BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ ĐỀ BÀI 3 “ Quy luật cạnh tranh – Lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” HỌ TÊN LÊ NGỌC KHÁNH HÒA LỚP 4420 NHÓM N10 TL04 MSSV 442055 Hà Nội, tháng 10 năm 2020 MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1 Quyền lực nhà nước QLNN 2 Quyền lực chính trị QLCT 3 Quyền lực nhân dân QLND 4 Khoa học kỹ thuật KHKT 5 Quan hệ xã hội QHXH 6 Bộ máy nhà nước BMNN 7 Quy phạm pháp luật QPPL 8 Quốc hội QH MỞ ĐẦU Trong bất kỳ giai đoạn nào, việc tổ chức thực hi.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN:
KINH TẾ CHÍNH TRỊ
ĐỀ BÀI 3: “ Quy luật cạnh tranh – Lý luận và thực tiễn ở Việt Nam”
HỌ TÊN: LÊ NGỌC KHÁNH HÒA
LỚP: 4420 - NHÓM: N10.TL04 MSSV: 442055
Hà Nội, tháng 10 năm 2020
Trang 2MỤC LỤC
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1.Quyền lực nhà nước QLNN
2.Quyền lực chính trị QLCT
3.Quyền lực nhân dân QLND
4.Khoa học kỹ thuật KHKT
7.Quy phạm pháp luật QPPL
Trang 5MỞ ĐẦU
Trong bất kỳ giai đoạn nào, việc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước luôn
là yếu tố có ý nghĩa, quyết định đến mục tiêu, hiệu quả của quyền lực nhà nước Do
đó, các nguyên tắc cơ bản để tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước là vấn đề rất quan trọng Vấn đề quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đã và đang được đưa ra để thảo luận rất nhiều
Trên cơ sở cô đọng nội dung bài viết “Bàn về tính thống nhất của quyền lực nhà nước và sự phân công, phối hợp trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” của tác giả Lê Minh Tâm trong “Tạp chí Luật học, số 5/2003 ,
chúng ta sẽ có những cái nhìn mới mẻ về vấn đề tổ chức quyền lực nhà nước và tìm
ra được điểm chung cũng như điểm riêng khi so sánh bài viết với bài viết “ Nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” của tác giả Nguyễn Minh Đoan trong “Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số
5/2007” Từ đó, em có thể rút ra nhận xét và đưa ra quan điểm của mình về “Nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các
cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” được qui định tại khoản 3, điều 2 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
NỘI DUNG
I. Tóm tắt nội dung bài viết “Bàn về tính thống nhất của quyền lực nhà
nước và sự phân công, phối hợp trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” của tác giả Lê Minh Tâm (Tạp chí Luật học, số
5/2003)
Vấn đề quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp đã và đang nhận được sự quan tâm rất lớn Bài viết dưới đây là góc nhìn của tác giả Lê Minh Tâm về một số khía cạnh của vấn đề nêu trên:
1. Quyền lực
Theo quan điểm của tác giả, quyền lực là sự hợp thành của quyền và lực, trong
đó quyền có nội dung rất rộng còn lực lại luôn có những giới hạn nhất định Do đó
nội hàm khái niệm quyền lực luôn giới hạn bởi mức độ kết hợp và tương tác giữa
quyền và lực Như vậy, có thể hiểu quyền lực là khả năng buộc người khác thực hiện những hành vi nhất định theo ý chí của người có quyền lực hoặc được trao
Trang 6quyền lực Khái niệm quyền lực vừa có tính khái quát, vừa có tính cụ thể do đó nó
vừa có chiều sâu bản chất thâm trầm, vừa có những biểu hiện hình thức phong phú; vừa thống nhất lại vừa đa dạng Có rất nhiều loại quyền lực và mỗi loại đều có nguồn gốc, cơ sở tồn tại, được bảo đảm bằng sức mạnh với các thiết chế khác nhau
2. Quyền lực nhà nước
Trước hết, quyền lực nhà nước là một dạng đặc biệt của quyền lực chính trị, nó
công khai, thống nhất, bao trùm toàn xã hội, đủ sức mạnh để kiểm soát và ràng
buộc các chủ thể phải phục tùng QLNN có 5 đặc điểm cơ bản Một là, QLNN chỉ xuất hiện khi xã hội đã phát triển đến trình độ nhất định – nhà nước ra đời Hai là,
