Sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nhiều chủ trương, đường lối về thanh niên được Đảng ban hành, Nhà nước cụ thể hóa thành nhiều chính sách, pháp luật, kế hoạch và chương trình
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG
Thành phố Hồ Chí Minh, 02/2022
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG
MÃ SỐ: 83.40.403
Người hướng dẫn khoa học: TS Trương Đình Chiến
Thành phố Hồ Chí Minh, 02/2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn thạc sĩ “Hiệu quả Quản lý nhà nước về thanh niên trên địa bàn
thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng” do học viên Thái Thị Thu Thắm thực hiện
dưới sự hướng dẫn của TS Trương Đình Chiến
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Những thông tin, số liệu phục vụ cho việc phân tích, đánh giá được tác giả thu thập trong quá trình nghiên cứu, các nội dung và kết quả nghiên cứu trong luận văn là
trung thực
Tác giả luận văn
Thái Thị Thu Thắm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn chuyên ngành quản lý công với đề tài “Hiệu quả quản lý nhà
nước về thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng” là kết quả
của quá trình cố gắng không ngừng của bản thân và được sự giúp đỡ, động viên của quý thầy cô, trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu khoa học vừa qua
Xin chân thành bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến TS.Trương Đình Chiến đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tôi với những chỉ dẫn khoa
học quý giá trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo trường Đại học Nội vụ, quý thầy cô đã giảng dạy truyền đạt những kiến thức khoa học chuyên ngành cho bản thân tôi trong suốt thời gian qua
Xin gửi tới UBND thành phố Đà Lạt, Ban Tổ chức thành ủy, Văn phòng thành ủy, Phòng Nội vụ thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng và các cơ quan liên quan lời cảm ơn sâu sắc, vì đã tạo mọi điều kiện hỗ trợ cho tôi hoàn thành tốt công việc nghiên cứu khoa học của mình
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, đã giúp đỡ, động viên trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Đà Lạt, tháng 01 năm 2022
Tác giả luận văn
Thái Thị Thu Thắm
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Hình 1.1 Sơ đồ hiệu quả quản lý nhà nước
Hình 1.2 Sơ đồ bộ máy quản lý nhà nước về công tác thanh niên
Hình 1.2 Sơ đồ bộ máy quản lý nhà nước về thanh niên
Hình 2.1 Bản đồ hành chính thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
Bảng 2.1 Lực lượng thanh niên thành phố Đà Lạt năm 2020
Bảng 2.2 Cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về thanh niên trên địa bàn Thành phố Đà Lạt
Bảng 2.3 Thống kê về trình độ chuyên môn được đào tạo của cán bộ, công chức QLNN về thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt 2018 - 2020
Bảng 2.4 Tổng hợp trình độ lý luận chính trị của cán bộ, công chức QLNN về thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt
Bảng 2.5 Tổng hợp trình độ tin học, ngoại ngữ của cán bộ, công chức QLNN
về thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt 2020
Bảng 2.6 Kết quả đánh giá – xếp loại cán bộ, công chức QLNN về thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt 2019 - 2020
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
QLNN : Quản lý nhà nước UBND : Ủy ban Nhân dân CNH : Công nghiệp hóa HĐH : Hiện đại hóa TNCS : Thanh niên cộng sản QPPL : Quy phạm pháp luật
Trang 7MỤC LỤC
Trang
Mở đầu 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Tổng quan và tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 5
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 7
7 Kết cấu của luận văn 7
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THANH NIÊN 9
1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 9
1.1.1 Thanh niên và công tác thanh niên 9
1.1.2 Quản lý, quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về thanh niên 10
1.1.3 Hiệu quả, hiệu quả quản lý nhà nước về thanh niên 12
1.2 Nội dung quản lý nhà nước, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về thanh niên 14
1.2.1 Nội dung quản lý nhà nước về thanh niên 14
1.2.2 Tổ chức bộ máy và cơ sở pháp lý quản lý nhà nước về thanh niên 19
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nhà nước về thanh niên21 1.3.1 Các yếu tố khách quan 21
1.3.2 Các yếu tố 22
Tiểu kết Chương 1 23
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THANH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG 25
2.1 Tổng quan về thành phố Đà Lạt và tình hình chung về lực lượng thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 25
2.1.1 Tổng quan về thành phố Đà Lạt 25
Trang 82.1.2 Tình hình chung về lực lượng thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt
hiện nay 27
2.2 Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 28
2.2.1 Đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về về thanh niên 28
2.2.2 Thực trạng quản lý nhà nước về thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt 31
2.3 Đánh giá chung hiệu quả quản lý nhà nước về thanh niên 39
2.3.1 Những kết quả đạt được 39
2.3.2 Những tồn tại, hạn chế chủ yếu và nguyên nhân 40
Tiểu kết Chương 2 44
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THANH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG 45
3.1 Định hướng tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về thanh niên 45
3.1.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng, nhà nước về xây dựng và phát triển lực lượng thanh niên 45
3.1.2 Yêu cầu đổi mới công tác thanh niên và tăng cường quản lý nhà nước về thanh niên, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Lạt giai đoạn 2021 - 2025 45
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 46
3.2.1 Những nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về thanh niên 46
3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về về thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 47
3.2.2.1 Bám sát các nội dung QLNN, tăng cường lãnh đạo, tổ chức thực hiện phát triển thanh niên; tuyên truyền, quán triệt, hướng dẫn và thực hiện tốt pháp luật, chính sách đối với thanh niên 47
Trang 93.2.2.2 Kiện toàn bộ máy; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực thực thi công vụ của cán bộ, công chức QLNN về thanh niên, nhất là ở cấp phường –
xã 48
3.2.2.3 Đổi mới phương thức quản lý; tăng cường phối hợp giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức chính trị xã hội góp phần nâng cao hiệu quả QLNN về thanh niên 50
