MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Hội nhập, cạnh tranh và sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ trong những thập kỷ qua đã tác động mạnh mẽ đến hệ thống phân phối trên toàn thế giới, tạo ra sự biến đổi nhanh chóng về công nghệ trong lĩnh vực vận tải, lưu kho và dịch vụ khách hàng. Quá trình vận tải đã gắn kết chặt chẽ với quá trình sản xuất và lưu thông trong một chuỗi cung ứng liên hoàn. Doanh nghiệp logistics ra đời và phát triển nhằm đáp ứng quá trình phân phối và lưu thông hàng hoá trên toàn cầu, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, bố trí hợp lý nguồn tài nguyên và nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế. Đối với nền kinh tế quốc dân, doanh nghiệp logistics đóng một vai trò quan trọng không thể thiếu trong sản xuất, phân phối và lưu thông. Các nghiên cứu gần đây cho thấy, chỉ riêng hoạt động logistics đã chiếm từ 10 đến 15% GDP của hầu hết các nước tại Châu Âu, Bắc Mỹ và Châu Á Thái Bình Dương. Tại Việt Nam, theo số liệu của Bộ Công Thương, năm 2018 ngành logistics Việt Nam tăng trưởng khoảng 12-14% so với năm 2017. Theo một nghiên cứu của Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), năm 2016, số lượng công ty dịch vụ logistics là 22.366, trong đó 3.473 là các công ty tham gia hoạt động quốc tế. Đến năm 2018, con số tương ứng này là khoảng 30,000 (tăng khoảng 30%) doanh nghiệp và 4000 công ty giao nhận - logistics quốc tế (tăng khoảng 15%). Tiềm năng và cơ hội để ngành logistics Việt Nam phát triển hơn nữa trong thời gian tới là rất lớn, sự phát triển của ngành logistics sẽ tạo điều kiện để Việt Nam nhanh chóng trở thành một trung tâm sản xuất mới có khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực. Mặc dù nhận thức được tầm quan trọng, cơ hội phát triển nhưng hiện nay các doanh nghiệp logistics trên địa bàn Thành phố Hà Nội đang gặp rất nhiều trở ngại như hạ tầng cơ sở logistics còn nghèo nàn, bố trí bất hợp lý, và đặc biệt là vấn đề tổ chức quản lý doanh nghiệp logistics của Sở Công Thương còn nhiều hạn chế. Có thể kể đến một số vấn đề đang nổi cộm như: thiếu sự hợp tác và phối hợp giữa Sở Công Thương Hà Nội với các cơ quan ban ngành khác; công tác triển khai các văn bản pháp luật liên quan đến DN logistics của Sở Công Thương chưa hiệu quả; sự hỗ trợ các DN logistics phát triển chưa được quan tâm đúng mực… Bên cạnh đó, quản lý nhà nước (QLNN) đối với doanh nghiệp là vấn đề có nội dung rộng, liên quan đến nhiều chủ thể. Trên thực tế ở Hà Nội hiện nay, việc cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp logistics cũng như việc quản lý doanh nghiệp sau thành lập được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau như UBND thành phố, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương, Sở Giao Thông Vận Tải và các Sở chuyên ngành, Ban quản lý các khu công nghiệp và khu chế xuất. Do đó, việc QLNN đối với doanh nghiệp logistics không được thực hiện thống nhất, còn có sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan, công tác QLNN đối với doanh nghiệp chưa đạt hiệu quả cao. Vì vậy, việc nghiên cứu về doanh nghiệp logistics và QLNN đối với doanh nghiệp logistics trên địa bàn thành phố Hà Nội là yêu cầu cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng. Xuất phát từ các lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý nhà nước của Sở Công Thương Hà Nội đối với các doanh nghiệp logistics” để làm luận văn thạc sĩ kinh tế, với hy vọng sẽ có thể đóng góp được một phần vào sự phát triển của các doanh nghiệp logistics thông qua một số đề xuất hoàn thiện QLNN đối với loại hình doanh nghiệp này. 2.Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2.1.Mục tiêu tổng quát Đánh giá được thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước của Sở Công Thương Hà Nội đối với hệ thống các doanh nghiệp logistics trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay. 2.2.Mục tiêu cụ thể -Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về quản lý nhà nước của Sở Công Thương đối với doanh nghiệp logistics. -Nhận diện được các nhân tố tác động đến quản lý nhà nước của Sở Công Thương đối với doanh nghiệp logistics. -Phân tích thực trạng và rút ra các kết luận, đánh giá về thực trạng quản lý nhà nước của Sở Công Thương Hà Nội đối với các doanh nghiệp logistics hiện nay. -Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước của Sở Công Thương Hà Nội đối với các doanh nghiệp logistics trên địa bàn Hà Nội trong thời gian tới. 3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1.Đối tượng nghiên cứu Những vấn để lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước của Sở Công Thương đối với các doanh nghiệp logistics. 3.2.Phạm vi nghiên cứu -Về không gian: Luận văn nghiên cứu các doanh nghiệp logistics hoạt động trên địa bàn thành phố Hà Nội và hoạt động quản lý nhà nước của Sở Công Thương Hà Nội đối với các doanh nghiệp này. -Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp logistics từ năm 2015-2019, giải pháp đến năm 2025. -Về nội dung: Luận văn nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp logistics thông qua: nội dung QLNN đối với DN logistics của Sở Công Thương Hà Nội và sự phân công phân cấp trong quản lý đối với DN logistics của chính quyền địa phương, Sở Công Thương Hà Nội. Từ đó đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước của Sở Công Thương Hà Nội đối với doanh nghiệp logistics hướng đến năm 2025, tầm nhìn năm 2030. 4.Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp định tính và phương pháp định lượng. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, dự báo để thu thập và xử lý số liệu liên quan, cụ thể là: -Phương pháp thu thập số liệu Luận văn thu thập số liệu và sử dụng nguồn số liệu thứ cấp phục vụ cho nghiên cứu đề tài. Được thu thập và tổng hợp từ các cơ quan quản lý và các cơ quan chức năng của Sở Công Thương Hà Nội, Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội, các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan, các doanh nghiệp logistics, các thông tin tổng hợp của tác giả, về các nội dung liên quan: (i) Báo cáo logistics Việt Nam năm 2017, 2018, 2019; (ii) Sách Trắng VLA năm 2018.” -Phương pháp tổng hợp tài liệu Các tài liệu sau khi thu thập được tiến hành chọn lọc, hệ thống hoá để tính toán các chỉ tiêu phù hợp cho việc phân tích đề tài. Các công cụ và kỹ thuật tính toán được xử lý trên chương trình Excel, kết hợp với phương pháp phân tích thống kê mô tả để phản ánh tiêu chí đánh giá công tác quản lý nhà nước đối với các đối với các doanh nghiệp logistics thông qua các số tuyệt đối, số tương đối và số bình quân, được thể hiện thông qua các bảng biểu số liệu, sơ đồ.” -“Phương pháp phân tích, xử lý số liệu + Phương pháp phân tổ thống kê, mô tả: Là phương pháp căn cứ vào một hay một số tiêu thức nào đó để tiến hành phân tích các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu thành các tổ có tính chất giống nhau. Dùng phương pháp số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân, dãy số thời gian và chỉ số dùng để phân tích số liệu và đánh giá cho hầu hết các chỉ tiêu nghiên cứu. + Phương pháp phương pháp đồ thị và phương pháp bảng thống kê để tổng hợp: Đề tài sử dụng hệ thống các loại đồ thị toán học (đồ thị hình cột, đồ thị tổng hợp, …) và những bảng thống kê số liệu theo chiều dọc và chiều ngang mô tả hiện trạng quản lý nhà nước đối với các đối với các doanh nghiệp logistics trên địa bàn thành phố Hà Nội và tác động của các nhân tố tới quản lý nhà nước đối với các đối với các doanh nghiệp này theo thời gian. + Phương pháp đánh giá và so sánh: Là phương pháp xem xét các chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa trên việc so sánh số liệu với một chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêu gốc). Điều kiện so sánh là: các chỉ tiêu so sánh phải cùng nội dung kinh tế, đơn vị đo lường, phương pháp tính toán. + Phương pháp so sánh có 2 hình thức: So sánh tuyệt đối và so sánh tương đối. So sánh tuyệt đối dựa trên hiệu số của hai chỉ tiêu so sánh là chỉ tiêu kỳ phân tích và chỉ tiêu cơ sở. So sánh tương đối là tỷ lệ (%) của chỉ tiêu kỳ phân tích so với chỉ tiêu gốc để thể hiện mức độ hoàn thành hoặc tỷ lệ của số chênh lệch tuyệt đối với chỉ tiêu gốc để nói lên tốc độ tăng trưởng.” 5.Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được kết 11cấu gồm ba chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về quản lý nhà nước của Sở Công Thương đối với các doanh nghiệp logistics Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước của Sở Công Thương Hà Nội đối với các doanh nghiệp logistics Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước của Sở Công Thương Hà Nội đối với các doanh nghiệp logistics.
