1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu sự phát triển lực lượng sản xuất qua việc nghe báo cáo, tham quan thực tế tại công ty nhiệt điện vĩnh tân

35 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 5,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. CƠ SỞ LÝ LUẬN (10)
    • 1. Lực Lượng Sản Xuất (10)
    • 2. Quan Hệ Sản Xuất (11)
    • 3. Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Lực Lượng Sản Xuất Và Quan Hệ Sản Xuất (13)
  • II. SỰ PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT CỦA CÔNG TY NHIỆT ĐIỆN VĨNH TÂN 2 (15)
    • 1. Vài Nét Về Bình Thuận Nơi Đoàn Đến Thực Tế (15)
      • 1.1. Vị trí địa lý (15)
      • 1.2. Điều kiện tự nhiên (15)
      • 1.3. Đơn vị hành chính (16)
      • 1.4. Dân cư (17)
      • 1.5. Tiềm năng kinh tế (18)
        • 1.5.1. Ngành kinh tế biển (18)
        • 1.5.2. Ngành du lịch (18)
        • 1.5.3. Ngành năng lượng (0)
        • 1.5.4. Ngành khai thác khoáng sản (21)
        • 1.5.5. Ngành nông - lâm nghiệp (21)
    • 2. Tổng Quan Nhà Máy Nhiệt Điện Vĩnh Tân (21)
      • 2.1. Các tiêu chuẩn thiết kế (24)
      • 2.2. Công tác quản lý môi trường (25)
    • 3. Công Tác Đào Tạo – Phát Triển Nguồn Nhân Lực Tại Nhà Máy Nhiệt Điện Vĩnh Tân 2 (27)
      • 3.1. Kết quả thực hiện giai đoạn 2017 - 2019 (27)
        • 3.1.2. Đánh giá chung (29)
      • 3.2. Kế Hoạch Đào Tạo, Phát Triển Nguồn Nhân Lực Tại Nhà Máy Giai Đoạn 2021 - 2025, Định Hướng Đến Năm 2030 (30)
  • III. CẢM NHẬN CỦA BẢN THÂN VỀ CHUYẾN THAM QUAN THỰC TẾ TẠI CÔNG TY NHIỆT ĐIỆN VĨNH TÂN 2 (31)
  • IV. MỘT SỐ HÌNH ẢNH TỪ CHUYẾN ĐI (33)

Nội dung

Lực Lượng Sản Xuất - Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên,phản ánh khả năng con người chinh phục tự nhiên bằng các sức mạnh hiện thựccủa mình, sức mạnh đó

CƠ SỞ LÝ LUẬN

Lực Lượng Sản Xuất

Lực lượng sản xuất thể hiện mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, phản ánh khả năng con người chinh phục tự nhiên bằng các sức mạnh hiện thực của mình Sức mạnh đó được khái quát thành lực lượng sản xuất và cho thấy trình độ nhận thức, khả năng chinh phục tự nhiên của con người trong quá trình sản xuất Nhờ lực lượng sản xuất, xã hội có thể tạo ra của cải vật chất và bảo đảm nhu cầu thiết yếu của con người.

- Về mặt kết cấu, lực lượng sản xuất gồm hai thành tố là Người lao động và

+ Người lao động là con người có sức khỏe, có kỹ năng lao động.

+ Tư liệu sản xuất là những đối tượng được con người sử dụng, khai thác trong quá trình sản xuất, gồm:

* Tư liệu lao động Ví dụ: những công cụ lao động như cày, cuốc, máy kéo, dệt, máy, xe tải…; những nhiên liệu sản xuất như xăng, dầu, điện…

Đối tượng lao động là tập hợp các vật liệu và nguyên liệu được dùng làm đầu vào cho quá trình sản xuất Ví dụ điển hình gồm sắt, thép, xi măng, sỏi, bông, len và sợi vải; đây là những vật liệu thô làm nền tảng cho quy trình chế biến và sản xuất hàng hóa Nhờ làm đầu vào của sản xuất, các nguyên liệu này cung cấp nguồn nguyên liệu thiết yếu để hình thành sản phẩm cuối cùng và thúc đẩy chu trình sản xuất.

– Do tầm quan trọng của nhân tố con người, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác khẳng định:

“Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, người lao động”.

Nhờ đặc trưng sinh học – xã hội riêng có, con người sở hữu sức mạnh và kỹ năng lao động ở cả chân tay, cơ bắp lẫn trí óc Trong lao động, những khả năng này được khai thác và nhân lên gấp nhiều lần nhờ sự phối hợp giữa công cụ, kỹ thuật và kinh nghiệm làm việc, từ đó tăng hiệu quả và năng suất lao động.

Trong thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), lao động của con người ngày càng mang tính trí tuệ và có hàm lượng trí tuệ ngày càng cao Do đó, con người là nguồn lực cơ bản và vô tận của nền sản xuất hiện đại, đóng vai trò then chốt cho sự phát triển và đổi mới công nghệ trong thời đại today Hmm I wrote "today" inadvertently; let's correct: "trong thời đại hiện nay." We should avoid English I'll rewrite:Trong thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), lao động của con người ngày càng mang tính trí tuệ và có hàm lượng trí tuệ ngày càng cao Do đó, con người là nguồn lực cơ bản và vô tận của nền sản xuất hiện đại, đóng vai trò then chốt cho sự phát triển và đổi mới công nghệ trong thời kỳ hiện nay.

– Cùng với con người, công cụ lao động cũng là một thành tố cơ bản của lực lượng sản xuất.

Công cụ lao động chính là khí quan của bộ óc con người, là sức mạnh của tri thức đã được vật thể hóa, có tác dụng nối dài bàn tay và nhân lên sức mạnh trí tuệ, giúp con người thực hiện các nhiệm vụ phức tạp, nâng cao hiệu suất làm việc và đẩy nhanh quá trình sáng tạo.

Hiện nay, khi công cụ lao động đã đạt trình độ tin học hóa, số hóa và tự động hóa ở mức phổ biến, hiệu suất vận hành của chúng thể hiện một cách kỳ diệu Trong mọi thời đại, công cụ sản xuất luôn là yếu tố động nhất của lực lượng sản xuất, dễ biến đổi và tiến hóa lên mức cao hơn nhờ sự sáng tạo và cải tiến của con người, bởi chính con người là người chế tạo ra những công cụ ấy và liên tục nâng cấp chúng để đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thực tế.