3.2.2.4 Tăng cường đầu tư kinh phí, thiết bị, phương tiện để hiện đại hóa công sở và thiết thực phục vụ công tác thanh niên, phát huy chủ động trong công tác quản lý 52
3.2.2.5 Đẩy mạnh và phát huy hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và đánh giá công tác QLNN về thanh niên đối với các ngành liên quan, các phường - xã 53
3.2.2.6 Quan tâm và chủ động tạo được chuyển biến mới trong hoạt động giao lưu, tiếp cận kinh nghiệm thông qua hợp tác trong nước và hợp tác quốc tế về thanh niên 54
3.3 Kiến nghị, đề xuất 56
3.3.1 Kiến nghị, đề xuất đối với các cấp quản lý nhà nước trung ương và tỉnh Lâm Đồng 56
3.3.2 Kiến nghị, đề xuất đối với Thành ủy, UBND thành phố Đà Lạt 57
3.3.3 Kiến nghị, đề xuất đối với Tỉnh đoàn Lâm Đồng 57
Tiểu kết Chương 3 57
KẾT LUẬN 59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thanh niên Việt Nam chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu dân số, là lực lượng luôn có những đóng góp rất quan trọng trong các giai đoạn lịch sử phát triển của đất nước Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng và nhà nước ta luôn đặt niềm tin và kỳ vọng lớn lao vào lực lượng thanh niên, xác định thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là một trong những nhân tố quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc; công tác thanh niên là một trong những yếu tố góp phần quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH) đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng Chủ nghĩa xã hội
Sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nhiều chủ trương, đường lối về thanh niên được Đảng ban hành, Nhà nước cụ thể hóa thành nhiều chính sách, pháp luật, kế hoạch và chương trình hành động về công tác thanh niên, qua đó đã tạo được nhiều chuyển biến trong công tác quản lý nhà nước (QLNN), tăng cường điều kiện ngày càng tốt hơn cho thế hệ trẻ phát triển về phẩm chất cũng như năng lực, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế, xã hội các địa phương và của đất nước
Có thể nói, với sự quan tâm chăm lo của Đảng và chính quyền các cấp, thanh niên nước ta nói chung và thanh niên thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng nói riêng hiện nay có lòng yêu nước nồng nàn, luôn phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc; có phẩm chất tốt, tôn trọng các chuẩn mực đạo đức xã hội; tích cực tham gia các phong trào, hoạt động đoàn thể, xung kích, sáng tạo, tình nguyện vì cộng đồng; sống có nghĩa tình, luôn biết quan tâm, giúp đỡ người khác…
Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, bên cạnh những kết quả đạt được, so với yêu cầu, công tác QLNN về thanh niên trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng nói chung và địa bàn thành phố Đà Lạt nói riêng vẫn còn không ít hạn chế và bất cập nhất là về nhận thức, đầu tư điều kiện, công tác kế hoạch cũng như năng lực đội ngũ cán bộ, công chức; công tác phối họp giữa các ngành liên quan đôi lúc, đôi nơi còn thiếu đồng bộ… Trước yêu cầu mới, thực tế nêu trên đòi hỏi lĩnh vực QLNN về thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt cần được nghiên cứu chuyên sâu về lý luận cũng như thực tiễn, để trên cơ sở đó đề ra những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về thanh
Trang 11niên, góp phần xây dựng nguồn nhân lực trẻ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và của đất nước
Với những lý do chủ yếu nêu trên, học viên xin được chọn đề tài: “Hiệu quả
Quản lý nhà nước về thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng”
làm đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công
2 Tổng quan và tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
QLNN về thanh niên là nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình xây dựng và đổi mới đất nước hiện nay, trong lĩnh vực khoa học quản lý, đã có một số công trình nghiên cứu vấn đề QLNN về thanh niên ở nhiều góc độ khác nhau, đã được công bố dưới dạng sách chuyên khảo, đề tài nghiên cứu, luận văn và một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành Trong đó, có một số công trình có liên quan đến đề tài luận văn như sau:
- Dương Tự Đạm (2005), “Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng về công tác thanh
niên trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Nhà xuất bản Thanh
niên Trong cuốn sách này, tác giả đã đánh giá công tác thanh niên là vấn đề hệ trọng của Đảng Trong đó, QLNN về công tác thanh niên (bao gồm tham mưu xây dựng và kiểm tra), đánh giá việc thực hiện luật pháp, chính sách, chiến lược của Nhà nước liên quan đến thanh niên là nội dung quan trọng [16]
- Vũ Đăng Minh (2015), “Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về thanh niên
trong thời kỳ mới”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội Tác giả đã
trình bày một số cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả hoạt động của bộ máy QLNN
về thanh niên từ 1945 đến nay và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN
về thanh niên giai đoạn hiện nay [23]
- Vũ Trọng Kim (1999), “Quản lý nhà nước về công tác thanh niên trong thời kỳ
mới”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Trong cuốn sách này, tác giả đã đề
cập đến sự QLNN đối với công tác thanh niên ở tầm vĩ mô với những giải pháp chủ yếu trong thực hiện các chính sách, các định hướng về hội nhập [21]
- Nguyễn Vĩnh Oánh (1995), “Quản lý nhà nước trong lĩnh vực công tác thanh
niên”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Trong công trình nghiên cứu này, tác
giả đã đề cập đến những nội dung, giải pháp về phương pháp mệnh lệnh hành chính,
Trang 12phương pháp giáo dục, thuyết phục, tư vấn, vận động trong lĩnh vực QLNN về công tác thanh niên [24]
- Trần Văn Trung (2019) đã xuất bản cuốn sách chuyên khảo“Cơ sở lý luận và
thực tiễn của Quản lý Nhà nước về công tác Thanh niên”, Nhà xuất bản Chính trị, Hà
Nội Tác giả đã đưa ra các cơ sở lý luận và nhận định, đánh giá thực tiễn quản lý, điều
hành của các cấp chỉnh quyền về công tác thanh niên trong tình hình hiện nay [33]
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nhiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN về thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng trong những năm sắp tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích và làm rõ nội hàm các khái niệm cơ bản, hệ thống hóa lý luận QLNN
về thanh niên
- Khảo sát và đánh giá thực trạng QLNN về thanh niên trên địa bàn thành phố
Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng trong những năm qua
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN về thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2021 – 2025