cơ sở tồn tại của QLNN bao gồm nhiều yếu tố: được sự thừa nhận rộng rãi về mặt
xã hội; được hợp pháp hóa bởi các hình thức pháp lý; Ba là, phạm vi tác động của QLNN rất rộng lớn về không gian, thời gian, đối tượng Bốn là, QLNN có tính thống nhất cao đồng thời có tính thứ bậc phức tạp Năm là, QLNN được biểu hiện
công khai với danh nghĩa chủ quyền nhân dân, chủ quyền quốc gia và thừa nhận về mặt quốc tế Với tính chất và những đặc điểm nêu trên, mặc dù QLNN là một dạng đặc biệt của QLCT nhưng ở mức độ khác nhau, được kết tinh bằng các phương pháp đặc thù, biểu hiện dưới các hình thức phong phú, đa dạng, tinh tế và được hợp pháp hóa bằng các nguyên tắc pháp lý
3. Tính thống nhất của quyền lực nhà nước
Thống nhất là một thuộc tính cơ bản của nhà nước Về nguồn gốc, QLNN bắt
nguồn từ QLND, nhân danh QLND và chịu sự kiểm soát của QLND Khi chưa xuất hiện nhà nước thì đã có QLND, do đó, QLND là quyền lực cơ sở mà nhà nước cần
đặc biệt tôn trọng Có thể nói, QLNN là sức mạnh của QLND được hợp pháp hóa
dưới các hình thức pháp lý và được trao cho BMNN với các chủ thể xác định dưới hình thức ủy quyền Về bản chất và nguồn cội, QLNN là một chỉnh thể thống nhất, không thể chia cắt thành các bộ phận biệt lập Tuy nhiên, để tổ chức, quản lý và điều tiết các vấn đề của một quốc gia trên các lĩnh vực rộng lớn và phức tạp đòi hỏi BMNN phải được tổ chức một cách khoa học trên cơ sở pháp lý vững chắc Do đó việc phân định QLNN thành các bộ phận là cần thiết nhưng phải dựa trên cơ sở đảm bảo tính thống nhât và tính chỉnh thể của QLNN Khi QLNN trao cho các chủ thể bị tập trung quá mức hay phân tán không rõ ràng về mặt pháp lý sẽ dẫn đến chuyên quyền, lạm quyền, khó kiểm soát và QLNN không thể đảm bảo thực hiện Ngoài ra, QLNN có thực sự phục vụ lợi ích của chủ thể gốc là nhân dân hay không còn phụ thuộc rất lớn ở bản chất của chính đảng cầm quyền
Trang 7Tính thống nhất của QLNN là thuộc tính, còn tập trung hay phân tán là phương thức, cơ chế tổ chức và thực thi nội dung của quyền lực Do đó QLNN bao giờ cũng có tính thống nhất nhưng cơ chế tổ chức và thực thi quyền lực thì khác nhau Như vậy, tính thống nhất của QLNN là vấn đề có tính nguyên tắc và đảm bảo tính thống nhất của QLNN là yêu cầu mang tính khách quan
4. Sự phân định tương đối của quyền lực nhà nước
Sự phân định QLNN xuất phát từ nhu cầu có tính khách quan Khi quy mô nhà nước càng lớn, tình trạng chuyên quyền, độc đoán diễn ra ngày càng sâu sắc, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của KHKT, các QHXH ngày càng trở nên phức tạp QLNN cũng có những thay đổi về nội dung, hình thức và phương pháp tác động, nhu cầu tổ chức quyền lực một cách khoa học ngày càng cấp thiết, sự phân định QLNN được chấp nhận như giải pháp đáp ứng nhu cầu khách quan đó Mặt khác, BMNN là thiết chế lớn nhất, cơ cấu phức tạp do đó cần có sự phân công QLNN hợp lý để tránh độc đoán, lạm quyền, vi phạm chủ quyền nhân dân mà vẫn đảm bảo tính thống nhất Việc phân định QLNN là rất cần thiết tuy nhiên nó chỉ mang tính tương đối và sự phân định này nhìn chung chỉ áp dụng chủ yếu đối với những cơ
cấu của lớn QLNN Hiện nay, thuyết phân lập quyền lực chia thành ba nhánh: lập
pháp, hành pháp, tư pháp được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trên thế giới Tuy nhiên, mức độ và hiệu quả sử dụng các yếu tố của lý thuyết này là khác nhau, do đó cần xem xét sự phân định quyền lực một cách đầy đủ đặt trong một chỉnh thể thống nhất của QLNN và chú ý đến các yếu tố tác động bên ngoài
5 Sự giới hạn, tương tác giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và
sự cần thiết phải có sự phân công phối hợp trong việc thực hiện các quyền
Quyền lập pháp có thể hiểu là quyền làm ra pháp luật, là quyền lực thiêng liêng.
