ nét qua các khía cạnh sau đây:
1.1.3.1 Đối với người gửi tiền
- Tạo niềm tin cho người gửi tiền
Để thu hút được vốn trong dân tức là người dân cần có hành động gửitiền vào các ngân hàng thay vì cất giữ dưới dạng vàng, bất động sản hoặc cấtgiữ ở nhà thì người dân cần phải có niềm tin đối với hệ thống tài chính ngânhàng Khi biết có tổ chức BHTG thay mặt Chính phủ để bảo vệ tiền gửi của
họ thì người gửi tiền sẽ yên tâm hơn khi gửi tiền vào ngân hàng
- Bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền
Mặc dù mỗi quốc gia có mô hình tổ chức BHTG khác nhau nhưng tất
cả hoạt động BHTG đều hướng tới mục tiêu đầu tiên là bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của người gửi tiền, tiếp sau đó mới là các mục tiêu khác củaquốc gia Hoạt động BHTG nhằm mục đích bảo vệ những người gửi tiền nhỏ
Trang 21vì họ là những người bị bất lợi trong việc tiếp cận thông tin Bảo vệ quyền lợingười gửi tiền còn là giải quyết nhanh chóng và đảm bảo an toàn tiền gửi củangười gửi tiền tại ngân hàng khi ngân hàng gặp rủi ro, mất khả năng thanhtoán, hoặc ngân hàng bị phá sản
1.1.3.2 Đối với hệ thống ngân hàng
Thứ nhất, hoạt động BHTG có vai trò quan trọng trong việc tạo ra sự
phát triển lành mạnh an toàn cho hoạt động ngân hàng
Nếu như không có hoạt động BHTG, các ngân hàng nhỏ hoặc mới đivào hoạt động khó có cơ hội thu hút được nhiều khách hàng vì người dân cótâm lý lo ngại có thể mất tiền gửi do ngân hàng nhận tiền gửi "bị đóng cửa".Tuy nhiên, khi các tổ chức này tham gia bảo hiểm tiền gửi thì tâm lý đó sẽđược giải toả Các ngân hàng mới gia nhập thị trường tiền tệ cũng sẽ có cơ hộiphát triển, tăng khả năng cạnh tranh với các ngân hàng lớn, thúc đẩy nhaunâng cao chất lượng hoạt động
BHTG còn tạo động lực để các ngân hàng giám sát lẫn nhau Điều này
sẽ giúp cho hệ thống ngân hàng ngày càng phát triển an toàn, lành mạnh
Thứ hai, nhờ có hoạt động BHTG mà các ngân hàng thu hút được nhiều
hơn nguồn vốn tiết kiệm nhàn rỗi trong dân cư
Thứ ba, nhờ có hoạt động BHTG, các ngân hàng sẽ có được sự giám
sát, cảnh báo sớm và từ đó tránh được những rủi ro
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt bên cạnh những
cơ hội, các ngân hàng luôn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức Chắc chắncuộc đua để tăng vốn, thu hút chất xám, đa dạng hóa sản phẩm, tăng đầu tưmạo hiểm ở trong nước và trên thị trường tài chính quốc tế sẽ dẫn đến cácmức độ rủi ro khác nhau giữa các ngân hàng Nhiệm vụ hàng đầu và quantrọng nhất của tổ chức BHTG là giám sát thường xuyên, phát hiện và cảnhbáo sớm khi các ngân hàng đi “chệch đường ray” các quy định an toàn, không
Trang 22để các sai sót, sai phạm của các ngân hàng tích tụ tới mức không thể sửa chữađược nữa.
Thứ tư, hoạt động BHTG giúp các ngân hàng thực sự yếu kém, không
thể tiếp tục duy trì hoạt động có thể rút khỏi lĩnh vực kinh doanh ngân hàngmột cách có trật tự, không ảnh hưởng tới các ngân hàng khác và tới toàn hệthống ngân hàng
Trong trường hợp một ngân hàng hoạt động yếu kém, không hiệu quảthì tổ chức BHTG sẽ có thể triển khai một số biện pháp hỗ trợ như: (1) đưa raphương án sát nhập với ngân hàng khác; (2) chi trả BHTG cho người gửi tiềnthuộc đối tượng bảo hiểm; (3) tham gia vào quá trình thanh lý tài sản của ngânhàng đó để tiếp tục bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền có tiền lớn hơn hạnmức chi trả BHTG
1.1.3.3 Đối với việc phát triển kinh tế, ổn định chính trị và trật tự xã hội
Hoạt động BHTG giúp các ngân hàng huy động vốn nhiều hơn, qua đócác ngân hàng sẽ cấp tín dụng, mở rộng các hoạt động cung ứng sản phẩm,dịch vụ trên cơ sở nguồn vốn huy động được Nguồn vốn được luân chuyểnmột cách hợp lý sẽ giúp cho nền kinh tế phát triển
Ngoài ra, BHTG góp phần giảm thiểu gánh nặng cho Chính phủ trongtrường hợp xử lý đổ vỡ của các TCTD (Vì không phải sử dụng ngân sách Nhànước để xử lý đổ vỡ)
Như vậy, BHTG là công cụ gián tiếp giúp nền kinh tế phát triển mộtcách an toàn và bền vững, qua đó giúp ổn định chính trị và trật tự xã hội
1.2 CÁC VẤN ĐỀ VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI
1.2.1 Các hoạt động bảo hiểm tiền gửi chủ yếu
1.2.1.1 Tham gia bảo hiểm tiền gửi và việc cấp, thu hồi chứng nhận bảo hiểm tiền gửi
Tham gia bảo hiểm tiền gửi là việc các Ngân hàng, các trung gian tài
chính phi ngân hàng có hoạt động huy động tiền gửi theo quy định của phápluật trở thành thành viên của tổ chức BHTG