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hiệu quả QLNN về thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 135.1 Phương pháp luận
Đề tài luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; quan điểm và chủ trương của Đảng về công tác thanh niên
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: để xử lý và hệ thống hóa thông tin lý luận, làm sáng rõ các vấn đề, nội dung chủ yếu mà luận văn cần phải giải quyết
- Phương pháp thống kê, so sánh: phương pháp này được sử dụng để thu thập, phân tích và xử lý số liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu thực trạng
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Làm rõ các khái niệm cơ bản và hệ thống hóa cơ sở lý luận hiệu quả QLNN về thanh niên, trên cơ sở đó phân tích thực trạng, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề ra các giải pháp tương đối đồng bộ và khả thi để các cấp thẩm quyền QLNN
có thể xem xét, vận dụng nhằm góp phần nâng cao hiệu quả QLNN về thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
Luận văn có thể là nguồn tư liệu tham khảo đối với một số nhà nghiên cứu, giảng dạy về QLNN; các nhà quản lý cũng có thể xem xét – vận dụng để góp phần hoàn thiện QLNN về thanh niên trên một số địa bàn có điều kiện tương tự
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận văn được kết cấu thành 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận hiệu quả quản lý nhà nước về thanh niên
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về thanh niên trên địa bàn thành phố
Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
Trang 14Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về
thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
Trang 15Theo định nghĩa của Liên hợp quốc “Thanh niên là nhóm người từ 15 đến 24
tuổi”; chủ yếu dựa trên cơ sở phân biệt các đặc điểm về tâm sinh lý và hoàn cảnh xã
hội so với các nhóm lứa tuổi khác
Hầu hết các nước trên thế giới đều thống nhất tuổi thanh niên bắt đầu từ 15 hoặc
16 Còn thanh niên kết thúc ở tuổi nào thì có sự khác biệt Có nước quy định là 25 tuổi, có nước quy định là 30 tuổi và cũng có nước cho đó là tuổi 40 Nhưng xu hướng chung là nâng dần giới hạn kết thúc của tuổi thanh niên
Ở Việt Nam, theo từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin năm
1999 thì cho rằng: “Thanh niên là những người còn trẻ, đang ở độ tuổi trưởng
thành”
Theo Luật Thanh niên (năm 2005) và Luật Thanh niên 2020 hiện hành (có hiệu
lực thi hành từ ngày 01/01/2021):“Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu
tuổi đến ba mươi tuổi” [25, tr.1]
1.1.1.2 Công tác thanh niên
Theo từ điển Tiếng Việt, “công tác” được định nghĩa là “công việc của nhà
nước, của đoàn thể” hoặc “thực hiện công việc của Nhà nước, của đoàn thể” Theo
cách định nghĩa như trên, công tác thanh niên được hiểu là công việc của Nhà nước, của đoàn thể liên quan đến thanh niên hoặc việc thực hiện các nhiệm vụ, công việc có liên quan đến thanh niên và công tác thanh niên
Thể chế hóa quan điểm trên của Đảng, Điều 4, Chương 1 Nghị định 120/2007/NĐ–CP ngày 23 tháng 7 năm 2007 của Chính phủ hướng dẫn một số điều
Luật Thanh niên 2005 quy định: “Công tác thanh niên là những hoạt động của Đảng,
nhà nước và xã hội nhằm giáo dục, bồi dưỡng, tạo điều kiện thuận lợi cho thanh niên
Trang 16phấn đấu và trưởng thành, đồng thời phát huy vai trò xung kích, sức sáng tạo và tiềm năng to lớn của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [14]
Công tác thanh niên là những hoạt động của các chủ thể trong xã hội bao gồm Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội (trong đó, Đoàn Thanh niên Cộng sản
Hồ Chí Minh là nòng cốt) và của toàn xã hội tác động tổng hợp qua lại lên đối tượng
là thanh niên nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của thanh niên và yêu cầu phát triển của xã hội, thông qua quá trình tạo lập môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
ổn định; định hướng cho thanh niên học tập, rèn luyện, tự giáo dục, tự hoàn thiện nhân cách và trưởng thành, phát huy mọi tiềm năng đóng góp cho sự nghiệp phát triển kinh
tế – xã hội của đất nước
1.1.2 Quản lý, quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về thanh niên
1.1.2.1 Quản lý
Theo Mác: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của
quá trình lao động” Xã hội loài người phát triển qua các hình thái xã hội gắn với các
phương thức sản xuất từ nguyên thủy đến hiện đại, sự xuất hiện quản lý là một tất yếu của lịch sử khách quan, nó gắn liền với các giai đoạn phát triển của xã hội Quản lý bắt nguồn từ bản chất của hệ thống xã hội, đó là hoạt động lao động tập thể, lao động
xã hội của con người Trong quá trình lao động sản xuất, con người phải có sự liên kết với nhau thành một tập thể Do đó, quản lý được xem là một hoạt động tất yếu phải
diễn ra ở mọi tổ chức dù nhỏ hay lớn Như vậy, “Quản lý là sự tác động có tổ chức,
có đích hướng của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu dự kiến”
Quản lý là quá trình làm việc cùng với và thông qua các cá nhân, các nhóm và
các nguồn lực khác (thiết bị, vốn, công nghệ) để đạt được những mục tiêu của tổ chức
1.1.2.2 Quản lý nhà nước
Trong lịch sử phát triển của nhân loại, QLNN xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước, là công cụ của nhà nước trong quản lý xã hội; là một dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của công dân
Trang 17Theo Giáo trình Lý luận Hành chính nhà nước (2010), “QLNN là một dạng quản
lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội” [18, tr.7-8] Từ khái niệm nêu trên, chúng ta có thể thấy
QLNN có những nét đặc trưng riêng biệt mà các loại hình quản lý của các tổ chức khác không có được, đó là:
Thứ nhất, QLNN là hoạt động mang tính quyền lực, sử dụng quyền lực nhà nước
thông qua các công cụ pháp luật, chính sách của nhà nước để thực hiện quản lý xã hội
Thứ hai, QLNN là hoạt động quản lý toàn diện, điều chỉnh mọi khía cạnh hoạt
động của xã hội trên cơ sở quy định của pháp luật, kết hợp giữa quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại
Thứ ba, đối tượng của QLNN có quy mô rất lớn bao gồm tất cả các cá nhân, tổ
chức đang sinh sống, hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia và công dân làm việc bên ngoài lãnh thổ quốc gia
Thứ tư, mục tiêu của QLNN là phục vụ nhân dân, mang tính phi lợi nhuận, nhằm
duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội
1.1.2.3 Quản lý nhà nước về thanh niên
Quản lý nhà nước về thanh niên hay QLNN về công tác thanh niên là những khái niệm được sử dụng phổ biến, đôi khi được dùng như là những khái niệm tương đồng, đều cùng hướng đến mục tiêu cuối cùng là chăm lo xây dựng và phát triển thanh niên
