Với đối tượng là Chi nhánh cấp 1 trực thuộcNHTM là Ngân hàng 100% vốn nhà nước, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về đa dạng hoá hoạt động kinh doanh ngân hàng thông qua việc đa dạng hóa
Trang 2HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
NGUYỄN NGỌC BÍCH
GIẢI PHÁP ĐA DẠNG HOÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
NGÂN HÀNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM - CHI NHÁNH
TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN VĂN TIẾN
HÀ NỘI - 2015St
Trang 3Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lậpcủa tôi Các tu liệu, tài liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn dẫn rõràng, các kết quả nghiên cứu là quá trình lao động trung thực của tôi.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Ngọc Bích
Trang 4MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5
1.1 HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Ngân hàng thương mại 5
1.1.2 Khái niệm và đặc trưng 6
1.1.3 Hoạt động của Ngân hàng thương mại 10
1.1.4 Đặc trưng hoạt động kinh doanh ngân hàng 20
1.2 TÍNH ĐA DẠNG CỦA SẢN PHẨM DỊCH VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 23
1.2.1 Nhóm sản phẩm dịch vụ tiền gửi 23
1.2.2 Nhóm sản phẩm về cho vay 25
1.2.3 Sản phẩm dịch vụ bảo lãnh 28
1.2.4 Sản phẩm dịch vụ thanh toán trong nước và quốc tế 29
1.2.5 Các sản phẩm dịch vụ khác 33
1.3 SỰ CẤN THIẾT ĐA DẠNG HÓA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG 37
1.3.1 Nội dung về đa dạng hóa hoạt động kinh doanh Ngân hàng 37
1.3.2 Sự cần thiết của đa dạng hoá hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại 40
1.3.3 Điều kiện để đa dạng hóa hoạt động kinh doanh ngân của Ngân hàng thương mại 43
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐA DẠNG HOÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM - CHI NHÁNH TỈNH BẮC NINH 46
Trang 52.1.1 Khái quát về tình hình kinh tế xã hội tỉnh Bắc Ninh 46
2.1.2 Hoạt động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn 47
2.1.3 Quá trình hình thành và phát triển của Agribank Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh 48 2.2 THỰC TRẠNG ĐA DẠNG HÓA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI AGRIBANK CHI NHÁNH TỈNH BẮC NINH 51
2.2.1 Nhóm sản phẩm dịch vụ tiền gửi 52
2.2.2 Nhóm sản phẩm dịch vụ cho vay 56
2.2.3 Sản phẩm dịch vụ bảo lãnh 63
2.2.4 Các sản phẩm dịch vụ trung gian và dịch vụ ngoại bảng 66
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ VIỆC ĐA DẠNG HÓA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI AGRIBANK CHI NHÁNH TỈNH BẮC NINH 73
2.3.2 Những việc chưa làm được và hạn chế cần khắc phục 78
2.3.3 Nguyên nhân tồn tại 83
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐA DẠNG HOÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM - CHI NHÁNH TỈNH BẮC NINH 93
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN AGRIBANK CHI NHÁNH TỈNH BẮC NINH 93
3.2 CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐA DẠNG HOÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI AGRIBANK CHI NHÁNH TỈNH BẮC NINH 94
3.2.1 Hoạch định và lựa chọn chiến lược 94
3.2.2 Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ hiện có 94 3.2.3 Phát triển các sản phẩm chi nhánh chưa triển khai cho phù hợp với điều kiện hiện tại 99
Trang 63.2.5 Tận dụng tối đa ưu thế của công nghệ hiện đại hoá Ngân hàng đang được
thực hiện tại Chi nhánh 102
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM THỰC HIỆN ĐA DẠNG HOÁ SẢN PHẨM DỊCH VỤ TẠI AGRIBANK CHI NHÁNH TỈNH BẮC NINH 103
3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 103
3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng nhà nước 105
3.3.3 Kiến nghị với Agribank 108
KẾT LUẬN 117
Trang 7AGRIBANK Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt NamNHNN Ngân hàng nhà nước
KH Khách hàng
TTKT Tổ chức kinh tế
HTX Hợp tác xã
CNTT Công nghệ thông tin
TTQT Thanh toán quôc tê
CN Chi nhánh
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu huy động vốn giai đoạn 2011 - 2014 53
Bảng 2.2: Huy động vốn của một số ngân hàng thuơng mại trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 55
Bảng 2.3: Chỉ tiêu cấp tín dụng giai đoạn 2011-2014 58
Bảng 2.4: Du nợ cho vay các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 61 Bảng 2.5: Doanh số và thu dịch vụ bảo lãnh trong nước 64
Bảng 2.6: Doanh số và doanh thu dịch vụ thanh toán trong nước 66
Bảng 2.7: Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ của Chi nhánh 73
Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng huy động vốn của Agribank CN Bắc Ninh.53 Biểu đồ 2.2: Tốc độ tăng trưởng huy động vốn của các NHTM tại địa bàn Bắc Ninh 56
Biểu đồ 2.3: Tốc độ tăng trưởng dư nợ của Agribank CN tỉnh Bắc Ninh 59
Biểu đồ 2.4: Tốc độ tăng trưởng dư nợ các NHTM trên địa bàn 61
Biểu đồ 2.5: về cơ cấu cho vay tại các NHTM trên địa bàn năm 2014 62
Biểu đồ 2.6: Tốc độ tăng trưởng dịch vụ bảo lãnh trong nước 64
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trong quá trình đổi mới kinh tế toàn diện và sâu sắc,nhằm
bắt kịp các nuớc trong khu vực, đáp ứng nhu cầu ngày càng phát triển và tíchcực tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Trong điềukiện đó, đòi hỏi tất cả các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dâncũng phải có những thay đổi để có thể thích ứng với yêu cầu hội nhập
Hoạt động tài chính-ngân hàng là lĩnh vực có vai trò quan trọng, nhu hệthống thần kinh của toàn bộ nền kinh tế, do vậy, hoạt động ngân hàng đangđòi hỏi cần phải có những thay đổi toàn diện và sâu sắc cả về mặt lí luận vàthực tiễn, trong đó tập trung chủ yếu vào việc đa dạng hoá hoạt động kinhdoanh của mình thông qua việc đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng,
vì các nguyên nhân sau:
Thứ nhất, xuất phát từ nhu cầu của nền kinh tế: Trong điều kiện nền
kinh tế tăng truởng cao, mức sống nguời dân Việt Nam cũng đuợc cải thiện rõrệt, đặc biệt là mức sống ở thành phố lớn dẫn tới nhu cầu sử dụng các dịch vụtài chính ngày càng gia tăng Nguời dân đã bắt đầu nghĩ đến việc tích luỹ, đầu
tu để thực hiện những mục tiêu dài hạn trong tuơng lai Ngoài ra, sự phát triểnTTCK, thị truờng Bất động sản, sự thông thoáng trong chính sách đầu tu, duhọc trong những năm gần đây đã làm gia tăng sự lựa chọn sử dụng thu nhậpcủa nguời dân Và tại Việt Nam, tổ chức tài chính có uy tín và vai trò quantrọng nhất trên thị truờng TC- TT lúc này vẫn là các NHTM, nên xu huớngtrên sẽ là yếu tố chính thúc đẩy các ngân hàng tăng cuờng phát triển hoạtđộng kinh doanh dịch vụ tài chính cả về số luợng và chất luợng
Thứ hai, hệ thống ngân hàng đang đứng truớc sự cạnh tranh gay gắt,
không chỉ trong bản thân hệ thống ngân hàng thuơng mại trong nuớc với nhau
mà còn nguy cơ từ các ngân hàng nuớc ngoài, với uu thế vuợt trội về vốn,
Trang 10công nghệ hiện đại và đặc biệt là sự cạnh tranh về sự đa dạng cũng như chấtlượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng Cụ thể, một Ngân hàng nước ngoài hiệnđại có thể có tới hơn 500 sản phẩm dịch vụ, trong khi đó, các Ngân hàngthương mại trong nước hiện chỉ có khoảng trên dưới 100 sản phẩm dịch vụcho khách hàng Bởi vậy, bản thân mỗi Ngân hàng cũng đang đứng trước cơhội và thách thức phải tiến hành đổi mới hoạt động ngân hàng, đặc biệt là tậptrung vào đa dạng hoá nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ Ngânhàng nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, tham gia hiệu quả và tiến trình hộinhập kinh tế diễn ra trong lĩnh vực ngân hàng.