Quyền lập pháp được giao cho cơ quan đại diện cao nhất do nhân dân bầu ra (quốc hội, nghị viện), do đó quốc hội là cơ quan cao nhất của QLNN và được trao những quyền quan trọng với phạm vi tác động rộng lớn Xét về tổng thể, quyền lập pháp của quốc hội không có giới hạn vì trên mọi lĩnh vực đều cần có pháp luật điều chỉnh nhưng xét trên bình diện cụ thể, quyền lập pháp luôn có giới hạn của nó Trước hết là bởi những nguyên tắc pháp luật: Bảo đảm tính xác định pháp lí; tính phổ biến; tính công khai; tính ổn định tương đối; tính dự báo, kế thừa của pháp luật; tính hợp hiến, khả thi và cơ chế kiểm tra Mặt khác, do chịu tác động bởi tính tối cao của chủ quyền nhân dân nên quyền lực của quốc hội chỉ giới hạn trong phạm vi
Trang 8nhất định của hiến pháp, phối hợp hài hòa với quyền thuộc hành pháp và tư pháp bởi trên thực tế quốc hội không thể một mình thực hiện quyền lực
Quyền hành pháp được hiểu là quyền thi hành pháp luật, được giao cho các cơ
quan hành chính (chính phủ, các bộ…) Tuy nhiên do tính chất và đặc điểm đặc thù, quyền hành pháp được chia thành quyền chấp hành pháp luật và quyền hành chính chủ động, linh hoạt trong quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội Do đó, bộ máy hành pháp có phạm vi rất rộng lớn với cơ cấu lớn nhất được tổ chức theo những nguyên tắc đặc thù: bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tiến hành thường xuyên về thời gian, rộng lớn về không gian, tác động đến mọi
cá nhân, tổ chức; chức năng quản lí rộng lớn, xyên suốt mọi lĩnh vực và phải phù hợp với hiến pháp nhưng phải đủ năng lực để giải quyết tất cả các vấn đề nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả, chủ động, sáng tạo; chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; chức năng tổ chức thực thi pháp luật để đảm bảo pháp luật được tôn trọng; chức năng lập quy, ban hành các văn bản QPPL; chức năng kiểm tra, thanh tra, xem xét vi phạm của công dân hoặc nhân viên của bộ máy nhà nước; chức năng tổ chức bộ máy hành pháp…
Quyền tư pháp là quyền tài phán và được giao cho tòa án Cơ quan thực hành
quyền tư pháp được được đặc trưng bởi tính độc lập của tòa án – khi xét xử chỉ tuân theo pháp luật và các quy tắc pháp lý Tuy nhiên, trên thực tế điều đó dường như không thể có được, những nguyên tắc đó tựa hồ chỉ là mô hình lý tưởng Tòa án có quyền phán xét về tính hợp hiến của những đạo luật do cơ quan lập pháp đặt ra cũng như tính hợp pháp của các văn bản dưới luật cũng như hành vi hợp pháp của
cơ quan hành pháp
Tóm lại, ba nhánh quyền nêu trên là những bộ phận của QLNN Mỗi bộ phận đều có sự độc lập nhất định những giữa chúng luôn có sự tác động qua lại, đan xen, hòa quyện với nhau Việc phân chia rạch ròi mỗi bộ phận của QLNN chỉ là mặt lý thuyết còn trên thực tiễn không thể thực hiện được Vì vậy, giải pháp tốt nhất và có
ý nghĩa thực tiễn nhất là trên cơ sở xác định rõ tính chất, đặc điểm, nội dung, hình thức và phương pháp biểu hiện đặc thù của mỗi loại quyền lực để tìm ra mức độ hợp lí trong việc phân công và phối hợp thực hiện có hiệu quả nhất mỗi loại quyền nói trên và QLNN nói chung
II So sánh điểm giống và khác nhau trong cách hiểu về “tính thống nhất của quyền lực nhà nước; sự phân công, phối hợp trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” giữa tác giả Lê Minh Tâm qua
bài viết trên và tác giả Nguyễn Minh Đoan trong bài viết “Nguyên tắc
Trang 9quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”
(Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5/2007 )
1 Điểm giống và khác nhau trong cách hiểu về tính thống nhất của quyền
lực nhà nước
1.1 Điểm giống nhau
Cả hai tác giả đều cho rằng sự thống nhất của quyền lực nhà nước xuất phát từ quyền lực nhân dân, nhà nước nhận quyền lực từ nhân dân – một khối thống nhất, tạo nên khả năng thống nhất vô cùng to lớn trong dời sống xã hội Không những vậy, sự thống nhất của quyền lực nhà nước còn bắt nguồn từ bản thân nhà nước là một chỉnh thể thống nhất không thể tách rời Ngoài ra tính thống nhất của QLNN còn đảm bảo việc quản lý toàn diện, có hệ thống các mặt quan trọng của đời sống xã hội