Về đối tượng quản lý, QLNN đối với thanh niên là hoạt động thông qua sử dụng pháp luật và chính sách của nhà nước để tác động lên đối tượng là thanh niên Trong khi đó, QLNN về thanh niên là sự thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng về thanh niên bằng pháp luật và chính sách của nhà nước, thông qua cơ chế tác động, phân công, phối hợp thực hiện nhiệm vụ giữa các chủ thể có thẩm quyền thực hiện thanh niên trong xã hội để tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên đối tượng là thanh niên
Trang 18Về phương pháp quản lý, trong QLNN đối với thanh niên thì phương pháp mệnh lệnh đơn phương dựa trên sự áp đặt của quyền lực nhà nước là chủ yếu bên cạnh các phương pháp vận động, giáo dục và thuyết phục nhằm điều chỉnh hành vi nói chung của thanh niên, quy định quyền và nghĩa vụ của thanh niên đối với nhà nước và xã hội, để đạt được các mục tiêu chính trị và kinh tế – xã hội của nhà nước
Như vậy có thể thấy QLNN về thanh niên là hoạt động QLNN được tiến hành bởi các cơ quan, cá nhân thuộc bộ máy nhà nước trong việc đề ra các chính sách, pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, các hoạt động của tổ chức và hành vi của xã hội liên quan đến thanh niên, chăm lo cho sự ổn định và phát triển của thanh niên
1.1.3 Hiệu quả, hiệu quả quản lý nhà nước, hiệu quả quản lý nhà nước về thanh niên
1.1.3.1 Hiệu quả
Theo từ điển tiếng Việt, hiệu quả là sự phù hợp giữa kết quả thực của một hoạt động so với kết quả dự kiến từ trước Hiệu quả là khái niệm để chỉ việc hoàn thành đúng việc và tạo ra nhiều giá trị nhất so với mục tiêu đề ra Trên thực tế, có nhiều quan niệm khác nhau về hiệu quả, nhưng hiểu theo nghĩa chung nhất, đó là sự so sánh giữa các chi phí đầu vào và giá trị của các đầu ra, là mối tương quan giữa sử dụng nguồn lực và kết quả cuối cùng mà hoạt động mang lại, cái thu được (đầu ra) càng nhiều trong khi chi phí (đầu vào) càng ít thì hiệu quả càng cao
Trong phạm vi của luận văn này, hiệu quả được hiểu là những kết quả đạt được theo yêu cầu và mục tiêu quản lý trong mối tương quan của những nỗ lực thực hiện các chức năng quản lý và nội dung QLNN
1.1.3.2 Hiệu quả quản lý nhà nước
Hiệu quả quản lý nhà nước là kết quả thực hiện các hoạt động gắn liền với chức năng chấp hành và điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước và hoạt động của người thực thi công vụ theo quy định của pháp luật Do nội dung và mục tiêu quản lý nhà nước trong từng giai đoạn khác nhau nên việc xem xét hiệu quả quản lý nhà nước tương ứng với mỗi giai đoạn cũng không giống nhau
Có thể đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước theo nhiều tiêu chí Theo đầu vào, gồm các nguồn lực được sử dụng để tiến hành các hoạt động quản lý; theo đầu ra, là
Trang 19Các nhân tố khác
Sự tham gia ủng
hộ của người dân
Năng lực của nền hành chính
Hình 1.1 Sơ đồ hiệu quả quản lý nhà nước
Nguồn: Weside Tạp chí Nhà nước đăng ngày 29/8/2020
1.1.3.3 Hiệu quả quản lý nhà nước về thanh niên
Hiệu quả QLNN về thanh niên là kết quả thực hiện các hoạt động gắn liền với chức năng chấp hành và điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước và hoạt động của người thực thi công vụ theo quy định của pháp luật để tác động lên đối tượng là thanh niên
1.1.3.4 Các căn cứ chủ yếu để đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước về thanh niên
Việc nâng cao hiệu quả quản lý chính là việc tìm ra những giải pháp hữu ích thúc đẩy quá trình hoạt động nhằm đạt được mục tiêu một cách tối ưu nhất Tuy nhiên, trong thực tế, việc đánh giá hiệu quả QLNN nói chung, hiệu quả QLNN về thanh niên nói riêng khá phức tạp, khó có thể đánh giá một cách rõ ràng về định lượng
mà hầu như chỉ dừng lại ở đánh giá định tính Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả QLNN
về thanh niên có thể xem xét trên những căn cứ chủ yếu sau đây:
HIỆU QUẢ
Trang 20- Việc các cấp QLNN quán triệt, tuyên truyền, hướng dẫn và tổ chức thực hiện pháp luật, các VBQPPL về chính sách, chiến lược, chương trình hành động hoặc chương trình công tác thanh niên;
- Kết quả thực hiện cơ chế phối hợp với các ban – ngành, đoàn thể, đặc biệt là việc phối hợp, phân giao trách nhiệm và phát huy vai trò của tổ chức Đoàn TNCS Hồ
Chí Minh trong công tác thanh niên;
- Tổ chức bộ máy, năng lực và kết quả thực thi công vụ của cán bộ, công chức làm công tác QLNN về thanh niên;
- Việc đầu tư kinh phí, phương tiện làm việc, cơ sở vật chất – kỹ thuật và việc tăng cường ứng dụng Công nghệ thong tin trong QLNN về thanh niên;
- Nhận thức, lối sống, ý chí lập thân – lập nghiệp của lực lượng thanh niên Kết quả thực hiện các chương trình công tác trọng tâm, tình hình thực hiện các chính sách chủ yếu đối với thanh niên;
- Việc triển khai và tác dụng của công tác kiểm tra, thanh tra, đánh giá và xử lý các hành vi vi phạm chính sách, pháp luật về thanh niên
1.2 Nội dung quản lý nhà nước, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về thanh niên
Nhằm tạo điều kiện cho thanh niên phát triển và phát huy vai trò xung kích, tình nguyện của thanh niên trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, năm 2005 Quốc hội khóa
XI đã ban hành Luật Thanh niên với tư cách là văn bản luật chuyên biệt, quy định các vấn đề liên quan đến thanh niên, tạo cơ sở pháp lý để xây dựng và thực hiện các chính sách cho thanh niên phát triển cũng như để làm cơ sở cho việc thực hiện chức năng QLNN về thanh niên
Tại Phiên họp ngày 16/6/2020, Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIV đã biểu quyết thông qua Luật Thanh niên năm 2020 thay thế Luật Thanh niên năm 2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021
1.2.1 Nội dung quản lý nhà nước về thanh niên
Điều 36, Chương VI của Luật Thanh niên năm 2020 đã quy định nội dung
QLNN, bao gồm: (1) Ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
Trang 21và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về thanh niên; quy định các biện
pháp để thực hiện chính sách đối với thanh niên (2) Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, chương trình, kế hoạch phát triển thanh niên (3) Thực hiện
công tác thống kê, thông tin, báo cáo về tình hình thanh niên và việc thực hiện chính
sách, pháp luật đối với thanh niên (4) Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác QLNN về thanh niên (5) Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục chính sách, pháp luật
về thanh niên (6) Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến
nghị; sơ kết, tổng kết, thi đua, khen thưởng trong việc thực hiện chính sách, pháp luật
đối với thanh niên (7) Hợp tác quốc tế về thanh niên (8) Ban hành chính sách hỗ trợ,
khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện chính sách đối với thanh niên [26, Điều 36]
1.2.1.1 Ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về thanh niên; quy định các biện pháp để
thực hiện chính sách đối với thanh niên
Văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) là văn bản do nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật Trong đó, có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung được nhà nước đảm bảo để điều chỉnh các xử sự trong xã hội Hiến pháp năm 2013, ngoài các quyền và nghĩa vụ của thanh niên Việt Nam được
xác định với tư cách là công dân, còn nhấn mạnh: “Thanh niên được Nhà nước, gia đình
và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân; đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc”[17, Khoản 2, Điều 37] Đây là nguyên tắc hiến định, có ý nghĩa
nền tảng để các cơ quan có thẩm quyền xây dựng và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến thanh niên và công tác thanh niên
Bên cạnh các biện pháp chỉ đạo, tổ chức thực hiện, Nhà nước bảo đảm nguồn lực để xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách đối với thanh niên theo quy định của pháp luật Nguồn tài chính bảo đảm thực hiện chính sách đối với thanh niên gồm ngân sách nhà nước; các khoản ủng hộ, viện trợ, tài trợ và khoản đóng góp hợp pháp khác của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong nước và nước ngoài Đây là những căn cứ pháp lý
Trang 22quan trọng để các cơ quan có thẩm quyền bố trí đủ nguồn nhân lực cũng như nguồn kinh phí triển khai chính sách, pháp luật đối với thanh niên trong thời gian tới
1.2.1.2 Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, chương trình,
kế hoạch phát triển thanh niên; ban hành chính sách hỗ trợ, khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện chính sách đối với thanh niên
Nhà nước rất coi trọng vai trò xung kích, đi đầu của thanh niên trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Để đáp ứng yêu cầu phát triển thanh niên, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN về thanh niên, Luật Thanh niên năm 2020 cũng đã quy định rõ trách nhiệm của Chính phủ, Bộ Nội vụ, các bộ, ngành, chính quyền địa phương và các tổ chức, cơ quan trong thực hiện chính sách về thanh niên và phát triển thanh niên
Chính sách của Nhà nước đối với thanh niên chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực: chính sách về học tập và nghiên cứu khoa học; chính sách về lao động, việc làm; chính sách về khởi nghiệp; chính sách về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe; chính sách về văn hóa, thể dục, thể thao; chính sách về bảo vệ Tổ quốc Ngoài ra, còn có những quy định về chính sách đặc thù đối với một số đối tượng thanh niên như: chính sách đối với thanh niên xung phong; chính sách đối với thanh niên tình nguyện; chính sách đối với thanh niên có tài năng; chính sách đối với thanh niên dân tộc thiểu số và chính sách đối với thanh niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi…
Có thể thấy chính sách của Nhà nước về thanh niên là sự thể hiện ý chí của hệ thống chính trị, cụ thể hóa đường lối của Đảng Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình thực hiện nhiệm vụ theo ngành, lĩnh vực và địa phương tổ chức triển khai thực hiện hoặc lồng ghép trong việc thực hiện chính sách đối với thanh niên
1.2.1.3 Xây dựng, kiện toàn bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác
QLNN về thanh niên
Trước đây, chỉ có Ủy ban Quốc gia về thanh niên Việt Nam làm nhiệm vụ tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ về công tác thanh niên Vì vậy, công tác QLNN về thanh niên chưa được cụ thể hóa và còn nhiều bất cập
Thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25/7/2008 của hội nghị lần thứ 7 Ban
Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa X) “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Bộ Chính trị
Trang 23đã thông qua Đề án “Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về công tác thanh niên” [3]
Năm 2008, Chính phủ xác định Bộ Nội vụ là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất thực hiện chức năng QLNN về thanh niên, thành lập Vụ Công tác thanh niên; các Sở Nội
vụ được thành lập Phòng Công tác thanh niên để thực hiện chức năng QLNN về thanh niên tại địa phương
Ngày 10/02/2011 Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số 04/2011/TTBNV “hướng
dẫn bổ sung nhiệm vụ, tổ chức và biên chế của Sở Nội vụ, Phòng Nội vụ thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện về công tác thanh niên”, trong đó yêu cầu UBND cấp tỉnh quy
định nhiệm vụ, tổ chức, biên chế của Sở Nội vụ và hướng dẫn UBND cấp huyện quy định nhiệm vụ, biên chế của Phòng Nội vụ về công tác thanh niên cho phù hợp tình hình đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả [7]
1.2.1.4 Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, chính sách về phát triển thanh niên
Thanh niên đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong thời kỳ đổi mới như hiện nay Vì vậy, việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính sách về phát triển thanh niên là việc làm rất cần thiết và là khâu then chốt
để đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân nói chung và thanh niên nói riêng nhằm góp phần nâng cao nhận thức về pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật, kỹ năng ứng xử pháp luật trong đời sống của thanh niên và ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương
Sau khi Luật Thanh niên 2005 được ban hành, ngày 23 tháng 7 năm 2007 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 120/2007/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thanh niên (gồm có 5 chương, 25 điều) Trong đó có các quy định về
cơ chế, chính sách của Nhà nước, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân nhằm đảm bảo cho thanh niên thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình [12]
Tại chương III, Luật Thanh niên 2020 quy định thanh niên có các quyền, nghĩa
vụ, trách nhiệm trên các lĩnh vực quan trọng liên quan nhiều đến thanh niên như học tập; lao động; bảo vệ Tổ quốc; hoạt động khoa học, công nghệ và bảo vệ tài nguyên
Trang 24môi trường; hoạt động văn hóa nghệ thuật, du lịch, vui chơi giải trí; bảo vệ sức khỏe, thể dục, thể thao…; tham gia QLNN và xã hội ngoài những quyền và nghĩa vụ như mọi công dân khác đã được quy định trong hiến pháp và pháp luật [26]