Thứ ba, hệ thống tài chính, ngân hàng đang trong một giai đoạn chuyển
biến mạnh mẽ, sự cạnh tranh trên thị trượng tài chính ngày một trở nên gay gắt
do sự xuất hiện các tổ chức tài chính ngày càng nhiều trên thị trường bao gồmcác tổ chức tài chính phi ngân hàng, các tổ chức tài chính nước ngoài Sự giagia tăng các tổ chức tài chính đã điều khiển cho lãi suất đầu vào có xu hướngtăng cao trong khi lãi suất đầu ra không tăng mà còn có xu thế giảm hay nóimột
cách khác là chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi đang xuhướng
co hẹp lại Điều này tất nhiên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của ngânhàng Để có thể duy trì được mức lợi nhuận như trước các ngân hàng buộcphải
đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của mình, tăng cường phát triển các dịch vụngân hàng để thu hút nguồn vốn có chi phí vốn rẻ hoặc ít rủi ro hơn
Thứ tư, việc đa dạng hoá lĩnh vực kinh doanh, đa dạng hoá danh mục
đầu tư của mỗi ngân hàng thương mại sẽ giúp cho các ngân hàng thương mạităng hiệu quả kinh doanh, giảm rủi ro Vì thế, tiếp cận thị trường dịch vụ ngânhàng hiện đại ngay trong điều kiện yếu kém của ngân hàng thương mại lại cóthể là biện pháp hữu hiệu để thực hiện tái cơ cấu hoạt động ngân hàng thương
Trang 11Agribank Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh là Chi nhánh cấp 1 của Ngân hàngNông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank), với định hướnghoạt
động theo mô hình Ngân hàng bán lẻ với đối tượng khách hàng chủ yếu là
“tam
nông”, và hướng tới đối tượng mục tiêu là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
và dân doanh trên cơ sở nền tảng công nghệ Ngân hàng hiện đại Trong nhữngnăm hoạt động, Agribank Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh đã đạt được những thànhquả
đáng kể theo đúng định hướng và mục tiêu hoạt động đề ra Tuy nhiên, để cóthể
bắt kịp các Ngân hàng bán lẻ điển hình trên thế giới, đồng thời không ngừngnâng cao năng lực cạnh tranh với các Ngân hàng trên địa bàn, thì việc đẩymạnh
đa dạng hoá hoạt động kinh doanh là một yêu cầu rất cấp bách hiện nay
Xuất phát từ nhu cầu đó, là cán bộ quản lý của Agribank Chi nhánh tỉnhBắc Ninh, tôi đã chọn nghiên cứu Đề tài Luận văn Thạc sĩ:
“Giải pháp đa dạng hoá hoạt động kinh doanh ngân hàng tại Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh”.
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu và luận giải để làm rõ hơn nhữngvấn đề lí luận và thực tiễn trong việc đa dạng hoá hoạt động kinh doanh Ngânhàng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động và sức cạnh tranh củaNgân hàng, đồng thời đưa ra một số giải pháp để thực hiện đa dạng hóa hoạtđộng kinh doanh Ngân hàng tại Agribank Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh Để đạtđược mục tiêu đó, luận văn có nhiệm vụ:
- Làm rõ việc đa dạng hoá hoạt động kinh doanh ngân hàng là đòi hỏi
tất yếu để tồn tại và phát triển của Ngân hàng thương mại
Trang 12- Trên cơ sở đó, đề ra những giải pháp thiết thực nhằm đẩy mạnh việc
đa dạng hoá hoạt động kinh doanh Ngân hàng tại Agribank Chi nhánh tỉnhBắc Ninh trong những năm tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Hoạt động kinh doanh Ngân hàng là vấn đề rất rộng lớn và bao hàmnhiều hoạt động kinh doanh Với đối tượng là Chi nhánh cấp 1 trực thuộcNHTM là Ngân hàng 100% vốn nhà nước, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu
về đa dạng hoá hoạt động kinh doanh ngân hàng thông qua việc đa dạng hóasản phẩm dịch vụ ngân hàng cung cấp và lấy hoạt động nghiệp vụ củaAgribank Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh trong thời gian qua làm đối tượng nghiêncứu trực tiếp, đồng thời có tham khảo, so sánh với hoạt động của một số Ngânhàng thương mại quốc tế Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm đa dạnghoá các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng tại Agribank Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp biệnchứng và lôgíc trong khái quát tổng quan và phân tích luận giải vấn đề, đồngthời
cũng sử dụng phương pháp phân tích thống kê, phướng pháp phân tích hoạtđộng kinh tế, lý thuyết hệ thống để phân tích lý luận và luận giải thực tiễn
Luận văn cũng sử dụng kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học
có chất liên quan để làm sâu sắc thêm các luận điểm của đề tài
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 03 chương nhưsau:
Chương 1: Tổng quan về hoạt động kinh doanh của NHTM.
Chương 2: Thực trạng đa dạng hóa hoạt động kinh doanh tại Agribank
Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh.
Chương 3: Các giải pháp nhằm đa dạng hoá hoạt động kinh doanh tại
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Ngân hàng thương mại
Lịch sử hình thành, phát triển NHTM - một loại hình tổ chức kinhdoanh
đặc biệt, có hoạt động phức tạp, rộng khắp và có ảnh hưởng sâu rộng đếnnhiều
mặt hoạt động của toàn bộ nền kinh tế, đã vận động, biến đổi qua nhiều giaiđoạn trong lịch sử loài người
Thuật ngữ “Ngân hàng” xuất hiện trong tiếng Pháp cổ “Banque” vàtiếng
Ý “Banca” đã được sử dụng cách đây hàng nghìn năm trước Công nguyên.Thuật
ngữ Banque hay Banca được dùng để chỉ cái ghế dài hay cái bàn của ngườiđổi
tiền Điều này nói lên nguồn gốc của ngân hàng được bắt nguồn từ nghề đổitiền
của các nhà kim hoàn Muốn có tiền (tiền vàng), những người có vàng (vànglá,
vàng miếng, vàng thỏi ) chỉ việc mang vàng đến các nhà kim hoàn để đổi ratiền; ngược lại, muốn có vàng thì mang tiền đến các nhà kim hoàn để đổi ravàng
Những nhà kim hoàn trở nên giàu có và tiến hành cho vay nặng lãi (cho vaybằng
vốn tự có) Địa chỉ của nhà kim hoàn trở nên quen thuộc và việc trao đổi “tiền
Trang 14phát triển Trong thế kỷ 17, các NH đều có quyền tạo ra những tờ giấy bạc cóhiệu lực pháp lý nhu nhau trong lưu thông Các NH đã lạm dụng điều này,dẫn
đến hậu quả cản trở quá trình giao lưu và phát triển kinh tế Từ đó, chính phủtại
các quốc gia bắt đầu có ý thức can thiệp vào hoạt động NH để hạn chế việclạm
1945 của thế kỷ 20 - khi các chính phủ thực sự quốc hữu hoá NH Trung ươngvà
độc quyền phát hành giấy bạc pháp định Như vậy, tuy NH đã có lịch sử pháttriển lâu đời, nhưng phải đến tận thế kỷ 20, sự phát triển hệ thống NH hai cấptrong từng quốc gia mới tương đối hoàn thiện
Ngày nay, trong hầu hết các quốc gia, hệ thống NH hai cấp bao gồmmột
NH trung ương với chức năng phát hành tiền và quản lý nhà nước về tiền tệ;và
các NHTM với chức năng kinh doanh tiền tệ Sự kinh doanh tiền tệ củaNHTM
đã được phát triển và hoàn thiện trên nhiều phương diện, bao gồm việc kinhdoanh giá trị của tiền tệ, giá trị sử dụng của tiền tệ và quyền sử dụng tiền tệ.Hoạt
động kinh doanh tiền tệ của NHTM đã phát triển ở phạm vi đa quốc gia và
Trang 15cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tíndụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - và cũng thực hiện nhiều chức năng tàichính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”
Để xây dựng khái niệm NHTM, có thể dựa vào tính chất và mục đíchhoạt động của nó trên thị trường tài chính, hoặc kết hợp tính chất, mục đích
và đối tượng hoạt động
Theo Fed và cũng được nhiều nước sử dụng ngày nay: “Ngân hàng là
bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (như bằng cách viết séc hay bằng việc rút tiền điện tử) và cho vay đối với tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một ngân hàng ”.
Ở Việt Nam, theo pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công
ty tài chính, 1990 của Việt Nam: “NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ
vụ sau đây: a) Nhận tiền gửi; b) Cấp tín dụng; c) Cung ứng dịch vụ thanhtoán qua tài khoản.”
Như vậy, với tư cách là trung gian tài chính, kinh doanh tiền tệ và cungứng nhiều dịch vụ tài chính, khái niệm NHTM có thể được xây dựng từ nhiều
Trang 16giới, quy định pháp luật của từng quốc gia lại có thể mở rộng tối đa hoặc hạnchế hoạt động của NHTM trong một số lĩnh vực nhất định.
Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận văn, khái niệm về NHTM đuợcxây dựng theo cách tiếp cận truyền thống qua chức năng và các hoạt động cơbản của nó
NHTM là tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ mà hoạt động chủyếu
và thuờng xuyên là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanhtoán
trong nền kinh tế
Hoạt động kinh doanh tiền tệ của NHTM đuợc biểu hiện qua chênhlệch tỷ giá hối đoái; chênh lệch lãi suất; chuyển đổi kỳ hạn nguồn vốn - tàisản; chuyển đổi rủi ro nguồn vốn - tài sản; và tích tụ và tập trung tu bản
Cùng với sự hoàn thiện về chức năng của các ngân hàng trung uơng,các ngân hàng trung gian cũng phát triển đa dạng về nghiệp vụ kinh doanh.Hoạt động của các ngân hàng không chỉ giới hạn ở các nghiệp vụ của NHTMtruyền thống Tuy nhiên, NHTM vẫn là loại hình ngân hàng phổ biến và quantrọng nhất hiện nay NHTM chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thịphần cũng nhu số luợng ngân hàng
1.1.2.2 Đặc trưng của Ngân hàng thương mại
* về cấu trúc tài chính và tài sản: NHTM là doanh nghiệp có quy mô lớn, hệ số nợ cao và cấu trúc tài sản đặc biệt.