Chuyển đổi và cải tiến liên tục của công cụ lao động đã gây ra những biến đổi sâu sắc đối với toàn bộ tư liệu sản xuất, làm thay đổi cách thức tổ chức và quy trình sản xuất Xét cho cùng, nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi xã hội chính là sự tiến bộ không ngừng của công cụ lao động và sự hoàn thiện ngày càng cao của tư liệu sản xuất.

Trong quá trình chinh phục tự nhiên, con người đã sáng tạo ra khoa học, và ngày nay khoa học đóng vai trò là công cụ lao động đắc lực, giúp chúng ta khai thác nguồn lực tự nhiên một cách hiệu quả Khoa học đã phát triển thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất và đời sống, thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội và nâng cao chất lượng sống.

Cách thức mà khoa học thâm nhập và thể hiện trong hiện thực ngày càng phong phú và đa dạng theo cấp số nhân, mở rộng từ phòng thí nghiệm ra đời sống hàng ngày và các lĩnh vực xã hội Những tiến bộ khoa học đã đưa con người tới mức độ mà chỉ vài thập kỷ trước còn khó hình dung, mang lại hàng loạt ứng dụng thực tiễn từ công nghệ thông tin và y học đến môi trường và kinh tế Sự lan tỏa của khoa học đang thúc đẩy đổi mới liên tục, định hình cách làm việc, cách sống và cách chúng ta nhìn về tương lai nhờ tri thức và dữ liệu ngày càng sâu rộng.

Ví dụ tiêu biểu cho tác động của công nghệ hiện đại là Internet, trí tuệ nhân tạo (AI), mạng 5G và các mạng xã hội như Facebook, YouTube đã làm thay đổi sâu sắc nhiều khâu trong quá trình sản xuất của con người Những công nghệ này chính là đặc trưng mang tính thời đại của lực lượng sản xuất hiện nay, đóng góp vào tăng năng suất, tối ưu hóa quy trình và thúc đẩy sự phát triển của kinh tế số.

Quan Hệ Sản Xuất

Để quá trình sản xuất diễn ra, con người nhất định phải có mối quan hệ với nhau Toàn bộ các mối quan hệ này được gọi là quan hệ sản xuất, tức là quan hệ giữa người với người trong sản xuất.

Trong đời sống xã hội, con người dù muốn hay không cũng buộc phải duy trì những quan hệ nhất định để trao đổi hoạt động sản xuất và kết quả lao động, các quan hệ này mang tính tất yếu Quan hệ sản xuất do con người tạo ra nhưng lại được hình thành một cách khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn của bất kỳ ai Việc thiết lập các mối quan hệ trong sản xuất tự thân đã thể hiện quy luật tất yếu và khách quan của sự vận động xã hội.

Quan hệ sản xuất có bản chất là các quan hệ kinh tế mang tính khách quan, không phụ thuộc ý muốn con người, mang tính vật chất của đời sống xã hội; đồng thời là hình thức xã hội của lực lượng sản xuất và là cơ sở của đời sống xã hội.

- Quan hệ sản xuất gồm 3 mặt:

Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ giữa người với tư liệu sản xuất, thể hiện cách con người nắm giữ và sử dụng tư liệu để sản xuất Tính chất của quan hệ sản xuất được quy định trước hết bởi quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, thể hiện dưới dạng chế độ sở hữu Trong hệ thống các quan hệ sản xuất, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất có vai trò quyết định và định hình các quan hệ xã hội khác.

Quan hệ tổ chức và quản lý kinh doanh sản xuất là mối liên hệ giữa con người trong quá trình sản xuất và trao đổi vật chất của cải Trong hệ thống các quan hệ sản xuất, các quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất có khả năng quyết định quy mô, tốc độ và hiệu quả của mỗi nền sản xuất cụ thể Nếu các quan hệ quản lý và tổ chức bị biến dạng, chúng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ sở hữu và tác động xấu đến kinh tế xã hội.

Quan hệ phân phối sản phẩm trong hệ thống quan hệ sản xuất là yếu tố then chốt đảm bảo sự gắn kết giữa phân bổ lao động và tư liệu sản xuất một cách hợp lý và hiệu quả, nhằm thúc đẩy tăng trưởng và tái sản xuất mở rộng đồng thời nâng cao phúc lợi cho người lao động Bên cạnh các quan hệ quản lý tổ chức, quan hệ phân phối sản phẩm lao động còn đóng vai trò quan trọng đối với sự vận động của hệ thống kinh tế khi quyết định cách thức chia sẻ và phân phối kết quả lao động để thúc đẩy sản xuất liên tục và bền vững.

Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Lực Lượng Sản Xuất Và Quan Hệ Sản Xuất

Trong một quan hệ sản xuất cụ thể, tính chất sở hữu xác định cách thức quản lý và phân phối Ở mỗi hình thái kinh tế xã hội nhất định, quan hệ sản xuất thống trị giữ vai trò chi phối các quan hệ sản xuất khác và có thể điều chỉnh chúng sao cho không đối lập mà ngược lại phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế xã hội mới.

3 Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Lực Lượng Sản Xuất Và Quan Hệ Sản Xuất.

Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, nội dung cốt lõi của mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất như sau:

Trong một phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai thành tố cơ bản cấu thành nên cơ sở của quá trình sản xuất xã hội, tồn tại trong mối quan hệ thống nhất và ràng buộc lẫn nhau Mỗi phương thức sản xuất không thể tiến hành nếu thiếu một trong hai yếu tố: lực lượng sản phẩm đại diện cho nội dung vật chất, kỹ thuật và công nghệ của quá trình, còn quan hệ sản xuất thể hiện hình thức kinh tế của quá trình đó Sự phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi quan hệ sản xuất được điều chỉnh cho phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Do đó, sự thích nghi và phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là điều kiện để tiếp tục phát triển của phương thức sản xuất.