Trang 23Tùy thuộc vào mục tiêu của chính sách tiền tệ ở mỗi quốc gia mà cơchế tham gia vào hệ thống BHTG được quy định như thế nào cho phù hợp Cóhai hình thức tham gia BHTG là hình thức tham gia tự nguyện và hình thứctham gia bắt buộc:
- Hình thức tham gia BHTG tự nguyện là hình thức mà tổ chức đượcphép hoạt động nhận tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm, được quyền lựa chọn
có hay không tham gia BHTG
- Hình thức tham gia BHTG bắt buộc là hình thức mà tổ chức đượcphép hoạt động nhận tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm phải tham gia BHTGbắt buộc
Một tổ chức BHTG chỉ có thể hoạt động tốt nhất khi có nhiều thànhviên để chia sẻ rủi ro và chi phí Vì thế, hầu hết các nước đều quy định thamgia BHTG là bắt buộc Ở Việt Nam hiện nay, việc tham gia BHTG là bắt buộcđối với các TCTD có nhận tiền gửi cá nhân
Cấp chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi
“Chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi ” là hình thức văn bản chứng
nhận việc tham gia BHTG của một tổ chức thành viên
Việc cấp Giấy chứng nhận tham gia BHTG cho các tổ chức tham giabảo hiểm tiền gửi có ý nghĩa rất quan trọng đối với các chủ thể tham gia hoạtđộng ngân hàng cũng như đối với cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tàichính - tiền tệ
Thời điểm tổ chức thành viên được ghi trong Giấy chứng nhận tham giaBHTG, quan hệ pháp luật bảo hiểm tiền gửi được phát sinh giữa các bên Đây
là cơ sở pháp lý khẳng định người gửi tiền tại các tổ chức nhận tiền gửi được
tổ chức BHTG đảm bảo quyền lợi Mặt khác, từ thời điểm được cấp Giấychứng nhận tham gia BHTG, tổ chức tham gia BHTG có nghĩa vụ tuân thủpháp luật về hoạt động BHTG, khắc phục những hạn chế, nâng cao hiệu quảhoạt động nghiệp vụ của mình
Trang 24Thu hồi chứng nhận bảo hiểm tiền gửi
Ở hầu hết các quốc gia, tư cách thành viên của hệ thống BHTG bị chấmdứt một cách tự động khi giấy phép hoạt động của tổ chức đó bị thu hồi hay tổchức đó đóng cửa Bên cạnh chế độ chấm dứt tự động, các tổ chức có thể bịchấm dứt tư cách thành viên trong mô hình giảm thiểu rủi ro vì một vài lí do:
tổ chức đã hoặc sắp bị mất khả năng thanh toán; có hoạt động không lànhmạnh và không an toàn; hoặc vi phạm quy định của pháp luật
Tại Việt Nam, Luật BHTG quy định: “Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền
gửi bị thu hồi Chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của TCTD, giấy phép thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật” [14, tr.5].
1.2.1.2 Nộp và thu phí bảo hiểm tiền gửi
Theo cách hiểu trên cơ sở luật pháp và thông lệ quốc tế hiện nay, phíBHTG là khoản tiền mà tổ chức tham gia BHTG phải nộp cho tổ chức BHTG
để bảo hiểm cho tiền gửi của người được BHTG tại tổ chức tham gia bảohiểm tiền gửi
Mục tiêu của việc thu phí BHTG là nhằm hình thành nguồn Quỹ BHTG
có sẵn để xử lý đỗ vỡ ngân hàng và thực hiện mục tiêu bảo vệ người gửi tiền
Để đảm bảo sự ổn định cho nguồn vốn BHTG, các khoản nộp phí BHTG phải
đủ bù đắp cho các chi phí tổn thất của tổ chức bảo hiểm tiền gửi, đảm bảo hạnchế hoặc không phải sử dụng ngân sách Nhà nước hỗ trợ xử lý khi tổ chứctham gia BHTG gặp vấn đề, từ đó giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước
Về vấn đề thu phí, có hai hình thức thu phí chủ yếu là hệ thống phí cố định
và hệ thống phí điều chỉnh theo mức độ rủi ro
Trang 25đặc biệt là thuận lợi đối với tổ chức BHTG mới hoạt động Tuy nhiên, nó cũng hạnchế là tạo ra sự bất bình đẳng giữa các tổ chức tham gia BHTG và không thể hiệnđược nguyên tắc thị trường trong quá trình áp dụng
Hệ thống phí điều chỉnh theo mức độ rủi ro (Phí theo rủi ro): là hệ thống
phí trong đó các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi đóng góp phí cho tổ chứcBHTG theo nguyên tắc tổ chức có rủi ro cao hơn phải nộp tỷ lệ phí cao hơn vàngược lại
Thông thường các quốc gia khi mới thành lập tổ chức bảo hiểm tiền gửi
áp dụng phí bảo hiểm đồng hạng, sau đó mới chuyển sang phí theo rủi ro Một
số quốc gia hiện đang áp dụng mức phí trên cơ sở rủi ro như Nhật Bản,Philipine hoặc chuyển dần từ phí đồng hạng sang mức phí trên cơ sở rủi ronhư Indonesia
Một khi quốc gia quyết định áp dụng các khoản nộp phí BHTG theo rủi