NHTM là doanh nghiệp có quy mô lớn trên giác độ vốn chủ sở hữucũng nhu giác độ về tổng tài sản Ở Việt Nam, vốn chủ sở hữu của cácNHTM là hàng nghìn tỷ đồng; Trên thế giới, vốn chủ sở hữu của NHTM lêntới nhiều tỷ đô la Mỹ Mạng luới các chi nhánh NH thuờng rất lớn và phântán rộng về địa lý Quy mô về vốn chủ sở hữu đã rất lớn, nguồn vốn củaNHTM lại chủ yếu là nợ đuợc huy động từ bên ngoài Cấu trúc tài sản của
Trang 17trọng tài sản tài chính Phần lớn tài sản của NHTM là tài sản tài chính mangđặc trưng trừu tượng, hình thái vật chất đơn giản chỉ là giấy tờ hoặc chỉ là dữliệu điện tử được lưu giữ trong một thiết bị nhất định Bên cạnh đó, NHTMthường có xu hướng liên tục phát triển các sản phẩm cũng như các công cụtài chính mới.
* Hoạt động của NHTM luôn chứa đựng nhiều rủi ro, chịu sự kiểm soát
và giám sát chặt chẽ của hệ thống luật pháp
Trên giác độ tài chính doanh nghiệp, hệ số nợ cao sẽ dẫn đến rủi rotrong hoạt động cũng cao Bên cạnh đó, nguồn vốn nợ chủ yếu của NHTMlại là tiền gửi với đặc trưng có thể bị rút trước hạn với khối lượng khó xácđịnh Sản phẩm, dịch vụ NH không được hưởng quy chế bảo hộ độc quyền
và mang tính phức tạp Hơn nữa, NHTM tham gia vào nhiều cam kết trongkhi chưa chuyển giao vốn thực sự, tức là hoạt động ngoại bảng phong phú
và đa dạng Điểm này là một đặc trưng khác biệt với các loại hình doanhnghiệp khác Vì những lý do này, hoạt động của NHTM chứa đựng nhiềurủi ro hơn các ngành kinh doanh khác Rủi ro trong hoạt động của NHTM
đa dạng, ở mức độ cao, tích luỹ nhanh và dễ lây lan Rủi ro trong hoạtđộng của NHTM bao gồm các loại rủi ro đặc thù như rủi ro tín dụng, rủi rothanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro vốn khả dụng, rủi rođạo đức,
Là doanh nghiệp có quy mô lớn, mạng lưới rộng khắp, hoạt động chịunhiều rủi ro, ảnh hưởng đáng kể đến nhiều hoạt động kinh tế xã hội, NHTMchịu sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của hệ thống phát luật Các quy địnhpháp lý đối với NHTM được phổ biến rộng trên nhiều mặt của hoạt độngkinh doanh như: điều kiện kinh doanh, tiêu chuẩn của người lãnh đạo NH, dựtrữ bắt buộc, bảo hiểm tiền gửi, an toàn trong hoạt động, phân loại nợ và tríchlập dự phòng rủi ro, sử dụng vốn tự có đầu tư cho tài sản cố định,
Trang 18* Tính liên kết, ổn định của hệ thống NH
Hệ thống NH có tính phụ thuộc lẫn nhau rất lớn Hơn bất cứ ngànhkinh doanh nào của nền kinh tế, rủi ro trong hoạt động NH lan toả rất nhanh.Hoạt động nhu một hệ thống các mắt xích liên kết chặt chẽ, chỉ một NHTM,
dù yếu và nhỏ nhất, gặp khó khăn trong hoạt động, đặc biệt là khó khăn vềthanh khoản có thể dẫn đến nguy cơ phá sập hệ thống Thực tiễn đã cho thấy,thanh khoản đuợc ví nhu hơi thở của sự sống trong hoạt động NHTM Mọirủi ro, tổn thất đối với hoạt động NHTM đều có thể dẫn đến hậu quả cuốicùng là NH mất khả năng thanh toán rồi phá sản
Hệ thống NH - tài chính trong nền kinh tế rất nhạy cảm với biến động
về kinh tế, kỹ thuật, chính trị và xã hội Những biến động này thuờng tácđộng gần nhu tức thời đến hoạt động thị truờng tài chính, điển hình là thịtruờng chứng khoán Theo đó, gây ảnh huởng trực tiếp đến hoạt động của hệthống NH Đối với công tác quản lý vĩ mô, việc nắm bắt cơ chế hoạt động,ảnh huởng lẫn nhau của các phần tử trong hệ thống tài chính là một trongnhững vấn đề cốt yếu, quyết định đến việc thành bại
1.1.3 Hoạt động của Ngân hàng thương mại
Để mô tả hoạt động của NHTM, có thể sử dụng các tiêu chí phân loại,nhìn nhận hoạt động của NHTM duới nhiều góc độ khác nhau Trong đó, có
ba tiêu chí quan trọng là bản chất kinh tế, tính hệ thống và công nghệ
1.1.3.1 Theo bản chất kinh tế
NHTM là tổ chức kinh tế hoạt động vì mục tiêu kinh doanh, lấy lợinhuận làm động lực Hoạt động NHTM, cũng nhu bất cứ một doanh nghiệpsản xuất kinh doanh nào khác, bao gồm 3 mảng chính: là tạo lập nguồn vốn,
sử dụng vốn và các hoạt động khác
Tạo lập nguồn vốn: Nguồn vốn của NHTM bao gồm: vốn chủ sở hữu,tiền gửi của KH, tiền vay, vốn uỷ thác và một số nguồn vốn nợ khác từ bên
Trang 19ngoài Vốn chủ sở hữu đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với hoạtđộng của NHTM Chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn nhung vốn chủ
sở hữu của NHTM là cơ sở để hình thành nên NH và đóng vai trò là tấmđệm, gánh vác mọi khó khăn, rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động kinhdoanh của NH Nếu NH hoạt động kinh doanh tạo nhiều lợi nhuận, tấm đệmvốn chủ sở hữu sẽ dầy lên với tốc độ lớn nhiều lần so với gia tăng tài sản trênvốn nợ Nguợc lại, mọi khó khăn tổn thất trong hoạt động của NH đều trôngchờ vào khả năng chống đỡ của tấm đệm này
Nguồn vốn của NHTM phần lớn là nợ, trong đó chủ yếu là tiền gửi nguồn vốn chiến luợc trong các hoạt động NH KH gửi tiền vào NH thuờngnhằm tới hai mục đích: tiết kiệm và thanh toán Thuờng thấy, hai mục đíchnày mâu thuẫn nhau Do vậy, một khoản tiền gửi vào NH luôn gắn với mụcđích cụ thể Để thu hút đuợc nhiều tiền gửi, NHTM nghiên cứu, thiết kế cácsản phẩm tiền gửi linh hoạt, phong phú, đa dạng về kỳ hạn, quy mô, loại tiềncũng nhu phuơng thức trả lãi, lãi suất và nhiều đặc tính thu hút kèm theo
-Tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn trong vốn nợ cũng nhu tổng nguồn của NHthì tiền vay lại có một vai trò riêng, ảnh huởng đến hoạt động kinh doanh tiền
tệ ngắn hạn, dự trữ đáp ứng khả năng thanh toán của NH NHTM thuờng vaytiền của NH trung uơng thông qua kênh tái chiết khấu và các NHTM khácthông qua thị truờng tiền tệ liên NH Khả năng vay của NH tác động đếnluợng dự trữ đuợc NH nắm giữ để đáp ứng khả năng thanh toán
Sử dụng vốn: Hầu hết ban đầu tài sản của NHTM có hình thái vật chấtlà
tiền Để đáp ứng yêu cầu kinh doanh, sinh lời NH đã sử dụng vốn tạo nên 3khối tài sản là: Tài sản dự trữ đáp ứng khả năng thanh toán, tài sản sinh lời vàtài
sản duy trì hoạt động Dự trữ là khối tài sản có tính thanh khoản cao nhất,NHTM nắm giữ với mục tiêu chính để đáp ứng khả năng thanh toán Dự trữ
Trang 20chứng khoán chính phủ có kỳ đáo hạn thực tế ngắn hạn Lượng ngoại tệ, vàngtrong danh mục dự trữ là một trong nhiều căn cứ để xác định trạng thái ngoạihối của NH Hoạt động kinh doanh tiền tệ của NH thể hiện đầy đủ trong cảkinh
doanh ngoại hối và huy động vốn rồi cho vay Với giác độ quản lý, khôngphải bất cứ lúc nào kim loại quý, đá quý cũng được NHTM nắm giữ nhưtài sản để đáp ứng khả năng thanh toán nhanh nhất Một số hoàn cảnh nhấtđịnh, loại tài sản này có thể được giữ để đầu cơ với mục đích sinh lời
Với tài sản của NH, tài sản sinh lời luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất Đâycũng là khối tài sản có kết cấu đa dạng, phong phú và phức tạp Tài sản sinhlời của NHTM bao gồm các khoản tín dụng, chứng khoán kinh doanh vàchứng khoán đầu tư Đối với một số quốc gia cho phép NHTM được kinhdoanh bất động sản thì tài sản sinh lời của NH còn có thể bao gồm cả bấtđộng sản đầu tư Khối tài sản sinh lời hứa hẹn đem lại cho NH các khoản thunhập từ lãi, cổ tức, sự tăng giá của chính tài sản nhưng đồng thời cũng chứađựng không ít những rủi ro do KH không trả đủ lãi, gốc các khoản tín dụng,mất giá chứng khoán
Hầu hết tài sản cố định hữu hình (nhà, kho bãi, máy móc thiết bị ) vàtài sản cố định vô hình được nắm giữ với mục tiêu duy trì hoạt động NH Vớiđặc điểm giao dịch cao, phục vụ KH nhanh và tốt nhất, khối tài sản đảm bảoduy trì hoạt động NH có ý nghĩa rất quan trọng Trong điều kiện cạnh tranhgay gắt về kỹ thuật nghiệp vụ, tài sản để duy trì hoạt động của NH quyết địnhgiá trị công nghệ NH trên cả phương diện tác nghiệp và thông tin quản lý.Thông thường, NH phải đánh đổi giữa chi phí cho công nghệ cũng như tầmvóc của công nghệ