Trang 1- -VŨ THỊ HỒNG MAI
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA SỞ CÔNG THƯƠNG HÀ NỘI
ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP LOGISTICS
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
HÀ NỘI – 2020
Trang 2- -VŨ THỊ HỒNG MAI
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA SỞ CÔNG THƯƠNG HÀ NỘI
ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP LOGISTICS
CHUYÊN NGÀNH: LOGISTICS
Mã ngành: 8340101
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS ĐẶNG ĐÌNH ĐÀO
HÀ NỘI – 2020
Trang 3Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Học Viên
Vũ Thị Hồng Mai
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN i
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA SỞ CÔNG THƯƠNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP LOGISTICS 6 1.1 Khái quát về doanh nghiệp logistics và vai trò của nó trong hệ thống các doanh nghiệp 6
1.1.1 Khái quát về doanh nghiệp logistics 61.1.2 Vai trò của doanh nghiệp logistics trong hệ thống các doanh nghiệp 13
1.2 Quản lý nhà nước của Sở Công Thương đối với các doanh nghiệp logistics 16
1.2.1 Sự cần thiết của QLNN của chính quyền địa phương, Sở Công Thươn đốivới các doanh nghiệp logistics 161.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của Sở Công Thương trong lĩnh vực quản lý thươngmại và dịch vụ logistics 191.2.3 Nội dung QLNN của Sở Công Thương đối với các DN logistics 231.2.4 Phân công phân cấp trong QLNN của chính quyền địa phương, Sở CôngThương đối với doanh nghiệp logistics 26
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến QLNN của sở Công Thương đối với các doanh nghiệp logistics 27
1.3.1 Các nhân tố chủ quan 271.3.2 Các nhân tố khách quan 30
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA SỞ CÔNG THƯƠNG HÀ NỘI ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP LOGISTICS 37 2.1 Quá trình phát triển và đặc điểm của hệ thống doanh nghiệp logistics trên
Trang 52.1.2 Đặc điểm hệ thống các DN logistics trên địa bàn TP Hà Nội 41
2.2 Thực trạng QLNN của sở Công Thương Hà Nội đối với các DN logistics 57
2.2.1 Nội dung QLNN của sở Công Thương Hà Nội đối với các DN logistics 57
2.2.2 Phân công phân cấp trong quản lý của chính quyền đia phương, Sở Công Thương Hà Nội đối với các doanh nghiệp logistics 75
2.3 Đánh giá khái quát về QLNN của Sở Công Thương Hà Nội đối với các doanh nghiệp logistics 78
2.3.1 Những kết quả đạt được 78
2.3.2 Những hạn chế 80
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 83
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA SỞ CÔNG THƯƠNG HÀ NỘI ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP LOGISTICS 86 3.1 Mục tiêu, định hướng phát triển hoạt động logistics trên địa bàn TP Hà Nội đến năm 2025, tầm nhìn 2030 và yêu cầu đặt ra trong QLNN đối với các doanh nghiệp logistics 86
3.1.1 Mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế xã hội TP Hà Nội đến năm 2030 86 3.1.2 Mục tiêu, định hướng phát triển hoạt động logistics trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2025, tầm nhìn 2030 89
3.1.3 Yêu cầu đặt ra trong QLNN đối với các doanh nghiệp logistics trên địa bàn Thành phố Hà Nội 93
3.2 Phương hướng hoàn thiện QLNN của sở Công Thương Hà Nội đối với các doanh nghiệp logistics 94
3.3 Giải pháp hoàn thiện QLNN của sở Công Thương Hà Nội đối với các doanh nghiệp logistics 96
3.3.1 Giải pháp hoàn thiện nội dung QLNN của sở Công Thương Hà Nội đối với các doanh nghiệp logistics 96 3.3.2 Giải pháp đẩy mạnh phân công phân cấp trong QLNN của các Sở ban
Trang 6QLNN của sở Công Thương đối với các doanh nghiệp logistics 103
3.4.1 Kiến nghị đối với Chính phủ 103
3.4.2 Kiến nghị đối với Bộ Công Thương, Bộ Giao Thông Vận Tải 105
3.4.3 Kiến nghị đối với chính quyền Thành phố Hà Nội 107
KẾT LUẬN 109 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Từ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
ĐH KTQD Đại học Kinh tế quốc dân
TTHQĐT Thủ tục hải quan điện tử
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒBẢNG:
Bảng 2.1: Số lượng DN Logistics và các DN hoạt động trong lĩnh vực liên quan đến
logistics trên địa bàn TP Hà Nội giai đoạn 2015 - 2019 40Bảng 2.2: Số lượng DN logistics cung cấp dịch vụ phân phối trên địa bàn TP Hà
Nội giai đoạn 2015-2019 41Bảng 2.3: Số lượng siêu thị, trung tâm thương mại trên địa bàn TP Hà Nội 42Bảng 2.4: Tổng mức bán lẻ hàng hóa thành phố Hà Nội thời kỳ 2015-2019 43Bảng 2.5: Số lượng DN logistics cung cấp dịch vụ vận tải, hỗ trợ vận tải trên địa bàn TP
Trang 8đoạn 2015-2019 45Bảng 2.7: Khối lượng hàng hóa luân chuyển trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai
đoạn 2015 - 2019 48Bảng 2.8: Tổng doanh thu của các DN cung cấp dịch vụ kho bãi trên địa bàn TP Hà
Nội giai đoạn 2015-2019 49Bảng 2.9: Đánh giá của nhà quản lý về thực trạng thực hiện thủ tục hải quan trên địa
bàn TP Hà Nội hiện nay 51Bảng 2.10: Đánh giá năng lực các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistic của Hà Nội
trong giai đoạn hiện nay 55Bảng 2.11: Số lượng văn bản, thông báo do Sở Công Thương ban hành nhằm triển
khai, hướng dẫn các DN logistics tuân thủ quy định pháp luật 58Bảng 2.12: Một số buổi hội nghị/ tập huấn Sở Công Thương Hà Nội tổ chức 60Bảng 2.13: Một số văn bản UBND Thành phố Hà Nội đã ban hành, có sự tham mưu
của Sở Công Thương 63Bảng 2.14: Một số đề án/ kế hoạch do Sở Công Thương Hà Nội trực tiếp hoặc tham
gia xây dựng 66Bảng 2.15: Những vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại ở Hà Nội giai
đoạn 2017 – 2019 74
BIỂU ĐỒ:
Biểu đồ 2.1: Đánh giá của nhà quản lý về thực trạng thực hiện thủ tục hải quan trên địa bàn
TP Hà Nội hiện nay 53Biểu đồ 2.2 Đánh giá của các nhà quản lý về năng lực các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ
logistics trên địa bàn Hà Nội hiện nay 56
Trang 9- -VŨ THỊ HỒNG MAI
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA SỞ CÔNG THƯƠNG HÀ NỘI
ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP LOGISTICS
CHUYÊN NGÀNH: LOGISTICS
Mã ngành: 8340101
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI – 2020
Trang 10TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tính cấp thiết của đề tài
Mặc dù nhận thức được tầm quan trọng, cơ hội phát triển nhưng hiện nay cácdoanh nghiệp logistics trên địa bàn Thành phố Hà Nội đang gặp rất nhiều trở ngạinhư hạ tầng cơ sở logistics còn nghèo nàn, bố trí bất hợp lý, và đặc biệt là vấn đề tổchức quản lý doanh nghiệp logistics của Sở Công Thương còn nhiều hạn chế ViệcQLNN đối với doanh nghiệp logistics không được thực hiện thống nhất, còn có sựchồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan, công tác QLNN đối vớidoanh nghiệp chưa đạt hiệu quả cao Vì vậy, việc nghiên cứu về doanh nghiệplogistics và QLNN đối với DN logistics trên địa bàn thành phố Hà Nội là yêu cầucấp thiết và có ý nghĩa quan trọng Xuất phát từ các lý do nêu trên, tác giả chọn đềtài: “Quản lý nhà nước của Sở Công Thương Hà Nội đối với các doanh nghiệplogistics” để làm luận văn thạc sĩ kinh tế, với hy vọng sẽ có thể đóng góp được mộtphần vào sự phát triển của các DN logistics thông qua một số đề xuất hoàn thiệnQLNN đối với loại hình doanh nghiệp này
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn nhằm làm rõ cơ sở lý luận về quản lý nhànước của Sở Công Thương đối với hệ thống DN logistics, đánh giá thực trạng và đềxuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước của Sở Công Thương Hà Nội đối với hệthống các doanh nghiệp logistics hiện nay
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Những vấn để lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước của Sở Công Thươngđối với các doanh nghiệp logistics
Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu các doanh nghiệp logistics hoạt động
trên địa bàn thành phố Hà Nội và hoạt động quản lý nhà nước của Sở Công Thương
Hà Nội đối với các doanh nghiệp này
Trang 11- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước đối với
các doanh nghiệp logistics từ năm 2015-2019, giải pháp đến năm 2025
- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước đối với các
doanh nghiệp logistics thông qua: nội dung QLNN đối với DN logistics của SởCông Thương Hà Nội và sự phân công phân cấp trong quản lý đối với DN logisticscủa chính quyền địa phương, Sở Công Thương Hà Nội Từ đó đề xuất phươnghướng, giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước của Sở Công Thương Hà Nội đối vớidoanh nghiệp logistics hướng đến năm 2025, tầm nhìn năm 2030
Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, luận văn sử dụngchủ yếu phương pháp định tính và phương pháp định lượng Ngoài ra, luận văn cònsử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, dự báo để thu thập và xử lý số liệuliên quan
Những đóng góp của luận văn
Những đóng góp về mặt lý luận
Thứ nhất, luận văn đưa ra quan điểm về QLNN đối với DN logistics như sau:
QLNN đối với DN logistics là sự tác động có chủ đích, có tổ chức và bằng phápquyền của Nhà nước lên các hoạt động của các tổ chức trong hệ thống doanh nghiệplogistics nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước,các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế nhất định đối vớikhối doanh nghiệp logistics nằm trong tổng thể nền kinh tế quốc gia, trong điều kiệnhội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế
Thứ hai, luận văn đã đưa ra nội dung QLNN của Sở Công Thương đối với
các doanh nghiệp logistics gồm 04 nội dung:
- Một là triển khai thực hiện các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý
nhà nước về logistics và doanh nghiệp logistics
- Hai là tham mưu giúp UBND tỉnh, thành phố ban hành các quy định,
chính sách và xây dựng những quy hoạch, kế hoạch, đề án về phát triển và quản lýnhà nước đối với doanh nghiệp logistics
Trang 12- Ba là thực hiện chính sách hỗ trợ, tạo lập môi trường kinh doanh đối với
doanh nghiệp logistics theo định hướng và mục tiêu của chiến lược, quy hoạch và
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