ro, các nước này phải hội đủ điều kiện để triển khai hệ thống đó thành công.Các điều kiện này gồm có: đủ thông tin về nguy cơ rủi ro của những tổ chứcnhận tiền gửi và đủ số lượng nhân viên có năng lực và công cụ phân tích hiệuquả Ngoài ra, cần có môi trường và cơ chế phối hợp trao đổi thông tin giữa tổchức BHTG và các cơ quan giám sát khác mới có thể thành lập một hệ thốngphí điều chỉnh theo mức độ rủi ro hiệu quả
Các quốc gia áp dụng hệ thống phí theo rủi ro vì những mục tiêu chủyếu sau đây:
- Giảm bớt hoạt động rủi ro quá mức của các tổ chức tham gia BHTG vàđảm bảo sự công bằng cho các tổ chức tham gia BHTG Mức phí khác biệt thúcđẩy các tổ chức tham gia BHTG phấn đấu để được xếp hạng tốt hơn, hưởngmức phí thấp hơn bằng cách giảm rủi ro trong hoạt động của mình
- Đẩy nhanh quá trình tích lũy của Quỹ BHTG tại các quốc gia Thôngthường, việc triển khai phương pháp tính phí theo mức độ rủi ro khi nền kinh
Trang 26tế và hệ thống ngân hàng trong điều kiện thuận lợi sẽ làm cơ sở đẩy nhanh tốc
độ tích lũy của Quỹ BHTG, bởi vì mức phí BHTG thu được nhiều hơn khi ítphải chi trả bảo hiểm, làm cho quy mô của Quỹ BHTG tăng lên
- Nâng cao vai trò của tổ chức BHTG trong vấn đề xếp hạng, đánh giá
và giám sát rủi ro
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm và mục tiêu đã được đề cập ở trên,
hệ thống phí theo rủi ro cũng có những nhược điểm nhất định Cụ thể, tổ chứctham gia BHTG hoạt động yếu kém, rủi ro cao lại phải chịu mức phí cao hơn
và như vậy, áp lực rủi ro tiếp tục tăng cao đối với nhóm tổ chức này Việc xácđịnh rủi ro của từng TCTD lại rất phức tạp, đòi hỏi trình độ quản lý rất cao vàliên quan đến vấn đề bảo mật tin tức ngân hàng
1.2.1.3 Giám sát rủi ro
Giám sát rủi ro ngân hàng liên tục bao gồm việc kết hợp giữa các quytrình giám sát từ xa và kiểm tra tại chỗ Giám sát rủi ro là một trong nhữngnghiệp vụ quan trọng nhất của tổ chức BHTG Vì thông qua nghiệp vụ này tổchức bảo hiểm tiền gửi đóng vai trò là một kênh quan trọng để góp phần bảo
vệ triệt để người gửi tiền, nâng cao niềm tin công chúng vào hệ thống tàichính ngân hàng
Giám sát từ xa là công cụ tối thiểu của hoạt động giám sát liên tục Cơ
quan giám sát không có quy định hoặc không có đủ nguồn lực để kiểm tra tạichỗ định kỳ thì chủ yếu sử dụng giám sát từ xa để giám sát các điều kiện tàichính và hoạt động ngân hàng và để xác định những tổ chức nào cần quan tâm
ở mức đặc biệt Giám sát từ xa bao gồm phân tích và xem xét các thông tin tàichính định kỳ và các thông tin khác liên quan đến hoạt động ngân hàng
Hoạt động giám sát từ xa được tiến hành thường xuyên trên cơ sở cácnguồn thông tin, dữ liệu về hoạt động của tổ chức tham gia BHTG (như báocáo về bảng tổng kết tài sản, báo cáo thu nhập, chi phí, hồ sơ của ngân hàng,đầu tư, nguồn vốn, thanh khoản, tín dụng, trích lập dự phòng rủi ro) và các
Trang 27nguồn thông tin được thu thập khác
Qua kết quả giám sát từ xa, tổ chức BHTG có điều kiện thực hiện cácnghiệp vụ khác như: kiểm tra tại chỗ, hỗ trợ tài chính, mua lại nợ, thu phítheo mức độ rủi ro
Hoạt động kiểm tra tại chỗ thường được tiến hành định kỳ hoặc khi
phát hiện sai phạm tại tổ chức tham gia BHTG từ kết quả giám sát từ xa
Tổ chức BHTG thực hiện kiểm tra tại chỗ để xác định mức vi phạm và yêucầu tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có biện pháp khắc phục để trở về hoạtđộng bình thường
Việc kiểm tra được thực hiện bởi các cán bộ kiểm tra chuyên nghiệp vàđược đào tạo cho phép đánh giá thực tế các yếu tố định lượng, đặc biệt là cácyếu tố định tính như khả năng quản lý, quy trình kiểm soát nội bộ mà nhữngyếu tố này không thể hiện đầy đủ trong các báo cáo theo quy định
Cơ quan giám sát ngân hàng trên thế giới hiện đã phát triển và áp dụngnhiều hệ thống giám sát mới nhằm đánh giá và theo dõi những thay đổi vềđiều kiện tài chính và mức độ rủi ro của một ngân hàng, cảnh báo sớm để đưa
ra những biện pháp hỗ trợ hoặc điều chỉnh kịp thời Những hệ thống được xâydựng và phát triển từ khoảng cuối những năm 1990 cho phép đánh giá tìnhhình hiện tại cũng như đưa ra các dự báo trong tương lai Nhìn chung hệ thốngđánh giá rủi ro và hệ thống cảnh báo sớm hỗ trợ:
- Đánh giá một cách hệ thống các TCTD theo một cơ chế bài bản vàchính thức trong đó kết hợp giữa giám sát từ xa và kiểm tra tại chỗ
- Xác định các TCTD và các lĩnh vực của TCTD có nhiều vấn đề hoặctiềm ẩn rủi ro
- Xác định thứ tự ưu tiên thực hiện kiểm tra tại chỗ để sử dụng một cáchhiệu quả nguồn nhân lực và đặt kế hoạch trước kiểm tra
Trang 28- Cơ quan giám sát thực hiện các biện pháp xử lý kịp thời.