Các hoạt động khác: Hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán thể hiện
ngay trong việc huy động và sử dụng vốn của NH Tuy nhiên, khi đề cập tớicác hoạt động khác, thanh toán luôn là hoạt động được nhấn mạnh lại, bởi
Trang 21tầm quan trọng và giá trị lớn lao của nó đối với bản thân NH và cả nền kinh
tế Ngày nay, tỷ trọng thu nhập từ hoạt động thanh toán nói riêng và từ việccung cấp các hoạt động dịch vụ của NH nói chung đã trở thành một trongnhững tiêu chí quan trọng để đánh giá trình độ phát triển theo chiều sâu củamột NHTM Hoạt động thanh toán, trong đó phần lớn là thanh toán qua NH,được coi như hệ thống huyết mạch, có chức năng dẫn máu đều đặn nuôi sống
cơ thể sống là nền kinh tế Hoạt động thanh toán của NHTM được nhìn nhậntrên nhiều khía cạnh Với phạm vi địa lý, thanh toán qua NH bao gồm thanhtoán trong nước và quốc tế được phân biệt tương đối rõ nét về đối tượng KH,sản phẩm cũng như phương thức tổ chức hoạt động Đối với giác độ người sửdụng, KH quan tâm đến những dịch vụ thanh toán mà NH có thể cung cấpcho nhiều đối tượng KH với các nhu cầu sử dụng đa dạng khác nhau Và đốivới bản thân NH, để phục vụ tốt yêu cầu thanh toán đa dạng và phong phúcủa KH, vấn đề quan trọng chính là hệ thống thiết bị, phương thức quản lý, tổchức thanh toán trong một hệ thống NHTM và giữa các NH với nhau
Bên cạnh dịch vụ thanh toán, NHTM còn cung cấp nhiều các dịch vụtài chính khác như tư vấn đầu tư, bảo quản, quản lý hộ tài sản Đặc biệt vàkhác nhiều lĩnh vực kinh doanh khác, hoạt động ngoại bảng trong các NHTM
có một vai trò rất lớn, góp phần bộc lộ cả dự trữ ngầm, nghĩa vụ nợ tiềm ẩncủa NH Hoạt động ngoại bảng của NHTM có ba mảng chính; Đó là việcquản lý tài sản cầm cố, thế chấp của KH trong hoạt động tín dụng; Đó làquản lý các cam kết ngoại bảng truyền thống như bảo đảm, bảo lãnh ; Cuốicùng, NHTM quản lý rất chặt chẽ các cam kết ngoại bảng phát sinh từ cáccông cụ tài chính phái sinh Thực tế cho thấy hoạt động ngoại bảng củaNHTM rất quan trọng Bài học kinh điển về rủi ro trong hoạt động NH đã chỉ
ra nguy cơ sụp đổ cả hệ thống NHTM lâu đời, vững mạnh chỉ vì những sailầm từ việc quản lý hoạt động ngoại bảng không tốt
Trang 221.1.3.2 Theo tính hệ thống
NHTM là một hệ thống kinh doanh, được tạo bởi hai hệ thống nhỏ làtác nghiệp và quản lý Do vậy, hoạt động của NHTM bao gồm hai loại: hoạtđộng tác nghiệp và hoạt động quản lý
* Hoạt động tác nghiệp
Hoạt động tác nghiệp là việc sử dụng các phương pháp, công cụ có thể
để can thiệp trực tiếp vào quá trình biến đổi đầu vào thành đầu ra trong sảnxuất, kinh doanh Đối với NHTM, hoạt động tác nghiệp gồm các nghiệp vụ
cụ thể như: nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, cho vay, đầu tư chứngkhoán, mua sắm tài sản cố định, kinh doanh ngoại tệ, thanh toán trong nước,thanh toán quốc tế
Ở nhiều loại hình doanh nghiệp, trong đó có NHTM, ranh giới giữahoạt động tác nghiệp và hoạt động quản lý thể hiện không rõ ràng Tuynhiên, có thể so sánh tính chất của thông tin để phân biệt giữa hoạt động tácnghiệp và quản lý Hoạt động tác nghiệp sử dụng thông tin từ hoạt động quản
lý như các chỉ thị mang tính chỉ đạo cho từng nghiệp vụ cụ thể Trong khi đó,hoạt động quản lý sử dụng thông tin từ hoạt động tác nghiệp như thông tin vềbáo cáo, việc phục vụ quá trình xây dựng và thực thi quyết định sản xuất,kinh doanh
Ngày nay, hoạt động cơ bản của quản lý được tiếp cận theo quá trình
Trang 23hoặc theo hoạt động của tổ chức Theo quá trình, hoạt động quản lý gồm 4chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra Theo tính chất, hoạtđộng quản lý gồm nhiều lĩnh vực khác nhau, có tính độc lập tuơng đối; Cụthể là: quản lý marketing, quản lý nghiên cứu và phát triển, quản lý sản xuất -kinh doanh, quản lý tài chính, quản lý nguồn nhân lực, quản lý chất luợng vàquản lý các dịch vụ hỗ trợ cho tổ chức: thông tin, pháp lý, đối ngoại
Nhu vậy, xét theo quá trình, hoạt động quản lý NHTM là quá trình xácđịnh các mục tiêu, xây dựng kế hoạch kinh doanh, tổ chức phân bổ các nguồntài nguyên nhằm thực hiện các mục tiêu theo kế hoạch đã đặt ra
Hoạt động quản lý NHTM gồm việc thiết lập các mục tiêu và xây dựng
kế hoạch kinh doanh Đối với mỗi NHTM, mục tiêu tổng quát nhất đuợc thểhiện trong chiến luợc kinh doanh của NH Mục tiêu tối hậu đối với hoạt độngtài chính NHTM là mục tiêu về thu nhập và mức độ rủi ro phải đuơng đầutrong ngắn hạn và dài hạn Các mục tiêu trung gian đuợc thể hiện qua sốluợng, chủng loại, quy mô, kỳ hạn của sản phẩm, dịch vụ, mạng luới hoạtđộng, hệ thống KH, trình độ công nghệ và nguồn nhân lực của NHTM Cácmục tiêu tổng quát đuợc cụ thể hoá thành các mục tiêu hành động với nhữngchỉ tiêu chi tiết mang tính huớng dẫn, chỉ đạo Kế hoạch kinh doanh cần thểhiện đuợc tính khả thi cũng nhu thể hiện đuợc mối liên hệ giữa các mục tiêutổng quát và cụ thể
Ngoài ra, hoạt động quản lý NHTM còn là tổ chức, phân bổ các nguồntài nguyên để thực hiện mục tiêu theo kế hoạch đã đặt ra Việc thực hiện cácchuơng trình mục tiêu một mặt là quá trình cụ thể hoá các vị trí, phần hànhcông việc, mặt khác là xác định rõ chi phí, thu nhập khi thực hiện nhữngphần hành này Bên cạnh đó còn bao gồm cả việc xây dựng bộ máy tổ chức,kiểm soát nguồn nhân lực, huy động và sử dụng vốn nhằm đạt mục tiêu kinhdoanh của NH
Trang 24Đối với các NHTM có quy mô lớn, mô hình hoạt động còn có thể baogồm một số chức năng lớn mang tính trụ cột, có ảnh hưởng sâu rộng tới toàn
NH Từ khối, mô hình chi tiết sẽ dẫn đến các ban, các phòng và các bộ phận
1.1.3.3 Theo công nghệ
Nếu như công nghệ được hiểu là kiến thức có hệ thống về quy trình và
kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm kiến thức, thiết
bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấpdịch vụ, thì công nghệ NH là tổng thể những tác động kỹ thuật nghiệp vụ làmthay đổi cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động nghiệp vụ, phương pháp quản trịđiều hành, hình thức giao dịch, thu thập xử lý hệ thống thông tin, các sảnphẩm dịch vụ và các mối quan hệ tác nghiệp trong hoạt động NH
Trong các điều kiện tổ chức từ đơn giản đến phức tạp, từ thủ công đến
cơ giới hoá rồi tự động hoá, hoạt động của NHTM đã có nhiều thay đổi vềchất Nếu như các hoạt động của NHTM trước đây được tổ chức theo địnhhướng chức năng nghiệp vụ thì trong điều kiện công nghệ hiện đại, hoạt độngcủa NHTM hướng về KH, coi KH là trung tâm để tổ chức hệ thống, mạnglưới phục vụ Ở khía cạnh công nghệ, hoạt động của NHTM được xem xétdưới sự chi phối của hai mô hình tổ chức đặc thù: phân tán và tập trung
* Hoạt động của NHTM trong điều kiện phân tán
Điều kiện phân tán được đề cập đến ở đây là sự phân tán trong tổ chức
bộ máy NH để thực hiện các hoạt động của mình Trong điều kiện này,NHTM thường bao gồm hội sở chính và các chi nhánh lớn có nhiều thẩmquyền, được phân bố rộng khắp với địa bàn hoạt động ở tầm quốc gia, khuvực hoặc thậm chí trên toàn cầu Mỗi chi nhánh hoạt động như một NH nhỏ,
có quyền tự quyết khá cao trong tổ chức như tổ chức cán bộ, quy mô hoạtđộng, loại hình sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho KH, và được sử dụng cácphương tiện hỗ trợ riêng