- Bốn là kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện quy định pháp luật của
các doanh nghiệp logistics
Thứ ba, luận văn đã chỉ ra vấn đề phân công phân cấp trong QLNN của
chính quyền địa phương, Sở Công Thương đối với doanh nghiệp logistics
Những phát hiện, đề xuất rút ra được từ kết quả nghiên cứu của luận văn
Thứ nhất, luận văn cung cấp một cách hệ thống đặc điểm phát triển của các
DN logistics trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2016-2019 dựa trên những
dữ liệu mới nhất đã được công bố
Thứ hai, luận văn đã tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng QLNN của Sở
Công Thương Hà Nội đối với DN logistics hiện nay theo 02 nội dung: Nội dungQLNN của Sở Công Thương Hà Nội đối với DN logistics và Sự phân công phâncấp trong quản lý của chính quyền địa phương, Sở Công Thương Hà Nội đối với
DN logistics Từ đó rút ra được những kết quả Sở Công Thương Hà Nội đã đạtđược và cả những điểm còn hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế
Thứ ba, dựa trên cơ sở các kết luận, đánh giá và các văn bản về đường lối,
chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển DN logisics trên địabàn Thành phố Hà Nội, luận văn đưa ra phương hướng và đề xuất các nhóm giảipháp nhằm hoàn thiện công tác QLNN của Sở Công Thương Hà Nội đối với DNlogistics theo hướng thúc đẩy phát triển kinh tế ổn định và lâu dài đến năm 2030 vàtầm nhìn 2050
Trong khuôn khổ của luận văn này tác giả chỉ đưa ra được những vấn đề cơbản nhất Với thời gian hạn chế, luận văn không tránh khỏi những sai sót Tác giảcũng rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các nhà khoa học để đề tài có thểđược hoàn thiện tốt nhất nhằm đưa việc nghiên cứu của tác giả đi vào thực tiễn gópphần phát triển kinh tế của thành phố Hà Nội trong sự phát triển chung của nền kinh
tế của cả nước
Trang 13- -VŨ THỊ HỒNG MAI
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA SỞ CÔNG THƯƠNG HÀ NỘI
ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP LOGISTICS
CHUYÊN NGÀNH: LOGISTICS
Mã ngành: 8340101
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS ĐẶNG ĐÌNH ĐÀO
HÀ NỘI – 2020
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập, cạnh tranh và sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệtrong những thập kỷ qua đã tác động mạnh mẽ đến hệ thống phân phối trên toàn thếgiới, tạo ra sự biến đổi nhanh chóng về công nghệ trong lĩnh vực vận tải, lưu kho vàdịch vụ khách hàng Quá trình vận tải đã gắn kết chặt chẽ với quá trình sản xuất vàlưu thông trong một chuỗi cung ứng liên hoàn Doanh nghiệp logistics ra đời vàphát triển nhằm đáp ứng quá trình phân phối và lưu thông hàng hoá trên toàn cầu,góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, bố trí hợp lý nguồn tài nguyên vànâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế Đối với nềnkinh tế quốc dân, doanh nghiệp logistics đóng một vai trò quan trọng không thểthiếu trong sản xuất, phân phối và lưu thông Các nghiên cứu gần đây cho thấy, chỉriêng hoạt động logistics đã chiếm từ 10 đến 15% GDP của hầu hết các nước tạiChâu Âu, Bắc Mỹ và Châu Á Thái Bình Dương Tại Việt Nam, theo số liệu của BộCông Thương, năm 2018 ngành logistics Việt Nam tăng trưởng khoảng 12-14% sovới năm 2017 Theo một nghiên cứu của Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ LogisticsViệt Nam (VLA), năm 2016, số lượng công ty dịch vụ logistics là 22.366, trong đó3.473 là các công ty tham gia hoạt động quốc tế Đến năm 2018, con số tương ứngnày là khoảng 30,000 (tăng khoảng 30%) doanh nghiệp và 4000 công ty giao nhận -logistics quốc tế (tăng khoảng 15%) Tiềm năng và cơ hội để ngành logistics ViệtNam phát triển hơn nữa trong thời gian tới là rất lớn, sự phát triển của ngànhlogistics sẽ tạo điều kiện để Việt Nam nhanh chóng trở thành một trung tâm sảnxuất mới có khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực
Mặc dù nhận thức được tầm quan trọng, cơ hội phát triển nhưng hiện nay cácdoanh nghiệp logistics trên địa bàn Thành phố Hà Nội đang gặp rất nhiều trở ngạinhư hạ tầng cơ sở logistics còn nghèo nàn, bố trí bất hợp lý, và đặc biệt là vấn đề tổchức quản lý doanh nghiệp logistics của Sở Công Thương còn nhiều hạn chế Cóthể kể đến một số vấn đề đang nổi cộm như: thiếu sự hợp tác và phối hợp giữa SởCông Thương Hà Nội với các cơ quan ban ngành khác; công tác triển khai các văn
Trang 15bản pháp luật liên quan đến DN logistics của Sở Công Thương chưa hiệu quả; sự hỗtrợ các DN logistics phát triển chưa được quan tâm đúng mực… Bên cạnh đó, quản
lý nhà nước (QLNN) đối với doanh nghiệp là vấn đề có nội dung rộng, liên quanđến nhiều chủ thể Trên thực tế ở Hà Nội hiện nay, việc cấp giấy chứng nhận đăng
ký doanh nghiệp logistics cũng như việc quản lý doanh nghiệp sau thành lập đượcthực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau như UBND thành phố, Sở Kế hoạch và Đầu
tư, Sở Công Thương, Sở Giao Thông Vận Tải và các Sở chuyên ngành, Ban quản lýcác khu công nghiệp và khu chế xuất Do đó, việc QLNN đối với doanh nghiệplogistics không được thực hiện thống nhất, còn có sự chồng chéo về chức năng,nhiệm vụ giữa các cơ quan, công tác QLNN đối với doanh nghiệp chưa đạt hiệu quảcao Vì vậy, việc nghiên cứu về doanh nghiệp logistics và QLNN đối với doanhnghiệp logistics trên địa bàn thành phố Hà Nội là yêu cầu cấp thiết và có ý nghĩaquan trọng Xuất phát từ các lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý nhà nướccủa Sở Công Thương Hà Nội đối với các doanh nghiệp logistics” để làm luận vănthạc sĩ kinh tế, với hy vọng sẽ có thể đóng góp được một phần vào sự phát triển củacác doanh nghiệp logistics thông qua một số đề xuất hoàn thiện QLNN đối với loạihình doanh nghiệp này
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1.Mục tiêu tổng quát
Đánh giá được thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nướccủa Sở Công Thương Hà Nội đối với hệ thống các doanh nghiệp logistics trên địabàn thành phố Hà Nội hiện nay
Trang 16- Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước của SởCông Thương Hà Nội đối với các doanh nghiệp logistics trên địa bàn Hà Nội trongthời gian tới.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.Đối tượng nghiên cứu
Những vấn để lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước của Sở Công Thươngđối với các doanh nghiệp logistics
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu các doanh nghiệp logistics hoạt động
trên địa bàn thành phố Hà Nội và hoạt động quản lý nhà nước của Sở Công Thương
Hà Nội đối với các doanh nghiệp này
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước đối với
các doanh nghiệp logistics từ năm 2015-2019, giải pháp đến năm 2025
- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước đối với các
doanh nghiệp logistics thông qua: nội dung QLNN đối với DN logistics của SởCông Thương Hà Nội và sự phân công phân cấp trong quản lý đối với DN logisticscủa chính quyền địa phương, Sở Công Thương Hà Nội Từ đó đề xuất phươnghướng, giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước của Sở Công Thương Hà Nội đối vớidoanh nghiệp logistics hướng đến năm 2025, tầm nhìn năm 2030
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, luận văn sử dụngchủ yếu phương pháp định tính và phương pháp định lượng Ngoài ra, luận văn cònsử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, dự báo để thu thập và xử lý số liệuliên quan, cụ thể là:
- Phương pháp thu thập số liệu
Luận văn thu thập số liệu và sử dụng nguồn số liệu thứ cấp phục vụ chonghiên cứu đề tài Được thu thập và tổng hợp từ các cơ quan quản lý và các cơ quanchức năng của Sở Công Thương Hà Nội, Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội, các cơquan quản lý nhà nước có liên quan, các doanh nghiệp logistics, các thông tin tổng
Trang 17hợp của tác giả, về các nội dung liên quan: (i) Báo cáo logistics Việt Nam năm
2017, 2018, 2019; (ii) Sách Trắng VLA năm 2018.”
- Phương pháp tổng hợp tài liệu
Các tài liệu sau khi thu thập được tiến hành chọn lọc, hệ thống hoá để tínhtoán các chỉ tiêu phù hợp cho việc phân tích đề tài Các công cụ và kỹ thuật tínhtoán được xử lý trên chương trình Excel, kết hợp với phương pháp phân tích thống
kê mô tả để phản ánh tiêu chí đánh giá công tác quản lý nhà nước đối với các đốivới các doanh nghiệp logistics thông qua các số tuyệt đối, số tương đối và số bìnhquân, được thể hiện thông qua các bảng biểu số liệu, sơ đồ.”
- “ Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
+ Phương pháp phân tổ thống kê, mô tả: Là phương pháp căn cứ vào một haymột số tiêu thức nào đó để tiến hành phân tích các đơn vị của hiện tượng nghiên cứuthành các tổ có tính chất giống nhau Dùng phương pháp số tuyệt đối, số tương đối,
số bình quân, dãy số thời gian và chỉ số dùng để phân tích số liệu và đánh giá chohầu hết các chỉ tiêu nghiên cứu
+ Phương pháp phương pháp đồ thị và phương pháp bảng thống kê để tổnghợp: Đề tài sử dụng hệ thống các loại đồ thị toán học (đồ thị hình cột, đồ thị tổnghợp, …) và những bảng thống kê số liệu theo chiều dọc và chiều ngang mô tả hiệntrạng quản lý nhà nước đối với các đối với các doanh nghiệp logistics trên địa bànthành phố Hà Nội và tác động của các nhân tố tới quản lý nhà nước đối với các đốivới các doanh nghiệp này theo thời gian
+ Phương pháp đánh giá và so sánh: Là phương pháp xem xét các chỉ tiêuphân tích bằng cách dựa trên việc so sánh số liệu với một chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêugốc) Điều kiện so sánh là: các chỉ tiêu so sánh phải cùng nội dung kinh tế, đơn vị
đo lường, phương pháp tính toán
+ Phương pháp so sánh có 2 hình thức: So sánh tuyệt đối và so sánh tươngđối So sánh tuyệt đối dựa trên hiệu số của hai chỉ tiêu so sánh là chỉ tiêu kỳ phântích và chỉ tiêu cơ sở So sánh tương đối là tỷ lệ (%) của chỉ tiêu kỳ phân tích so vớichỉ tiêu gốc để thể hiện mức độ hoàn thành hoặc tỷ lệ của số chênh lệch tuyệt đốivới chỉ tiêu gốc để nói lên tốc độ tăng trưởng.”