Trong mỗi phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định và sự quyết định này được thể hiện qua mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Hai mặt này tồn tại trong sự thống nhất: lực lượng sản xuất nào thì quan hệ sản xuất tương ứng với nó; khi lực lượng sản xuất thay đổi, quan hệ sản xuất cũng phải có những điều chỉnh nhất định để phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng ấy Vì vậy, sự biến đổi của lực lượng sản xuất kéo theo sự điều chỉnh tương ứng của quan hệ sản xuất, tạo nền tảng cho sự phát triển của nền kinh tế và xã hội.

Quan hệ sản xuất có khả năng tác động ngược lại lên lực lượng sản xuất, ảnh hưởng đến bảo tồn, khai thác, sử dụng và phát triển của lực lượng này Tác động ấy có thể tích cực khi quan hệ sản xuất phù hợp với nhu cầu khách quan của lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển; ngược lại, nếu trái với nhu cầu ấy sẽ gây tác động tiêu cực Lực lượng sản xuất không ngừng phát triển, trong khi quan hệ sản xuất mang tính ổn định tương đối và gắn với các thiết chế xã hội, lợi ích của giai cấp cầm quyền Vì thế, bản chất xã hội của quan hệ sản xuất là ổn định tương đối Theo Mác, tổng thể các quan hệ sản xuất hình thành xã hội ở một giai đoạn lịch sử nhất định và đại diện cho một kiểu phát triển riêng biệt, với các xã hội cổ đại, phong kiến và tư bản là những tổng thể như vậy, mỗi tổng thể đồng thời thể hiện một giai đoạn phát triển đặc thù trong lịch sử nhân loại Sự tác động biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thúc đẩy sự phát triển của xã hội loài người thành một quá trình lịch sử - tự nhiên.

Trong mối quan hệ biện chứng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, hai yếu tố này vừa đối lập vừa thống nhất, tạo động lực cho sự phát triển của phương thức sản xuất Sự vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất diễn ra từ sự thống nhất ban đầu đến sự hình thành mâu thuẫn, và khi mâu thuẫn được giải quyết thì lại tái thiết lập một sự thống nhất mới Quá trình này lặp đi lặp lại trong lịch sử, tạo nên động lực vận động và sự phát triển liên tục của phương thức sản xuất.

SỰ PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT CỦA CÔNG TY NHIỆT ĐIỆN VĨNH TÂN 2

Vài Nét Về Bình Thuận Nơi Đoàn Đến Thực Tế

Bình Thuận là tỉnh duyên hải ở khu vực Nam Trung Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, với TP Phan Thiết làm trung tâm và cách TP.Hồ Chí Minh khoảng 200 km về phía Nam, cách Nha Trang khoảng 250 km, và cách Hà Nội khoảng 1.518 km về phía Bắc Tỉnh có đường bờ biển dài 192 km từ mũi Đá Chẹt giáp Ninh Thuận đến bãi Bình Châu thuộc địa phận Bà Rịa-Vũng Tàu Với vị trí này, Bình Thuận không chỉ duy trì quan hệ kinh tế truyền thống với khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam mà còn có điều kiện mở rộng giao lưu, phát triển kinh tế với Tây Nguyên và cả nước Sức hút của các thành phố và trung tâm phát triển như TP.HCM, Vũng Tàu, Nha Trang tạo điều kiện cho tỉnh đẩy mạnh sản xuất hàng hóa và tiếp thu nhanh khoa học và kỹ thuật.

1.2 Điều kiện tự nhiên Địa hình Bình Thuận chủ yếu là đồi núi thấp, đồng bằng ven biển nhỏ hẹp, địa hình hẹp ngang kéo theo hướng đông bắc - tây nam, phân hoá thành 4 dạng địa hình chính gồm đất cát và cồn cát ven biển chiếm 18,22%, đồng bằng phù sa chiếm 9,43%, vùng đồi gò chiếm 31,65% và vùng núi thấp chiếm 40,7% diện tích đất tự nhiên Với địa hình này đã tạo điều kiện cho tỉnh phát triển kinh tế đa dạng.

Vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo nổi bật với nắng nhiều, gió nhiều và không có mùa đông, đồng thời là khu vực khô hạn nhất cả nước Khí hậu nơi đây phân hóa thành hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau; tuy nhiên thực tế mùa mưa tập trung vào ba tháng 8, 9 và 10, nên mùa khô thường kéo dài.

Bình Thuận có 10 loại đất với 20 tổ đất khác nhau, thể hiện sự đa dạng về đất đai và sinh thái, gồm các kiểu rừng gỗ lá rộng, rừng rụng lá, rừng hỗn hợp lá kim chiếm ưu thế, rừng hỗn giao và tre nứa thuần loại Bên cạnh đó, vùng đất này tích tụ nhiều khoáng sản phong phú như vàng, wolfram, chì và kẽm, cùng nước khoáng và các phi khoáng khác; sét và đá xây dựng có giá trị thương mại và công nghiệp, cho thấy tiềm năng khai thác và phát triển kinh tế địa phương.

Ở Bình Thuận, hệ thống sông ngòi có đặc điểm ngắn và lưu vực nước không điều hòa theo mùa; mùa mưa nước chảy mạnh, mùa khô thì sông bị khô hạn Tỉnh có bốn sông lớn là sông Lũy, sông Lòng Sông, sông Cái và sông Cà Ty, đóng vai trò quan trọng đối với cuộc sống người dân, sản xuất nông nghiệp và cân bằng sinh thái địa phương.

Sông Lòng Sông bắt nguồn từ dãy núi ở ranh giới giữa hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, chảy theo hướng Bắc-Nam dọc theo ranh giới hai quận Tuy Phong và Phan Lý Chàm, dài khoảng 40 km từ nguồn đến cửa biển Sông Lũy bắt nguồn từ cao nguyên Tuyên Đức, từ nguồn đến ranh giới quận Hòa Đa cũng chảy theo hướng Bắc-Nam và dài khoảng 40 km; sau đó sông rẽ ra biển và chảy theo hướng Tây-Đông với chiều dài trên 20 km, lòng sông hẹp, quanh co và vào mùa mưa thường gây lụt lội.

Sông Cái phát nguồn từ cao nguyên Lâm Đồng chảy qua địa phận Thiện Giáo, rồi chảy theo hướng Bắc-Nam và dài khoảng 40 cây số.

