1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ mỹ và liên xô nhóm 3 official word

50 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 673,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIỂU LUẬN QUAN HỆ MỸ LIÊN XÔ TRONG CHIẾN TRANH LẠNH (1947 1989)Cuộc chiến tranh lạnh giữa hai cường quốc Mĩ – Liên Xô (1947 – 1989) là một cuộc chiến tranh khác lạ, không bởi chỉ vì cái tên của nó mà còn cả vì hình thái, diễn biến, cách đánh giá và nhận định về tác động của nó đối với cục diện thế giới. Và còn vì sự đối lập căn bản về ý thức, sự khác biệt căn bản về lợi ích quốc gia của hai nước, cơ bản động cơ hành vi của hai nước là triệt tiêu lẫn nhau. Sự đối lập đó đã có những biểu hiện rõ ràng trong thời kỳ vô cùng nghẹt thở, căng thẳng và diễn biến phức tạp này.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LỊCH SỬ

TIỂU LUẬN

QUAN HỆ MỸ - LIÊN XÔ TRONG CHIẾN TRANH

LẠNH (1947 - 1989)

HỌC PHẦN: HIST100301 – LỊCH SỬ QUAN HỆ QUỐC TẾ

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2021

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LỊCH SỬ

TIỂU LUẬN

QUAN HỆ MỸ - LIÊN XÔ TRONG CHIẾN TRANH

LẠNH (1947 – 1989)

HỌC PHẦN: HIST100301 – LỊCH SỬ QUAN HỆ QUỐC TẾ

Nhóm sinh viên thực hiện đề tài: Nhóm 3

1 Võ Thùy Trang 46.01.608.095

2 Từ Hạnh Duyên 44.01.608.054

3 Đoàn Nguyễn Anh Khoa 46.01.608.032

4 Lê Huỳnh Thúy Ngọc 46.01.608.051

5 Đồng Phúc Quỳnh 46.01.608.072

7 Võ Thị Thiên Trinh 46.01.608.096

Giảng viên hướng dẫn: ThS Cao Nguyễn Khánh Huyền

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2021

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 1

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2

4 Đối tượng nghiên cứu 2

5 Phạm vi nghiên cứu 2

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Kết cấu của đề tài 3

NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH LIÊN XÔ VÀ MỸ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ II VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA CHIẾN TRANH LẠNH 4

1.1 Bối cảnh Thế giới và tình hình Liên Xô – Mỹ sau Chiến tranh Thế giới thứ II 4

1.1.1 Bối cảnh Thế giới sau Chiến tranh Thế giới thứ II 4

1.1.2 Tình hình Liên Xô sau chiến tranh Thế giới thứ II 5

1.1.3 Tình hình Hoa Kỳ sau Chiến tranh Thế giới thứ II 5

1.2 Sự xuất hiện của Chiến tranh Lạnh 5

1.2.1 Khái niệm Chiến tranh Lạnh 5

1.2.2 Khởi đầu dẫn đến sự xuất hiện của Chiến tranh Lạnh 6

CHƯƠNG 2: QUAN HỆ MỸ - LIÊN XÔ TRONG CHIẾN TRANH LẠNH (1947 – 1989) 8

2.1 Mỹ và Liên Xô đối với vấn đề nước Đức sau Chiến tranh Thế giới thứ II 8

2.1.1 Liên Xô, Mỹ và sự chia cắt nước Đức 9

2.1.1.1 Tây Đức 10

2.1.1.2 Đông Đức 11

2.1.2 Cuộc phong tỏa Berlin (1948) 12

2.1.3 Sự kiện Bức tường Berlin (1961) 13

2.2 Quá trình chạy đua vũ trang giữa Mỹ và Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh 14

Trang 4

2.2.1 Sự hình thành các liên minh quân sự, kinh tế giữa hai khối Đông – Tây 14

2.2.1.1 Kế hoạch Marshall – Bước đầu hình thành liên minh phương Tây của Hoa Kỳ 14

2.2.1.2 Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) 16

2.2.1.3 Sự thành lập khối quân sự NATO 17

2.2.1.4 Khối Hiệp ước Warszawa 19

2.2.2 Các cuộc chiến tranh cục bộ ở các khu vực 19

2.2.2.1 Chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953) 19

2.2.2.2 Khủng hoảng Suez 19

2.2.2.3 Khủng hoảng tên lửa Cuba 20

2.2.2.4 Chiến tranh ở Đông Dương và Việt Nam 21

2.2.2.5 Chiến tranh ở Afghanistan 22

2.3 Vấn đề giải trừ quân bị 23

2.3.1 Ký kết Hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân từng phần (1963) 23

2.3.2 Hiệp ước không gian vũ trụ OST (1967) 24

2.3.3 Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (1968) 25

2.3.4 Đàm phán giữa hai siêu cường Xô – Mỹ về hạn chế vũ khí chiến lược 26

2.4 Liên Xô và Mỹ chấm dứt Chiến tranh Lạnh (1989) 28

2.4.1 Nguyên nhân Liên Xô và Mỹ chấm dứt Chiến tranh Lạnh (1989) 28

2.4.1.1 Các thoả thuận hạn chế vũ khí 28

2.4.1.2 Định ước Helsinki 28

2.4.1.3 Chiến tranh ở Afghanistan 29

2.4.1.4 Hội nghị thượng đỉnh Geneva (11/1985) 30

2.4.1.5 Hội nghị thượng đỉnh Washington (12/1987) 30

2.4.1.6 Chiến tranh Lạnh kết thúc 30

2.4.2 Tác động của việc Liên Xô và Mỹ tuyên bố chấm dứt Chiến tranh Lạnh (1989) 31 2.4.2.1 Xu thế hòa hoãn Đông - Tây và dấu hiệu chấm dứt Chiến tranh Lạnh 31

2.4.2.2 Quan hệ quốc tế sau Chiến tranh Lạnh 32

Trang 5

CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA QUAN HỆ MỸ - LIÊN XÔ TỚI QUAN HỆ QUỐC TẾ

TRONG CHIẾN TRANH LẠNH (1947 -1989) 33

3.1 Đối với Liên Xô 33

3.2 Đối với Mỹ 34

3.3 Đối với Thế giới 35

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

PHỤ LỤC 44

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lịch sử loài người đã từng chứng kiến không biết bao nhiêu cuộc chiến tranh với rất nhiều hình thái và diễn biến khốc liệt, đi cùng theo đó là những hệ quả khác nhau đối với sự phát triển bền vững của xã hội loài người

Chiến tranh Thế giới lần thứ hai kết thúc, giữa bối cảnh một Châu Âu bị tàn phá

và suy yếu trong hệ thống quốc tế với vai trò lu mờ của Anh, Pháp và một nước Đức đổ nát trên bờ vực bị chia cắt, thì Mỹ và Liên Xô nổi lên với vai trò là siêu cường Thế giới: giàu có và hùng mạnh Cả hai quốc gia này nhanh chóng nắm quyền chi phối toàn bộ hệ thống chính trị quốc tế Thế nhưng, Xô – Mỹ với hai ý thức hệ đối lập đã đứng trên hai chiến tuyến trái ngược nhau Điều này khiến cho viễn cảnh hòa hợp thời hậu chiến trở nên xa vời Một loạt các xung đột liên tiếp nổi lên, tuy không gây ra đối đầu trực tiếp nhưng lại là khởi đầu cho một giai đoạn lịch sử được biết đến với tên gọi “Chiến tranh Lạnh” (Cold War)

Cuộc Chiến tranh Lạnh giữa hai cường quốc Mỹ – Liên Xô (1947 – 1989) là một cuộc chiến tranh khác lạ, không bởi chỉ vì cái tên của nó mà còn cả vì hình thái, diễn biến, cách đánh giá và nhận định về tác động của nó đối với cục diện Thế giới Mà còn bởi sự đối lập căn bản về ý thức, sự khác biệt căn bản về lợi ích quốc gia của hai nước,

cơ bản động cơ hành vi của hai nước là triệt tiêu lẫn nhau Sự đối lập đó đã có những biểu hiện rõ ràng trong thời kỳ vô cùng nghẹt thở, căng thẳng và diễn biến phức tạp này

Chính vì những lí do trên, nhóm tác giả đã chọn đề tài “Quan hệ Mỹ – Liên Xô

trong Chiến tranh Lạnh (1947 – 1989)” làm đề tài tiểu luận của mình

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Vì đây là một trong những vấn đề trọng tâm của cuộc Chiến tranh Lạnh giữa hai siêu cường Mỹ – Liên Xô nên đã thu hút nhiều sự quan tâm của các học giả, nhà nghiên cứu trên khắp Thế giới với nhiều nhận định, đánh giá khác nhau Có thể kể đến một số công trình như:

Tác giả JB Dorusell trong tác phẩm “Lịch sử ngoại giao” do Nhà xuất bản học viện quan hệ quốc tế xuất bản vào năm 1995, tác phẩm nêu ra những chính sách ngoại giao của Mỹ và Liên Xô sau Chiến tranh Thế giới thứ II, cung cấp cho người đọc những

tư liệu quan trọng để có thể hiểu rõ hơn về những diễn biến của cuộc Chiến tranh Lạnh giữa hai cực Liên Xô – Mỹ

Trang 7

Tác giả John D Clare với đề tài “Origins Of The Cold War 1945 - 1949” đề cập đến sự hình thành Chiến tranh Lạnh Trong đó, tác giả phân tích những sự kiện quan trọng đưa đến quan hệ Liên Xô - Hoa Kỳ từ đồng minh chuyển sang đối đầu trong Chiến tranh Lạnh

Tác giả Trần Nam Tiến với “Lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại (1945-2000)”, nội dung tác phẩm đề cập đến những cơ sở cho sự hình thành trật tự Thế giới hai cực sau chiến tranh thông qua các hội nghị tổ chức thời hậu chiến Trong đó do Liên Xô và Hoa

Kỳ đứng đầu, dẫn đến sự thay đổi quan hệ hai cường quốc: từ đồng minh thời chiến chuyển sang đối đầu, từ đó hình thành cục diện Chiến tranh Lạnh và sự đối đầu hai cực Liên Xô - Hoa Kỳ

Hay như tác giả Nguyễn Anh Thái trong tác phẩm “Cuộc chiến tranh lạnh sau chiến tranh thế giới thứ II (1947 - 1989 )” in trong cuốn sách “Một số chuyên đề lịch sử thế giới” do nhà xuất bản Đại học Quốc gia (2003), cũng đã tạo nên một bức tranh sinh động, đầy đủ về những đặc trưng cơ bản nhất, quan trọng của cuộc Chiến tranh Lạnh giữa hai cực Liên Xô – Mỹ

Các công trình nghiên cứu trên đã trình bày một cách khá toàn diện về những nội dung của quan hệ Mỹ – Liên Xô sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai cho đến Chiến tranh Lạnh

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu “Quan hệ Mỹ - Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh (1947-1989)” được thực hiện với hai mục đích chính :

Thứ nhất, góp phần làm rõ hành động và mối quan hệ giữa hai siêu cường Liên

Xô và Hoa Kỳ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai thông qua Chiến tranh Lạnh

Thứ hai, phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử quan hệ quốc tế của hai siêu cường quốc: Liên Xô và Hoa Kỳ

4 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quan hệ Mỹ - Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh (1947 – 1989) Những vấn đề liên quan đến chính sách, chủ trương của Mỹ và Liên Xô

và quan hệ giữa hai nước để hình thành nên một phần của cuộc Chiến tranh Lạnh (1947 – 1989)

5 Phạm vi nghiên cứu

+ Không gian: ở châu Âu và một số khu vực ở châu Á

+ Thời gian: 1947 – 1989

Trang 8

+ Tài liệu: Trong giới hạn khả năng cho phép, đề tài chỉ được tiếp cận các tài liệu tiếng Việt và tiếng Anh

+ Đề tài dựa trên những sự kiện xảy ra giữa hai cường quốc Mỹ – Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh (1947 – 1989) với những giai đoạn thăng trầm, gay gắt, phức tạp và

sự phát triển sau này

6 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của học thuyết Mác – Lênin

và những phương pháp đặc trưng của ngành học

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết như: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp phân loại và hệ thống hóa, phương pháp lịch sử, phương pháp logic và phương pháp đặc trưng của lịch sử quan hệ quốc tế

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục thì Tiểu luận gồm có 3 chương:

Chương 1: Tình hình Liên Xô và Mỹ sau Chiến tranh Thế giới thứ II và sự xuất hiện của Chiến tranh Lạnh

Chương 2: Quan hệ Mỹ - Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh (1947 – 1989)

Chương 3: Tác động của quan hệ Mỹ - Liên Xô tới quan hệ quốc tế trong Chiến tranh Lạnh (1947 – 1989)

Trang 9

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH LIÊN XÔ VÀ MỸ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI

THỨ II VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA CHIẾN TRANH LẠNH

1.1 Bối cảnh Thế giới và tình hình Liên Xô – Mỹ sau Chiến tranh Thế giới thứ II

Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc là sự chia rẽ trở lại giữa hai quốc gia Mỹ và Liên Xô Hai quốc gia Mỹ - Liên Xô đã ủng hộ hai ý thức hệ chính trị và kinh tế trái ngược nhau và cạnh tranh sự ảnh hưởng quốc tế của mình trên hai lĩnh vực kinh tế -chính trị Điều này đã làm kéo dài một cuộc đấu tranh kinh tế, ý thức hệ và địa chính trị

Mặc dù Chiến tranh Thế giới thứ hai đã đưa hai nước vào liên minh, dựa trên mục tiêu chung là đánh bại Đức Quốc xã Tuy nhiên, người Mỹ từ lâu đã cảnh giác với chủ nghĩa Cộng sản của Liên Xô và lo ngại về sự cai trị độc tài của nhà lãnh đạo Liên Xô là Joseph Stalin Về phần Liên Xô cũng phẫn nộ với việc người Mỹ từ chối coi Liên Xô là một phần hợp pháp của cộng đồng quốc tế trong nhiều thập kỷ cũng như việc họ chậm trễ tham gia Thế chiến II, dẫn đến cái chết của hàng chục triệu người Nga Sau khi chiến tranh kết thúc, những mối bất bình này nảy sinh cảm giác ghét bỏ và thù hận lẫn nhau

1.1.1 Bối cảnh Thế giới sau Chiến tranh Thế giới thứ II

Sau khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc, so sánh lực lượng giữa các quốc gia đã có sự thay đổi mang tính căn bản Chiến tranh Thế giới thứ hai đánh dấu sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít bành trướng, xâm lược thuộc địa đòi chia lại Thế giới, vốn

đã phân chia trước đó, có lợi cho các nước tư bản Anh, Pháp Trong đó, Đức với tham vọng “xây dựng đại Đức” nghĩa là lãnh thổ Đức bao gồm những nơi có cư dân Đức sinh sống ở châu Âu Nhưng sau chiến tranh với sự thất bại hoàn toàn của chủ nghĩa phát xít, các nước phát xít hùng mạnh trước kia là Đức, Italia, Nhật Bản đã bị đánh bại hoàn toàn

và suy yếu Trong đó, Anh và Pháp tuy là nước thắng trận nhưng cũng đã bị chiến tranh tàn phá hết sức nặng nề, trên thực tế đã bị tụt xuống so với các nước khác Ngược lại, Hoa Kỳ và Liên Xô đóng vai trò quan trọng trong việc tiêu diệt phát xít, nhanh chóng trở thành hai siêu cường quốc trên Thế giới mà sự phát triển vượt bậc của hai siêu cường không một nước nào có thể so sánh được Đó là, sự vươn lên mạnh mẽ của Hoa Kỳ và Liên Xô sau chiến tranh, Thế giới bị chi phối bởi hai siêu cường và luôn trong tình trạng căng thẳng, đi đến đối đầu nhau giữa một bên là chủ nghĩa tư bản, một bên là chủ nghĩa

Trang 10

xã hội Sự thay đổi căn bản đó đã cho thấy Thế giới đang phân thành hai cực, là cán cân quyền lực mới hai nước Hoa Kỳ - Liên Xô

1.1.2 Tình hình Liên Xô sau chiến tranh Thế giới thứ II

Sau khi Đức Quốc xã đầu hàng vào cuối Thế chiến II, liên minh thời chiến giữa Liên Xô, Hoa Kỳ và Anh bắt đầu tan rã

Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, Liên Xô vào năm 1948 đã thành lập các chính phủ theo khuynh hướng cộng sản ở các nước Đông Âu mà Liên Xô đã giải phóng khỏi

sự kiểm soát của Đức Quốc xã trong chiến tranh Trong thời kỳ ngay sau chiến tranh, Liên Xô đã bắt đầu xây dựng lại và sau đó mở rộng nền kinh tế của mình, với quyền kiểm soát hoàn toàn thuộc về Moscow Liên Xô củng cố quyền lực của mình ở Đông

Âu, cung cấp viện trợ cho những người cộng sản cuối cùng chiến thắng ở Trung Quốc,

và tìm cách mở rộng ảnh hưởng của mình ở những nơi khác trên Thế giới Chính sách đối ngoại tích cực này đã góp phần dẫn đến Chiến tranh Lạnh, biến các đồng minh thời chiến của Liên Xô là Anh và Hoa Kỳ trở thành kẻ thù đối nghịch lẫn nhau