Trang 185 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn đượckết 11cấu gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về quản lý nhà nước của Sở Công
Thương đối với các doanh nghiệp logistics
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước của Sở Công Thương Hà Nội đối
với các doanh nghiệp logistics
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước của Sở Công Thương Hà
Nội đối với các doanh nghiệp logistics
Trang 19CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA SỞ CÔNG THƯƠNG ĐỐI VỚI CÁC
DOANH NGHIỆP LOGISTICS
1.1 Khái quát về doanh nghiệp logistics và vai trò của nó trong hệ thống các doanh nghiệp
1.1.1 Khái quát về doanh nghiệp logistics
1.1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp logistics
Ngày nay, logistics đã hiện diện trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau của nềnkinh tế, phát triển nhanh chóng và mang lại thành công cho nhiều công ty và tậpđoàn đa quốc gia nổi tiếng trên thế giới Tuy nhiên, cho đến nay, ở Việt Nam, vẫnchưa có khái niệm thống nhất về Logistics nên vẫn tồn tại các quan điểm khác nhau
về logistics theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp như sau:
- Theo nghĩa rộng, logistics được hiểu là một quá trình được tổ chức và
quản lý khoa học phân phối và lưu thông hàng hóa, dịch vụ từ giai đoạn tiền sảnxuất cho tới khi hàng hóa tới tay của người tiêu dùng cuối cùng Cụ thể hơn,logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả về mặtchi phí dòng lưu chuyển và phần dự trữ nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thànhphẩm, cùng những thông tin liên quan từ điểm khởi đầu của quá trình sản xuất đếnđiểm tiêu thụ cuối cùng nhằm mục đích thỏa mãn được các yêu cầu của khách hàng.Theo quan niệm này, logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên vật liệu làm đầuvào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông,
phân phối đến tay người tiêu dùng cuối cùng (Theo Hội đồng quản trị logistics –
Council of Logistics Management – CLM, 1991)
- Theo nghĩa hẹp, logistics được hiểu như là các hoạt động dịch vụ gắn liền
với quá trình phân phối, lưu thông hàng hóa và logistics là hoạt động thương mạigắn với các dịch vụ cụ thể Theo điều 233, Luật Thương mại Việt Nam năm 2005quy định “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức
Trang 20thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưubãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao
bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theothỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao” Theo nghĩa hẹp, logistics được địnhnghĩa trong phạm vi một số hoạt động cụ thể
Như vậy, để hiểu rõ hơn về logistics, cần tiếp cận logistics cả theo nghĩarộng, nghĩa hẹp và trên cả hai góc độ: vĩ mô và vi mô, phải coi logistics như là mộtkhoa học và logistics như là ngành dịch vụ của nền Kinh tế Quốc dân Rõ ràng,Logistics là quá trình phân phối và lưu thông hàng hóa được tổ chức và quản lýkhoa học việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu chuyểnhàng hóa, dịch vụ … từ điểm khởi nguồn sản xuất đến tay người tiêu dùng cuốicùng với chi phí thấp nhất nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất xã hội tiến hànhđược nhịp nhàng, liên tục và đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của khách hàng (ĐặngĐình Đào và Cộng sự, 2013)
Theo quy định tại điều 4, Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 do Quốc Hộiban hành ngày 26/11/2014:
- “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được
đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.”
- “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công
đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụtrên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.”
Từ các quan điểm trên, có thể hiểu “Doanh nghiệp logistics là doanh nghiệp thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của việc tổ chức và quản
lý một cách khoa học quá trình phân phối và lưu thông hàng hóa dịch vụ, nhằm mục đích sinh lợi” Doanh nghiệp logistics đóng vai trò như là bên trung gian thay mặt khách hàng dàn xếp các hoạt động trong quá trình lưu thông hàng hóa như: vận tải, lưu kho, giao hàng, phân phối hàng hóa dịch vụ từ điểm khởi đầu của quá trình sản xuất đến điểm tiêu thụ cuối cùng để thỏa mãn được các yêu cầu của khách hàng và hưởng thù lao.
Trang 211.1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp logistics
Thứ nhất, doanh nghiệp logistics là doanh nghiệp thương mại thực hiện một
hoặc một số hoạt động trong chuỗi các hoạt động bao trùm quá trình sản xuất kinhdoanh Khác với doanh nghiệp sản xuất lấy sản xuất ra sản phẩm theo nhu cầu tiêudùng làm hoạt động chính, doanh nghiệp logistics ra đời và hoạt động trong lĩnhvực lưu thông, thực hiện các hoạt động dịch vụ nhằm chuyển hàng hóa từ nơi sảnxuất đến nơi tiêu dùng một cách thuận lợi, hiệu quả nhất; và là DN dịch vụ tham giavào chuỗi cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng Doanh nghiệp logistics cóvai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất thực hiện tôn chỉ,triết lý, tư tưởng logistics và yêu cầu 7 đúng: đúng khách hàng, đúng sản phẩm,đúng số lượng, đúng điều kiện, đúng địa điểm, đúng thời gian, đúng chi phí Haynói cách khác, các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp logistics giúp tối ưu hoáđịa điểm, thời gian, tính đồng bộ và hoạt động lưu chuyển và dự trữ các tài nguyên,nguồn lực từ đầu vào nguyên liệu cho đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùngcuối cùng, nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng với chi phí thấp nhất
Thứ hai, DN logistics thực hiện các hoạt động thương mại mang tính liên
ngành bao gồm nhiều hoạt động và các hoạt động này chịu sự quản lý chi phối củanhiều cơ quan, ban ngành liên quan của địa phương như hoạt động sản xuất kinhdoanh, lĩnh vực thương mại và giao thông vận tải, công nghệ thông tin, hải quan
Thứ ba, DN logistics tham gia vào tất cả các khâu trong quá trình sản xuất
như quản lý dòng vận động và lưu chuyển của nguyên vật liệu, bán thành phẩm
và thành phẩm, lưu kho bãi, giao hàng cho khách hàng, phân phối và trao đổitiêu dùng…
1.1.1.3 Phân loại doanh nghiệp logistics
a) Theo luật doanh nghiệp 2014
Theo Luật doanh nghiệp Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 2014, cóthể phân loại doanh nghiệp logistics theo các loại hình chủ yếu sau: Công ty tráchnhiệm hữu hạn, Doanh nghiệp Nhà nước, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh,Doanh nghiệp tư nhân
Trang 22- Công ty trách nhiệm hữu hạn
“Ở Việt Nam, công ty trách nhiệm hữu hạn có hai dạng: Công ty trách nhiệmhữu hạn có hai thành viên trở lên và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên là doanh nghiệp trong đó:Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác củadoanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp; Phần vốngóp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo qui định của pháp luật; Thànhviên có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng thành viên không vượt quá năm mươi.Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặcmột cá nhân làm chủ sở hữu, chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ
và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của Công ty
- Doanh nghiệp Nhà nước
DN nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ,thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệpNhà Nước DN nhà nước được tổ chức dưới hình thức DN nhà nước độc lập, tổngcông ty nhà nước DN nhà nước được thành lập chủ yếu ở những ngành, lĩnh vựccung cấp sản phẩm, dịch vụ thiết yếu cho xã hội; ứng dụng công nghệ cao, tạo độnglực phát triển nhanh cho các ngành, lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế, đòi hỏiđầu tư lớn; ngành, lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh cao; hoặc địa bàn có điều kiện kinh
tế – xã hội đặc biệt khó khăn mà các thành phần kinh tế khác không đầu tư
- Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: Vốn điều lệ được chia thànhnhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và cácnghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanhnghiệp; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác,trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết; Cổ đông có thể là tổchức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa
- Công ty hợp danh
Là doanh nghiệp trong đó: Phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chungcủa công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên
Trang 23hợp danh) Ngoài các thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên gópvốn; Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sảncủa mình về các nghĩa vụ của công ty; Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm vềcác khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
- Doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịutrách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.”
b) Theo thành phần kinh tế, doanh nghiệp logistics được phân chia thành:
- “Doanh nghiệp khu vực nhà nước: Bao gồm Công ty TNHH một thành
viên 100% vốn nhà nước; Công ty cổ phần, công ty TNHH có vốn nhà nước lớnhơn 50%
- Doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước: Các doanh nghiệp có vốn trong
nước thuộc sở hữu tư nhân một người hoặc nhóm người hoặc thuộc sở hữu nhànước nhưng chiếm từ 50% vốn điều lệ trở xuống Khu vực doanh nghiệp ngoài nhànước gồm: Doanh nghiệp tư nhân; Công ty hợp danh; Công ty TNHH tư nhân;Công ty TNHH có vốn nhà nước từ 50% trở xuống; Công ty cổ phần không có vốnnhà nước; Công ty cổphần có vốn nhà nước từ 50% trở xuống
- Doanh nghiệp khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: Các DN có vốn
đầu tư của nước ngoài, không phân biệt tỷ lệ vốn góp Khu vực doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài gồm: Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; doanh nghiệpnhà nước liên doanh với nước ngoài; doanh nghiệp khác liên doanh với nước ngoài
Ở Việt Nam, các doanh nghiệp logistics thuộc khu vực nhà nước và ngoàinhà nước mới chỉ cung cấp một số dịch vụ trong chuỗi logistics Các dịch vụlogistics chủ yếu mà các doanh nghiệp kinh doanh logistics Việt Nam cung ứng chokhách hàng là dịch vụ kho bãi, vận tải hàng hóa, giao nhận hàng hóa, bốc xếp, dịch
vụ phân loại, đóng gói bao bì, lưu kho còn các dịch vụ khác trong chuỗi dịch vụlogistisc mặc dù cũng có một số doanh nghiệp cung ứng nhưng số lượng khôngnhiều và chưa thực sự được quan tâm phát triển Doanh nghiệp logistics khu vựcnhà nước của Việt Nam hiện nay chủ yếu thuộc cơ quan đại diện chủ sở hữu là Bộ
Trang 24Công Thương, Bộ Giao Thông Vận tải Doanh nghiệp thuộc Bộ GTVT gồm: Tổngcông ty vận tải thủy, Cty TNHH MTV vận tải biển, Cty TNHH MTV vận tải và xếp
dỡ đường thủy, Công ty TNHH MTV Dịch vụ hàng không sân bay Tân Sơn Nhất,Công ty TNHH MTV Phục vụ mặt đất Sài Gòn, Cty TNHH 1TV Du lịch và Tiếp thịGTVT Việt Nam, Cty Tư vấn, ứng dụng KHCN GTVT (thuộc Đại học GTVTTP.Hồ Chí Minh), Tổng Cty Cảng hàng không Việt Nam, Xí nghiệp thi công cơgiới và dịch vụ hàng hải miền Bắc Doanh nghiệp thuộc Bộ Công Thương gồm: CtyGiao nhận kho vận Ngoại Thương
Đối với doanh nghiệp khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, trong 30 tập đoàngiao nhận hàng đầu thế giới, hiện đã có tới 25 tập đoàn thâm nhập thị trường ViệtNam, chiếm lĩnh 75% thị phần, chủ yếu là các lĩnh vực mang lại giá trị gia tăng cao
Có thể kể đến một số tập đoàn tiêu biểu như: DHL, DB Schenker, Kuehne + Nagel.Tập đoàn Deutsche Post DHL Group Tại Việt Nam, DHL mang đến nhiều nguồnlợi cực lớn: DHL Express dẫn đầu thị trường dịch vụ chuyển phát nhanh tại ViệtNam; DHL Global Forwarding tại Việt Nam kiểm soát 10% tổng công suất vận tảihàng không tại Thành phố Hồ Chí Minh; DHL Supply Chain dẫn đầu thị trườngViệt Nam trong việc cung cấp các giải pháp và sản phẩm chuỗi cung ứng Tiếp đến
là công ty DB Schenker Việt Nam, một trong những nhánh kinh doanh của DBSchenker trực thuộc tập đoàn Deutsche Bahn của Đức, được thành lập tại Việt Namvào năm 1991 DB Schenker là nhà cung cấp dịch vụ logistics hàng đầu thế giới -công ty hỗ trợ ngành công nghiệp và thương mại trong việc trao đổi hàng hoá toàncầu thông qua vận tải đường bộ, vận tải biển và hàng không trên toàn thế giới, cùngvới đó quản lý chuỗi cung ứng rộng rãi vẫn đảm bảo chất lượng và tối ưu hóa thànhcông Trong vài năm qua, công ty đã phát triển nhanh chóng để trở thành một trongnhững nhà cung cấp dịch vụ logistics lớn nhất trong nước DB Schenker có phạm vihoạt động toàn diện tại Việt Nam với 15 văn phòng và kho hàng trên cả nước vàhơn 850 nhân viên Các trung tâm phân phối của DB Schenker nằm ở các khu vựcchiến lược ở Bắc, Trung và Nam Việt Nam phù hợp nhất với nhu cầu của kháchhàng Công ty Kuehne + Nagel Việt Nam được thành lập tại Việt Nam từ năm 1994,
Trang 25Kuehne + Nagel luôn được biết đến với các giải pháp logistics toàn diện đem lại giátrị cao và phù hợp với yêu cầu của khách hàng Trong hơn 24 năm tại Việt Nam, tậpđoàn đã xây dựng được một đội ngũ chuyên gia logistics hàng đầu trong nước vàquốc tế với sự hiểu biết sâu sắc về thị trường Việt Nam và kiến thức chuyên sâu vềcác ngành công nghiệp.”