Sông Cà Ty phát nguồn từ cao nguyên phía Tây và chảy theo hướng Đông- Nam, dài 27 cây số.

Bình Thuận có 10 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 1 thành phố Phan Thiết, 1 thị xã La Gi và 8 huyện Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, Tánh Linh, Hàm Tân, Đức Linh và Phú Quý Đây là cơ cấu hành chính quan trọng của tỉnh, đóng vai trò quản lý đô thị và nông thôn, đồng thời là nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực miền Nam Trung bộ.

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, dân số của tỉnh đạt 1.230.808 người. 38,1% dân số sống ở đô thị và 61,9% dân số sống ở nông thôn.

Dân cư tỉnh phân bố không đồng đều giữa các huyện, thị xã và thành phố Thành phố Phan Thiết có dân số năm 2015 lên tới 272.457 người, chiếm gần một phần tư dân số toàn tỉnh, tiếp theo là Phan Rí Cửa và Thị xã La Gi Trong khi đó, mật độ dân cư ở các huyện Bắc Bình, Tánh Linh và Hàm Tân khá thưa thớt.

Có 34 dân tộc cùng sinh sống ở Bình Thuận, trong đó đông nhất là dân tộc Kinh; tiếp đến là các dân tộc Chăm, Ra Glai, Hoa (tập trung nhiều ở phường Đức Nghĩa - thành phố Phan Thiết, Xã Hải Ninh và xã Sông Lũy- huyện Bắc Bình), Cơ Ho, Tày, Chơ Ro, Nùng, Mường.

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, toàn tỉnh có 12 tôn giáo khác nhau với tổng số người theo tín ngưỡng lên tới 386.223, trong đó Công giáo là đông nhất với 188.996 người, Phật giáo 130.016 người, Hồi giáo 29.550 người, Bà La Môn 25.110 người, Tin Lành 9.956 người và Cao Đài 2.403 người; các tôn giáo còn lại gồm Phật giáo Hòa Hảo 90 người, Baha'i giáo 63 người, Minh Sư đạo có số người được ghi nhận nhưng chưa được nêu con số.

17 người, Tứ Ân Hiếu Nghĩa có 13 người, Bửu Sơn Kỳ Hương có sáu người và Minh Lý đạo có 03 người. download by : skknchat@gmail.com8

Dự án "Phát triển kinh tế biển tỉnh Bình Thuận đến năm 2020" nhằm định hướng phát triển kinh tế biển theo hướng đồng bộ hóa các khâu khai thác, chế biến, nuôi trồng và dịch vụ hậu cần nghề cá, kết nối với việc phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ du lịch và công nghiệp khai thác Mục tiêu là thúc đẩy kinh tế biển Bình Thuận phát triển toàn diện, nâng cao giá trị chuỗi kinh tế biển và năng lực cạnh tranh, đồng thời xây dựng huyện đảo Phú Quý trở thành trung tâm khai thác và dịch vụ hậu cần nghề cá, làm căn cứ chi viện hậu cần và kỹ thuật cho khu vực quần đảo Trường.

Đoàn công tác tại DK1 và Nhà giàn DK1 đã thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn trên biển, đảm bảo an toàn cho ngư dân và tàu thuyền hoạt động quanh khu vực Từ tháng 10-2015 đến nay, Bình Thuận đã xây dựng đội tàu hậu cần hải sản, đồng thời ký duyệt và đóng mới một số tàu để nâng cao năng lực vận chuyển, tiếp vận và cứu hộ trên biển; nhờ đó, hệ thống hậu cần và cứu nạn biển được củng cố, góp phần giảm thiểu rủi ro cho ngư dân và tăng cường hiệu quả khai thác hải sản.

109 tàu vỏ sắt; phối hợp với tập đoàn Yanmar (Nhật Bản) đóng 20 tàu bằng vật liệu composite Từ đầu năm 2016 đến nay, năng suất khai thác, nuôi trồng thủy sản đạt hơn 50.000 tấn, nhiều sản phẩm có thương hiệu uy tín trên thị trường thế giới.

Các đề án “Xây dựng Bình Thuận trở thành trung tâm văn hóa, thể thao, du lịch biển mang tầm quốc gia”, “Đào tạo phát triển nguồn lực du lịch giai đoạn 2015-2020” và “Bảo tồn và phát triển cảnh quan du lịch đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030” nhằm mục tiêu khai thác tiềm năng du lịch của tỉnh Ngành du lịch Bình Thuận đã có bước đột phá về tăng trưởng khi lượng khách đến tăng trung bình 12-20% mỗi năm và doanh thu tăng khoảng 30%; năm 2015 đón 4,25 triệu lượt khách và doanh thu đạt 7.640 tỷ đồng Trong quý I-2016, Bình Thuận đón hơn 1,5 triệu lượt khách, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm 2015 Các sự kiện văn hóa, thể thao diễn ra tại tỉnh như Hội thảo “Liên kết phát triển du lịch Việt Nam – Lào – Campuchia”; Giải Billiards và Snooker vô địch quốc gia; Giải lướt ván buồm MuiNe Fan Cup lần thứ 17 năm 2016; Giải đua thuyền truyền thống đã tuyên truyền, quảng bá và thu hút đầu tư, du khách đến tham quan Đến nay, Bình Thuận có 436 dự án với tổng vốn đầu tư 63.738 tỷ đồng.

Du lịch cáp treo Tà Cú - Tỉnh Bình Thuận 1.5.3 Ngành năng lượng

Trong thời gian qua, Chính phủ đã phê duyệt một số dự án năng lượng lớn tại Bình Thuận với tổng vốn đầu tư dự kiến 18.696 triệu USD (kể cả phần vốn đầu tư của nhiệt điện Vĩnh Tân 2), gồm hai trung tâm điện lực là Vĩnh Tân và Sơn Mỹ Theo quy hoạch ngành điện, Bình Thuận sẽ trở thành trung tâm sản xuất điện quy mô lớn với Trung tâm điện lực Vĩnh Tân công suất 6.224MW, Trung tâm điện lực Sơn Mỹ 3.900MW, và các nhà máy điện gió tổng công suất 700MW, đồng bộ với mạng lưới đường dây và trạm biến áp 500kV, 220kV, 110kV để truyền tải và phân phối điện Khi các trung tâm điện lực và nhà máy điện đi vào vận hành tối đa giai đoạn 2020-2030, tổng sản lượng điện của Bình Thuận sẽ tăng đột biến, đáp ứng nhu cầu điện cho người dân, một phần lớn nhu cầu của vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ, đồng thời thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Năng lượng điện mặt trời download by : skknchat@gmail.com11