Đối tượng giám sát của tổ chức BHTG là các TCTD, ngân hàng thamgia BHTG và có thực hiện hoạt động nhận tiền gửi của các chủ thể trong nềnkinh tế
Chức năng giám sát của tổ chức BHTG không giống nhau tại tất cả cácquốc gia Thông thường, tổ chức BHTG giảm thiểu rủi ro được trao các chứcnăng giám sát đầy đủ
1.2.1.4 Hoạt động tiếp nhận và xử lý
Trên thế giới, quyền xử lý đổ vỡ ngân hàng có thể được trao cho tổchức BHTG, NHTW, hoặc cơ quan giám sát, quản lý ngân hàng khác Tuynhiên, theo thông lệ quốc tế điển hình thì quyền xử lý đổ vỡ được trao cho tổchức BHTG sẽ giúp tăng cường hiệu quả của công tác xử lý Ở một số Quốcgia như Mỹ, Tây Ban Nha, Nhật, Hàn Quốc, tổ chức BHTG được trao toànquyền tiếp nhận, xử lý các tổ chức tham gia bảo hiểm có vấn đề nhằm đưa rađược những biện pháp xử lý linh hoạt, kịp thời và giảm thiểu chi phí
Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, dù tổ chức BHTG lựa chọn áp dụngbiện pháp xử lý đổ vỡ nào thì mục tiêu quan trọng của các phương pháp xử lý
đổ vỡ là tiết kiệm chi phí và tránh tổn thất cho ngân sách, giảm thiểu tổn thấtcho Quỹ BHTG đồng thời đảm bảo an toàn hệ thống tài chính Quốc gia
Tổ chức BHTG tại các quốc gia lựa chọn hình thức xử lý đổ vỡ phù hợpcăn cứ vào quy mô ngân hàng đổ vỡ, đặc thù hệ thống tài chính, chi phí xử lý
đổ vỡ theo từng phương pháp và khả năng thực hiện của tổ chức BHTG Cácbiện pháp chủ yếu được thực hiện trong hoạt động tiếp nhận xử lý ngân hàng
đổ vỡ của tổ chức BHTG là: Hỗ trợ tài chính; Mua lại và tiếp nhận (P&A); Ngânhàng bắc cầu Cụ thể:
Trang 29Ưu điểm
- Hiệu quả trong trường hợp ngân hàng có ảnh hưởng lớn đến ổn định
hệ thống hoặc ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ ngân hàng ở khu vực tổ chức đổ vỡ hoạt động.
- Trong một số trường hợp, chi phí áp dụng dự kiến thấp hơn so với biện pháp chi trả.
- Khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán.
- Ôn định niềm tin của người gửi tiền, tránh khủng hoảng dây chuyền.
Nhược
điểm
- Quỹ BH thâm hụt nhanh chóng.
- Phát sinh rủi ro đạo đức.
- Làm giảm nguyên tắc thị trường.
- Một ngân hàng đang hoạt động tốt hoặc 1 nhóm các nhà đâu tư khác
sẽ đứng ra tiếp nhận một phân hoặc toàn bộ các khoản nợ, và mua lại tài sản của NH bị đổ vỡ hoặc có nguy cơ đổ vỡ.
Ưu điểm
- Hoạt động của NH được duy trì, từ đó duy trì niềm tin công chúng
- Người gửi tiền duy trì được tài khoản tiền gửi.
- Bảo vệ tốt quyền lợi của người gửi tiền và việc làm cho nhân viên ngân hàng.
- Ít tốn kém, ít gián đoạn.
Nhược
điểm
- Khó tìm tổ chức mua lại và tiếp nhận.
- Gia tăng chi phí xử lý và giảm nguyên tắc thị trường (có thể phải bơm tiền vào NH để thu hút nhà đâu tư).
- Tâm quan trọng của hạn mức bảo hiểm sẽ bị giảm sút.
- Tổ chức BHTG phải định giá tài sản và nợ của NH.
- Duy trì niềm tin của người gửi tiền.