c) Theo quy mô doanh nghiệp
“Theo quy mô, doanh nghiệp logistics chia thành 3 loại:
- Doanh nghiệp có quy mô nhỏ: có số lao động trung bình trong năm từ trên
10 người đến 50 người, số vốn đăng ký từ 10 tỷ đồng trở xuống
- Doanh nghiệp có quy mô vừa: có số lao động trung bình trong năm từ trên
50 người đến 100 người, số vốn đăng ký từ trên 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng
- Doanh nghiệp có quy mô lớn: có số lao động trung bình trong năm lớn hơn
100 người, số vốn đăng ký từ trên 50 tỷ đồng
Theo Báo cáo Logistics Việt Nam 2019 của Bộ Công Thương và Cổng thôngtin điện tử Tp Hồ Chí Minh, các doanh nghiệp hoạt động logistics tại Việt Nam chủyếu là quy mô nhỏ, tiềm lực khiêm tốn; trong đó, trên 70% có quy mô vốn vừa vànhỏ, chỉ có 7% có vốn trên 1.000 tỷ đồng, nhưng trong nhóm này chủ yếu là cácdoanh nghiệp đa quốc gia Số doanh nghiệp có quy mô trên 1.000 nhân viên chỉchiếm khoảng 10,8%, trong khi số doanh nghiệp dưới 50 nhân viên chiếm khoảng32,4%, và có khoảng 2.000 doanh nghiệp là công ty TNHH một thành viên
d) Theo tính chuyên môn hóa của các doanh nghiệp Logistics:
- Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ vận tải: Bao gồm (1) Các công ty cungcấp dịch vụ vận tải đơn phương thức: Là những công ty chỉ cung cấp môt loạiphương tiện vận tải; (2) Các công ty cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức: Lànhững công ty cung cấp từ hai phương tiện vận tải khác nhau trở lên trong quá trìnhvận chuyển; (3) Các công ty cung cấp dịch vụ khai thác cảng; (4) Các công ty môigiới vận tải
- Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ phân phối: Bao gồm các công ty cungcấp dịch vụ kho bãi; Các công ty cung cấp dịch vụ phân phối
Trang 26- Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hàng hóa: Bao gồm các công ty môigiới khai thuê hải quan; Các công ty giao nhận, gom hàng lẻ; Các công ty chuyênngành hàng nguy hiểm; Các công ty dịch vụ đóng gói vận chuyển.
- Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Logistics chuyên ngành: Bao gồm cáccông ty công nghệ thông tin; Các công ty viễn thông; Các công ty cung cấp giảipháp tài chính, bảo hiểm; Các công ty cung cấp dịch vụ giáo dục và đào tạo.”
1.1.2 Vai trò của doanh nghiệp logistics trong hệ thống các doanh nghiệp
“Theo số liệu của Tổng Cục Thống kê năm 2019, tính đến ngày 31/12/2019,
cả nước có 758.610 doanh nghiệp đang hoạt động, tăng 6,1% so với cùng thời điểmnăm 2018 Theo khu vực kinh tế: Tại thời điểm 31/12/2019, khu vực công nghiệp
và xây dựng có 239.755 doanh nghiệp, chiếm 31,6%, tăng 5,1% Khu vực nông,lâm nghiệp và thủy sản có 10.085 doanh nghiệp, chiếm 1,3%, giảm 6,3% Khu vựcdịch vụ năm 2019 tăng 7,3%, trong đó tốc độ tăng trưởng các ngành dịch vụ thịtrường đạt 8,4%, cao hơn tốc độ tăng 7,02% của GDP, đóng góp của một số ngànhdịch vụ thị trường có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm năm 2019
Cũng tính đến thời điểm 31/12/2019, theo số liệu của niên giám thống kê,Việt Nam có 319.876 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh trong các ngành, nghề liênquan đến lĩnh vực logistics, trong đó có 262.776 doanh nghiệp kinh doanh dịch vụBán buôn và bán lẻ; 39.771 doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải và kho bãi;17.329 doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thông tin và truyền thông Bán buôn vàbán lẻ tăng 8,82% so với năm 2018, là ngành có tốc độ tăng trưởng cao thứ haitrong khu vực dịch vụ nhưng lại đóng góp lớn nhất vào mức tăng tổng giá trị tăngthêm toàn nền kinh tế; ngành kinh doanh vận tải, kho bãi tăng cao nhất trong khuvực dịch vụ với mức tăng 9,12% Có thể thấy, các doanh nghiệp logistics là thànhphần có đóng góp lớn cho GDP của đất nước Hơn nữa, Việt Nam đang trong thời
kỳ hội nhập quốc tế do đó các hoạt động trao đổi, buôn bán và giao dịch quốc tế lànhững hoạt động cần được đẩy mạnh và phát triển hơn nữa Trong đó, để phát triểngiao dịch quốc tế, tăng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước vớicác doanh nghiệp nước ngoài, không thể bỏ qua tầm quan trọng của ngành logistics
Trang 27cũng như các doanh nghiệp logistics Trong hệ thống doanh nghiệp, các doanhnghiệp logistics có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của các doanhnghiệp sản xuất kinh doanh như:
- Doanh nghiệp logistics là một mắt xích góp phần nâng cao hiệu quả quản
lý, giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất, tiết kiệm các nguồn lực cho cácdoanh nghiệp sản xuất Từ đó giúp doanh nghiệp sản xuất sử dụng hiệu quả vốnkinh doanh và tăng cường sức cạnh tranh cho doanh nghiệp Theo thống kê củanhiều tổ chức nghiên cứu về logistics trên thế giới, chi phí cho hoạt động logisticschiếm tới khoảng 10 - 13% GDP ở các nước phát triển, và khoảng 15 - 20% ở cácnước đang phát triển Trong nền kinh tế Hoa Kỳ, chi phí logistics chiếm 9,9% GDPcủa nước này Đối với các doanh nghiệp, chi phí logistics thay đổi từ 4% đến trên30% doanh thu Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB), chi phí logistics ở ViệtNam chiếm khoảng 20,9-25% GDP, trong đó vận tải chiếm khoảng 50%-60% Mứcchi phí này cao hơn Thái Lan 6%, Malaysia 12%, còn so với Singapore thì cao hơntới 3 lần Với việc hình thành và phát triển các doanh nghiệp logistics sẽ giúp cácdoanh nghiệp sản xuất kinh doanh cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân giảmđược chi phí trong chuỗi logistics, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh được tinhgiản hơn và đạt hiệu quả hơn Giảm chi phí trong sản xuất, quá trình sản xuất kinhdoanh tinh giản, hiệu quả sản xuất kinh doanh được nâng cao góp phần tăng sứccạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
- Doanh nghiệp logistics đảm nhiệm vai trò quan trọng trong việc bảo đảm
hàng hóa được vận chuyển đúng thời gian, đúng địa điểm, nhờ đó quá trình sản xuấtkinh doanh diễn ra theo nhịp độ đã định, góp phần nâng cao chất lượng và giá trịhàng hóa dịch vụ Quá trình toàn cầu hóa kinh tế đã làm cho hàng hóa và sự vậnđộng của chúng phong phú và phức tạp hơn nhiều lần so với thời kỳ trước đây, đòihỏi sự quản lý chặt chẽ, đặt ra yêu cầu mới đối với dịch vụ vận tải và giao nhận.Đồng thời, để tránh hàng tồn kho, ứng dụng doanh nghiệp phải tính toán để lượnghàng tồn kho luôn là nhỏ nhất Kết quả là hoạt động lưu thông nói chung và hoạtđộng của các doanh nghiệp logistics nói riêng phải bảo đảm yêu cầu giao hàng đúng
Trang 28lúc, kịp thời, mặt khác phải bảo đảm mục tiêu khống chế lượng hàng tồn kho ở mứctối thiểu Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin cho phép diễn ra sự kếthợp chặt chẽ giữa quá trình cung ứng, sản xuất, lưu kho hàng hóa, tiêu thụ với vậntải giao nhận, làm cho cả quá trình này trở nên hiệu quả, nhanh chóng hơn, nhưngđồng thời cũng phức tạp hơn.