1.1.3 Tình hình Hoa Kỳ sau Chiến tranh Thế giới thứ II

Trong những năm ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, nước Mỹ đã có ảnh

hưởng lớn chi phối các công việc toàn cầu Mỹ với ưu thế ở xa chiến trường, lại được hai đại dương là Đại Tây Dương và Thái Bình Dương che chở, không bị chiến tranh tàn phá Nước Mỹ nhanh chóng trở nên giàu có sau 2 cuộc chiến tranh do sự “khôn ngoan”

của mình: tranh thủ thời cơ đẩy mạnh phát triển việc sản xuất và bán vũ khí, hàng hóa

cho các nước tham chiến Vì vậy, sau chiến tranh, Mỹ đã vươn lên chiếm ưu thế tuyệt đối về mọi mặt trong thế giới tư bản Là “người chiến thắng” trong cuộc Chiến tranh Thế giới, lại không bị tàn phá bởi chiến tranh, Hoa Kỳ nổi lên như một trong hai siêu cường thống trị, quay lưng lại với chủ nghĩa biệt lập truyền thống của mình và hướng tới việc tăng cường can dự quốc tế

1.2 Sự xuất hiện của Chiến tranh Lạnh

1.2.1 Khái niệm Chiến tranh Lạnh

Chiến tranh Lạnh được hiểu là thời kì căng thẳng về mặt chính trị và quân sự giữa

Mỹ và Liên Xô sau khi kết thúc Chiến tranh Thế giới lần thứ hai Yếu tố “chiến tranh”

ở đây thể hiện sự đối đầu sâu sắc về mặt quyền lực và ý thức hệ giữa hai nước; trong khi

đó “lạnh” phản ánh việc Liên Xô và Mỹ không sử dụng vũ khí “nóng” (các loại vũ khí truyền thống) trong mối quan hệ kình địch này, mà thay vào đó là cuộc chạy đua vũ trang, nổi bật là vũ khí hạt nhân Trên thực tế, Chiến tranh Lạnh là giai đoạn đầu tiên trong lịch sử tồn tại hệ thống lưỡng cực, mà Mỹ và Liên Xô là đại diện và mâu thuẫn giữa hai nước cũng đại diện cho mâu thuẫn giữa phe Tư bản chủ nghĩa (do Mỹ đứng

Trang 11

đầu) và phe Xã hội chủ nghĩa (do Liên Xô khởi xướng) Chiến tranh Lạnh do đó tác động toàn diện tới tất cả các mặt trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia khi mà các nước tự xác định con đường đi của mình dựa trên sự định hình

ý thức hệ1

1.2.2 Khởi đầu dẫn đến sự xuất hiện của Chiến tranh Lạnh

Sau chiến tranh, các lực lượng mới hình thành là phe Tư bản chủ nghĩa và phe

Xã hội chủ nghĩa – cả hai đều ra sức gây ảnh hưởng lên các nước Thế giới thứ ba (cũng

là lực lượng thứ ba hình thành sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai) Tình trạng bị tàn phá và kiệt quệ của nhiều nước sau chiến tranh đã dẫn đến một cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật mới và gia tăng xu hướng hợp tác kinh tế quốc tế

Trong bối cảnh này, hai quốc gia mạnh nhất bước ra từ sau chiến tranh là Mỹ và Liên Xô đã gia tăng tranh giành khu vực ảnh hưởng trên Thế giới Hội nghị Yalta, sau

đó là Hội nghị Hòa bình Paris và Hội nghị Postdam, đã cho ra đời luật bất thành văn: Đông Âu, Mông Cổ và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên thuộc khu vực ảnh hưởng của Liên Xô, phần còn lại của thế giới thuộc về phương Tây Nhờ dòng chảy phát minh khoa học kỹ thuật trỗi dậy mạnh mẽ, hai siêu cường thế giới lúc bấy giờ là Mỹ và Liên Xô đều có điều kiện để gia tăng sức mạnh về quân sự, vũ khí… và trở thành đối trọng lẫn nhau Nếu không có sự tồn tại (về mối đe dọa hủy diệt) của vũ khí hạt nhân, xung đột giữa hai siêu cường có thể leo thang và dẫn đến một cuộc chiến thật sự, tương

tự như hai cuộc chiến đã diễn ra trong thế kỉ 20 Do đó có thể nói hai siêu cường thường xuyên bị đặt trong tình trạng “bên miệng hố chiến tranh”

Ngày 12/03/1947, tổng thống Mỹ khi đó là Harry S Truman đã cho ra đời Học thuyết Truman, trong đó lần đầu tiên khẳng định Liên Xô là địch thủ và Mỹ sẵn sàng chống Liên Xô, cũng như trợ giúp những nơi bị Liên Xô và sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản đe đọa Đây được cho là cái cớ của chính quyền Washington lúc bấy giờ, khi người Mỹ nhận ra rằng sự biệt lập chính trị của Mỹ tại Châu Âu sau Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất là một sai lầm lớn, có thể đã tạo “khoảng trống” cho sự nổi dậy của

1 “Chiến tranh lạnh” (2015) Truy xuất từ Chiến tranh lạnh (Cold War) (nghiencuuquocte.org)

Trang 12

Hitler và sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai là sự hiện diện của Liên Xô trên một nửa lục địa

Năm 1948, Mỹ bắt đầu thực hiện Kế hoạch Marshall, viện trợ khoảng 17 tỷ USD cho các nước Tây Âu, giúp các nước này hồi phục sau chiến tranh Kế hoạch Marshall bao gồm các biện pháp nhằm “ngăn chặn” sức mạnh Liên Xô qua hai giai đoạn: tái thiết Châu Âu “phi cộng sản” về mặt kinh tế - chính trị, tăng khả năng để chống lại Liên Xô, đồng thời, duy trì sức mạnh hạt nhân và sự tin cậy vào việc bảo vệ các đồng minh Châu

Âu của Mỹ Nhóm G7 được thành lập bao gồm các quốc gia mạnh nhất của phương Tây nhằm chống lại Liên Xô và các nước thế giới thứ ba (vốn đã từng gây ra cuộc khủng hoảng dầu mỏ 1913 nhằm gây áp lực cho phương Tây)

Để đối phó với sự thù địch của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO)

do Mỹ, Canada và các đồng minh châu Âu thành lập vào năm 1949, Liên Xô vào năm

1955 đã củng cố quyền lực giữa các nước thuộc khối phương Đông, liên minh đối địch gọi là Khối Warsazawa, từ đó gây ra Chiến tranh Lạnh

Trang 13

CHƯƠNG 2: QUAN HỆ MỸ - LIÊN XÔ TRONG CHIẾN TRANH LẠNH (1947 – 1989)

2.1 Mỹ và Liên Xô đối với vấn đề nước Đức sau Chiến tranh Thế giới thứ II

Trong lúc chiến tranh còn đang tiếp diễn, các cường quốc Hoa Kỳ, Liên Xô, Anh

đã có những cuộc gặp gỡ nhau nhằm giải quyết các vấn đề sau chiến tranh Trong đó việc thống nhất lại nước Đức sau Chiến tranh Thế giới thứ hai là một đề tài được tranh luận sôi nổi nhất trong các phiên họp quốc tế cấp cao Phát xít Đức bị tiêu diệt, đó là thắng lợi vẻ vang của ba cường quốc Với vị trí hết sức quan trọng của Đức, thế giằng

co giữa Đông và Tây Vấn đề phát sinh là phân chia thành quả đó như thế nào? Nước nào được bồi thường nhiều hơn? Bồi thường dưới hình thức nào? Vấn đề phân chia phạm vi chiếm đóng ba cường quốc ở Đức như thế nào? Về việc thống nhất xây dựng tương lai Đức sau chiến tranh ra sao? Đó là những vấn đề thảo luận giữa các nước luôn xảy ra bất đồng Và khó khăn trong việc tìm kiếm tiếng nói chung vì sự khác biệt ý thức

hệ, mục tiêu, lợi ích quốc gia, đại diện là Hoa Kỳ và Liên Xô.2

Vấn đề nước Đức đã được ra thảo luận trước khi chiến tranh kết thúc tại các hội đàm, hội nghị quan trọng như: các hội nghị thượng đỉnh giữa các nguyên thủ của ba nước Anh, Mỹ và Liên Xô, hội nghị Yalta (02/1945) và hội nghị Potsdam (08/1945) Tại Hội nghị Yalta các cường quốc đã đạt được một số thỏa thuận về phân chia khu vực chiếm đóng Đức, đề ra mục tiêu, nguyên tắc, chính sách chiếm đóng nhưng cũng xuất hiện bất đồng về việc bồi thường chiến tranh Trong thời gian tiếp đón, Tổng thống Truman nhậm chức ở Hoa Kỳ do có nhiều bất đồng về quan điểm chính trị, về tư tưởng,

về quyền lợi, giữa các nước Đồng minh đã nảy sinh các mâu thuẫn ngày càng gay gắt Chính vì vậy, vấn đề Đức tưởng chừng như đã được sắp xếp ổn thỏa, sau chiến tranh lại phải xem xét lại Và một lần nữa vấn đề Đức lại đưa ra thảo luận tại Hội nghị Potsdam Tại Hội nghị Potsdam, vấn đề Đức tiếp tục được đưa tranh luận về việc bồi thường chiến tranh và tương lai Đức, tiến tới xây dựng nước Đức thống nhất Các cường quốc cũng khẳng định lại mục tiêu và nguyên tắc chiếm đóng Nghị định thư đã nhất trí tại Potsdam chỉ đơn thuần lặp lại các thỏa thuận tại Hội nghị Yalta, ngoại trừ rằng Liên Xô được phép để bồi thường chiến tranh từ vùng Xô và 10% các thiết bị công nghiệp của các khu vực phía Tây Tuy vậy, các nước đã công khai không đồng ý về bồi thường chiến tranh Hội nghị Yalta và Hội nghị Potsdam làm nền tảng để các cường quốc thực hiện việc