Mặt khác, khi QLNN bị tập trung quá mức hoặc phân tán không hợp lý sẽ dẫn tới gia tang tình trạng lạm quyền, tùy tiện, khó kiểm soát Mặt khác, sức mạnh khi bị phân tán tất sẽ yếu và không thể đảm bảo việc thực hiện hiệu quả QLNN Do đó việc đảm bảo tính thống nhất của QLNN góp phần tránh tình trạng tập trung quan liêu cũng như phân tán, cục bộ, phân quyền cát cứ trong thực hiện QLNN
1.2 Điểm khác nhau
Ngoài những điểm chung đã nêu trên, tác giả Lê Minh Tâm còn chỉ ra rằng chính sự tương tác giữa quyền và lực, tính chất, đặc điểm của QLNN đã đòi hỏi QLNN phải được tổ chức một cách thống nhất Sức mạnh khi bị phân tán tất sẽ yếu và không thể bảo đảm việc thực hiện hiệu quả một cách tối đa QLNN do đó cần phải có sự thống nhất
Trong khi đó, tác giả Nguyễn Minh Đoan lại nhận thấy, nguồn gốc của sự thống nhất QLNN còn xuất phát từ sự phân công lao động, quản lý xã hội cả về chiều ngang (các bộ phận chuyên trách) và chiều dọc (các cơ quan từ trung ương xuống địa phương)
2 Điểm giống và khác nhau trong cách hiểu về sự phân công, phối hợp
thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
2.1 Điểm giống nhau:
Cả hai tác giả đều nhận thấy rằng, sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện QLNN chỉ mang tính tương đối Ngoài ra, việc phân công QLNN hạn chế được sự độc đoán, chuyên quyền, lạm dụng quyền lực
Trang 10trong bộ máy nhà nước Hiện nay, QLNN được phân định thành ba nhánh quyền chủ yếu: lập pháp, hành pháp, tư pháp
2.2 Điểm khác nhau:
Nếu như tác giả Lê Minh Tâm chỉ nêu lên những mặt tích cực của sự phân công, phối hợp thực hiện QLNN thì tác giả Nguyễn Minh Đoan, ngoài việc chỉ
ra rằng sự phân công, phối hợp thực hiện QLNN có những đóng góp tích cực nhằm tăng tính hiệu quả của QLNNcòn thấy được chủ thể nào sẽ thực hiện vấn
đề phân công QLNN ( một mặt nhân dân thông qua Hiến pháp để phan công thực hiện QLNN; mặt khác ở tầm vi mô, sẽ thực hiện theo cơ chế cùng phối hợp, hiệp thương để phân công) Ngoài ra, tác giả Nguyễn Minh Đoan còn chỉ ra những hạn chế khi sự phân công không rõ ràng sẽ dẫn đến việc quy định nhiệm
vụ, quyền hạn của các cơ quan không chặt chẽ, không quy kết được trách nhiệm
và gây khó khăn trong việc phối hợp giữa các cơ quan
III Quan điểm của cá nhân về nội dung qui định tại khoản 3, Điều 2
Hiến pháp Việt Nam năm 2013: “Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.
Hiện nay, tổ chức bộ máy nhà nước nước ta về bản chất vẫn bảo đảm tính tập quyền xã hội đồng thời có vận dụng các hạt nhân hợp lý của thuyết phân quyền, nghĩa là nhấn mạnh đến khía cạnh phân công, phối hợp chứ không dồn toàn bộ về Quốc Hội như trước Khoản 3, Điều 2 Hiến Pháp Việt Nam năm
2013 quy định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” Có thể thấy rằng, nguyên tắc này vừa là vấn đề khoa học, vừa là vấn đề thực tiễn phức tạp và nhạy cảm
Thống nhất quyền lực nhà nước là vấn đề có tính nguyên tắc, bất di bất dịch Tuy nhiên để đảm bảo tính thống nhất đó thì phải phân công, phân nhiệm
rõ chức năng, nhiệm vụ của từng hệ cơ quan trong việc thực hiện quyền lực nhà nước Ở đây, những yếu tố hợp lý của thuyết “tam quyền phân lập” đã được Đảng ta tiếp thu và nâng lên thành lý luận về sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nước nhằm đảm bảo nâng cao hiệu quả và hiệu lực của bộ maý nhà nước.1
Thực tế cho thấy, nếu không có sự phân công quyền lực thì không thể quy trách nhiệm cho cơ quan cụ thể nào, từ đó dẫn đến tình trạng các cơ quan ỷ lại và đùn đẩy trách nhiệm cho nhau Nhưng, kể từ khi Hiến pháp ghi nhận sự phân công, phối hợp QLNN thì các cơ quan nhà nước buộc phải tự hoàn thiện mình để đáp ứng yêu cầu công việc
Tuy nhiên trong vấn đề thống nhất có sự phân công, phối hợp thực hiện QLNN vẫn tồn tại khá nhiều hạn chế: Quốc hội vẫn được coi là cơ quan quyền lực cao nhất, là trung tâm của bộ máy nhà nước; ngoài thực hiện quyền lập pháp,