1.5.4 Ngành khai thác khoáng sản

Tổng Quan Nhà Máy Nhiệt Điện Vĩnh Tân

Nhà máy Nhiệt Điện Vĩnh Tân 2 là một dự án trọng điểm của Việt Nam thuộc Quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia giai đoạn 2006-2015 có xét đến

Vào năm 2025, dự án nhiệt điện than trọng điểm đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và là dự án nhiệt điện than lớn đầu tiên được xây dựng tại khu vực miền Nam, đánh dấu bước phát triển mới cho ngành điện lực Việt Nam và cam kết đảm bảo nguồn cung điện ổn định cho khu vực này.

Dự án Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 do EVN làm chủ đầu tư được khởi công xây dựng từ tháng 8/2010, gồm 2 tổ máy có tổng công suất lắp đặt 1.244 MW (2 x 622 MW), cho sản lượng điện sản xuất hàng năm khoảng 7,2 tỷ kWh Nhà máy nằm trong TTĐL Vĩnh Tân, trên địa bàn xã Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, cách thành phố Phan Thiết khoảng 90 km, cách Thành Phố Hồ Chí Minh gần 250 km và cách tỉnh Ninh Thuận khoảng 15 km.

- Phía Bắc giáp đường Quốc lộ 1A

- Phía Nam giáp biển Đông

- Phía Đông Bắc giáp Xã Phước Diêm, Huyện Ninh Phước, Tỉnh Ninh Thuận

- Phía Tây Nam giáp xã Vĩnh Hảo

Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 là một nhà máy ngưng hơi truyền thống với công nghệ đốt hiện đại, sử dụng than Antraxit cám 6A khai thác từ Hòn Gai - Cẩm Phả - Quảng Ninh và dầu FO làm nhiên liệu đốt khởi động và phụ trợ khi phụ tải dưới 70%, yếu tố then chốt trong thiết kế và xây dựng nhằm đảm bảo các chỉ tiêu cao về độ sẵn sàng, hiệu suất, tính ổn định và an toàn, đồng thời đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường nhờ áp dụng các phương pháp lọc bụi và khử NOx, SOx thông qua hệ thống thiết bị hiện đại và tiên tiến hiện nay.

Than sẽ được vận chuyển đến Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 bằng phương tiện vận tải thủy có tải trọng lên đến 30.000 DWT Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 được nối với hệ thống điện quốc gia thông qua trạm 220kV/500kV bằng tuyến cáp ngầm, đảm bảo cấp điện ổn định cho sản xuất và vận hành Nguồn nước vận hành cho nhà máy được lấy từ hồ Đá Bạc và sông Lòng Sông, đáp ứng nhu cầu làm mát và các quy trình vận hành khác.

2.1 Các tiêu chuẩn thiết kế

Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 sẽ được thiết kế lắp đặt và chạy thử theo các quy phạm, tiêu chuẩn và quy định phòng ngừa tai nạn mới nhất cùng các quy định pháp lý liên quan Toàn bộ vật liệu, thiết bị và hạng mục xây dựng được thực hiện kèm theo bảng tính toán, bản vẽ và chất lượng; các loại hàng hóa, phương thức kiểm tra và tính chất riêng biệt về mặt xây dựng của các thiết bị cũng như hạng mục sẽ được nghiệm thu theo từng phần và áp dụng các quy phạm kỹ thuật tương ứng khi không còn nằm trong các yêu cầu đặc biệt của đặc tính kỹ thuật Dự án áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật thuộc hệ thống ISO và IFC, cùng các tiêu chuẩn xây dựng cấp quốc gia và các nước trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Anh, Đức, Úc, phù hợp với Quy chế ban hành kèm theo quyết định số 09/2005/QĐ-BXD ngày 7/4/2005 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng.

Các tiêu chuẩn quy phạm của hiệp hội, tổ chức được quốc tế công nhận như ASTM, ASME, API, NFPA vv…

Cần tuân thủ đầy đủ các quy định hiện hành về việc áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật của Việt Nam, đặc biệt là các tiêu chuẩn bắt buộc liên quan đến phòng cháy chữa cháy, vệ sinh và an toàn cho người tiêu dùng, an toàn cho thiết bị và công trình, bảo vệ môi trường, cũng như các tiêu chuẩn liên quan đến các điều kiện đặc thù của Việt Nam.

Cho phép áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật khác với tiêu chuẩn như quy định tại điểm (i), miễn sao các tiêu chuẩn được lựa chọn áp dụng có mức tiên tiến tương đương hoặc cao hơn chuẩn tương ứng thuộc hệ thống tiêu chuẩn quy định tại điểm (i) Trong các trường hợp tiêu chuẩn Việt Nam có mức tiên tiến thấp hơn so với tiêu chuẩn quốc tế hoặc tiêu chuẩn nước ngoài, áp dụng tiêu chuẩn quốc tế hoặc tiêu chuẩn nước ngoài; ngược lại, áp dụng tiêu chuẩn Việt Nam.

2.2 Công tác quản lý môi trường

Việc kiểm tra, giám sát công tác bảo vệ môi trường tại Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân không chỉ do nhà máy thực hiện và định kỳ báo cáo cho cơ quan chức năng mà còn có sự tham gia của chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể và người dân Vĩnh Tân; các chỉ số môi trường và kết quả quan trắc khu vực quanh nhà máy được truyền về trung tâm điều khiển của Vĩnh Tân 2 và đồng thời gửi trực tiếp tới Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận.