Trang 25về công nghệ, đặc trưng của hoạt động trong điều kiện này là vấn đềlưu giữ thông tin phân tán Sự phân tán thể hiện trước hết trong việc lưu giữthông tin giữa các chi nhánh và hội sở chính Theo định kỳ, chi nhánh gửibáo cáo về các thông tin tổng hợp, khái quát các mảng hoạt động của mình vềhội sở chính Tại hội sở chính, việc nắm bắt tình hình hoạt động của chinhánh được thực hiện một cách rời rạc theo thông tin tổng hợp Mặt khác,trong một đơn vị NH (hội sở chính, sở giao dịch, chi nhánh, phòng giaodịch ) thông tin cũng được cập nhật, lưu giữ phân tán giữa các bộ phận khácnhau, chẳng hạn như huy động vốn, cho vay, thanh toán trong nước, kinhdoanh ngoại tệ, thanh toán quốc tế, cung cấp các dịch vụ khác
Tổ chức hoạt động phân tán phù hợp với điều kiện công nghệ giảnđơn, thủ công Dữ liệu được lưu giữ trên giấy hoặc trong giai đoạn đầu mớiđưa máy tính cá nhân không nối mạng, hoặc nối mạng nội bộ trong từng đơn
vị NH vào sử dụng để hỗ trợ việc xử lý giao dịch và lưu giữ thông tin
Ưu điểm của mô hình phân tán là chi phí đầu tư công nghệ thấp, có thểđầu tư rời rạc cho từng bộ phận và khả năng mở trong việc đầu tư nâng cấphoặc bổ sung Do các bộ phận hoạt động phân tán nên ảnh hưởng qua lạithường hạn chế Nếu một bộ phận gặp vấn đề về công nghệ thì chỉ ảnh hưởngđến cụm xung quanh nó, các nơi khác vẫn có thể tiếp tục hoạt động Trongđiều kiện phân tán, công nghệ không đòi hỏi lớn về cơ sở hạ tầng và trình độnhân lực
Hạn chế của hoạt động NH phân tán là phân tán và “chẻ nhỏ” dữ liệucủa toàn hệ thống, không tạo ra “bức tranh” toàn cảnh, kịp thời về hoạt độngcủa hệ thống, hạn chế cả chức năng tác nghiệp, chức năng điều hành của hệthống Thông tin phân tán, một mặt làm cho hệ thống hoạt động kém hiệuquả vì không phối hợp các giao dịch được trực tuyến và nhịp nhàng, gây tìnhtrạng lãng phí vốn cũng như các tài nguyên khác Một mặt làm tăng rủi ro
Trang 26trong hoạt động do việc phân tán thông tin về KH có thể dẫn đến tình trạngkhông cập nhật thông tin KH đầy đủ giữa các bộ phận trong một đơn vị NH
và giữa các đơn vị NH với nhau Cùng một KH lại có thể được đánh giá hoàntoàn khác nhau giữa các đơn vị NH Rủi ro đạo đức và thông tin không cânxứng là vấn đề nổi cộm trong điều kiện phân tán thông tin của NH Hơn nữaviệc quản lý trong nội bộ hệ thống như vốn khả dụng, các khoản đầu tư vàchi tiêu khác có thể yếu kém và tiềm ẩn nhiều rủi ro xuất phát từ các mâuthuẫn vì thông tin về những hoạt động này trong cả hệ thống thường rời rạc,chắp vá, có thể gây trùng lặp hoặc bỏ xót
Để giảm ảnh hưởng tiêu cực của điều kiện phân tán, các NHTMthường phải khắc phục bằng cách tăng cường quản lý các đối tượng KH vàcác hoạt động trong nội bộ hệ thống Các báo cáo về tình hình hoạt độngđược yêu cầu thường xuyên, chi tiết và kịp thời hơn Hội sở chính chịu tráchnhiệm trong việc chuẩn hoá các hoạt động của chi nhánh nhằm xoá bỏ sựkhác biệt trong giao dịch đối với KH giữa các đơn vị NH khác nhau Tuynhiên, tất cả những cố gắng này không thể triệt tiêu được hết các nhược điểm
kể trên mà chỉ có thể làm giảm bớt phần nào ảnh hưởng của chúng tới hiệuquả hoạt động và mức độ rủi ro trong hoạt động của các NHTM
* Hoạt động của NHTM trong điều kiện tập trung
Ngày nay, vấn đề về công nghiệp NH vẫn còn là một vấn đề tranh cãi
Có những học giả đã khẳng định “Hầu hết các nhà NH đều cho rằng NH làloại công nghiệp tài chính chứ không phải là công nghiệp dịch vụ”, rằng các
NH đã dành hết nguồn nhân lực, vật lực và thời gian cho việc quản lý tàichính hơn là quản lý KH và công tác phục vụ Bởi thế, khuynh hướng cạnhtranh của các NH là dựa trên năng lực về tài chính nhiều hơn là chất lượngdịch vụ Quan điểm này hiện đang gây tranh cãi Tuy nhiên, cho dù một NHđược tổ chức để định hướng vào các nghiệp vụ cụ thể hay định hướng tập
Trang 27trung vào KH thì tổ chức hoạt động tập trung vẫn luôn là nền tảng tốt.
Tổ chức hoạt động NH theo mô hình tập trung đòi hỏi những điều kiện
cơ bản trong hạ tầng công nghệ thông tin nhu trang thiết bị phần cứng, mạngtruyền thông, phần mềm và cơ sở dữ liệu cũng nhu đội ngũ nhân lực về côngnghệ thông tin phải đạt những tiêu chuẩn tối thiểu Hoạt động của NHTMtrong điều kiện tập trung đuợc xây dựng trên nền tảng dữ liệu đuợc tích hợp
và tập trung tại hội sở chính Hội sở chính đuợc mở rộng và tăng cuờng thẩmquyền hơn, đặc biệt trong điều kiện thông tin minh bạch, quá trình trao đổithông tin diễn ra dễ dàng, với tốc độ cao Hội sở chính là nơi kiểm soát cácsản phẩm dịch vụ cho từng nhóm KH mục tiêu thông qua các kênh phânphối Trong điều kiện này, các chi nhánh đuợc coi nhu một kênh phân phối
và bán hàng cho hội sở chính Do vậy hội sở chính trở nên lớn hơn, trực tiếpkinh doanh trong một số lĩnh vực chiến luợc nhu: kinh doanh tiền tệ, kinhdoanh trên thị truờng vốn, tín dụng, tài trợ thuơng mại Các chi nhánh thìthu nhỏ lại cả về chức năng, nhiệm vụ và quy mô Đối với hoạt động kế toán,hội sở chính là nơi tập trung luu giữ và xử lý thông tin; các chi nhánh, phònggiao dịch trở thành nơi nhận, gửi thông tin với hội sở chính
Tổ chức hoạt động NH theo mô hình tập trung thuờng huớng vào trungtâm KH NH nhận thức đuợc vai trò quan trọng của KH Trong điều kiện này,
NH trở thành một cỗ máy marketing chăm sóc, phục vụ KH Nhờ vào hệthống
tập trung, NH có thể cung cấp tới KH các sản phẩm dịch vụ có tính đồngnhất,
phong phú đa dạng hơn, chất luợng tốt hơn (và không hẳn đã phải trả giá caohơn) Điều thú vị nhất cho KH là giờ đây họ chỉ cần mở tài khoản ở một nơinhung có thể giao dịch ở bất kỳ chi nhánh nào (trong phạm vi quốc gia) củamột
hệ thống NH Cách thức tổ chức hoạt động của NH thay đổi từ bộ máy cơ cấu
Trang 28hẳn Hơn nữa, đối với NH, hệ thống thông tin KH trên cơ sở tích hợp và dữliệu
tập trung không chỉ hỗ trợ các yêu cầu về tác nghiệp mà còn đem lại các thôngtin tổng hợp theo chiều sâu giúp các nhà quản lý phân tích và đánh giá hiệuquả
KH để xây dựng chính sách KH phù hợp
ưu điểm của mô hình hoạt động tập trung là loại bỏ được sự trùng lặp,chồng chéo Mỗi quyết định hoặc thông tin đều là duy nhất, không có dị bản.Hoạt động của cả hệ thống xuyên suốt, ít trở ngại Quá trình truy cập thôngtin nhanh và chính xác do chỉ cần kết nối với trung tâm
Tuy nhiên, mô hình hoạt động tập trung cũng có một số hạn chế cănbản Thứ nhất là đòi hỏi về chi phí đầu tư xây dựng thường rất tốn kém; hạtầng công nghệ thông tin cả bên trong và bên ngoài NH cùng phải rất tốt.Ngoài ra, khi trung tâm xử lý tại hội sở chính gặp vấn đề thì toàn bộ hệ thống
sẽ bị tê liệt
1.1.4 Đặc trưng hoạt động kinh doanh ngân hàng
Ngân hàng thương mại không trực tiếp tham gia vào sản xuất và lưuthông hàng hoá như các doanh nghiệp thông thường, mà nó thực hiện cácchức năng trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và làm dịch vụ tiền tệ, tưvấn tài chính cho khách hàng Thông qua việc thực hiện các chức năng trunggian của mình, ngân hàng thương mại nắm trong tay một bộ phận lớn nhất củacải của xã hội dưới dạng giá trị nhưng không có quyền sở hữu chúng, mà chỉ
có quyền sử dụng với những điều kiện ràng buộc, đòi hỏi ngân hàng thươngmại phải chịu trách nhiệm vật chất đối với những người chủ sở hữu thực củacác tài sản này Có thể nói, nguyên liệu kinh doanh chủ yếu của ngân hàngthương mại là “quyền sử dụng các khoản tiền tệ’ - là loại nguyên liệu có tính
xã hội hoá và tính nhạy cảm cao - do vậy việc thực hiện cung ứng các sảnphẩm ngân hàng cũng có nhiều đặc điểm riêng biệt