Do đó, nội dung tuyên truyền phổ biến, giáo dục cần tập trung vào các quyền
và nghĩa vụ của thanh niên, chính sách, pháp luật mới ban hành, chú trọng đến các luật liên quan trực tiếp thanh niên như Luật Thanh niên, Luật Căn cước công dân, Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ Luật dân sự, … Bên cạnh đó, cũng nên tập trung vào các lĩnh vực giáo dục, chăm sóc sức khỏe, hôn nhân và gia đình, lao động, việc làm cho thanh niên…
1.2.1.5 Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo; tổ chức thi đua, khen thưởng trong việc thực hiện chính sách, pháp luật đối với thanh niên
Kiểm tra là hoạt động mang tính định kỳ hoặc bất thường của cơ quan chức năng nhằm kiểm tra, đôn đốc, đánh giá được mức độ hoàn thành so với mục tiêu ban đầu đề
ra và khắc phục những tồn tại, hạn chế và phát hiện kịp thời các sai phạm của cơ quan,
tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các chính sách, pháp luật về thanh niên Từ đó,
có các biện pháp xử lý các sai phạm, đôn đốc tiến độ thực hiện các chính sách, đề án, chương trình phát triển thanh niên nhằm đảm bảo việc thực hiện các chính sách, pháp luật về thanh có hiệu quả và đạt được mục tiêu đã đề ra
Thanh tra là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm phát hiện ra và xử
lý kịp thời các sai phạm trong quá trình thực hiện chính sách, pháp luật về thanh niên
Từ đó, có các kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền nhằm khắc phục, xử lý các sai phạm trong QLNN về thanh niên Đồng thời, việc thanh tra sẽ giúp cho các cơ quan,
tổ chức, cá nhân có liên quan đến nhiệm vụ QLNN về thanh niên thực hiện đúng, đủ chức năng, nhiệm vụ và đúng với các quy định của pháp luật
Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về thực hiện chính sách, pháp luật về thanh niên là việc thụ lý, xác minh, kết luận và quyết định giải quyết các khiếu nại, tố cáo có liên quan đến lĩnh vực thanh niên và phải tuân theo các quy định của pháp luật nhằm đảm bảo tính công bằng, dân chủ; đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân,
cơ quan, tổ chức
Trang 251.2.1.6 Quản lý hoạt động hợp tác quốc tế về thanh niên
Việt Nam đang trong quá trình đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế Đây vừa là
cơ hội vừa là thách thức lớn đối với cả nước nói chung và lực lượng thanh niên nói riêng Do đó, việc mở rộng giao lưu - hợp tác quốc tế về công tác thanh niên và quản
lý hoạt động hợp tác quốc tế nhằm đa phương hóa, đa dạng hóa và tạo ra cho thanh niên nhiều cơ hội tiếp cận, giao lưu và học hỏi là yêu cầu rất quan trọng trong thời kỳ
mở cửa và hội nhập Nội dung hợp tác quốc tế về công tác thanh niên bao gồm:
Thứ nhất, xây dựng và thực hiện các chương trình, dự án hợp tác quốc tế về
công tác thanh niên
Thứ hai, tham gia các tổ chức quốc tế, ký kết, gia nhập và thực hiện các điều ước
quốc tế về công tác thanh niên
Thứ ba, mở rộng các hoạt động giao lưu thanh niên; trao đổi thông tin, kinh
nghiệm về công tác thanh niên
1.2.2 Tổ chức bộ máy và cơ sở pháp lý quản lý nhà nước về thanh niên
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm và từng giai đoạn
- Ủy ban Quốc gia về Thanh niên Việt Nam là cơ quan tư vấn của Thủ tướng Chính phủ về công tác thanh niên Tổ chức, hoạt động của Ủy ban Quốc gia về Thanh niên Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ quy định
- Bộ Nội vụ là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện QLNN về thanh niên; quy định trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ trong việc thực hiện nhiệm vụ QLNN về thanh niên theo ngành và lĩnh vực; quy định trách nhiệm của HĐND, UBND cấp tỉnh trong việc thực hiện nhiệm vụ QLNN về thanh niên và việc
tổ chức triển khai chính sách, pháp luật đối với thanh niên tại địa phương
Trang 26Thực hiện thông báo số 327-TB/TW ngày 16/4/2010 của Bộ Chính trị về phê duyệt Đề án “Tổ chức bộ máy QLNN về công tác thanh niên ở các địa phương”, ngày 13/8/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1471/QĐ-TTg thành lập Vụ Công tác thanh niên trực thuộc Bộ Nội vụ; ngày 01/12/2010, Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã
ký Quyết định số 1386/QĐ-BNV quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Vụ Công tác thanh niên; ngày 10/02/2011, Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 04/2011/TT-BNV hướng dẫn bổ sung nhiệm vụ, tổ chức và biên chế của Sở Nội vụ, Phòng Nội vụ thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện về công tác thanh niên
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ thực hiện chức năng QLNN về công tác thanh niên theo sự phân công của Chính phủ;
- HĐND, UBND các cấp thực hiện QLNN về công tác thanh niên ở địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ
Có thể khái quát về tổ chức bộ máy QLNN về thanh niên theo sơ đồ sau:
Hình 1.2: Sơ đồ bộ máy quản lý nhà nước về thanh niên
(Nguồn: Weside Sở nội vụ Thừa Thiên - Huế đăng ngày 10/10/2012)
Chính phủ
(Thống nhất QLNN về thanh niên)
về công tác thanh niên)
Trung ương Đoàn
TNCSHCM
Bộ Nội vụ
(Vụ Công tác thanh niên)
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
(Sở Nội vụ – Phòng Xây dựng chính quyền – Công tác thanh niên)
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, ngành trung ương
Ủy ban nhân dân cấp huyện
(Phòng Nội vụ
Bố trí công chức chuyên trách)
Ủy ban Quốc gia về
thanh niên Việt Nam
Ủy ban nhân dân cấp xã
Chú giải:
Trực tuyến chức năng
Phối hợp thực hiện
Trang 271.2.2.2 Cơ sở pháp lý quản lý nhà nước về thanh niên
Cơ sở pháp lý chủ yếu về QLNN là:
- Luật Thanh niên: Trước đây là Luật Thanh niên 2005, hiện hành là Luật Thanh niên 2020 được Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 16/6/ 2020 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 (Luật số: 57/2020/QH14)
- Chương trình phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2011-2020
- Các văn bản QPPL của Chính phủ, của Bộ Nội vụ và các bộ - ngành liên quan trong lĩnh vực QLNN về thanh niên; Nghị định số 13/2021/NĐ-CP ngày 01/3/2021
của Chính phủ quy định về “đối thoại với thanh niên; cơ chế, chính sách và biện
pháp thực hiện chính sách đối với thanh niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi”
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nhà nước về thanh niên
1.3.1 Các yếu tố khách quan
1.3.1.1 Tác động của kinh tế - xã hội