2 Phan Thị Kiều Thúy Liễu “Quan hệ Liên Xô – Hoa Kì và nguồn gốc chiến tranh lạnh ở châu Âu” Bộ giáo dục

và đào tạo tp HCM, 2013

Trang 14

chiếm đóng Đức Nhưng trong quá trình thực hiện việc chiếm đóng của mình, các nước

đã có chính sách chiếm đóng khác nhau nhưng dựa trên mục tiêu và nguyên tắc chiếm đóng đã xác định tại Hội nghị Yalta và Potsdam Và sau khi Chiến tranh Thế giới thứ II kết thúc vấn đề Đức lại được tiếp tục đưa ra thảo luận qua các cuộc họp ngoại trưởng: hội nghị ngoại trưởng Ngũ cường (11/09 đến 2/10/1945) gồm: Liên Xô, Hoa Kỳ, Anh, Pháp và Trung Quốc tại London; Hội nghị ngoại trưởng Tam Cường (từ 06/12 đến 26/12/1945) gồm ba nước: Liên Xô, Hoa Kỳ và Anh tại Moskva; Hội nghị ngoại trưởng

Tứ cường (12/07/1946) gồm: Liên Xô, Hoa Kỳ, Anh và Pháp tại Paris được họp tại New York (từ ngày 04/12 đến 12/07/1946) Nhưng giữa các nước vẫn có nhiều điều bất đồng với nhau

Điều đó gây khó khăn cho bốn cường quốc trong việc thảo luận vấn đề thống nhất nước Đức Vấn đề thống nhất nước Đức được đưa ra thảo luận tại các cuộc họp ngoại trưởng Tứ cường tại Paris và New York, nhưng đã xuất hiện bất đồng giữa các cường quốc, trừ Hoa Kỳ và Anh Hai nước đã kí hiệp định hợp nhất hai vùng chiếm đóng của mình về kinh tế, vi phạm điều cam kết Hành động này, làm cho quan hệ giữa Hoa Kỳ với Liên Xô càng thêm rạn nứt Cùng với một loạt các sự kiện xảy ra trong năm 1947

đã đánh dấu quan hệ hai nước đến chỗ đoạn tuyệt Vấn đề Đức càng trở nên bế tắc, tiếp sau đó Hội nghị ngoại trưởng Tứ cường được tổ chức tại Moskva từ ngày 10/03 đến ngày 25/04/1947 nhằm tìm giải pháp cho vấn đề Đức, nhưng các cường quốc đã không tìm thấy tiếng nói chung Tầm nhìn về tương lai Đức của hai cường quốc hoàn toàn khác nhau Sự thất bại Hội nghị Moskva đã cho thấy vấn đề Đức đi vào bế tắc, lập trường khác nhau, từ đây mỗi nước sẽ giải quyết theo cách riêng của mình

2.1.1 Liên Xô, Mỹ và sự chia cắt nước Đức

Sau khi Chiến tranh Thế giới thứ II kết thúc, những bất đồng và xung đột giữa các nước đồng minh đã diễn ra ngày trầm trọng và sau các cuộc họp, các hội nghị các nước đã không thống nhất được với nhau đã dẫn đến chia nước Đức thành 4 phần do phe Đồng minh (Mỹ, Liên Xô, Anh và Pháp) chiếm đóng Phần phía Đông do Liên Xô kiểm soát Phần phía Tây thì được chia cho 3 nước Anh, Pháp, Mỹ chiếm đóng: vùng viễn Tây của Pháp, của Anh là vùng Tây Bắc, của Hoa Kỳ là vùng phía Nam Bên cạnh

đó, thủ đô Berlin do Liên Xô kiểm soát nhưng vì là phần quan trọng của nước Đức nên

đã được chia thành 4 phần như nước Đức (phía Đông do Liên Xô quản lý, phía Tây do các nước còn lại quản lý)

Trang 15

2.1.1.1 Tây Đức

Tây Đức: do ba nước Anh, Pháp và Mỹ quản lý Vào ngày 23/05/1949, Cộng Hòa Liên bang Đức được thành lập từ 11 bang từ ba khu vực chiếm đóng của Anh, Pháp, Hoa Kỳ Chính sách chiếm đóng phía Anh, Mỹ và Pháp có phần “nương nhẹ” với Đức

Về kinh tế, Hoa Kỳ, Anh và Pháp đã tạo điều kiện cho các giai cấp tư sản Đức tổ chức lại nền kinh tế nhằm khôi phục nhanh chóng sức sản xuất Và hạn chế tối đa tháo

dỡ các xí nghiệp Đức cho mục đích bồi thường của các nước đồng minh (trong đó có Liên Xô) Ngoài ra, Anh và Hoa Kỳ còn giảm bớt việc chuyển giao cho Liên Xô các vùng chiếm đóng của mình Những hành động trên đã cho thấy phía Hoa Kỳ, Anh, Pháp đang giúp Đức khôi phục nền kinh tế Nhờ có sự hậu thuẫn của ba nước Hoa Kỳ, Anh, Pháp phía sau nên Tây Đức đã phục hồi nền kinh tế nhanh chóng Bên cạnh đó, Hoa Kỳ

đã thực thi kế hoạch Marshall - Hoa Kỳ sẽ cung cấp viện trợ để các nước trên Thế giới phục hồi nền kinh tế Ngày 02 tháng 07 năm 1947, ngoại trưởng các nước Anh, Pháp triệu tập ở Paris, hội nghị 16 nước tư bản châu Âu nhận viện trợ của Hoa Kỳ Như vậy, các nước Tây Âu đã tỏ thái độ ủng hộ và hưởng ứng tích cực, chỉ không đầy hai tuần, các nước đã họp bàn và nhận viện trợ chính thức từ Hoa Kỳ, kế hoạch đã thành công bước đầu Hoa Kỳ đã có được liên minh kinh tế từ các nước Tây Âu Tháng 04 năm

1948, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua “Đạo luật viện trợ nước ngoài” với những quy định: Các nước nhận viện trợ buộc phải ký với Hoa Kỳ những hiệp định tay đôi, phải thi hành

“hết sức nhanh chóng” các chính sách kinh tế, tài chính mà Hoa Kỳ yêu cầu, phải đảm bảo quyền lợi cho tư nhân Hoa Kỳ đầu tư kinh doanh, phải cung cấp nguyên liệu chiến lược cho Hoa Kỳ Ngoài ra đạo luật còn dùng lời lẽ kín đáo buộc các nước nhận “viện trợ” phải thủ tiêu việc buôn bán với các nước xã hội chủ nghĩa, hủy bỏ kế hoạch quốc hữu hóa và gạt các lực lượng tiến bộ ra ngoài chính phủ Kế hoạch được thực hiện từ ngày 09 tháng 04 năm 1948 đến ngày 31/12/1951 thì kết thúc Nhờ có sự hậu thuẫn của

ba nước Hoa Kỳ, Anh, Pháp phía sau nên Tây Đức đã phục hồi nền kinh tế nhanh chóng

Về chính trị: Hoa Kỳ, Anh, Pháp tạo điều kiện phục hồi chế độ đa đảng theo mô hình phương Tây trong vùng chiếm đóng của họ Xây dựng một hệ thống chung và các đảng chính trị cần có 50% số ghế để vào quốc hội và có 4 đảng trong quốc hội gồm: Liên minh Dân chủ Kitô giáo, Liên minh xã hội Kitô giáo Bayern, Đảng Dân chủ xã hội

và Đảng Dân Chủ tự do Đức.Phía Hoa Kỳ, muốn Đức trong tương lai là một nhà nước Liên bang với chính phủ trung ương mạnh, kiểm soát các lĩnh vực ngoại giao, hải quan, ngân hàng…

Trang 16

2.1.1.2 Đông Đức

Cộng hòa Dân chủ Đức: là một quốc gia hình thành ở vùng chiếm đóng của Liên

Xô và được quản lý bởi Quân đội Xô viết, phía đông nước Đức nên được gọi là Đông Đức Đây là một quốc gia định hướng đi theo con đường chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Marx-Lenin Quốc gia này tồn tại từ năm 1949 đến năm 1990 Chính sách chiếm đóng của Liên Xô đối với Đức theo tinh thần “thẳng tay”