Trang 29Do ngân hàng thương mại hoạt động chủ yếu bằng vốn đi huy động từnền kinh tế và phải có trách nhiệm hoàn trả, việc thiếu khả năng thanh toán sẽnhanh chóng dẫn đến sự đổ vỡ, phá sản của ngân hàng thương mại, nên khithực hiện cung ứng sản phẩm dịch vụ, ngân hàng thương mại cần đề cao cácbiện pháp đảm bảo an toàn hoạt động kinh doanh, chẳng hạn: duy trì mức vốnhuy động hợp lý để phù hợp với nhu cầu sử dụng của ngân hàng và ý muốncủa người gửi tiền, chống đỡ được những biến động của thị trường; lựa chọnkhách hàng, lựa chọn danh mục đầu tư; đa dạng hoá tài sản để phân tán rủi ro,nâng cao lợi nhuận và đảm bảo thanh khoản
Thứ hai, quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ hoàn toàn phụ thuộc vào khách hàng
Sản phẩm dịch vụ của các ngân hàng thương mại có tính phi vật chất,không thể dự trữ, không thể tồn kho để khi thị trường cần thì đưa ra tiêu thụnhư hàng hoá hữu hình Sản phẩm dịch vụ ngân hàng chỉ bắt đầu khi kháchhàng chuyển đến ngân hàng các uỷ nhiệm của họ phát sinh từ hợp đồng giaodịch thương mại, tín dụng hoặc phải hoàn thành một nghĩa vụ tài chính nào
đó Do vậy, việc triển khai các nghiệp vụ ngân hàng phải quan tâm trước hếtđến nhu cầu của khách hàng, phải xuất phát từ khách hàng
Thứ ba, cạnh tranh về sản phẩm dịch vụ ngân hàng giữa các ngân
hàng thương mại rất quyết liệt.
Do ngân hàng thương mại bị chi phối bởi đặc điểm dùng nguyên liệuchính là ‘tiền”, loại nguyên liệu có tính xã hội hoá và tính nhạy cảm cao nênchỉ
cần sự thay đổi nhỏ về lãi suất cũng sẽ gây ra sự chuyển dịch của khách hàngtừ
ngân hàng này sang ngân hàng khác Tính nhạy cảm cao thể hiện rõ trongtrường
hợp khi ngân hàng thương mại này tạo ra một loại sản phẩm được xã hội ưa
Trang 30thể nghiên cứu và tạo ra sản phẩm mới Như vậy, tính cạnh tranh quyết liệtgiữa
các ngân hàng phát sinh từ sự dễ thay đổi của khách hàng trong quan hệ giaodịch với ngân hàng nhằm mục đích mua sản phẩm, dịch vụ ngân hàng với chiphí thấp nhất và bán nguyên liệu ‘tiền” với giá cao nhất
Thứ tư, quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng phụ thuộc nhiều vào môi trường kinh doanh và công nghệ ngân hàng.
Ngân hàng nằm trong số loại hình doanh nghiệp được giám sát chặt chẽnhất, buộc phải quản lý theo luật và các qui định khác đã được ban hành, nóicách khác, các hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại thườngxuyên đổi mới với những điều kiện kinh tế năng động và những điều chỉnhcủa pháp luật Mặt khác, mối quan hệ giữa doanh nghiệp và khách hàng(người gửi tiền, người vay tiền) là mối quan hệ dựa trên cơ sở tín nhiệm lẫnnhau và tạo thuận lợi cho nhau, do vậy, môi trường kinh doanh (điều kiệnkinh tế và luật pháp) của mỗi nước đều ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện cácnghiệp vụ ngân hàng Dưới sự tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học và
kỹ thuật, công nghệ ngân hàng có những bước tiến nhảy vọt và có khuynhhướng quốc tế hoá, trở thành nguồn lực nội tại của mỗi ngân hàng về tư duykinh doanh, tạo ra các sản phẩm thích ứng với thị trường Hoạt động ngânhàng vì vậy không thể tách rời việc hiện đại hoá công nghệ ngân hàng
Môi trường kinh doanh và công nghệ ngân hàng tác động đến việc tínhtoán các chi phí sản xuất và việc định giá các sản phẩm ngân hàng theo nhữngđặc tính riêng mà các doanh nghiệp thông thường không gặp phải Sản phẩmngân hàng phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, xã hội và khả năngquản lý hệ thống tài chính của từng nước Ngân hàng thương mại kinh doanh
vì nền kinh tế và lợi ích thiết thân của mình nên phải hết sức năng động, linhhoạt, liên tục đổi mới nhằm thích ứng với những biến đổi của điều kiện kinh
tế, xã hội và những điều chỉnh của pháp luật, đồng thời theo sát thông tin về
Trang 31công nghệ ngân hàng trên thế giới để tạo ra những sản phẩm mới hiện đại,phù hợp với xu thế phát triển và được xã hội chấp nhận.
Những đặc trưng trên sẽ chi phối và là cơ sở để các nhà quản lý hoạchđịnh chiến lược phát triển các nghiệp vụ cho phù hợp với môi trường kinhdoanh, điều kiện cụ thể của từng ngân hàng
1.2 TÍNH ĐA DẠNG CỦA SẢN PHẨM DỊCH VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Nhóm sản phẩm dịch vụ tiền gửi
Với các sản phẩm dịch vụ tiền gửi, ngân hàng sẽ huy động vốn của cácdoanh nghiệp, cá nhân, các tổ chức kinh tế qua tài khoản séc, tài khoản vãnglai; tài khoản tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi của khách hàng thường chia làm hailoại: tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn Lãi suất của tiền gửi có kỳhạn bao giờ cũng lớn hơn lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn, nên các ngânhàng cần có chính sách khuyến khích khách hàng gửi tiền không kỳ hạn, chủyếu bằng cách tự đổi mới mình thành người cung cấp nhiều loại dịch vụ ngânhàng tốt, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh có hiệu quả,thu hút khách hàng đén ngân hàng nhiều hơn với nguồn tiền nhàn rỗi của họ
- Tài khoản séc
Là loại tiền gửi được áp dụng phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới.Theo Công ước Giơ-ne-vơ năm 1931 thì “Séc là một tờ lệnh trả tiền vô điềukiện do một khách hàng ký phát cho ngân hàng, yêu cầu ngân hàng trích từ t àikhoản của mình một số tiền nhất định để trả cho người cầm séc hoặc chongười được chỉ định trên séc”
Việc phát hành séc tiến hành đồng thời với dịch vụ mở tài khoản tiềngửi
(tài khoản séc), các chủ tài khoản séc sẽ dùng séc để mua sắm hàng hoá, dịchvụ,
nộp thuế, trả nợ cho nhau, vay mượn ; đồng thời nhập vào tài khoản này mọi
Trang 32dịch vụ, thu nợ Tài khoản séc bao giờ cũng có số dư nên ngân hàng có thểtạm
thời sử dụng được số tiền này vào mục đích kinh doanh của ngân hàng, tàikhoản
séc thật sự là công cụ quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh doanh của hệthống ngân hàng Tài khoản séc không những đem lại một nguồn vốn khổng lồđể
kinh doanh (với chi phí mua rất thấp) mà còn đem lại cho ngân hàng nhữngthông
tin, tư liệu chính xác về tình hình tài chính của các doanh nghiệp, tổ chức, cánhân
có quan hệ tín dụng, do vậy ngân hàng có cơ sở để quyết định cho vay
- Tài khoản vãng lai
Tài khoản vãng lai là tài khoản phát sinh hàng ngày các khoản gửi tiền,rút và chuyển tiền của khách hàng Trong tài khoản séc, chủ tài khoản luônluôn phải có số dư, nhưng trong tài khoản vãng lai, khách hàng có thể có số
dư, có thể thiếu (dư nợ), nếu dư có ngân hàng phải trả lãi, nếu dư nợ khá chhàng phải trả lãi cho ngân hàng nhưng không được vượt hạn mức dư nợ ngânhàng cho phép Tài khoản vãng lai là một thủ tục vừa gửi tiền, vừa vay tiền cólợi cho cả hai bên: người mở tài khoản và ngân hàng Người gửi tiền chắcchắn được vay tiền với mức dư nợ cao nhất, còn ngân hàng càng thu hút đượcnhiều tài khoản vãng lai càng có thêm nhiều vốn tiền gửi để kinh doanh
Đối với một ngân hàng thương mại càng có nhiều tài khoản séc, tàikhoản vãng lai, càng giảm bớt chi phí huy động và thu hút được nhiều vố ntiền gửi, đạt lợi nhuận ngân hàng cao; ngược lại nguồn tiền gửi có kỳ hạnchiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn tiền gửi thì chi phí đầu vào cao, lợinhuận ngân hàng thấp
- Tài khoản gửi tiết kiệm
Trang 33chế lạm phát, ổn định giá cả thị trường Số lượng tiền gửi tiết kiệm thu hútđược nhiều hay ít, trước hết phụ thuộc vào lãi suất danh nghĩa của nó có caohơn lãi suất thực tế cộng với tỷ lệ lạm phát hay không.