- Tổ chức BHTG có thêm thời gian để tìm đối tác mua lại NH
Nhược
điểm
- Tăng chi phí xử lý đổ vỡ (thành lập và duy trì ngân hàng bắc câu)
- Tổ chức BHTG mất nhiều thời gian và công sức hơn.
21
Bảng 1.1: Các phương pháp xử lý đổ vỡ của tổ chức BHTG
Nguồn: [6, tr.55-56]
Trang 301.2.1.5 Chi trả bảo hiểm
Chi trả tiền gửi được bảo hiểm là biện pháp cuối cùng mà tổ chứcBHTG tiến hành để bảo vệ người gửi tiền và đảm bảo sự phát triển an toànlành mạnh hệ thống Chi trả BHTG là hoạt động mà tổ chức BHTG thực hiệncam kết thanh toán đến người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm khoảntiền gửi của họ, bao gồm cả tiền gốc và tiền lãi theo một mức độ nhất định,tuỳ thuộc vào quy định về hạn mức chi trả BHTG ở mỗi quốc gia Việc chi trảtiền bảo hiểm sẽ được thực hiện khi tổ chức tham gia BHTG bị chấm dứt hoạtđộng và bị mất khả năng thanh toán
Mục đích của việc chi trả là nhằm đảm bảo quyền lợi cho người gửitiền, tạo ra tâm lý an tâm đối với người dân có tiền gửi, ngăn chặn được việcrút tiền hàng loạt tại các tổ chức tham gia BHTG khác
Có một số vấn đề cần lưu ý để tổ chức BHTG có thể hoàn thành chứcnăng chi trả một cách hiệu quả:
- Tiếp cận sớm nguồn dữ liệu: Tổ chức BHTG cần biết càng sớm càng
tốt thời điểm nào tổ chức có tiền gửi được bảo hiểm bị đóng cửa và liệu cóphải chi trả cho người gửi tiền hay không Đồng thời, tổ chức BHTG cầnnhanh chóng tiếp cận các số liệu về tiền gửi và người gửi tiền trước khi ngânhàng đóng cửa nhằm giảm thiểu rủi ro trong quá trình xử lý và rút ngắn thờigian của việc chi trả, cũng như gia tăng lòng tin của người gửi tiền
Tổ chức BHTG cần xác định đúng đối tượng, loại sản phẩm được bảohiểm và đảm bảo đúng yêu cầu hạn mức bảo hiểm Đồng thời, cần chú ý cácbước quan trọng khác trong tiến trình chi trả bao gồm việc đối chiếu các tàikhoản chưa quyết toán và các khoản mục khác trong việc chuyển đổi, bù trừ
và thanh toán
- Thời gian chi trả: Cho dù tổ chức tham gia BHTG được xử lý như thế
nào, tổ chức BHTG cũng phải hình dung rõ ràng thời điểm bắt đầu và thời
Trang 31điểm kết thúc quá trình chi trả Cần rút ngắn thời gian chi trả và giảm thiểu rủi
ro liên quan đến thời gian và kết quả chi trả cho người gửi tiền Đồng thời,người gửi tiền cần biết thời gian và các điều kiện để được nhận tiền đền bù từ
tổ chức BHTG như khung thời gian tiến hành chi trả, hạn mức chi trả, thủ tụcnhận tiền chi trả Đây là một trong những điều kiện quan trọng nhằm duy trìđược niềm tin của công chúng
- Vốn dùng cho quá trình chi trả: Tổ chức BHTG cần có khả năng tài
chính mạnh để hoàn thành nghĩa vụ chi trả cho người gửi tiền được bảo hiểm
Tổ chức BHTG phải thành lập quỹ để hoàn thành các nghĩa vụ chi trả tiền bảohiểm, hỗ trợ cho tổ chức tham gia BHTG gặp vấn đề và các nghĩa vụ khác.Rút kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng tài chính, không nên thành lập quỹ sau
mà nên thành lập quỹ trước khi ngân hàng đổ vỡ
- Hình thức tiến hành chi trả: Có hai cách chi trả: i) Chi trả toàn bộ tiền
gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền theo phương pháp trực tiếp; ii) Chuyểngiao tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền sang một tổ chức nhận tiền gửikhác để thực hiện chi trả theo hình thức ủy quyền chi trả
1.2.1.6 Đầu tư tài chính
Tổ chức BHTG thông thường có một nguồn vốn nhất định do Chínhphủ cấp và vốn tích lũy từ nguồn thu phí BHTG Theo thông lệ quốc tế, hoạtđộng đầu tư của tổ chức BHTG phải đảm bảo tuân thủ nguyên tắc đầu tiên vàquan trọng nhất là bảo toàn nguồn vốn và duy trì tính thanh khoản của QuỹBHTG sau đó mới tính đến việc phát triển vốn
Vì vậy để tránh lãng phí nguồn lực, tổ chức BHTG được phép sử dụngnguồn vốn của mình với rủi ro tối thiểu Điều này được quy định rõ trong cácvăn bản pháp lý, quy chế hoạt động của tổ chức BHTG Nếu không đưa rachính sách đầu tư hợp lý, sẽ khó đảm bảo sự toàn vẹn của quỹ theo thời gian,đặc biệt là trong thời kỳ lạm phát