Về kinh tế: Liên Xô đã triệt tiêu mọi tàn dư của Chế độ quốc xã, cố xóa bỏ hẳn các ảnh hưởng còn sót lại của Chủ nghĩa phát xít và đập tan mọi cơ sở của Chủ nghĩa quân phiệt Liên Xô đã tịch thu toàn bộ phương tiện sản xuất của bọn tội phạm chiến tranh, làm cho Đức không thể phục hồi nền công nghiệp quân sự Tiến hành tháo dỡ các

xí nghiệp, công nghiệp trong vùng chiếm đóng về nước Liên Xô đã thực hiện đúng theo tinh thần của các hội nghị Yalta và Potsdam

Khi Hoa Kỳ đề ra thực thi kế hoạch Marshall, Liên Xô đã từ chối tham gia và ngăn cản các nước Đông Âu thuộc quyền kiểm soát của mình cũng không được tham gia Để đáp trả lại Kế hoạch Marshall của Hoa Kỳ, Liên Xô cùng các nước xã hội chủ nghĩa và các Đảng Cộng sản châu Âu đã xúc tiến thành lập Cơ quan thông tin cộng sản (Cominform) vào tháng 10 năm 1947 Đại diện của 9 Đảng Cộng sản (Liên Xô, Ba Lan, Nam Tư, Bungari, Rumani, Hungari, Tiệp Khắc, Italia và Pháp) tham dự cuộc họp này tại Warszawa với Học thuyết Zhdanov đánh dấu sự đối đầu của Liên Xô chống lại Hoa

Kỳ và đồng minh phương Tây Thông qua hội nghị, Liên Xô đã xác định đồng minh của mình là những nước chống đế quốc và đi theo con đường tiến bộ dân chủ như: Romania, Hungary, Phần Lan, Indonesia, Việt Nam, Ấn Độ… Bằng việc đề ra “Chủ thuyết Zhdanov” Liên Xô đã tập hợp lực lượng ủng hộ mình, trên Thế giới đã hình thành một khối liên minh đối đầu với Hoa Kỳ và phương Tây Chủ thuyết Zhdanov trở thành nền tảng chính sách đối ngoại của Liên Xô cho đến những năm 1980 Bước đi đầu tiên của Liên Xô nhằm tập hợp lực lượng là việc thành lập cơ quan thông tin Cộng sản có nhiệm

vụ tổ chức thực hiện thông tin, trao đổi kinh nghiệm và phối hợp hành động đấu tranh giữa các Đảng Cộng sản một cách tự nguyện Để trao đổi thông tin, hội nghị đã quyết định xuất bản tạp chí ở Beograd bằng tiếng Pháp và tiếng Nga mang tên “Vì một nền hòa bình vững chắc, vì nền dân chủ nhân dân” Cục thông tin Cộng sản hay còn gọi là Cominform được thành lập ngay tại Hội nghị ở Szklarska-Poreba (Ba Lan) ngày 05/10/1947 với 9 nước tham gia Sự kiện này đã đánh dấu sự liên kết chặt chẽ giữa Liên

Xô và các nước đồng minh

Về chính trị, Liên Xô thẳng tay xóa sạch tất cả những gì còn sót lại của Đảng Quốc xã và các tổ chức đoàn thể của đảng này Năm 1946, Liên Xô sáp nhập Đảng Cộng sản Đức và Đảng Dân chủ Xã hội thành một đảng có tên là Đảng Xã hội chủ nghĩa

Trang 17

Thống nhất Đức tuân thủ chế độ chuyên chính vô sản Liên Xô muốn xây dựng nước Đức trong tương lai sẽ có chính phủ trung ương mạnh, còn trước mắt các cơ quan hành chính trung ương sẽ được thành lập phụ trách các lĩnh vực kinh tế

2.1.2 Cuộc phong tỏa Berlin (1948)

Cuộc phong tỏa Berlin kéo dài trong khoảng 24/06/1948 đến 5/05/1949, Liên Xô

đã thực hiện lệnh phong tỏa đối với Tây Đức và theo nhà nghiên cứu, ngoại giao cho rằng đây là một động thái ngoại giao sai lầm của Liên Xô Tầm nhìn về tương lai Đức của hai cường quốc hoàn toàn khác nhau, sự thất bại trong nỗ lực tìm kiếm một nền hòa bình sau chiến tranh, cùng chung sống hòa bình đã không thể tồn tại Đánh dấu sự tan

vỡ quan hệ đồng minh trong chiến, quan hệ hai cường quốc đến chỗ đoạn tuyệt Và cuộc phong tỏa Berlin là cuộc khủng hoảng quốc tế chính đầu tiên của Chiến tranh Lạnh

Vào tháng 02/1948 hội nghị 6 nước diễn ra ở London nhưng Liên Xô không có mặt để thảo luận về vấn đề nước Đức Và vào ngày 20/03/1948 diễn ra cuộc họp giữa các nước chiếm đóng nhưng Liên Xô bị từ chối thông báo về cuộc hội nghị, từ đó Liên

Xô tạm ngừng hoạt động với hội đồng kiểm soát đồng minh Ba nước Anh, Pháp, Mỹ

đã thỏa thuận về cuộc cải tổ tiền tệ diễn ra và việc Liên Xô phong tỏa tây Berlin nhằm trả đũa lại động thái của ba nước Anh, Pháp, Mỹ Đã có cuộc đàm phán giữa 4 nước về việc cải tổ tiền tệ nhưng do khác biệt lập trường quan điểm của nhau nên đã thất bại

Trong một nỗ lực để đẩy Anh và Mỹ ra khỏi khu vực chiếm đóng ở Tây Berlin, Liên Xô bắt đầu can thiệp vào giao thông đường bộ và đường sắt đi vào những khu vực của thành phố này vào tháng 04 năm 1948 (Mặc dù được chia thành các khu vực chiếm đóng, về mặt địa lý thành phố Berlin nằm trọn trong khu vực chiếm đóng của Liên Xô

ở Đức) Vào tháng 06 năm 1948, Liên Xô đã chặn tất cả các tuyến đường bộ và đường thủy vào Tây Berlin.3 Để vào khu vực này thì chỉ còn đường hàng không lưu thông Liên

Xô thực hiện lệnh phong tỏa này để buộc các nước phương Tây lùi lại để cho Đông Đức

do Liên Xô kiểm soát cung cấp thực phẩm và nhiên liệu cho Berlin và sau đó sẽ kiểm soát toàn thành phố Nhưng phía Anh, Pháp, Mỹ không chịu nhượng bộ để Liên Xô thực hiện kế hoạch của mình Sau hai ngày Liên Xô áp đặt lệnh phong tỏa, Mỹ đã phản ứng lại Thiết lập một cầu không vận và vận chuyển 1,5 triệu tấn lương thực, thuốc men, nhu yếu phẩm, cho người dân ở khu vực Tây Berlin Trong khoảng thời gian khu vực Tây Đức bị phong tỏa thì Không lực Hoàng gia Anh và Không lực Hoa Kỳ đã có hơn 200.000 chuyến bay cùng với 13.000 tấn thực phẩm cho khu vực Tây Berlin Và sau hơn 11 tháng, phong tỏa thất bại buộc Liên Xô dỡ bỏ lệnh phong tỏa đối với Tây Đức.Trong

3 Kim Phụng (2018) 24/06/1948: Liên Xô phong tỏa Tây Berlin

Trang 18

khi Liên Xô trông giống như kẻ bắt nạt và chuyên quyền tàn nhẫn khi tìm cách bỏ đói, buộc Tây Berlin phải khuất phục, thì Anh và Mỹ – bằng cách phô trương ưu thế công nghệ của mình – được mô tả như những anh hùng bởi các nhà quan sát trên toàn thế giới.4

2.1.3 Sự kiện Bức tường Berlin (1961)

Bức tường Berlin được hình thành từ ngày 13/08/1961 và tồn tại đến ngày 09/11/1989 trước khi bị phá bỏ Bức tường là ranh giới chia cắt giữa phần Tây Berlin với phần phía đông của thành phố và với lãnh thổ của nước Cộng hòa Dân chủ Đức bao bọc chung quanh Tây Berlin

Nó không chỉ đơn thuần là đường biên giới giữa hai phần nước Đức mà còn là biên giới giữa Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV) với Cộng đồng Châu Âu (EC), giữa khối NATO và khối Vacsava, giữa phe tư bản chủ nghĩa và phe xã hội chủ nghĩa

Nhờ Kế hoạch Marshall, Tây Đức đã lựa chọn chiến lược phát triển kinh tế theo

mô hình thị trường tự do, giúp cho nền kinh tế ổn định và phát triển nhanh chóng Với chiến lược này, nền kinh tế Tây Đức đã phát triển vượt bậc và vượt xa nền kinh tế Đông Đức