1.2.2 Nhóm sản phẩm về cho vay
1.2.2.1 Cho vay tiền
Là loại cho vay mang hình thức một hợp đồng vay tiền Trong hợp đồngnêu rõ: ngân hàng cam kết giao cho người vay một khoản tiền trong một thờigian
nhất định và người vay cam kết trả cho ngân hàng khoản tiền tương ứng với sốtiền đã vay cùng với số tiền lãi tỷ lệ với số tiền gốc và thời hạn vay
Các sản phẩm cho vay tiền gồm có:
* Cho vay ngắn hạn theo món: Mỗi lần vay vốn, khách hàng và Ngân
hàng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng
* Vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Ngân hàng cam kết đảm bảo
sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định.Ngân hàng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng
dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng
* Cho vay ngắn hạn theo hạn mức: Ngân hàng và khách hàng xác định
và
thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định
* Cho vay theo dự án đầu tư: Ngân hàng cho vay phục vụ đầu tư phát
triển, các dự án đầu tư Ngân hàng hỗ trợ về vốn và tư vấn miễn phí chokhách hàng trong đầu tư các dự án trung và dài hạn
* Cho vay hợp vốn: Bên cạnh việc trực tiếp cấp tín dụng cho khách
hàng, một Ngân hàng có thể còn kết hợp với các tổ chức Tài chính khác đểcùng cho vay với một khách hàng có nhu cầu vốn lớn
* Cho vay tiêu dùng: Ngân hàng thực hiện cho vay để hỗ trợ vốn cho
các nhu cầu tiêu dùng của dân cư như: Mua nhà, mua xe ôtô
Trang 34số tiền lãi vay phải trả cộng với số nợ gốc chia ra để trả theo các kỳ hạn trongthời gian vay Hình thức cho vay này thường áp dụng cho những khách hàngcó
nguồn thu ổn định, thời hạn cho vay trung hoặc dài hạn (từ 1 năm trở lên)
* Cho vay cầm cố bằng sổ tiết kiệm, kỳ phiếu hoặc giấy tờ khác trị giá
được bằng tiền do Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác phát hành đối vớinhững khách hàng là chủ sở hữu hợp pháp giấy tờ trị giá được bằng tiền đó
1.2.2.2 Tín dụng dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền
Tín dụng dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền có các hình thức chủyếu: chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá, bao thanh toán Factoring
- Chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá:
Sản xuất hàng hoá phát triển nhanh chóng, giao lưu hàng hoá ngày càng
mở rộng phát sinh nhu cầu mua bán chịu hàng hoá, người bán để bán đượchàng đồng ý cho người mua trả chậm và ký nhận số nợ vào giấy nhận nợ dongười bán lập ra Những tờ giấy đó gọi là thương phiếu (kỳ phiếu thươngmại) Người bán cần vốn, họ đem những thương phiếu đó đến ngân hàng chiếtkhấu lấy vốn ngay để hoạt động Thương phiếu từ một công cụ nợ trở thànhcông cụ lưu thông tín dụng
Chiết khấu thương phiếu là sản phẩm tín dụng ngắn hạn trong đó kháchhàng chuyển nhượng quyền sở hữu thương phiếu chưa đến hạn cho ngân hàng
để nhận một số tiền bằng mệnh giá của thương phiếu trừ đi lợi tức và hoahồng chiết khấu Chiết khấu thương phiếu là một nghiệp vụ tín dụng cổ điểnnhưng đến nay vẫn được coi là một trong những kỹ thuật cấp tín dụng chủ yếucủa ngân hàng thương mại Là một hình thức cấp tín dụng gián tiếp, phát sinhsau quá trình sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp nên nó là một nghiệp
vụ tín dụng ít gặp rủi ro và không làm “đóng băng” tín dụng của ngân hàng,đồng thời tạo điều kiện cho ngân hàng thương mại xin cấp vốn ở ngân hàngtrung ương để củng cố năng lực thanh toán và mở rộng qui mô tín dụng trong
Trang 35những thời điểm cần thiết.
- Bao thanh toán (Factoring)
Bao thanh toán là một hợp đồng mà trong đó một tổ chức tín dụngchuyên nghiệp được gọi là “Factor” mua đứt các trái quyền của người cungcấp (người bán) đối với khách hàng của họ (người mua)
Ngân hàng Trung ương Pháp đưa ra định nghĩa: “Bao thanh toán là
chuyển nhượng các trái quyền thương mại từ người sở hữu nó sang một
“Factor” chịu trách nhiệm thu nợ và bảo đảm thanh toán ngay cả trong trường hợp người mắc nợ bị phá sản Factor có thể thanh toán trước một phần hay toàn bộ số tiền của các trái quyền đã chuyển nhượng”.
Do vậy, bao thanh toán vừa là phương thức thu nợ, vừa là một kỹ thuậtphòng tránh rủi ro và cũng có thể là một phương tiện để tài trợ cho những tráiquyền Bao thanh toán đặc biệt phù hợp với các doanh nghiệp thương mại vàcông nghiệp có màng lưới khách hàng rộng khắp, sản xuất và kinh doanh cáchàng hoá thông dụng, nó cũng thích hợp với các doanh nghiệp làm dịch vụkhông thể sử dụng hình thức chiết khấu
1.2.2.3 Cho thuê tài chính
Cho thuê tài chính là hình thức tài trợ vốn bằng cách ngân hàng giaođộng sản, bất động sản, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, dây chuyển sảnxuất, khách sạn, kho tàng cho khách hàng (người thuê) sử dụng Nói cáchkhác, cho thuê tài chính là hình thức tín dụng trung, dài hạn thông qua vịêccho thuê máy móc, thiết bị bất động sản và động sản
Để tiến hành nghiệp vụ cho thuê tài chính, ngân hàng mua các bất độngsản, động sản mà khách hàng cần thiết và đề nghị, sau đó cho họ thuê Ngườithuê có trách nhiệm trả dần giá trị tài sản theo hợp đồng đã thoả thuận vớingân hàng, sau đó được quyền mua lại tài sản hoặc được quyền thuê tiếp.Trong thời gian chưa trả hết nợ, tài sản vẫn thuộc quyền sở hữu của ngân
Trang 36hàng Khi thực hiện nghiệp vụ cho thuê tài chính, ngân hàng chỉ mua tài sản
và giao ngay cho khách hàng thuê nên không bị đọng vốn, vịêc giao tài sản lạiđuợc thực hiện trực tiếp giữa bên bán hàng và nguời đi thuê, ngân hàng khôngphải chịu trách nhiệm trực tiếp về tình trạng hoạt động tài sản Cho thuê tàichính là phuơng thức tín dụng đem lại hiệu quả cho cả ba bên: nguời đi thuêđuợc sử dụng tài sản ngay mà chỉ phải trả tiền dần với giá hạ; nguời bán hàngtiêu thụ đuợc sản phẩm; ngân hàng không bị đọng vốn và có thu nhập
Nhóm sản phẩm cho vay, hay còn gọi là tín dụng là nghiệp vụ sinh lờiquan trọng, chủ yếu của ngân hàng thuơng mại, không có cho vay thì cũngkhông còn ngân hàng thuơng mại, nên tín dụng luôn luôn tồn tại và phát triểncùng ngân hàng thuơng mại Kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu vốn chosản xuất, kinh doanh, cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngày càng nhiều, vìthế vai trò của tín dụng ngân hàng cũng ngày càng quan trọng và cần thiếthơn Nhung tín dụng là lĩnh vực kinh doanh có nhiều rủi ro, đã có rất nhiềungân hàng phải phá sản vì cho vay mà không thu đuợc nợ hoặc có tỷ lệ nợ
quá hạn lớn Vì vậy, bên cạnh việc phát triển sản phẩm về cho vay, các ngân
hàng thương mại đều thực hiện đa dạng hoá nghiệp vụ, đa dạng hoá các khoản mục tài sản có để phân tán bớt rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động.