- Doanh nghiệp logistics phát triển góp phần mở rộng thị trường trong buôn
bán quốc tế Sản xuất có mục đích là phục vụ tiêu dùng, cho nên trong sản xuất kinhdoanh, vấn đề thị trường luôn là vấn đề quan trọng và luôn được các nhà sản xuất vàkinh doanh quan tâm Các nhà sản xuất kinh doanh muốn chiếm lĩnh và mở rộng thịtrường cho sản phẩm của mình phải cần sự hỗ trợ của các doanh nghiệp logistics.Doanh nghiệp logistics có vại trò như chiếc cầu nối trong việc chuyển dịch hànghóa trên các tuyến đường mới đến các thị trường mới đúng yêu cầu về thời gian vàđịa điểm đặt ra Doanh nghiệp logistics phát triển có vai trò rất lớn trong việc khaithác và mở rộng thị trường kinh doanh cho hệ thống doanh nghiệp
- Doanh nghiệp logistics góp phần làm gia tăng giá trị kinh doanh của các
DN thông qua việc thực hiện các dịch vụ lưu thông bổ sung (các dịch vụ tiếp tụcquá trình sản xuất trong khâu phân phối lưu thông) Doanh nghiệp logistics là loạihình doanh nghiệp có quy mô mở rộng và phức tạp hơn nhiều so với doanh nghiệphoạt động vận tải giao nhận thuần túy Trước kia, người kinh doanh dịch vụ vận tảigiao nhận chỉ cung cấp cho khách hàng những dịch vụ đơn giản, thuần túy và đơn
lẻ Ngày nay, do sự phát triển của sản xuất, lưu thông, các chi tiết của một sản phẩm
có thể do nhiều quốc gia cung ứng và ngược lại một loại sản phẩm của doanhnghiệp có thể tiêu thụ tại nhiều quốc gia, nhiều thị trường khác nhau, vì vậy dịch vụ
mà khách hàng yêu cầu từ các nhà phân phối, các doanh nghiệp kinh doanh vận tảigiao nhận phải đa dạng và rất phong phú Người vận tải giao nhận ngày nay phảitriển khai thực hiện nhiều dịch vụ nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế ngày càng tăng củakhách hàng Họ trở thành người cung cấp dịch vụ logistics và đã góp phần làm giatăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp.”
Trang 291.2.Quản lý nhà nước của Sở Công Thương đối với các doanh nghiệp logistics
1.2.1 Sự cần thiết của QLNN của chính quyền địa phương, Sở Công Thươn đối với các doanh nghiệp logistics
QLNN về kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhànước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tếtrong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh
tế đất nước đặt ra trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế Theo nghĩarộng, QLNN về kinh tế dược thực hiện thông qua cả ba loại cơ quan lập pháp, hànhpháp và tư pháp của Nhà nước Theo nghĩa hẹp, QLNN về kinh tế được hiểu nhưhoạt động quản lý có tính chất Nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thựchiện bởi cơ quan hành pháp (Chính phủ).”
“Xuất phát từ khái niệm QLNN về kinh tế và khái niệm doanh nghiệplogistics có thể hiểu: QLNN đối với doanh nghiệp logistics là sự tác động có chủđích, có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên các hoạt động của các tổchức trong hệ thống doanh nghiệp logistics nhằm sử dụng có hiệu quả nhất cácnguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mụctiêu phát triển kinh tế nhất định đối với khối doanh nghiệp logistics nằm trong tổngthể nền kinh tế quốc gia, trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế.Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước đóng vai trò người định hướng, dẫn dắt sựphát triển kinh tế, bảo đảm thống nhất các lợi ích cơ bản trong toàn xã hội Nhànước, một mặt là thiết chế quyền lực chính trị của một hoặc một nhóm giai cấptrong xã hội đối với giai cấp khác, đồng thời còn là quyền lực công đại diện cho lợiích chung của cộng đồng xã hội nhằm duy trì và phát triển xã hội theo các mục tiêuxác định Có thể thấy quản lý nhà nước của chính quyền địa phương đối với các DNlogistics là rất cần thiết vì các lý do:
Thứ nhất, do thực tiễn phát triển của các doanh nghiệp logistics trên địa bàn
tỉnh, thành phố luôn phải đối mặt với những hạn chế của cơ chế thị trường gây nên.Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp logistics đóng vai trò quyết định nền
Trang 30kinh tế, góp phần tạo ra tích luỹ, thúc đẩy phát triển các hoạt động kinh tế xã hộicủa địa phương, là nguồn thu ngân sách nhà nước Sự phát triển của DN logisticsthể hiện sự phát triển của quan hệ sản xuất, DN đầu tư nguồn vốn, lao động, ápdụng khoa học công nghệ để tạo ra năng suất chất lượng sản phẩm ngày càng cao,giá thành hạ đáp ứng cho nhu cầu của xã hội Doanh nghiệp logistics như cầu nốitrong việc chuyển dịch hàng hóa trên các tuyến đường mới đến các thị trường mớiđúng yêu cầu về thời gian và địa điểm đặt ra Điều đó có tác dụng rất lớn trong việckhai thác và mở rộng thị trường kinh doanh cho các DN, đặc biệt trong việc thu hútFDI và nâng cao mức hưởng thụ của người tiêu dùng, mở rộng thị trường trong xuấtnhập khẩu hàng hóa của địa phương Doanh nghiệp logistics như những mắt xíchtrong chuỗi giá trị, kết nối nền kinh tế của địa phương đó với nền kinh tế cả nước vàkhu vực thông qua cung cấp, lưu thông phân phối, mở rộng thị trường cho các hoạtđộng kinh tế là thế mạnh của địa phương, thúc đẩy kinh tế địa phương tăng trưởngnhanh và bền vững Nhà nước bằng hoạt động của mình giúp các chủ DN giải quyếtcác vấn đề sản xuất kinh doanh tầm vĩ mô, tìm ra những nhu cầu của họ để đáp ứng.Tuy nhu cầu được đặt ra có thể rất đa dạng, song suy cho cùng, đó là các vấn đềthuộc về ý chí, tri thức, vốn liếng, phương hướng chính có liên quan đến kinh tế.”
Thứ hai, doanh nghiệp logistics là loại hình DN đa dạng, phong phú, liên
ngành và phức tạp nên cần có sự QLNN của địa phương để có thể kiểm soát, điềuphối, nhằm đảm bảo sự ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định thị trường và giá cả, cải thiệncán cân thanh toán Trên địa bàn mỗi địa phương, DN logistics không thực hiệnnhững hoạt động đơn lẻ, biệt lập mà là một trong chuỗi các hoạt động dịch vụ baotrùm quá trình từ khi sản phẩm được sản xuất và cho tới khi sản phẩm chuyển tớikhách hàng Các hoạt động thương mại này mang tính liên ngành Vì vậy quá trìnhsản xuất kinh doanh làm nảy sinh mối quan hệ mâu thuẫn giữa các doanh nghiệpvới nhau Các DN đều có lợi ích riêng của mình và họ luôn tìm mọi cách để tối đahoá lợi ích đó Họ có thể thấy rõ hoặc không thấy rõ để đạt được mục đích của mìnhthì họ đã vi phạm đến lợi ích của người khác Từ đó tất yếu nảy sinh ra hiện tượng:lợi ích của cá nhân hay bộ phận này tăng lên làm thiệt hại đến lợi ích của cá nhân
Trang 31khác xét trên phạm vi tổng thể nền kinh tế quốc dân Biểu hiện về mặt xã hội của xuhướng này là các hoạt động kinh tế chồng chéo cản trở nhau, sự phân bố nguồn lựckhông hợp lý, các vấn đề chính trị xã hội phát sinh Bởi vậy phải có một tổ chứcđứng ra làm trung gian giải quyết, cân bằng mối quan hệ giữa các DN với nhau.Đồng thời QLNN cũng thực hiện việc thanh tra các hoạt động kinh doanh và kiểmtra việc chấp hành pháp luật về thương mại, dịch vụ của các DN logistics nhằm pháthiện và xử lý các vi phạm một cách kịp thời.”
Thứ ba, DN logistics là một thành phần của nền kinh tế, cũng tham gia vào
thị trường cạnh tranh nên phải chịu sự QLNN để đảm bảo tính công bằng, bìnhđẳng, minh bạch trong cạnh tranh Hay nói cách khách, QLNN đóng vai trò giảiquyết các mâu thuẫn trong nền kinh tế thị trường, duy trì sự ổn định thúc đẩy sựtăng trưởng và phát triển kinh tế Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp gianhập thị trường theo ý muốn, tồn tại bằng việc tạo ra lợi nhuận, và phải cạnh tranhnhau Kết quả là, có một vài doanh nghiệp thành công thì sẽ có những doanh nghiệpphải gánh chịu tổn thất, thậm chí là phải rời bỏ thị trường Đây là quy tắc tự chịutrách nhiệm của các doanh nghiệp và được tuân thủ theo các nguyên tắc của thịtrường Tuy nhiên, thực tế thị trường luôn nảy sinh những biểu hiện tiêu cực từcạnh tranh Do những thôi thúc từ nhu cầu tìm kiếm lợi nhuận, bằng những toantính không phù hợp với truyền thống kinh doanh lành mạnh, những biểu hiệntiêu cực đó đã làm tổn hại trật tự kinh doanh, đe dọa hoặc gây ra tổn thất trựctiếp đến lợi ích của đối thủ cạnh tranh hoặc của người tiêu dùng Các hành vi hạnchế cạnh tranh trực tiếp làm xáo trộn trật tự kinh tế, hủy hoại cạnh tranh và xâmphạm quyền tự do kinh doanh lành mạnh của các doanh nghiệp khác Sự hỗnloạn của thị trường từ những hành vi bất chính trong cạnh tranh buộc pháp luật
và Nhà nước vào cuộc để xắp xếp lại trật tự thị trường cho phù hợp với nhữngnguyên tắc vốn có của nó Sự can thiệp của Nhà nước bằng việc điều tiết cạnhtranh tạo ra chính sách cạnh tranh, thông qua việc xây dựng pháp luật cạnh tranh.QLNN có vài trò củng cố, đảm bảo dân chủ công bằng xã hội cho mọi người, mọithành phần kinh tế hoạt động trên thị trường.”