Hình ảnh - Phòng điều khiển trung tâm của nhiệt điện Vĩnh Tân 2

Ở Vĩnh Tân, công tác bảo vệ môi trường của dự án Vĩnh Tân 2 được giám sát qua ba kênh chính: kênh 1 là giám sát của các cơ quan chức năng của tỉnh theo quy chế phối hợp giữa tỉnh, huyện, xã do UBND tỉnh ban hành, đảm bảo 24/24 giờ có sự giám sát của chính quyền đối với mọi hoạt động của nhà máy và khu vực thải xỉ trên địa bàn; kênh 2 là giám sát của nhân dân thông qua các tổ giám sát của các tổ chức chính trị - đoàn thể; và kênh 3 là giám sát do nhà máy tự giám sát Bình Thuận cho rằng kênh giám sát của nhân dân đóng vai trò rất quan trọng để đối chiếu với kết quả giám sát của các cơ quan Nhà nước.

Nhà máy đã lắp đặt hệ thống xử lý bụi, SO2 và NOx nhằm đảm bảo nồng độ các thông số phát thải khí thải ở mức cho phép, đồng thời hệ thống quan trắc tự động liên tục được bố trí trước ống khói để đo bụi, NOx, SO2, CO, CO2, O2, lưu lượng và nhiệt độ; kết quả đo đạc được Bộ Tài nguyên và Môi trường kiểm tra và cấp giấy xác nhận hoàn thành công trình Bảo vệ môi trường Theo quy định trong giấy xác nhận, công ty đã thuê đơn vị chuyên ngành quan trắc khí thải nhà máy định kỳ 3 tháng/lần, quan trắc không khí xung quanh định kỳ 6 tháng/lần và báo cáo đầy đủ cho cơ quan chức năng theo quy định Kết quả quan trắc cho thấy nồng độ các thông số phát thải đều nằm trong giới hạn cho phép Để khắc phục triệt để vấn đề phát thải khói đen trong quá trình khởi động, công ty đã nghiên cứu, thử nghiệm thành công và đưa hệ thống hút bụi tĩnh điện ESP vào vận hành.

Vĩnh Tân 2 được thiết kế để sử dụng than cám 6a với mức tiêu thụ khoảng 3,5 triệu tấn/năm và lượng tro xỉ thải ra khoảng 1,3 triệu tấn/năm, trong đó khoảng 90% là tro bay và phần còn lại là xỉ đáy lò Tro bay phát sinh trong quá trình vận hành của hai lò hơi được thu giữ và chứa vào 3 silo; tại các silo, tro khô sẽ được trộn với nước để đạt độ ẩm tối đa 30% nhằm ngăn ngừa phát tán bụi tro bay, sau đó đổ vào xe chuyên dụng và vận chuyển ra lưu giữ tại bãi xỉ bằng đường vận hành riêng thuộc Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân.

Tro và xỉ từ Nhà máy Vĩnh Tân 2 đã được đơn vị có chức năng thử nghiệm cấp chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy, đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật và có thể được sử dụng cho bê tông, vữa xây, xi măng và làm vật liệu san lấp.

Khu vực bãi thải xỉ Hố Dừa của Vĩnh Tân 2 được thiết kế gồm ba lớp: đất bảo vệ, màng chống thấp và đất đệm Xung quanh bãi xỉ đã lắp đặt hệ thống phun nước mạch vòng sẵn sàng cấp nước để kiểm soát bụi khi thời tiết bất lợi Quanh khu vực này có hơn 10 camera được bố trí để quan sát và ghi nhận thông tin, hình ảnh quan trắc môi trường hàng ngày, rồi truyền trực tuyến hình ảnh và số liệu về Trung tâm điều khiển của nhà máy và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận.

Các nguồn thải từ than, nhiễm dầu và nước thải sinh hoạt của nhà máy được xử lý theo một quy trình nghiêm ngặt và được giám sát online 24/24, đảm bảo tuân thủ các yêu cầu của Giấy phép xả nước thải vào nguồn nước về độ pH, nhiệt độ và DO Công ty tiến hành quan trắc nước thải công nghiệp và nước làm mát định kỳ 3 tháng/lần, quan trắc nước biển định kỳ 6 tháng/lần và báo cáo đầy đủ với cơ quan chức năng theo quy định Các kết quả quan trắc cho thấy nồng độ các thông số phát thải của Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 nằm trong giới hạn cho phép.

Hình ảnh – Khu vực lưu trữ tro xỉ

Công Tác Đào Tạo – Phát Triển Nguồn Nhân Lực Tại Nhà Máy Nhiệt Điện Vĩnh Tân 2

3.1 Kết quả thực hiện giai đoạn 2017 - 2019

3.1.1 Kết quả đạt được trong công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2017 – 2019

Công ty đã thực hiện đúng các quy định và quy chế liên quan đến công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, đồng thời áp dụng trực tiếp và thực hiện đầy đủ các thủ tục của Quy chế đào tạo và phát triển nguồn nhân lực do Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tổng Công ty Phát điện 3 ban hành.

Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được đẩy mạnh trên toàn công ty thông qua phong trào thi đua thực hiện công tác đào tạo và chủ đề năm 2018, do lãnh đạo công ty quan tâm chỉ đạo và tạo điều kiện để đoàn viên và người lao động tích cực học tập, nâng cao trình độ chính trị, kiến thức pháp luật, trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp; hầu hết cán bộ, công chức, viên chức đều đồng tình ủng hộ và nhiệt tình tham gia phong trào, nhận thấy việc học tập vừa là quyền lợi vừa là trách nhiệm đối với công ty, TCT và ngành Điện; phong trào được đẩy mạnh, vừa nâng cao trình độ, năng lực và kinh nghiệm cho CBCNV, vừa giúp công ty tiến tới chuẩn hóa tài liệu giảng dạy và đào tạo CBCNV, đồng thời phát triển nguồn nhân lực lâu dài cho công ty.

Triển khai và hoàn thiện các bài giảng E-learning được EVN phân công, đồng thời chuẩn hóa tài liệu giảng dạy và xây dựng ngân hàng câu hỏi theo từng chuyên đề, phù hợp với từng chức danh vận hành Quá trình này tập trung nâng cao chất lượng nội dung giáo dục trực tuyến, đảm bảo tính nhất quán và dễ dàng đánh giá người học thông qua bộ câu hỏi được phân bổ theo chuyên đề tương ứng với mỗi chức danh vận hành Việc chuẩn hóa tài liệu và ngân hàng câu hỏi giúp tăng hiệu quả đào tạo, tối ưu hóa quá trình học tập và hỗ trợ nhân viên nắm vững kiến thức, kỹ năng cần thiết cho vận hành an toàn và hiệu quả.