Trong bối cảnh tình hình kinh tế nước ta nói chung và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ dẫn đến sự chuyển dịch lao động, cơ cấu xã hội và nghề nghiệp của thanh niên, số thanh niên từ nông thôn di chuyển về các thành phố lớn để tìm kiếm việc làm ngày càng tăng cao nên gây khó khăn trong quản lý thanh niên Cùng với sự phát triển nhanh chóng của các phương tiện công nghệ thông tin cũng sẽ tác động không nhỏ đến tư tưởng, lối sống của một bộ phận thanh niên, điều này tạo ra khó khăn rất lớn trong giáo dục thanh niên việc bảo tồn, duy trì và phát triển các giá trị truyền thống dân tộc, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, tình trạng tội phạm ngày càng trẻ hóa có tác động và ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển kinh tế - xã hội
1.3.1.2 Vai trò của xã hội đối với thanh niên
Sự quan tâm của xã hội đến thanh niên có ảnh hưởng rất lớn và quan trọng đến công tác QLNN về thanh niên Tâm lý xã hội và đạo đức xã hội, sự quan tâm của xã hội ảnh hưởng lớn tới sự phát triển thanh niên Sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong việc xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật đối với thanh niên là nhân tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả QLNN về thanh niên
Trang 281.3.1.3 Cơ sở vật chất và các điều kiện bảo đảm khác
QLNN về thanh niên có tính đặc thù với khách thể quản lý là thanh niên Ngoài các điều kiện, phương tiện phục vụ cho công tác QLNN, cần phải nắm bắt được tâm
tư, nguyện vọng và những đòi hỏi chính đáng của thanh niên để xây dựng và ban hành các chính sách phù hợp Do đó, việc hình thành nên cơ sở dữ liệu thông tin về thanh niên một cách có hệ thống và được cập nhật thường xuyên; đội ngũ chuyên gia tư vấn
về phân tích, hoạch định chính sách chuyên sâu về các ngành, lĩnh vực có liên quan đến thanh niên là điều rất cần thiết để đảm bảo hiệu quả QLNN về thanh niên
1.3.2 Các yếu tố chủ quan
1.3.2.1 Sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo toàn diện công tác thanh niên bằng đường lối, quan điểm và chủ trương thông qua công tác chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ, kiểm tra và giám sát Ban Chấp hành Trung ương, Bộ chính trị, Ban bí thư Trung ương Đảng đề ra nghị quyết, chỉ thị, quyết định thể hiện đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng về thanh niên và công tác QLNN về thanh niên Các cấp ủy Đảng tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết, chỉ thị và quyết định của Đảng phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương, đơn vị
Để sự lãnh đạo của Đảng thống nhất và triệt để, các cấp ủy Đảng cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác thanh niên và công tác quản lý thanh niên Điều này cho thấy rằng, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quan trọng và tác động trực tiếp đến hiệu quả QLNN về thanh niên
1.3.2.2 Năng lực quản trị của Nhà nước
Nhà nước là chủ thể quản lý, giữ vai trò quan trọng và quyết định trong công tác QLNN về thanh niên Trình độ, năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ, công chức
có ảnh hưởng sâu sắc đến hiệu quả QLNN Vì đội ngũ cán bộ, công chức là những người trực tiếp làm công tác thanh niên ở các cấp, tham gia vào quá trình xây dựng các văn bản QPPL và tổ chức thực hiện nhiệm vụ ban hành chiến lược, chính sách, chương trình phát triển thanh niên Do đó, đòi hỏi đội ngũ này phải có trình độ, có kiến thức, có
tư duy khoa học, am hiểu về các văn bản, chính sách của Nhà nước và có kinh nghiệm thực tế, mới đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ được giao
Trang 291.3.2.3 Cơ chế phối hợp liên ngành trong việc xây dựng và thực thi chính sách đối với thanh niên
Phối hợp tạo ra sự thống nhất và phát huy sức mạnh của các cơ quan nhà nước, giữa các cấp QLNN với các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội trong việc thực hiện
nhiêm vụ QLNN về thanh niên Cơ chế phối hợp liên ngành góp phần nâng cao ý thức
pháp luật, tôn trọng pháp luật, qua đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm các quyền của thanh niên được thực hiện
1.3.2.4 Sự tham gia của thanh niên
Ở hầu hết các quốc gia và Việt Nam, nhà nước đều ban hành chính sách phát triển thanh niên Mục tiêu của chính sách thanh niên đều hướng tới việc giáo dục, hỗ trợ, tạo điều kiện cho thanh niên phát triển toàn diện; phát huy sự tham gia của thanh niên vào các tiến trình xã hội, đóng góp tốt nhất cho sự phát triển đất nước Vì vậy, việc tạo điều kiện cho thanh niên tham gia tích cực vào quá trình xây dựng và thực thi chính sách phát triển thanh niên là yếu tố quan trọng để đảm bảo hiệu quả QLNN về thanh niên; đồng thời phát huy được vai trò, vị trí của thanh niên trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Tiểu kết Chương 1
Thanh niên là một lực lượng xã hội đặc thù, ở độ tuổi nhất định, mang những đặc trưng tâm, sinh lý, sung sức nhất về thể chất và phát triển trí tuệ, luôn năng động, sáng tạo, muốn tự khẳng định mình; có mặt trong tất cả các nhóm dân tộc, giai cấp, tầng lớp trong xã hội và trên mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, là nguồn lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của xã hội hiện tại và tương lai
Bối cảnh Việt Nam đang tiến hành công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, có rất nhiều cơ hội và cũng đan xen không ít những khó khăn, thách thức Với niềm tin sâu sắc vào thanh niên, Đảng và Nhà nước
ta đã không ngừng bồi dưỡng, phát huy vai trò làm chủ và tiềm năng to lớn của thanh niên, tạo điều kiện tốt nhất cho thanh niên học tập, rèn luyện và trưởng thành
Quản lý nhà nước về thanh niên là hoạt động ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, chính sách pháp luật, chiến lược, chính sách, chương trình phát triển thanh niên và công tác thanh niên; Đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ
Trang 30làm công tác thanh niên; Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về thanh niên và công tác thanh niên; Quản lý hoạt động hợp tác quốc tế về công tác thanh niên, đây là những nội dung hết sức quan trọng trong việc góp phần đạt được các mục tiêu của Đảng về giáo dục, bồi dưỡng, tạo điều kiện thuận lợi cho thanh niên phát triển, phấn đấu và trưởng thành
Vì vậy, để xứng đáng với vai trò người chủ của hiện tại và tương lai, xứng đáng với kỳ vọng của xã hội, thanh niên phải không ngừng nỗ lực rèn luyện thể chất, trí tuệ, tinh thần, lực lượng của mình, phải đi đầu trong cuộc đấu tranh chiến thắng nghèo
nàn, lạc hậu, xây dựng và bảo vệ đất nước, phấn đấu vì mục tiêu “Dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Trang 31Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THANH NIÊN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
2.1 Tổng quan về thành phố Đà Lạt và tình hình chung về lực lượng thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