Từ hệ quả trên đã xuất hiện làn sóng cư dân Đông Đức tìm cách trốn sang Tây Đức Thống kê cho thấy từ 1949 cho đến 1961 đã có khoảng 2,6 triệu người chạy từ Đông Đức sang Tây Đức, trong đó chỉ riêng trong hai tuần đầu của tháng 08 năm 1961

đã có tới 47.433 người chạy trốn Do những người chạy trốn sang Tây Đức thường là những thanh niên được đào tạo tốt nên tình trạng này đe dọa làm suy yếu nền kinh tế, đồng thời ảnh hưởng tới anh ninh quốc gia Đông Đức Để ngăn cản tình trạng “chảy máu” quá mức như vậy, chính quyền Đông Đức đã quyết định lựa chọn một biện pháp cứng rắn là xây dựng Bức tường Berlin

Trong đêm ngày 12 rạng sáng 13 tháng 08 năm 1961, quân đội Đông Đức đã bao quanh Tây Berlin bằng các công sự tạm thời và nhanh chóng thay thế bằng một bức tường bê tông cao 4m và dài 166 km, trong đó có 45 km nằm giữa hai phần Đông và Tây của Berlin Bức tường chỉ có hai điểm kiểm soát duy nhất cho phép người qua lại giữa hai phần nước Đức Việc kiểm soát Bức tường được thực hiện hết sức nghiêm ngặt,

và các lực lượng biên phòng Đông Đức được phép nổ súng vào những người tìm cách vượt qua bức tường để trốn sang Tây Đức một cách trái phép

Vào ngày 09/11/1989, người dân đã bắt đầu phá bỏ từng phần bức tường mà không gặp phải sự can thiệp của chính quyền Sự sụp đổ của Bức tường Berlin đã dẫn

4 Kim Phụng (2018) 24/06/1948: Liên Xô phong tỏa Tây Berlin

Trang 19

tới sự thống nhất hai phần nước Đức vào năm 1990, dưới tên gọi Cộng hòa Liên bang Đức và trở thành một biểu tượng cho sự chấm dứt cuộc Chiến tranh lạnh kéo dài hơn bốn thập kỷ.5

2.2 Quá trình chạy đua vũ trang giữa Mỹ và Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh 2.2.1 Sự hình thành các liên minh quân sự, kinh tế giữa hai khối Đông – Tây 2.2.1.1 Kế hoạch Marshall – Bước đầu hình thành liên minh phương Tây của Hoa Kỳ

Ngay sau khi Học thuyết Truman công bố, Tướng George Marshall đã đi sang châu Âu Ông đã bị sốc bởi những gì ông nhìn thấy, châu Âu đã bị hủy hoại Ông cho biết: “tất cả các quốc gia ở châu Âu rất nghèo rằng đó là nguy biến cộng sản Châu Âu

là nơi sinh sản của sự thù ghét”.6 Ông nói rằng nước Hoa Kỳ nên cung cấp 17 tỷ USD viện trợ để khôi phục nền kinh tế châu Âu và ngăn chặn Cộng sản Marshall đã công bố

kế hoạch của mình cho sinh viên tại Đại học Harvard vào ngày 05 tháng 06 năm 1947 Ông hứa rằng Hoa Kỳ sẽ làm bất cứ điều gì nó có thể làm để hỗ trợ trong sự phục hồi kinh tế trên Thế giới Sáng kiến này nhanh chóng trở thành kế hoạch trong nổ lực tìm kiếm liên minh phương Tây và ngăn chặn sự lây lan Cộng sản đầu tiên của Hoa Kỳ thường được gọi là Kế hoạch Marshall, theo tên Bộ trưởng ngoại giao Georse Marshall Hay còn có tên gọi khác là Chương trình Phục hồi châu Âu Thật ra sáng kiến này không phải thành quả riêng của Marshall mà đằng sau là sự hỗ trợ đắc lực từ Kennan và đội ngũ nhân viên mới trong Bộ ngoại giao của ông, phụ trách lên kế hoạch, chuẩn bị những tài liệu tổng thể mà dựa trên đó Kế hoạch Marshall đã được đề ra Kế hoạch Marshall được công bố thái độ của các nước phương Tây và Liên Xô phản ứng như thế nào? Phản ứng của Anh, Pháp đối với bài phát biểu của Marshall nhanh chóng và tích cực

Ngày 02 tháng 07 năm 1947, ngoại trưởng các nước Anh, Pháp triệu tập ở Paris, hội nghị 16 nước tư bản châu Âu nhận viện trợ của Hoa Kỳ Các đại biểu đã đưa ra con

số là 28 tỷ Đô la Truman yêu cầu Quốc hội 17 tỷ Đô la và Quốc hội đã đồng ý viện trợ

13 tỷ Đô la (sau khi các mối lo ngại về sự sụp đổ của Tiệp Khắc tháng 03 năm 1948) Như vậy, các nước Tây Âu đã tỏ thái độ ủng hộ và hưởng ứng tích cực, chỉ không đầy

5 “Bức tường Berlin” (2014) Truy xuất từ Bức tường Berlin (Berlin Wall) (nghiencuuquocte.org)

6 Dr John E Moser (2013), The Origins of the Cold War, Ashland University

Trang 20

hai tuần, các nước đã họp bàn và nhận viện trợ chính thức từ Hoa Kỳ, kế hoạch đã thành công bước đầu Hoa Kỳ đã có được liên minh kinh tế từ các nước Tây Âu

Tháng 04 năm 1948, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua “Đạo luật viện trợ nước ngoài” với những qui định: Các nước nhận viện trợ buộc phải ký với Hoa Kỳ nhưng hiệp định tay đôi, phải thi hành “hết sức nhanh chóng” các chính sách kinh tế, tài chính mà Hoa

Kỳ yêu cầu, phải đảm bảo quyền lợi cho tư nhân Hoa Kỳ đầu tư kinh doanh, phải cung cấp nguyên liệu chiến lược cho Hoa Kỳ Ngoài ra đạo luật còn dùng lời lẽ kín đáo buộc các nước nhận “viện trợ” phải thủ tiêu việc buôn bán với các nước xã hội chủ nghĩa, hủy

bỏ kế hoạch quốc hữu hóa và gạt các lực lượng tiến bộ ra ngoài chính phủ Kế hoạch được thực hiện từ ngày 09 tháng 04 năm 1948 đến ngày 31/12/1951 thì kết thúc Kết quả nền kinh tế của các nước nhận viện trợ được phục hồi nhanh chóng nhưng mặt khác nền kinh tế và chính trị của các nước này bị phụ thuộc chặt chẽ vào Hoa Kỳ Phản ứng của Liên Xô đối với Kế hoạch Marshall đó là không tham gia và yêu cầu các nước trong tầm ảnh hưởng cũng không tham gia Xuất phát từ mục đích của Kế hoạch Marshall, Stalin coi tầm nhìn của kế hoạch không phù hợp với kinh tế, chính trị của mình, và mục tiêu chính sách đối ngoại Stalin đã được mời nhưng nhìn thấy kế hoạch như là một âm mưu của Hoa Kỳ để phá hoại Liên Xô, ông cấm các nước Cominform tham gia

Vào tháng Sáu năm 1947, Liên Xô đã được mời đến Hội nghị tổ chức tại Paris, đại biểu đến từ Pháp, Anh, và Liên Xô đã gặp nhau tại Paris để thảo luận về đề nghị của Marshall Cuộc triệu tập tại Paris đã trở nên nổi tiếng vì sự đến và ra đi nhanh chóng của một đoàn đại biểu cấp cao Xô-viết do Ngoại trưởng Vyacheslav Molotov dẫn đầu Đoàn đại biểu Liên Xô cho rằng Hoa Kỳ và những đồng minh chủ chốt của họ đang tìm cách kiểm soát các nền kinh tế châu Âu Liên Xô xem kế hoạch Marshall của các nhà lãnh đạo phương Tây như là một lời từ chối cho nổ lực ổn định sau chiến tranh, hành động Molotov đóng góp cho sự phát triển của những căng thẳng Chiến tranh Lạnh Trong đó Zhdanov đã nhắc lại quan điểm của GM Malenkov, một chính trị gia của Liên Xô, nói vào năm 1947 về Kế hoạch Marshall “Các băng đảng cầm quyền của đế quốc Mỹ đã đưa ra những con đường mở rộng, nô dịch của nước tư bản suy yếu Nó đã ấp ủ kế hoạch chiến tranh mới chống lại Liên Xô Bắt chước Hitler, những kẻ xâm lược mới đang sử dụng bắt chẹt”7 Bằng phát biểu này đã cho thấy quan hệ giữa hai cường quốc đã đi đến chỗ tan vỡ Ngoài việc từ chối tham gia vào Kế hoạch Marshall riêng của mình, Liên