Trang 32Thông thường, tổ chức BHTG đầu tư nguồn vốn của mình vào các tráiphiếu, tín phiếu có lãi suất cố định, có mức an toàn cao và phân bổ cho nhiềuđơn vị nhận đầu tư nhằm phân tán rủi ro, cụ thể:
- Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu địa phương;
- Tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHTW;
- Tiền gửi tại các TCTD có xếp hạng tín nhiệm cao
1.2.1.7 Công tác thông tin tuyên truyền
Kinh nghiệm từ nhiều quốc gia cho thấy nhận thức của công chúng cầnthường xuyên được xem xét trong việc thiết kế hệ thống BHTG Hoạt độngcủa hệ thống BHTG cần được tuyên truyền quảng bá thường xuyên để duy trì
và tăng cường uy tín Tính hiệu quả của chương trình nâng cao nhận thứccông chúng sẽ được kiểm định khi có một tổ chức tài chính bị đổ bể hoặc cónguy cơ bị đổ bể Người gửi tiền khi biết tiền gửi của mình được bảo hiểm sẽkhông rút tiền ra khỏi ngân hàng khi có tin đồn bất lợi về hoạt động của ngânhàng hay để đầu tư vào một kênh sinh lời khác nhiều rủi ro trên thị trường Vìvậy, để nâng cao nhận thức của công chúng về BHTG thì công tác thông tintuyên truyền của tổ chức BHTG cần được tiến hành thường xuyên, liên tục đểduy trì, củng cố và phát triển niềm tin của công chúng vào sự cần thiết phải cómặt của hệ thống BHTG
Việc thiết kế một chương trình nâng cao nhận thức của công chúng vềchính sách BHTG có thể được thực hiện theo các hình thức sau: Tài liệu giáodục; Đưa tin qua các phương tiện phát thanh truyền thông và qua các ấn phẩm,Website; Những bài giới thiệu v.v
1.2.2 Mô hình tổ chức bảo hiểm tiền gửi và xu hướng lựa chọn
1.2.2.1 Các mô hình tổ chức bảo hiểm tiền gửi
Không có một mô hình BHTG nào có thể hoạt động hiệu quả ở mọiquốc gia Tùy thuộc vào điều kiện của từng nước (cụ thể là cơ cấu tài chính
Trang 33Quốc gia, mục tiêu chính sách công, vai trò của các cơ quan liên quan kháctrong hệ thống an toàn tài chính Quốc gia) mà Quốc hội và Chính phủ sẽquyết định tổ chức BHTG được xây dựng theo mô hình nào trong số 3 môhình chủ yếu: mô hình chi trả (Pay-box), mô hình chi trả với quyền hạn mởrộng (Pay-box with extended powers) và mô hình giảm thiểu rủi ro (Risk-Minimiser) Đây được coi là 03 mô hình chủ yếu, phản ánh phạm vi chứcnăng hoạt động cũng như trình độ phát triển khác nhau của tổ chức BHTG tạitừng quốc gia
Hình 1.1: Các mô hình bảo hiểm tiền gửi trên thế giới
(Nguồn: Hiệp hội BHTG quốc tế - IADI)
Mô hình chi trả: Tổ chức BHTG chỉ thực hiện một nhiệm vụ duy nhất
đó là chi trả cho người gửi tiền sau khi tổ chức tham gia BHTG bị phá sản
Mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng: Tổ chức BHTG thực hiện chi
trả và một số chức năng bổ sung tùy thuộc vào đặc thù của từng quốc gia
Mô hình giảm thiểu rủi ro: Tổ chức BHTG trong mô hình này có các
thẩm quyền nhằm bảo vệ tốt nhất người gửi tiền, đảm bảo sự an toàn của hệthống tài chính ngân hàng và tham gia vào tái thiết hệ thống tài chính ngânhàng Trong mô hình này, tổ chức BHTG có vai trò tích cực trong giám sát tàichính, hỗ trợ ngăn ngừa khủng khoảng tài chính và thúc đẩy ổn định tài chínhngân hàng
Trang 34Trong quá trình thực tế hoạt động, mô hình chuyên chi trả và mô hìnhchi trả với quyền hạn mở rộng đã thể hiện những hạn chế nhất định, cụ thể:
> Với mô hình chi trả
Có nhiều hạn chế và thụ động trong quá trình triển khai nghiệp vụBHTG: Không có khả năng giám sát rủi ro đối với hệ thống tài chính ngân hàng;
Không thực hiện được nghiệp vụ tiếp nhận xử lý theo nguyên tắc chi phí tốithiểu nhằm giảm gánh nặng chi phí giải quyết đổ vỡ cho Chính phủ; Khôngđảm bảo bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền
Mô hình này thường tồn tại ở các nước đang phát triển, tổ chức BHTGmới được thành lập và còn nhỏ bé cả về quy mô tổ chức lẫn năng lực tàichính, hạn chế trong khâu tiếp cận thông tin về người gửi tiền
> Với mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng
Theo mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng, tổ chức BHTG chỉ đượctrao thêm một quyền hạn mở rộng, như:
- Xử lý ngân hàng và tiếp nhận tổ chức tham gia BHTG gặp vấn đề (Hỗtrợ tài chính cho tổ chức tham gia BHTG gặp khó khăn trong thanh toán, thamgia xử lý nợ và thu hồi nợ của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị phá sản)
- Chức năng giám sát (trong một giới hạn nhất định)
Với những hạn chế như trên, các tổ chức BHTG trên thế giới đang có
xu hướng xây dựng hoặc cải cách hệ thống BHTG theo mô hình giảm thiểurủi ro
> Với mô hình giảm thiểu rủi ro
Tổ chức BHTG giảm thiểu rủi ro có đầy đủ các chức năng bao gồm:
- Quyền chấp thuận hoặc chấm dứt bảo hiểm tiền gửi theo nhữngnguyên
Trang 35- Khả năng độc lập về tài chính: i) quyền quyết định cơ chế tính phíhoặc xây dựng và đệ trình lên cơ quan giám sát hợp nhất quyết định; ii) quyềntiếp cận nguồn tài chính bổ sung từ các cơ quan Chính phủ và trên thị trườngtài chính
- Quản lý quỹ: Tổ chức BHTG giảm thiểu rủi ro có thể đầu tư quỹ tíchluỹ
được vào thị trường tài chính thông qua các loại chứng khoán chính phủ có thunhập cố định
- Quyền truy cập thông tin: Khả năng thu thập thông tin định kỳ và độtxuất trực tiếp từ tổ chức tham gia BHTG hoặc từ các cơ quan giám sát khác vàquyền kiểm tra lại tính chính xác của thông tin
- Chức năng giám sát rủi ro nhằm đảm bảo an toàn hệ thống tài chínhngân hàng: xác định tổ chức BHTG là bộ phận cấu thành của Mạng an toàn tàichính Quốc gia Trách nhiệm và phạm vi giám sát được phân định rõ rànggiữa các cơ quan giám sát
- Cảnh báo sớm và can thiệp sớm: Xây dựng và thực hiện hệ thốngcảnh
báo sớm và thực hiện can thiệp sớm theo nguyên tắc chi phí tối thiểu
- Quyền quyết định phương pháp xử lý: Được trao thẩm quyền linhhoạt
trong việc lựa chọn giải pháp và triển khai hỗ trợ tài chính hoặc tiếp nhận xửlý
- Chi trả cho người gửi tiền được bảo hiểm
- Có vai trò trong việc ổn định hệ thống tài chính ngân hàng, giải quyếtkhủng hoảng
1.2.2.2 So sánh 3 mô hình tổ chức bảo hiểm tiền gửi - Xác định mô hình
Trang 36thiểu rủi ro hạn mở
rộng
chi trả
1 Bảo vệ người gửi tiền nhỏ thông qua việccung cấp cơ chế bồi thường Z Z Z
2
Khuyến khích người gửi tiền ít được tiếp
cận với thông tin về giám sát tài chính,
ngân hàng và thực hiện nguyên tắc thị
trường
3
Giảm gánh nặng cho Chính phủ và yêu
cầu các ngân hàng tốt đóng góp chi phí
trong quá trình xử lý ngân hàng
4 Thúc đẩy cạnh tranh trong khu vực tài
5 Tạo ra một cơ chế chính thức trong việcxử lý đổ vỡ ngân hàng Z Z
6 Tránh khủng hoảng tài chính ngân hàng Z Z
7 Thúc đẩy ổn định tài chính ngân hàng Z
8 Khuyến khích tiết kiệm và thúc đẩy tăng
1 Giảm thiểu tác động từ suy thoái kinh tế Z
Bảng 1.2: So sánh mục tiêu chính sách công của các mô hình tổ chức BHTG
(Nguồn: Hiệp hội BHTG quốc tế - IADI)
Qua bảng so sánh 1.2 cho thấy: Mô hình chi trả chỉ thực hiện được bốnnhóm mục tiêu chính sách công đầu tiên liên quan trực tiếp đến việc chi trảtiền gửi và bảo vệ người gửi tiền Đối với mô hình chi trả với quyền hạn mở
Trang 371.2.3 Mạng an toàn tài chính Quốc gia và vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong Mạng an toàn tài chính Quốc gia
1.2.3.1 Mạng an toàn tài chính Quốc gia
Trong hơn hai thập kỷ qua, thế giới đã chứng kiến hàng loạt các cuộckhủng hoảng tài chính, qua đó chứng minh vai trò đặc biệt quan trọng củaMạng an toàn tài chính Quốc gia Một trong những cơ sở quan trọng hìnhthành Mạng an toàn tài chính là thực tế các Chính phủ có xu hướng phải gánhchịu những khoản chi phí rất lớn để giải cứu các ngân hàng và đảm bảo ổnđịnh hệ thống tài chính ngân hàng Nhằm giảm thiểu nguy cơ cho hệ thống vàhạn chế tối đa chi phí xử lý khủng hoảng, các quốc gia trên thế giới đã tíchcực thành lập và triển khai hoạt động Mạng an toàn tài chính
Mạng an toàn tài chính Quốc gia là một hệ thống bao gồm các cơ quan
có chức năng quản lý, giám sát, xử lý các hoạt động trong lĩnh vực tài ngân hàng nhằm đảm bảo và duy trì sự an toàn, lành mạnh, ổn định hệ thốngngân hàng Tuỳ đặc thù từng quốc gia, Mạng an toàn tài chính có thể có cácthành viên khác nhau Tuy nhiên, theo thông lệ quốc tế, các cơ quan chủ yếutham gia Mạng an toàn tài chính thường bao gồm: Bộ Tài chính, NHTW, tổchức BHTG và cơ quan giám sát khác (Ủy ban Giám sát, Ủy ban Chứngkhoán và một số cơ quan khác theo đặc thù của từng quốc gia)