1.2.3 Sản phẩm dịch vụ bảo lãnh
Dịch vụ bảo lãnh ngân hàng là sự cam kết của ngân hàng nhận bảolãnh, chịu trách nhiệm trả tiền thay cho nguời xin bản lãnh nếu nguời đókhông thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ đã thoả thuận với nguời đã thụhuởng bảo lãnh đã đuợc qui định cụ thể trong thu bảo lãnh
Mặc dù là một hoạt động ngoại bảng nhung bảo lãnh là một hình thứctín dụng Trong hình thức tín dụng này, ngân hàng không ứng tiền ra nên nó
là một nghiệp vụ tín dụng “tiềm tàng’ và có nhiều dạng: bảo lãnh ngân hàng,tín dụng chấp nhận
Trang 37- Bảo lãnh ngân hàng là một hình thức tín dụng rất quan trọng, vì nó là
điều kiện cần thiết để một số nguời đuợc mua hàng hoá, dịch vụ trả chậmnhằm giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh và tiêu dùng.Bảo lãnh của ngân hàng thuờng thể hiện duới dạng bảo chứng thuơng phiếuhoặc bảo lãnh trả ngay khi có yêu cầu do các ngân hàng phát hành
- Tín dụng chấp nhận, ngân hàng chấp nhận hối phiếu của nguời bán
đòi tiền chính ngân hàng và ngay truớc khi hối phiếu đến hạn khách hàng(nguời mua) phải nộp vào ngân hàng số tiền cần thiết để thanh toán Nhu vậy,
về nguyên tắc ngân hàng không phải chi vốn và việc chấp nhận này cho phépchủ nợ có một chứng từ đảm bảo đuợc thanh toán đầy đủ só tiền cho nợ
Dịch vụ bảo lãnh ra đời muộn hơn so với hình thức cho vay bằngtiền và chiết khấu, nó mới đuợc áp dụng giữa năm 1960, bắt đầu từ thịtruờng nội địa của Hoa Kỳ Tuy vậy, từ năm 1970 trở lại đây, bảo lãnhđuợc sử dụng rộng rãi trong giao dịch quốc tế giữa các nuớc và quan hệthuơng mại giữa các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế trong thị truờngnội địa Ngày nay, nghiệp vụ bảo lãnh rất thông dụng trong hoạt độngngân hàng, theo uỷ ban soạn thảo điều khoản sửa đổi Luật Thuơng mạiHoa Kỳ, đến cuối năm 1995 số thu bảo lãnh còn hiệu lực tại các ngânhàng Mỹ lên tới trên 500 tỷ USD
1.2.4 Sản phẩm dịch vụ thanh toán trong nước và quốc tế
Ngày nay có thể nói rằng dịch vụ thanh toán chiếm một vị trí quantrọng trong hoạt động của ngân hàng thuơng mại, nó tạo điều kiện cho nhiềudịch vụ ngân hàng khác phát triển, đồng thời nó là cơ sở để thực hiện thanhtoán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế Nhìn vào hệ thống thanh toán củamột ngân hàng nguời ta có thể đánh giá ngay đuợc hoạt động của ng ân hàng
đó có hiệu quả hay không, do vậy dịch vụ thanh toán của ngân hàng thuơngmại luôn đuợc cải tiến và áp dụng những công nghệ mới nhất
Trang 381.2.4.1 Thanh toán chuyển tiền trong nước
Thanh toán chuyển tiền là một dịch vụ, mà ngân hàng thực hiện lệnhcủa khách hàng thanh toán chuyển tiền từ ngân hàng đó đi nơi khác cho mộtngười nhất định, hay ngân hàng trích một khoản tiền từ tài khoản của kháchhàng theo lệnh của nó, để ghi có cho tài khoản của người khác và ngân hàngthu được một khoản phí nhất định
Để thực hiện yêu cầu thanh toán của khách hàng, ngân hàng sử dụngcác phương thức thanh toán và công cụ thanh toán không dùng tiền mặt sau:
Các phương thức thanh toán:
- Thanh toán trong nội bộ ngân hàng
- Thanh toán giữa các chi nhánh trong nội bộ một hệ thống
- Thanh toán liên ngân hàng và kho bạc trong phạm vi khu vực và quốcgia
Các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt gồm có: Ngân phiếu thanhtoán, séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ thanh toán,
1.2.4.2 Thanh toán - chuyển tiền quốc tế
Thanh toán quốc tế là việc chi trả các nghĩa vụ và yêu cầu về tiền tệphát sinh từ các quan hệ kinh tế, tài chính giữa các tổ chức kinh tế quốc tế,giữa các hãng, giữa các cá nhân của các nước khác nhau để kết thúc một chutrình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, bằng các hình thức chuyểntiền hay bù trừ trên các tài khoản tại các ngân hàng
Khác với thanh toán nội địa trên phạm vi một nước, thanh toán quốc tếthường gắn với việc chuyển đổi giữa đồng tiền của nước này sang đồng tiềncủa nước khác
Những phương thức thanh toán chuyển tiền quốc tế chủ yếu gồm:Thanh toán chuyển tiền bằng điện, Thanh toán nhờ thu, Thanh toán Thư tớndụng, Thanh toán ghi sổ, Thanh toán qua tài khoản treo ở nước ngoài
Các công cụ thanh toán quốc tế chủ yếu gồm có: Hối phiếu, Lệnh phiếu,
Trang 391.2.4.3 Thu hộ tiền thuế, tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại
Trên cơ sở các uỷ nhiệm chi, hoá đơn, hợp đồng nhờ thu hộ của các cơquan thuế điện lực, buu điện, nuớc ngân hàng sẽ thực hiện ghi nợ tài khoảncủa khách và ghi có tài khoản tiền gửi cho các cơ quan trên
1.2.4.4 Cung ứng các phương tiện thanh toán hiện đại
Phát hành và thanh toán các loại thẻ, thực hiện rút tiền tự động qua máyATM, Thẻ séc
Khách hàng cá nhân có tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản vãng lai ởngân hàng đảm bảo có số du khi thanh toán, nếu muốn sử dụng thẻ ngân hàng
sẽ cấp cho khách hàng một thẻ séc Tấm thẻ ghi rõ số tiền tối đa của thẻ, têncủa ngân hàng phát hành thẻ, mã số của chi nhánh phát hành, tên của kháchhàng sử dụng, số thẻ và ngày hết hạn của thẻ Thẻ đuợc sử dụng theo hai nộidung: rút tiền mặt tại các ngân hàng và “đảm bảo” cho việc thanh toán hànghoá và dịch vụ
Do khách hàng không phải ký quỹ hoặc không nhất thiết phải có đủ số
du trên tài khoản so với số tiền ghi trên thẻ, nên trong truờng hợp số tiền ghitrên séc lớn hơn số du trên tài khoản của khách, ngân hàng vẫn phải đảm bảothanh toán cho nguời thụ huởng, phần vuợt quá số du ngân hàng sẽ làm vịêc
và xử lý với chủ tài khoản sau Vì vậy, khi cấp phát thẻ séc, ngân hàng phảichọn lọc đối tuợng để đuợc cấp thẻ séc
Thẻ séc thuờng đuợc kết hợp với thẻ rút tiền tự động (ATM) và thẻthanh toán thành một thẻ đa năng
- Thẻ thanh toán (Debit Card)
Thẻ thanh toán hay còn gọi là “thẻ nợ” là một loại thẻ do ngân hàngphát hành Thẻ dùng để thanh toán hàng hoá và dịch vụ Nguời sử dụng thẻphải có tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản vãng lai thuờng xuyên có số du tạingân hàng phát hành thẻ Khách hàng có thể sử dụng thẻ để thanh toán, chi trả
Trang 40tiền mua hàng hoá, dịch vụ ở bất kỳ điểm bán hàng nào có đặt máy đọc thẻcủa ngân hàng, không phải trực tiếp đến ngân hàng hoặc chi nhánh Khi sửdụng thẻ để chi trả, lập tức tài khoản của người có thẻ sẽ bị ghi nợ và tàikhoản của người bán hàng hoá, dịch vụ sẽ được ghi có thông qua mạng máytính điện tử tự động.
- Thẻ tín dụng (Credit Card)
Thẻ tín dụng hay gọi là “thẻ có” cũng là một loại thẻ do ngân hàng pháthành Khi phát hành thẻ khách hàng không cần có số dư trên tài khoản tiềngửi mà được cấp một hạn mức tín dụng theo tài khoản thẻ tín dụng của họ.Thẻ tín dụng dùng để mua hàng hoá và các dịch vụ trả tiền sau Việc thanhtoán hàng hoá, dịch vụ được thực hiện tại những nơi có máy đọc thẻ và tại cácđiểm bán lẻ có các ký hiệu của loại thẻ tín dụng mà chúng chấp nhận
Hàng tháng, người có thẻ được nhận một bản báo cáo về các khoản
đã mua và cho trả, chủ thẻ có thể thanh toán toàn bộ các khoản này haythnah toán một phần và chuyển số tiền còn nợ trên thẻ sang tháng tới Cáckhoản nợ trên tài khoản thẻ tín dụng sẽ bị tính lãi Như vậy, thông thườngchủ thẻ được hưởng một khoản ưu đãi từ 10 - 60 ngày để thanh toán số tiền
đã sử dụng mà không phải trả lãi cho ngân hàng Khác với tín dụng thôngthường, với thẻ tín dụng, ngân hàng phát hành thẻ dễ dàng kiểm soát đượcviệc sử dụng vốn của chủ thẻ hoặc nếu cần có thể tịch thu thẻ thông qua hệthống các cơ sở chấp nhận thẻ rộng khắp, vì thế mặc dù mang bản chất tíndụng song độ rủi ro của thẻ tín dụng thấp hơn nhiều so với các hình thứctín dụng thông thường (Rủi ro của nó chủ yếu rơi vào trường hợp thẻ bịlàm giả ) Với tính năng ưu việt, gọn nhẹ, an toàn, tiện lợi, khả năng sinhlời cao , thẻ tín dụng luôn là mục tiêu phát triển của các ngân hàng Thẻtín dụng cũng có thể sử dụng để rút tiền tại các chi nhánh và ngân hàngkhác nếu được ngân hàng đó chấp nhận