Trang 32Thứ tư, do sức ép phải đổi mới chính sách QLNN đối với DN logistics trong
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Trong bối cảnh toàn cầu hóa trên thế giới đangdiễn ra ngày càng sâu sắc, hầu hết chính phủ các nước đều lựa chọn con đường mởcửa hội nhập kinh tế quốc tế để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, chính phủ các nước đều phải chấp nhận thựchiện các chính sách thương mại trên cơ sở luật thay thế cho chính sách thương mạiđơn phương hay chính sách thương mại dựa trên kết quả Tình hình này cũng xảy rađối với Việt Nam khi tham gia, trở thành thành viên và chấp nhận luật chơi củaWTO, FTA, TPP Đổi mới chính sách QLNN đối với các DN logistics là một nộidung của đổi mới QLNN về thương mại DN logistics trên địa bàn tỉnh, thành phốngày càng phát triển mạnh mẽ theo cơ chế thị trường, có sự mở cửa, hội nhập sâusắc với khu vực và thế giới Vì vậy, những quy định về QLNN đối với các DNlogistics tất yếu phải được dần hoàn thiện để có thể theo kịp và áp dụng cho thựctiễn sinh động của thương mại và logistics ngày nay.”
1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của Sở Công Thương trong lĩnh vực quản lý thương mại và dịch vụ logistics
Theo nghị định 140/2007/NĐ-CP, quy định chi tiết luật thương mại về điềukiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinhdoanh dịch vụ logistics, do chính phủ ban hành ngày 05.09.2007, Bộ Công thương,
Bộ Giao thông vận tải, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Kế hoạch và đầu tư cótrách nhiệm đối với việc QLNN về hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics Trong
đó, Bộ Công Thương phải kết hợp cùng với Bộ Giao thông vận tải, Bộ Thông tin vàTruyền thông có trách nhiệm kiểm tra giám sát các hoạt động kinh doanh dịch vụlogistics liên quan; Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm hướng dẫn việc đăng kýkinh doanh dịch vụ logistics Ngày 30 tháng 12 năm 2017, chính phủ đã ban hànhnghị định số 163/2017/NĐ-CP thay thế nghị định 140/2007/NĐ-CP, đã quy địnhtrách nhiệm của Bộ Công Thương là tổ chức thực thi nghị định
Bên cạnh đó, ngày 30/06/2015, Bộ trưởng Bộ Công Thương và Bộ trưởng
Bộ Nội vụ ban hành Thông tư liên tịch số 22/2015/TTLT-BCT-BNV về việc
Trang 33“Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyênmôn về công thương thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, cấp huyện” Qua đó, có thể hiểuchức năng, nhiệm vụ của Sở Công Thương trong lĩnh vực quản lý thương mại vàdịch vụ logistics như sau:
1.2.2.1.Chức năng
“Sở Công Thương là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh,thành phố; thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thànhphố quản lý nhà nước về công thương, trong đó có thương mại và dịch vụ logistics
Sở Công Thương có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; chịu sự chỉđạo, quản lý về tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố;đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn thực hiện về chuyên môn, nghiệp vụcủa Bộ Công Thương Như vậy, trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ logistics,QLNN của Sở Công Thương có chức năng:
- Chức năng hoạch định: QLNN thực hiện chức năng hoạch định là để định
hướng hoạt động thương mại và dịch vụ của các chủ thể tham gia thị trườnglogistics Chức năng này bao gồm các nội dung cơ bản như: hoạch định chiến lược,lập kế hoạch và chương trình phát triển thực hiện các đề án phát triển thương mại,dịch vụ logistics trên địa bàn tỉnh; tổ chức thực hiện, giám sát, kiểm tra việc thựchiện các quy hoạch, kế hoạch, các chương trình và đề án phát triển đó
- Chức năng phối hợp: Sở Công thương bằng việc tạo lập các cơ quan và hệ
thống tổ chức, quản lý, sử dụng bộ máy này để hoạch định các chiến lược, quyhoạch, chính sách Đồng thời, sử dụng sức mạnh của bộ máy tổ chức để thực hiệnnhững vấn đề thuộc về QLNN nhằm đưa chính sách và pháp luật vào thực tiễn kinhdoanh của doanh nghiệp, hiện thực hoá quy hoạch và kế hoạch
- Chức năng điều tiết các hoạt động thương mại, dịch vụ logistics và can
thiệp thị trường Mục đích của chức năng này là nhằm điều tiết các hoạt động
thương mại, dịch vụ logistics trên địa bàn tỉnh thành phố, điều tiết thị trường để cáchoạt động này cũng như thị trường phát triển cân đối, hài hoà, bền vững và đúngtheo định hướng của Nhà nước Nội dung và vai trò của chức năng này bao gồm:
Trang 34(i) Sở Công Thương là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thểkinh doanh, khuyến khích và đảm bảo bằng luật pháp Sở Công Thương hướng dẫn
và kích thích các doanh nghiệp hoạt động theo định hướng thị trường của từng địaphương Mặt khác, Sở Công Thương can thiệp và điều tiết thị trường khi cần thiết
để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì sức mạnh nền tài chính địa phương, giữvững sức mua của tiền tệ, đảm bảo lợi ích của người sản xuất và tiêu dùng
(ii) Sở Công Thương hỗ trợ cho các doanh nghiệp logistics về thông tin, kếtcấu hạ tầng kinh tế - xã hội trong điều kiện cho phép, không vi phạm các cam kếtquốc gia, quốc tế
(iii)Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của cácdoanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, thành phố nói chung và các doanh nghiệp logisticsnói riêng
- Chức năng kiểm soát: Phát hiện những lệch lạc, nguy cơ chệch hướng
hoặc vi phạm pháp luật và các quy định của Nhà nước, từ đó đưa ra các quyết địnhđiều chỉnh thích hợp nhằm tăng cường hiệu quả của QLNN về thương mại, dịch vụ.Nội dung và vai trò của chức năng này: Sở Công Thương giám sát hoạt động củacác chủ thể kinh doanh cũng như chế độ quản lý của các chủ thể đó về các mặt đăng
ký kinh doanh, phương án sản phẩm, chất lượng và tiêu chuẩn sản phẩm, bản quyền
sở hữu công nghiệp, môi trường ô nhiễm, cơ chế quản lý kinh doanh, nghĩa vụ nộpthuế Sở Công Thương cũng thực hiện việc kiểm tra, đánh giá về sức mạnh của hệthống các tổ chức quản lý thương mại, dịch vụ của Sở cũng như đội ngũ cán bộcông chức thực hiện các chức năng quản lý của Nhà nước.”
1.2.2.2.Nhiệm vụ
- “Tổ chức triển khai, hướng dẫn thực hiện quy hoạch, kế hoạch, cơchế, chính sách quản lý, chương trình, đề án phát triển và đẩy mạnh của Nhà nước,chính quyền địa phương đối với: Mạng lưới kết cấu hạ tầng thương mại bán buôn,bán lẻ; Hoạt động xuất khẩu hàng hóa; Hoạt động thương mại biên giới trên địabàn; Hoạt động thương mại điện tử; Công tác quản lý thị trường trên địa bàn tỉnhtheo quy định của pháp luật; Hoạt động xúc tiến thương mại; Các quy định của pháp
Trang 35luật về cạnh tranh, chống phá giá, chống trợ cấp và tự vệ trên địa bàn tỉnh; Kếhoạch, chương trình, biện pháp cụ thể về hội nhập kinh tế quốc tế trên địa bàn tỉnhsau khi được phê duyệt;
- Thực hiện thanh tra, kiểm tra đối với việc thực hiện quy định về: Hàng hóa,dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh, giấy phép kinh doanh có điều kiện;Phương thức mua bán, trao đổi hàng hóa, kinh doanh thương mại biên giới, miềnnúi, hải đảo và vùng dân tộc trên địa bàn tỉnh; Lĩnh vực công thương của các tổchức, cá nhân kinh doanh trên địa bàn tỉnh; thực hiện thanh tra chuyên ngành theoquy định của pháp luật; Đăng ký tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại, khuyến mạicho các thương nhân Kiểm soát hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung tạiđịa phương theo quy định của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng; Giải quyết khiếunại, tố cáo và xử lý hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng theo thẩm quyền
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan hướng dẫn và tổ chức thựchiện cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp như: Khuyến khích mở rộng mạng lướikinh doanh, phát triển các tổ chức liên kết lưu thông hàng hóa, hình thành các kênhlưu thông hàng hóa ổn định từ sản xuất đến tiêu dùng trên địa bàn tỉnh; Điều tiết lưuthông hàng hóa, bảo đảm cân đối cung cầu các mặt hàng thiết yếu, bảo đảm chấtlượng và an toàn thực phẩm, bình ổn và thúc đẩy thị trường nội tỉnh phát triển; Đấutranh chống các hành vi đầu cơ, buôn lậu, gian lận thương mại, buôn bán hàng giả,hàng kém chất lượng; chống vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, vệ sinh an toàn thựcphẩm và các hoạt động sản xuất, kinh doanh khác trái quy định pháp luật; Tuyêntruyền, phổ biến, hướng dẫn việc thực hiện kế hoạch, chương trình, các quy định vềhội nhập kinh tế quốc tế của địa phương; về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; tưvấn hỗ trợ nâng cao nhận thức về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
- Tổng hợp, xử lý và kiến nghị các cơ quan có liên quan giải quyết theo thẩmquyền về: Các thông tin thị trường trên địa bàn tỉnh; Tình hình hoạt động các khukinh tế cửa khẩu; các ban quản lý cửa khẩu; Những văn bản ban hành có nội dungkhông phù hợp với pháp luật cạnh tranh, chống bán phá giá, trợ cấp và tự vệ; Công
bố công khai danh sách tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ vi phạmquyền lợi người tiêu dùng theo thẩm quyền.”
Trang 361.2.3 Nội dung QLNN của Sở Công Thương đối với các DN logistics
Theo Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014, nội dung quản lý nhà nước đối vớidoanh nghiệp bao gồm:
“(1) Ban hành, phổ biến và hướng dẫn thực hiện các văn bản pháp luật vềdoanh nghiệp và văn bản pháp luật có liên quan
(2) Tổ chức đăng ký kinh doanh; hướng dẫn việc đăng ký kinh doanh bảođảm thực hiện chiến lược, quy hoạch và kế hoạch định hướng phát triển kinh tế -
xã hội
(3) Tổ chức các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao đạo đứckinh doanh cho người quản lý doanh nghiệp; phẩm chất chính trị, đạo đức, nghiệp
vụ cho cán bộ QLNN đối với doanh nghiệp;
(4) Thực hiện chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp theo định hướng vàmục tiêu của chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
(5) Kiểm tra, thanh tra hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; xử lý cáchành vi vi phạm pháp luật của doanh nghiệp, của cá nhân, tổ chức có liên quan theoquy định của pháp luật.”