2.1.1 Tổng quan về thành phố Đà Lạt
2.1.1.1 Vị trí địa lý, tổ chức hành chính
Thành phố Đà Lạt là tỉnh lỵ của tỉnh Lâm Đồng, có diện tích 391,06 km2, nằm trên cao nguyên Lang Biang, thuộc vùng Tây nguyên Về phía Bắc, Đà Lạt giáp với huyện Lạc Dương, về phía Đông và Đông Nam giáp với huyện Đơn Dương, về phía Tây và Tây Nam giáp với hai huyện Lâm Hà và Đức Trọng
Thành phố Đà Lạt hiện có 12 phường và 04 xã Điều kiện giao thông tương đối thuận lợi để mở rộng giao lưu kinh tế với các vùng trọng điểm kinh tế phía Nam, các tỉnh Duyên hải miền Trung và Tây nguyên Thành phố Đà Lạt còn là trung tâm du lịch nghĩ dưỡng, đào tạo và nghiên cứu khoa học của cả nước; có thế mạnh về sản xuất, chế biến rau và hoa chất lượng cao; có vị trí quan trọng về an ninh và quốc phòng
Hình 2.1 Bản đồ hành chính thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
Trang 322.1.1.2 Cơ cấu dân số thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
Sau hơn 125 năm hình thành và phát triển, thành phố Đà Lạt ngày nay là đô thị loại I trực thuộc tỉnh; giữ vai trò là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của tỉnh Lâm Đồng
Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 1/4/1999, thành phố Đà Lạt
có tổng dân số là 160.663 người (tỉnh Lâm Đồng là 996.221 người) Tính đến cuối năm 2020, dân số thành phố Đà Lạt đã lên đến 231.225 người Mật độ trung bình là
586 người/km2, nhưng sự phân bố dân cư không đồng đều giữa các khu vực thành thị và nông thôn (12,4%) Các phường trung tâm như: Phường 1 có 11.677 người sống trên diện tích 1,07 km2, phường 2 là 17.664 người và 1,24 km2 nên mật độ dân số rất cao, trong khi đó các phường - xã xa trung tâm hay vùng ven mật độ dân
số thấp (Tà Nung: 58 người/km2, Xuân Trường: 73 người/km2)
Trên địa bàn thành phố Đà Lạt, số đồng bào dân tộc thiểu số hiện có 1.511
hộ, 7.334 người, chiếm tỷ lệ 3,17%; bao gồm 19 dân tộc thiểu số sinh sống: K’ho,
Mạ, Chu Ru, Ra-glai, Gia-rai, Êđê, Bana, Mnông, Chăm, Khơ Me, Hoa, Tày, Nùng, Thái, Mường, Dao, Thổ, Sán chay, Sán Dìu, …
2.1.1.3 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội
- Điều kiện tự nhiên:
Đà Lạt có diện tích tự nhiên 39.105 ha, nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo nhưng bị chi phối bởi cao độ và địa hình tự nhiên nên khí hậu mang tính chất đặc thù so với những vùng lân cận Nhiệt độ trung bình năm là 18.30C, khí hậu Đà Lạt khá ôn hòa và dịu mát quanh năm, mùa mưa nhiều, mùa khô ngắn, ít bị thiên tai bão
lũ
Nhìn chung, đất đai Đà Lạt có độ phì nhiêu khá cao, các loại đất thích hợp cho phát triển nông nghiệp phân bố khá tập trung Do đặc điểm về khí hậu và thổ nhưỡng nên sự phân bố thảm thực vật tự nhiên tại Đà Lạt rất phong phú và đa dạng với nhiều kiểu rừng khác nhau Chúng vừa mang tính chất của thảm thực vật nhiệt đới ẩm, vừa mang tính chất của vùng á nhiệt đới ẩm Trong đó, chiếm ưu thế là rừng lá kim với đặc trưng là rừng thông 3 lá Rừng ở Đà Lạt vừa là thắng cảnh, vừa có giá trị bảo vệ
Trang 33môi trường và có vai trò quan trọng trong phát triển ngành du lịch của Lâm Đồng
cũng như của khu vực Nam Tây nguyên
- Điều kiện kinh tế - xã hội:
Về phát triển kinh tế, thành phố Đà Lạt có nhiều lợi thế về du lịch Du lịch, dịch
vụ được xác định là ngành kinh tế động lực của thành phố trong những năm qua và trong những năm tiếp theo Tốc độ tăng trưởng của ngành được duy trì và phát triển hàng năm ở mức khá cao, hiện nay đạt 65% trong cơ cấu kinh tế của địa phương Những năm gần đây cơ sở hạ tầng của thành phố Đà Lạt đã được quan tâm đầu
tư, nhất là hệ thống giao thông nội thị, hệ thống giao thông tại các khu dân cư nông thôn, khu sản xuất nông nghiệp, các khu vực tham quan du lịch và các khu vực dự kiến phát triển đô thị Chính quyền địa phương đang tiến hành quy hoạch các khu vực phát triển kinh tế tại các địa phương vùng ven đô thị và vùng nông thôn nhằm khuyến khích phát triển kinh tế theo định hướng Du lịch, dịch vụ – công nghiệp, xây dựng – nông, lâm nghiệp
Các chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn gắn với sản xuất hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao từng bước đã được triển khai Cơ sở hạ tầng nông thôn được quan tâm đầu tư về giao thông, thủy lợi, điện, trường học, y tế… Kinh tế xã hội tại một số khu vực nông nghiệp trọng điểm của thành phố được nâng lên đáng kể, công tác ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất được triển khai nhanh chóng và mang lại hiệu quả kinh tế ngày càng cao trên từng đơn vị diện tích Đời sống đại bộ phận dân cư được nâng lên, phúc lợi xã hội được quan tâm chăm sóc, đời sống văn hóa phát triển Mặt khác, thành phố cũng đang chú trọng đầu tư phát triển các ngành nghề thủ công mỹ nghệ, các ngành chế biến nông sản
Hàng năm, Đà Lạt đóng góp trên 40% vào ngân sách của tỉnh Thu nhập của người dân không ngừng được tăng lên, các lĩnh vực văn hóa xã hội phát triển tốt, nhất
là về giáo dục và thực hiện chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số
2.1.2 Tình hình chung về lực lượng thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt hiện nay
2.1.2.1 Về số lượng, cơ cấu; phân bổ theo địa bàn
Trang 34Hiện nay, trên địa bàn Thành phố Đà Lạt có 69.427 người trong độ tuổi thanh niên (từ 16 – 30 tuổi) chiếm tỷ lệ 30,58% dân số toàn thành phố Trong đó, nam: 32.075 người chiếm 46,2%, nữ: 37.352 người chiếm 53,8% Thanh niên khu vực thành thị: 63.230 thanh niên chiếm 91,1%; thanh niên khu vực nông thôn: 6.166 thanh niên chiếm 8,9% [46] Trong đó, số thanh niên dân tộc thiểu số có 2.508 người, chiếm
tỷ lệ 3,6%
Bảng 2.1 Lực lượng thanh niên thành phố Đà Lạt năm 2020
(Nguồn: Số liệu thống kê của phòng Nội vụ thành phố Đà Lạt)
2.1.2.2 Nhận xét khái quát về lực lượng thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt
Đại bộ phận thanh niên có nhận thức chính trị đúng đắn, chủ động học tập nâng cao trình độ học vấn, kiến thức chuyên môn - nghiệp vụ; chăm lo phát triển kinh tế, lập thân, lập nghiệp; nhìn chung khá năng động, sáng tạo, thể hiện tinh thần trách nhiệm, xung kích của tuổi trẻ trong tham gia bảo vệ Tổ quốc, tích cực tham gia các hoạt động xã hội; tiếp cận nhanh với khoa học kỹ thuật, mạnh dạn đầu tư vào sản xuất, nhiều thanh niên đã nhạy bén, năng nổ trong lao động, làm giàu cho bản thân và
xã hội
2.2 Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
2.2.1 Đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về thanh niên
2.2.1.1 Số lượng, cơ cấu theo độ tuổi
Thanh niên khu vực nông thôn
Thanh niên người dân tộc thiểu số