Xô còn ngăn cản các nước Đông Âu dưới sự kiểm soát của nó từ chối tham gia Như vậy, Học thuyết Truman và Kế hoạch Marshall được đưa ra cùng năm 1947 chứng minh rằng Tây Âu đã không thể giải quyết vấn đề của họ, buộc Hoa Kỳ tăng cường ảnh hưởng

7 Truman Doctrine/ Marshall Plan http://www.johndclare.net/cold_war8.htm

Trang 21

ở châu Âu Sự ảnh hưởng của Hoa Kỳ ở Tây Âu rõ ràng rằng hai cường quốc không thể cùng tồn tại hòa bình theo đúng như Churchill đã nhận xét sau những thỏa thuận đạt được tại Hội nghị Yalta Kế hoạch Marshall của Hoa Kỳ và phản ứng của Liên Xô đối với Marshall là điều dễ hiểu vì trong khi hành động bảo vệ lợi ích, an ninh của mình thì

nó đã ảnh hưởng lợi ích, an ninh của quốc gia khác và tất yếu quốc gia ấy sẽ cũng có phản ứng bảo vệ an ninh cho mình Đánh dấu sự thất bại trong nổ lực tìm kiếm một nền hòa bình sau chiến tranh, cùng chung sống hòa bình đã không thể tồn tại Đánh dấu sự tan vỡ quan hệ đồng minh trong chiến, quan hệ hai cường quốc đến chỗ đoạn tuyệt

2.2.1.2 Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV)

Cùng với Cục thông tin Cộng sản, Liên Xô tiến tới thành lập Hội đồng tương trợ kinh tế gồm Liên Xô và 5 nước Đông Âu nhằm tạo sự gắn kết giữa các nước Hội đồng Tương trợ Kinh tế được xem là phản ứng của Stalin trước việc Hoa Kỳ đề ra kế hoạch Marshall Stalin cho rằng người Hoa Kỳ và những đồng minh chủ chốt của họ đang tìm cách kiểm soát các nền kinh tế châu Âu, kế hoạch đó được xem là âm mưu của Hoa Kỳ nhằm phá hoại Liên Xô Hoa Kỳ đã xây dựng Tây Âu thành liên minh kinh tế vững chắc

và Liên Xô đang cố gắng xây dựng Đông Âu trở thành chỗ dựa, liên minh vững chắc đối phó với Hoa Kỳ

Hội đồng tương trợ kinh tế (hay còn gọi là COMECON) được thành lập với ý nghĩa đó Là một tổ chức kinh tế được thành lập ngày 08/01/1949 tại Moskva với sự tham gia của 6 nước gồm: Liên Xô, Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungary, Romani, Bulgaria Albania gia nhập một tháng sau đó (02/1949) và Đông Đức vào năm 1950 Mục đích của COMECON là thực hiện hợp tác kinh tế xã hội chủ nghĩa có kế hoạch, thúc đẩy sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, phân công sản xuất giữa các nước thành viên, giảm dần mức chênh lệch về trình độ phát triển giữa các nước thành viên… trao đổi kinh nghiệm về phương diện kinh tế, giúp đỡ lẫn nhau về kỹ thuật, nguyên liệu, thực phẩm, máy móc, thiết bị…

Như vậy, Hội đồng tương trợ kinh tế chỉ nằm trong giới hạn 5 nước Đông Âu Được áp dụng cho tất cả các hoạt động đa phương liên quan đến các thành viên của tổ chức, chứ không phải bị hạn chế các chức năng trực tiếp của COMECON và các cơ quan của nó Việc áp dụng này đã được mở rộng bằng quan hệ song phương giữa các thành viên Trong thời gian ngắn hoạt động COMECON đã để lại một di sản là nguyên tắc Sofia, được thông qua tại phiên họp tháng 08 năm 1949 tại Bulgaria

Nguyên tắc này hoàn toàn làm suy yếu quyền sở hữu trí tuệ, làm cho công nghệ của mỗi nước có sẵn cho những nước khác sử dụng với giá danh nghĩa đã ít hơn bao gồm chi phí tài liệu hướng dẫn Đương nhiên, làm lợi cho các nước COMECON ít phát

Trang 22

triển công nghiệp và đặc biệt là Liên Xô công nghệ bị tụt hậu Có thể thấy, trên thế giới thời điểm lúc bấy giờ đã xuất hiện hai khối kinh tế đối lập nhau: khối kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa (SEV) với thị trường riêng của nó và khối kinh tế tư bản chủ nghĩa

2.2.1.3 Sự thành lập khối quân sự NATO

Việc đề ra kế hoạch Marshall 1947 nhằm phục hồi nền kinh tế Tây Âu được xem

là bước đi đầu tiên của Hoa Kỳ trong việc tìm kiếm liên minh Tây Âu, Hoa Kỳ đã biến Tây Âu thành chỗ dựa vững chắc đối đầu với Liên Xô

Bước đi thứ hai, đó là thành lập Khối quân sự NATO năm 1949, qui mô khối này không giới hạn khu vực Tây Âu mà vươn ra khỏi Đại Tây Dương Mục đích của Hoa

Kỳ là tập hợp lực lượng phản cách mạng dưới sự chỉ huy của Hoa Kỳ để chống lại Liên

Xô, các nước xã hội chủ nghĩa và cao trào giải phóng dân tộc Đây được xem là công cụ bành trướng xâm lược của Hoa Kỳ và nhằm thực hiện chiến lược ngăn chặn sự lây lan của Cộng sản

Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, nhân dân Tây Âu vừa phải gánh chịu hậu quả nặng nề chưa khắc phục Mùa Đông năm 1946, lại gánh chịu thiên tai chưa từng có trong một trăm năm trở lại Nguyên liệu, nhiên liệu và vật dụng hằng ngày đều thiếu nghiêm trọng, nhà máy đóng cửa, công nhân thất nghiệp, biểu tình Tình hình chính trị ở Tây

Âu không ổn định, trong khi đó Đông Âu dưới sự giúp đỡ của Liên Xô lần lượt trở thành các nước xã hội chủ nghĩa Chủ nghĩa Cộng sản đã phát triển ra khỏi Tây Âu, Hoa Kỳ ở bên bờ Đại Tây Dương cũng hết sức lo ngại Đó là lí do Hoa Kỳ có những hành động tìm kiếm liên minh thông qua kế hoạch Marshall nhằm muốn xây dựng lực lượng quân

sự mạnh ở Tây Âu và cao hơn nữa là xây dựng liên minh quân sự vượt Đại Tây Dương

Cơ hội đến khi Liên Xô tiến hành phong tỏa Berlin, ảnh hưởng đến vùng chiếm đóng của Hoa Kỳ, Anh, Pháp ở Tây Berlin, cuộc khủng hoảng Berlin cho thấy khả năng của ứng phó của Anh, Pháp là rất kém Hoa Kỳ nắm vai trò lãnh đạo đối đầu Liên Xô ở Berlin Cũng thời gian này Stalin đã mở rộng phạm vi ảnh hưởng ra nhiều khu vực, phong trào giải phóng phát triển mạnh mẽ, hệ thống xã hội chủ nghĩa phát triển nhanh chóng

Để đối phó tình hình trên, tháng 07 năm 1948, 05 nước UEO cùng với Hoa Kỳ

và Canada xúc tiến kế hoạch thành lập liên minh phòng thủ ở khu vực Bắc Đại Tây Dương Cuộc đàm phán giữa các nước được tiến hành tại Washington (kéo dài từ ngày 10/12/1948 đến ngày 18/03/1949) Kết quả là Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương gồm 12 nước: Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Hà Lan, Bỉ, Lucxembua, Nauy, Bồ Dào Nha, Italia, Đan

Trang 23

Mạch, Aixơlen và Canada được kí kết ngày 04/04/1949 và có hiệu lực từ ngày 04/08/1949, thời hạn hiệu lực là 20 năm (có thể gia hạn thêm)

Ngày 12 tháng 04 năm 1949 Tổng Truman đã có bài phát biểu trước quốc hội, thể hiện sự cần thiết Hoa Kỳ tham gia tổ chức Bắc Đại Tây Dương Trong đó ông nêu

rõ mục đích thành lập tổ chức này là biểu hiện mong muốn của người dân Hoa Kỳ vì hòa bình và an ninh, để tiếp tục sống và làm việc tự do Các nước kí kết sẽ liên kết nhau chống lại bất kì cuộc tấn công vũ trang