Chương trình đào tạo về quản lý vận hành NMNĐ than, sửa chữa điện/C&I, kỹ thuật bảo dưỡng chuyên sâu cho lò hơi, tuabin và máy phát điện NMNĐ công suất lớn đã được triển khai và phát huy hiệu quả; đặc biệt, hai khóa đào tạo chuyên sâu có yếu tố nước ngoài đã được tổ chức thành công với sự tham gia của các đơn vị thuộc Tổng Công ty, bao gồm khóa Nâng cao kiến thức DCS ABB tại Singapore và khóa Cải thiện hiệu suất và vận hành NMNĐ Vĩnh Tân 2 do JCOAL Nhật Bản đào tạo.

Chương trình đào tạo theo khung EVN/Tổng Công ty được triển khai bằng cách tham gia các lớp quản lý cấp 3 và cấp 4 tại EVNGENCO 3, đồng thời cử cán bộ tham gia và đóng góp ý kiến để cải thiện chương trình đào tạo nhằm phát triển chuyên gia NMNĐ than của EVN.

Trên cơ sở kế hoạch đào tạo hàng năm được Tổng Công ty Phát điện 3 giao, công ty đã triển khai đồng bộ các khóa đào tạo nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đồng thời đẩy mạnh các khóa đào tạo nội bộ, tham gia hội thảo và học hỏi kinh nghiệm từ các đơn vị khác Các hoạt động này được thiết kế để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường ứng dụng kiến thức vào thực tế sản xuất, và thúc đẩy sự trao đổi kinh nghiệm giữa các đơn vị nhằm tối ưu hiệu quả công tác đào tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

+ Năm 2017: triển khai 3091 lượt đào tạo;

+ Năm 2018: triển khai 2447 lượt đào tạo;

+ Năm 2019: triển khai 2674 lượt đào tạo.

Mục tiêu sản xuất kinh doanh của Công ty Nhiệt điện Vĩnh Tân được gắn với các yếu tố an toàn, liên tục và kinh tế, bảo đảm hiệu quả vận hành và sự phát triển bền vững Trong khuôn khổ này, công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho đội ngũ CBCNV được xem là một trong những mục tiêu trọng yếu của công ty.

Trong giai đoạn 2017-2019, Công ty Nhiệt điện Vĩnh Tân đã thực hiện tốt công tác triển khai, tìm hiểu và lựa chọn các đối tác, đơn vị đào tạo có nhiều kinh nghiệm để triển khai các khóa đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ kỹ sư và cán bộ kỹ thuật của công ty; đồng thời tổ chức các khóa đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng mềm, bồi dưỡng sát hạch nghề hàng năm, và tham gia đầy đủ các khóa đào tạo do EVN, EVNGENCO3 tổ chức, tạo thuận lợi cho nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả vận hành.

Nhờ sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo Tổng Công ty Phát điện 3 và lãnh đạo Công ty trong việc triển khai kế hoạch đào tạo hàng năm, đặc biệt là các khóa đào tạo chuyên sâu, công tác đào tạo được thực hiện bài bản và hiệu quả, nhằm nâng cao năng lực đội ngũ và đảm bảo vận hành an toàn, hiệu quả cho tổ chức.

Đội ngũ CBCNV của công ty thể hiện tinh thần trách nhiệm cao và lòng yêu nghề, tích cực tham gia các khóa đào tạo do Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tổng Công ty Phát điện 3 và công ty tổ chức, qua đó nâng cao năng lực chuyên môn và đóng góp cho hoạt động của đơn vị Tuy nhiên, quá trình này vẫn gặp một số khó khăn nhất định cần được tháo gỡ để tối ưu hóa hiệu quả đào tạo và sự phát triển bền vững của công tác nguồn nhân lực.

Mặc dù có nhiều thuận lợi trong triển khai kế hoạch đào tạo, Công ty Nhiệt điện Vĩnh Tân vẫn chưa xây dựng và phát triển được đội ngũ giảng viên nội bộ đủ mạnh để đảm bảo chất lượng và sự nhất quán của chương trình đào tạo.

3.2 Kế Hoạch Đào Tạo, Phát Triển Nguồn Nhân Lực Tại Nhà Máy Giai Đoạn 2021 - 2025, Định Hướng Đến Năm 2030

Trên cơ sở Kế hoạch đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của Công ty giai đoạn 2021-2025, Công ty Nhiệt điện Vĩnh Tân đề xuất một số giải pháp nhằm triển khai hiệu quả công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Các giải pháp tập trung vào việc xác định nhu cầu đào tạo, xây dựng chương trình phù hợp với từng vị trí và yêu cầu vận hành, tăng cường đào tạo nội bộ kết hợp với các khóa học bên ngoài, ứng dụng công nghệ thông tin và quản trị học tập để nâng cao hiệu quả tiếp thu, và thiết lập hệ thống đánh giá kết quả đào tạo nhằm đảm bảo liên kết giữa đào tạo với mục tiêu sản xuất, an toàn và chuyển đổi số, đồng thời huy động nguồn lực từ ngân sách, đối tác và các nguồn hỗ trợ khác để bảo đảm hoạt động đào tạo liên tục.

+ Hoàn thiện cơ cấu tổ chức của Công ty, xây dựng cơ cấu, bố trí nhân sự phù hợp với từng vị trí chức danh.

Hoàn thiện bản mô tả chức danh công việc, quy định chức năng, nhiệm vụ của từng vị trí, khung năng lực và tiêu chuẩn kỹ năng nghề nhằm chuẩn hóa kỳ vọng và tăng tính minh bạch trong quản lý nguồn nhân lực Bên cạnh đó, hoàn thiện cơ chế đánh giá kết quả thực hiện công việc dựa trên tiêu chí cụ thể để làm căn cứ xác định nhu cầu đào tạo cho từng vị trí và từ đó xây dựng kế hoạch đào tạo phù hợp, nâng cao năng lực đội ngũ và hiệu quả hoạt động của tổ chức.

+ Xây dựng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sau đào tạo.

+ Xây dựng hệ thống giảng viên nội bộ và phát triển năng lực cho đội ngũ giảng viên nội bộ tại Công ty.