Trang 38Bộ Tài chính
Quản lý và giám sát
CQ giám sát NH
Cơ sở pháp lý vững chắc, phân chia chức năng nhiệm vụ rõ ràng và cơ chế phối hợp hiệu quả
hiêm
Hình 1.2: Mô hình Mạng an toàn tài chính Quốc gia phổ biến hiện nay
Nguồn: Workshop of APEC Policy Dialogues on National Financial Safety Net [6,tr.11]
Chức năng
Mạng an toàn tài chính Quốc gia có 4 chức năng chủ yếu:
Thứ nhất, chức năng giám sát và quản lý an toàn do sẽ do một hoặc
một nhóm các cơ quan đặc thù đảm trách hay nói cách khác chức năng này do
cơ quan giám sát tài chính đảm nhiệm hoặc có thể phân chia, phối hợp trong
hệ thống giám sát hợp nhất, tránh trùng lắp nhằm đảm bảo thực hiện các biệnpháp can thiệp một cách kịp thời
Thứ hai, chức năng cho vay cuối cùng do NHTW đảm nhận NHTW
cho vay nhằm hỗ trợ thanh khoản cho những ngân hàng thiếu thanh khoản tạmthời nhưng có khả năng tồn tại Các khoản vay này được áp dụng lãi suất caonhư lãi suất phạt và có thế chấp Việc hỗ trợ được thực hiện trên toàn bộ thịtrường, không áp dụng riêng cho TCTD nào, NHTW cần công bố một cách
Trang 39nợ và đổ vỡ.
Thứ tư, đảm bảo nguồn lực tài chính săn có phục vụ can thiệp vốn vào
thị trường Chức năng này được thực hiện bởi Bộ tài chính trong trường hợpxảy ra những rủi ro mang tính chất hệ thống Khi đó, Bộ tài chính hoặc thôngqua tổ chức BHTG sẽ trực tiếp bơm vốn vào thị trường dưới hình thức vốn hỗtrợ có thời hạn hoặc nắm giữ cổ phiếu, trái phiếu chuyển đổi Điều này sẽ đảmbảo cung cấp đủ vốn cho các ngân hàng tránh tình trạng đổ vỡ do thiếu vốn,ngăn chặn và xử lý các vụ hoảng loạn, khủng hoảng của hệ thống tài chính.Nguyên tắc hoạt động của Mạng an toàn tài chính dựa trên nền tảng pháp
lý vững chắc, phân chia chức năng nhiệm vụ rõ ràng giữa các cơ quan thamgia và cơ chế phối hợp hiệu quả dựa trên nhiệm vụ đặc thù của từng cơ quan
- Xây dựng niềm tin công chúng thông qua bảo vệ người gửi tiền
Chiến lược và công cụ: Để thực hiện được mục tiêu trên, các cơ quan
tham gia Mạng an toàn tài chính đặt ra chiến lược và các công cụ cụ thể đểthực hiện được chiến lược nói trên Cụ thể:
Trang 40về vấn đề xây dựng quy định chuẩn mực: Các cơ quan trong Mạng an
toàn tài chính có chức năng tham gia xây dựng, triển khai các văn bản luật,quy định điều chỉnh hoạt động của các tổ chức tham gia hệ thống tài chính
về công tác giám sát, cảnh báo sớm: Một trong những nội dung đặc
biệt quan trọng của việc đảm bảo ổn định tài chính là xây dựng hệ thống giámsát, cảnh báo sớm hiệu quả Hệ thống này không chỉ bao gồm thông tin cảnhbáo đối với hệ thống ngân hàng mà còn mở rộng đối với các chỉ số an toàn vĩ
mô và chỉ số an toàn vi mô khác Điều này đảm bảo sự hoạt động lành mạnhcủa các tổ chức tài chính, các tác nhân tham gia nền kinh tế thông qua hoạtđộng giám sát, kiểm tra
Về công tác phối hợp: một trong những nội dung quan trọng, đảm bảo
Mạng an toàn tài chính hoạt động hiệu quả là sự phối hợp chặt chẽ của cácthành viên tham gia Mạng an toàn tài chính Việc phối hợp thể hiện ở các nộidung: hợp tác chia sẻ thông tin, phối hợp hành động và định kỳ phối hợp cảitiến hoạt động
Về việc thiết lập Mạng an toàn tài chính: thực hiện can thiệp sớm, hành
động điều chỉnh tức thời (Prompt Correction Action- PCA), vai trò người chovay cuối cùng (LLR) đối với các tổ chức tài chính Theo thông lệ quốc tế,NHTW là cơ quan thực hiện chức năng người cho vay cuối cùng; BHTG thựchiện chức năng bảo vệ người gửi tiền và chức năng giám sát được giao chocác cơ quan khác nhau tùy vào đặc thù của từng quốc gia
1.2.3.2 Vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong Mạng an toàn tài chính Quốc gia
Về cơ bản, vai trò quan trọng của tổ chức BHTG thể hiện: i) bảo vệngười gửi tiền ít hiểu biết về tài chính ngân hàng trước những biến động tàichính,
ii) đảm bảo giám sát đánh giá rủi ro, ngăn ngừa tổ chức tài chính ngân hàngtrước