Mục đích thành lập NATO là để ngăn chặn sự phát triển ảnh hưởng của Chủ nghĩa Cộng sản và Liên Xô lúc đó đang trên đà phát triển rất mạnh ở châu Âu có thể gây phương hại đến an ninh của các nước thành viên Khối NATO hay Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương ra đời dựa trên cở sở hai hiệp ước Thứ nhất, Hiệp định phòng thủ Tây bán cầu Thứ hai là Liên Hiệp Tây Âu (UEO) Hiệp ước quy định: Trong trường hợp “có cuộc tiến công vũ trang” vào một hoặc một số nước thành viên thì các nước khác phải nhanh chóng giúp đỡ, kể cả sử dụng lực lượng vũ trang Cơ quan quyền lực cao nhất là Hội đồng NATO, bên cạnh có Uỷ ban Kế hoạch phòng thủ gồm các bộ trưởng quốc phòng phụ trách vạch kế hoạch và chính sách quân sự thống nhất Về quân

sự, cơ quan quyền lực cao nhất là Uỷ ban Quân sự gồm Tổng tham mưu trưởng các nước thành viên do Tổng Thư kí NATO đứng đầu Ngoài lực lượng vũ trang riêng của từng nước, Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương có lực lượng thống nhất dưới sự chỉ huy của Bộ Tổng chỉ huy Liên minh khu vực Trong Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương, Hoa Kỳ và các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ đóng vai trò chủ đạo

Từ ngày thành lập, NATO luôn thực hiện chính sách đẩy mạnh chạy đua vũ trang chuẩn bị chiến tranh, đặc biệt là việc tăng cường sức mạnh hạt nhân, tạo nên tình hình căng thẳng thường xuyên ở châu Âu và trên Thế giới Nhận thấy rằng, sự thành lập khối NATO nhằm mục đích liên minh quân sự chống lại Liên Xô, bước tiến mới thực hiện

kế hoạch thống trị Thế giới của Hoa Kỳ Điều này làm cho tình hình Thế giới thêm căng thẳng, bởi đây là liên minh quân sự lớn nhất, quan trọng nhất của Hoa Kỳ và các đồng minh Sau đó, ngày 26 tháng 07 năm 1949 Thượng nghị sĩ Robert A Taft có bài phát biểu phản đối việc Hoa Kỳ thành lập tổ chức này Ông cho rằng việc thành lập tổ chức này sẽ đưa nước Hoa Kỳ đến chiến tranh bất kì lúc nào trong thời gian Hiệp ước có hiệu lực, khi 12 nước bị tấn công vũ trang Ông khẳng định liên minh này sẽ dẫn đến nguy

cơ chiến tranh, chứ không phải đạt được mục đích hòa bình Ông đưa ra dự báo chiến tranh thứ ba sẽ xảy ra và Hoa Kỳ sẽ bị thiệt hại nặng nề Việc thành lập NATO dẫn đến phản ứng của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu thành lập Tổ chức Hiệp ước Warszawa để làm đối trọng Sự kình địch và chạy đua vũ trang của hai khối quân

sự đối đầu này là cuộc đối đầu chính của Chiến tranh lạnh trong nửa cuối thế kỷ 20

Trang 24

Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO, thành lập năm 1949) cũng được cho là sự phản ứng của Mỹ và đồng minh trước ưu thế quân sự truyền thống của Liên

2.2.1.4 Khối Hiệp ước Warszawa

Tháng 05/1955, để đáp trả các hành động của Mỹ và khối NATO về quyết định đưa Tây Đức trở thành thành viên khối NATO và cho phép tái vũ trang khu vực này, Liên Xô đã ký kết một liên minh phòng thủ quân sự được gọi là Hiệp ước Warszawa với Albania, Ba Lan, Romania, Hungary, Đông Đức, Tiệp Khắc và Bulgaria

Khối Warszawa được đặt tên theo nơi hiệp ước được ký là Warszawa, Ba Lan Hiệp ước kêu gọi các quốc gia thành viên cùng bảo vệ bất cứ thành viên nào bị một lực lượng bên ngoài tấn công và thiết lập một khối quân sự thống nhất dưới sự chỉ huy của Nguyên soái Ivan Stepanovich Koniev của Liên Xô8

Khối Warszawa tồn tại đến năm 1991 thì giải thể

2.2.2 Các cuộc chiến tranh cục bộ ở các khu vực

2.2.2.1 Chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953)

Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, Triều Tiên bị chia cắt thành hai miền theo vĩ tuyến 38, Liên Xô chiếm đóng miền Bắc, Mỹ chiếm đóng miền Nam

Ngày 25/06/1950, quân đội Bắc Triều Tiên bất ngờ vượt qua giới tuyến và tấn công Hàn Quốc Mỹ phản ứng bằng cách thúc đẩy thông qua một nghị quyết tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc để kêu gọi viện trợ quân sự cho Hàn Quốc Với giải pháp này, các lực lượng quân đội Mỹ đã tham chiến, làm thay đổi cục diện, chiến trường lúc này bị đẩy lùi sang lãnh thổ Triều Tiên

Cuối năm 1950, quân đội Trung Quốc tham chiến, Triều Tiên và Trung Quốc lúc này được Liên Xô viện trợ nhằm tiếp tục chiến tranh Chiến tranh Triều Tiên sa lầy vào một cục diện bế tắc

Ngày 27/07/1953, các bên tham chiến tiến hành ký kết hiệp định đình chiến, vĩ tuyến 38 trở thành biên giới chia cắt hai quốc gia trên bán đảo Triều Tiên

2.2.2.2 Khủng hoảng Suez

Tháng 07/1956, Tổng thống Ai Cập Gamal Abdel Nasser tuyên bố quốc hữu hóa

120 dặm Kênh đào Suez vốn bị kiểm soát bởi Anh và Pháp

8 “14/05/1955: Khối Hiệp ước Warszawa được thành lập” (2015) Truy xuất từ 14/05/1955: Khối Hiệp ước Warszawa được thành lập (nghiencuuquocte.org)

Trang 25

Quyết định này một phần nhằm tài trợ cho việc xây dựng đập Aswan trên sông Nile, một dự án mà các nước phương Tây đã từ chối tài trợ Hơn hai phần ba lượng dầu được sử dụng bởi châu Âu được vận chuyển qua tuyến đường thủy mang tính quan trọng chiến lược nối liền Địa Trung Hải và Biển Đỏ này

Điều này dẫn đến hành động quân sự của Israel, Anh và Pháp chống lại một quân đội Ai Cập do Liên Xô cung cấp vào mùa thu năm 1956

Liên Hợp Quốc (UN) nhanh chóng thông qua một nghị quyết kêu gọi một lệnh ngừng bắn, và trong một trường hợp hiếm hoi trong giai đoạn Chiến tranh lạnh, cả Mỹ

và Liên Xô cùng gây áp lực buộc Anh, Pháp và Israel phải rút lui Liên Xô, quốc gia cung cấp vũ khí và tiền bạc cho Ai Cập, đã đưa ra những lời đe dọa về việc sử dụng vũ khí hạt nhân để hỗ trợ đồng minh, trong khi Mỹ sử dụng quyền lực kinh tế của mình

Tức giận vì đã không được thông báo trước về cuộc tấn công và lo sợ về một cuộc chiến tranh rộng lớn hơn ở Trung Đông, Tổng thống Dwight D Eisenhower đã đe dọa các đồng minh NATO và Israel là sẽ áp đặt lệnh trừng phạt nếu họ không rút các lực lượng của mình

Các đội quân Anh và Pháp đã rời Ai Cập vào tháng 12/1956 Sau khi Israel rút lui vào tháng 3/1957, Ai Cập mở cửa trở lại kênh đào cho việc vận chuyển thương mại9

2.2.2.3 Khủng hoảng tên lửa Cuba

Khủng hoảng tên lửa Cuba xảy ra vào tháng 10/1962, giai đoạn cao trào của Chiến tranh lạnh, khiến tình hình thế giới trở nên vô cùng căng thẳng trước nguy cơ nổ

ra một cuộc chiến tranh hạt nhân

Nguyên nhân trực tiếp là việc Liên Xô triển khai các tên lửa đạn đạo tầm trung

có khả năng mang đầu đạn hạt nhân tại Cuba, vốn cách bờ biển Florida của Mỹ chỉ gần một trăm dặm

Sau khi cách mạng Cuba thắng lợi vào năm 1959, ngày 03/07/1960, lãnh tụ Cuba Fidel Castro đã tuyên bố Cuba sẽ là một bộ phận cấu thành của khối xã hội chủ nghĩa trên thế giới Hành động này khiến Mỹ cắt đứt quan hệ ngoại giao với Cuba vào tháng 01/1961, đồng thời thực hiện nhiều hành động chống phá nhằm lật đổ chính quyền Fidel Castro

Liên Xô quyết tâm biến Cuba thành một tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa ngay trong sân sau của Mỹ Khrushchev dự tính việc bố trí tên lửa hạt nhân ở Cuba không chỉ

9 “Khủng hoảng Kênh đào Suez là gì?” (2016) Truy xuất từ Khủng hoảng Kênh đào Suez là gì? (nghiencuuquocte.org)

Ngày đăng: 16/04/2022, 16:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w