+ Xây dựng văn hóa khuyến khích học tập nâng cao trình độ nguồn nhân lực tại Công ty.

+ Xây dựng các chương trình đào tạo, tìm hiểu các đơn vị đào tạo có nhiều kinh nghiệm để triển khai các khóa đào tạo liên quan.

Chúng tôi triển khai các khóa đào tạo với nhiều hình thức đa dạng như đào tạo nội bộ, huấn luyện, đào tạo trực tuyến và E-Learning, nhằm khuyến khích tinh thần tự học và liên tục nâng cao trình độ cho toàn thể nhân sự.

+ Tạo môi trường làm việc cho CBCNV ứng dụng tốt hơn những điều đã học vào công việc thực tế.

Ngoài ra, Công ty Nhiệt điện Vĩnh Tân kính đề nghị Tổng Công ty Phát điện

3 hỗ trợ, hướng dẫn một số vấn đề sau:

- Tiếp tục hỗ trợ Công ty triển khai các khóa đào tạo giai đoạn 2021-2025 đặc biệt các khóa đào tạo chuyên sâu, nâng cao chuyên môn nhiệp vụ.

- Hướng dẫn xây dựng tiêu chí đánh giá khung hiệu quả sau đào tạo. download by : skknchat@gmail.com20

- Hướng dẫn thực hiện việc xây dựng lộ trình phát triển cá nhân gắn liền với lộ trình đào tạo.

- Hướng dẫn xây dựng khung năng lực cho các vị trí nhân sự, bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề.

CẢM NHẬN CỦA BẢN THÂN VỀ CHUYẾN THAM QUAN THỰC TẾ TẠI CÔNG TY NHIỆT ĐIỆN VĨNH TÂN 2

Đến Tuy Phong, Bình Thuận vào những ngày tháng 3 nắng gắt, tôi ban đầu lo ngại về môi trường trước sự hiện diện của Trung tâm nhiệt điện Vĩnh Tân và Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 với công suất 1.244 MW và lượng than tiêu thụ hàng ngày lên đến hàng chục nghìn tấn, nhưng khi bước vào khuôn viên Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2, cảm giác ấy nhanh chóng biến mất nhờ không gian sạch sẽ, yên tĩnh như đang tạm dừng hoạt động; dù là một nhà máy nhiệt điện công suất lớn, nơi đây gần như không có khói đen, bụi hay tiếng ồn từ máy móc, khiến nhận thức ban đầu về môi trường ở Tuy Phong – Bình Thuận có phần lắng dịu.

Qua chuyến tham quan thực tế và nghe báo cáo từ Ban Lãnh đạo Công ty nhiệt điện Vĩnh Tân 2, tôi hiểu thêm rằng để đạt được kết quả như vậy, nhà máy đã nhận thức sâu sắc vai trò của khoa học công nghệ và áp dụng công nghệ hiện đại vào dây chuyền sản xuất: dây chuyền tự động gần 100%, vận hành và điều khiển bởi hệ thống máy tính, từ đó tiết kiệm được lao động và chi phí trên một diện tích rộng nhưng số lượng nhân sự làm việc rất hạn chế Bên cạnh đó, công tác xử lý khí thải và tro bụi được chú trọng nhằm bảo vệ môi trường và xây dựng cảnh quan xanh – sạch – đẹp Đây thực sự là minh chứng cho sự phát triển kinh tế theo hướng bền vững, đúng với định hướng của Đảng và Nhà nước mà nhà máy đã nắm bắt và thực hiện hiệu quả.

Bên cạnh hoạt động xây dựng và vận hành sản xuất, Ban lãnh đạo nhà máy chú trọng đào tạo và nâng cao trình độ của lực lượng sản xuất, đảm bảo đội ngũ lao động có đủ năng lực để thích nghi với yêu cầu sản xuất Hiện tại, nhà máy đã thiết kế kế hoạch và định hướng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực nhằm đảm bảo đáp ứng kịp thời nhu cầu mở rộng và phát triển của Công ty trong mọi giai đoạn.

Ghi nhận từ thực tế tại Nhà máy Nhiệt Điện Vĩnh Tân 2 cho thấy phải nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của công tác đào tạo và nâng cao trình độ lực lượng sản xuất để tiếp thu và ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất và kinh doanh, nhằm đạt hiệu quả cao nhất Song song đó, quá trình phát triển không được bỏ qua công tác bảo vệ môi trường và xây dựng môi trường làm việc lành mạnh, nhằm đảm bảo phát triển bền vững cho doanh nghiệp và cộng đồng.

Trong chuyến thực tế lần này, đoàn có thêm một trải nghiệm khó quên khi tham quan hòn đảo Cù Lao Câu, một hòn đảo nhỏ cách TP Phan Thiết khoảng 110 km về phía đông bắc với vẻ đẹp hoang sơ và hùng vĩ Chúng tôi được trải nghiệm cảm giác bay trên mặt biển bằng tàu cao tốc vượt qua những con sóng lớn, ngắm nhìn làn nước trong xanh và tận hưởng vẻ đẹp hoang sơ của hòn đảo Chuyến đi cũng cho chúng tôi nhận thức rõ hơn về điều kiện sinh hoạt, làm việc còn nhiều khó khăn của các chiến sĩ hải quân ở vùng đảo xa, từ đó nảy sinh sự cảm phục và trân trọng những hi sinh, cống hiến của lực lượng này Nhắc nhở bản thân tự hào về quê hương, đất nước và nỗ lực học tập, công tác tốt để góp phần xây dựng đất nước và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.

Tuy thời gian không nhiều, nhưng qua chuyến đi nghiên cứu, tham quan thực tế lần này đã giúp bản thân thu nhận được nhiều kiến thức thực tế, củng cố cách nhìn nhận, phân tích các vấn đề và hình thành thái độ tích cực, đồng thời có thời gian gần gũi, gắn bó, hiểu nhau hơn với các Thầy Cô, anh chị trong đoàn, nâng cao tinh thần đoàn kết của lớp. download by : skknchat@gmail.com22

MỘT SỐ HÌNH ẢNH TỪ CHUYẾN ĐI

download by : skknchat@gmail.com23 download by : skknchat@gmail.com24

Ngày đăng: 16/04/2022, 11:57

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w