Trên cơ sở các quy định về chức năng, nhiệm vụ của Sở Công Thương cũngnhư quy định về nội dung QLNN đối với doanh nghiệp có thể khái quát những nộidung cơ bản trong QLNN của Sở Công Thương đối với các doanh nghiệp logisticshiện nay như sau:
Thứ nhất, triển khai thực hiện các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý
nhà nước về logistics và doanh nghiệp logistics Trên cơ sở các văn bản pháp luật
và đặc thù điều kiện kinh tế xã hội của từng địa phương, Sở Công Thương ban hànhcác văn bản pháp quy cụ thể hóa các nội dung cần thực hiện và hướng dẫn doanhnghiệp logistics thực hiện đúng các quy định của pháp luật về thương mại, dịch vụ,kinh doanh logistics Để làm được điều đó, ngoài việc ban hành các văn bản hướngdẫn chuyên môn, nghiệp vụ đối với các hoạt động logistics, Sở Công Thương cầnphổ biến hướng dẫn, giáo dục pháp luật thương mại đối với các thương nhân SởCông Thương có nhiệm vụ triển khai thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, cácquyết định của Nhà nước về thương mại, logistics trên địa bàn mình quản lý
Trang 37Thứ hai, tham mưu giúp UBND tỉnh, thành phố ban hành các quy định,
chính sách và xây dựng những quy hoạch, kế hoạch, đề án về phát triển và QLNNđối với DN logistics Dựa trên những phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinhtế-xã hội cho từng vùng, ngành, từng khu vực của Chính phủ, Sở Công Thươngcũng có trách nhiệm phối hợp với UBND tỉnh, thành phố phê duyệt đề án và kếhoạch phát triển liên quan đến lĩnh vực logistics trên địa bàn Hệ thống các quyhoạch, kế hoạch phát triển doanh nghiệp logistics là những công cụ quan trọng đểcác cơ quan quản lý Nhà nước thực hiện công tác quản lý Nhà nước về logistics trênđịa bàn tỉnh/thành phố Đây là những tư tưởng chỉ đạo, các mục tiêu, chỉ tiêu, các
mô hình, biện pháp ngắn hạn và dài hạn để định hướng cho hoạt động kinh doanhlogistics của tỉnh/thành phố phát triển theo đúng các mục tiêu chung của phát triểnkinh tế - xã hội Vì vậy, xây dựng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển
DN logistics là một nội dung quan trọng của công tác quản lý Nhà nước về DNlogistics trên địa bàn tỉnh/thành phố Các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển
DN logistics trên địa bàn tỉnh/thành phố phải phù hợp với các chiến lược, quyhoạch, kế hoạch phát triển logistics của cả nước cũng như quy hoạch tổng thể pháttriển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh/thành phố Một yếu tố quan trong không thểthiếu đối với việc xây dựng quy hoạch DN logistics trên địa bàn tỉnh/thành phố làbản quy hoạch này phải được tham vấn ý kiến đầy đủ và phải phản ánh được sự phùhợp với quy hoạch về xây dựng cũng như quy hoạch đô thị của tỉnh/thành phố.”
“ Thứ ba, thực hiện chính sách hỗ trợ, tạo lập môi trường kinh doanh đối với
DN logistics theo định hướng và mục tiêu của chiến lược, quy hoạch và kế hoạchphát triển kinh tế - xã hội Sở Công thương chỉ đạo thực hiện về QLNN đối với sựphát triển DN logistics phù hợp quốc tiến trình hội nhập tế: Thực hiện mở cửa thịtrường dịch vụ logistics theo lộ trình cam kết, tham gia các điều ước quốc tế, cácdiễn đàn khu vực và quốc tế về DN logistics Sở Công Thương chủ động phát triểnquan hệ hợp tác song phương và đa phương trong lĩnh vực logistics với các địaphương khác; mở rộng thêm các hình thức, loại hình, phương thức dịch vụ logisticstheo đúng lộ trình cam kết về mở cửa nền kinh tế Đồng thời, Sở Công Thương
Trang 38cũng phải phối hợp với các cơ quan QLNN thực hiện chính sách ưu đãi cho các DNlogistics phù hợp tiến trình hội nhập quốc tế như:
- Tạo nguồn vốn đầu tư ưu đãi cho các chương trình kinh tế trọng điểm củaNhà nước, cho các hoạt động sản xuất kinh doanh trong các ngành logistics;
- Thực hiện miễn giảm thuế cho những DN kinh doanh logistics theo địnhhướng ưu tiên của Nhà nước
- Chính sách hỗ trợ DN: Chính quyền cấp tỉnh cung cấp miễn phí hoặc hỗ trợgiá rẻ các dịch vụ hành chính công, đồng hành, giúp các DN logistics giải quyết vấn
đề thủ tục hành chính, tạo môi trường thuận lợi, bầu không khí tin cậy, thân thiệngiữa công chức thực thi công vụ và các DN
- Tổ chức thống kê, dự báo về hoạt động kinh doanh của ngành logistics,
công khai thông tin về tình hình hoạt động, phát triển của DN logistics cũng nhưhoạt động của các ngành liên quan đến lĩnh vực logistics nhằm ngăn ngừa và hạnchế rủi ro trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ logistics Việc thu thập, tổng hợp, phântích, xử lý và cung cấp thông tin kinh tế, thương mại giúp doanh nghiệp logisticsđược tiếp cận với nguồn thông tin đáng tin cậy, nắm bắt được tình hình và đưa ranhững phản ứng nhanh chóng đối phó với sự thay đổi không ngừng của thị trường
Thứ tư, kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện quy định pháp luật của
DN logistics Cơ quan thanh tra, giám sát của các cấp QLNN thực hiện hoạt độngkiểm tra, thanh tra, giám sát quá trình phát triển các hình thức, loại hình, phươngthức kinh doanh của các doanh nghiệp logistics theo phương pháp thanh tra, giámsát tuân thủ trên cơ sở rủi ro đối với từng hình thức, loại hình, phương thức kinhdoanh dịch vụ logistics Nội dung thanh tra, giám sát bao gồm: Thanh tra việc chấphành các điều kiện được cấp phép hoạt động, tuân thủ các quy chế của các doanhnghiệp logistics; Thu thập, tổng hợp và xử lý tài liệu, thông tin, dữ liệu theo yêu cầuthanh tra, giám sát; xem xét, đánh giá mức độ phát triển dịch vụ logistics; Kiến nghị
cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hoặc ban hành văn bảnquy phạm pháp luật đáp ứng yêu cầu QLNN đối với DN logistics; Kiến nghị, yêucầu các Bộ, ngành có biện pháp hạn chế, giảm thiểu và xử lý rủi ro; Phát hiện, ngăn
Trang 39chặn và xử lý theo thẩm quyền; Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý viphạm pháp luật trong lĩnh vực logistics.
1.2.4 Phân công phân cấp trong QLNN của chính quyền địa phương, Sở Công Thương đối với doanh nghiệp logistics.
Luật Thương mại năm 2005 đã quy định cụ thể về dịch vụ logistics, điềukiện kinh doanh dịch vụ logistics cũng như quyền và nghĩa vụ của thương nhânkinh doanh dịch vụ logistics, tuy nhiên chưa quy định cụ thể trách nhiệm, quyềnhạn, phân công QLNN đối với hoạt động logistics
Tại Thông tư liên tịch số 22/2015/TTLT-BCT-BNV ngày 30/6/2015 của BộCông Thương và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu
tổ chức của Cơ quan chuyên môn về công thương thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện
đã quy định nhiệm vụ quản lý nhà nước về dịch vụ logistics là thuộc Sở CôngThương địa phương, tuy nhiên hiện vẫn chưa có quy định cụ thể về nội dung quản
lý nhà nước đối với DN logistics trên địa bàn
Theo quyết định số 200/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày14/02/2017, quyết định “Về việc Phê duyệt Kế hoạch hành động nâng cao năng lựccạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025”, có quy địnhnhiệm vụ của các cơ quan liên quan như sau:
- Hoàn thiện chính sách, pháp luật về dịch vụ logistics: Bộ Công Thương, Bộ
Giao thông Vận tải, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Uỷ ban Nhân dân cáctỉnh, thành phố
- Hoàn thiện kết cấu hạ tầng logistics: Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Công
Thương; Bộ Kế hoạch và Đầu tư; UBND các tỉnh, thành phố
- Nâng cao năng lực doanh nghiệp và chất lượng dịch vụ: Bộ Công Thương,
Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam, Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụcông nghệ thông tin Việt Nam, các hiệp hội ngành nghề liên quan, Bộ Kế hoạch vàĐầu tư, Ủy ban nhân dân các địa phương liên quan, Bộ Khoa học và Công nghệ,Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Trang 40- Phát triển thị trường dịch vụ logistics: Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ
logistics Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Bộ CôngThương, Bộ Giao thông Vận tải
- Đào tạo, nâng cao nhận thức và chất lượng nguồn nhân lực: Bộ Giáo dục và
Đào tạo, Bộ Công Thương, Bộ Giao thông vận tải, Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụlogistics Việt Nam
Ngày 30/12/2017, Chính phủ đã ban hành nghị định số 163/2017/NĐ-CP,quy định về kinh doanh dịch vụ logistics, thay thế cho nghị định số 140/2007/NĐ-
CP Nghị định 163/2017/NĐ-CP quy định Bộ Công Thương chịu trách nhiệm tổchức thực hiện nghị định và không còn đề cập rõ đến vấn đề QLNN đối với hoạtđộng kinh doanh logistics cũng như doanh nghiệp logistics Đây là hạn chế đã tồntại trong công tác quản lý nhà nước trong suốt nhiều năm qua
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến QLNN của sở Công Thương đối với các doanh nghiệp logistics
về lĩnh vực logistics trong các hoạt động như: xây dựng chính sách, văn bản quyphạm pháp luật, cấp giấy chứng nhận hành nghề hoặc giấy chứng nhận đủ điều kiệnkinh doanh; thanh tra, kiểm tra; trao đổi thông tin, văn bản; tuyên truyền, tập huấn,đào tạo; tổ chức kiểm nghiệm, giám định và tổ chức các đoàn thanh tra, kiểm traliên ngành Chẳng hạn cần có sự phối hợp hoạt động về: quản lý, kiểm tra, thanh traviệc lưu thông trên thị trường đối với các loại hàng hoá, dịch vụ bị cấm sản xuất,kinh doanh, xuất nhập khẩu hoặc sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu có điều kiện;