1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

DỰ án kết THÚC học PHẦN THỐNG kê ỨNG DỤNG TRONG KINH tế và KINH DOANH đề tài dự án KHẢO sát về NHU cầu ăn vặt và ăn NHANH của SINH VIÊN UEH

25 112 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 216,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Mục tiêu cụ thể: Dự án được thực hiện nhằm hướng đến việc mở một quán ăn, thương hiệu mới kinh doanh về đồ ăn vặt và đồ ăn nhanh để đáp ứng nhu cầu của trước hết là sinh viên.. Thống k

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC UEH TRƯỜNG CÔNG NGHỆ VÀ THIẾT KẾ UEH KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN KINH DOANH

******* * * * * * *******

DỰ ÁN KẾT THÚC HỌC PHẦN THỐNG KÊ ỨNG DỤNG TRONG KINH TẾ VÀ KINH DOANH

Đề tài dự án:

KHẢO SÁT VỀ NHU CẦU ĂN VẶT VÀ ĂN NHANH

CỦA SINH VIÊN UEH

Lớp: sáng thứ Hai – SE001

Mã LHP: 21C1STA50800547

Nhóm: 13

Giáo viên hướng dẫn:

Ts Nguyễn Văn Trãi

Thành viên:

Lưu Hoàng Quốc Bảo – 31211027569Trần Hoàng Kiệt – 31211027590Phạm Nguyễn Chí Khoa – 31211020279

Lê Văn Luân – 31211027594Nguyễn Tiến Dũng – 31211027572

Trang 2

Thống kê ứng dụng trong kinh tế và kinh doanh 1

Trang 3

Thống kê ứng dụng trong kinh tế và kinh doanh 2

Trang 4

Thống kê ứng dụng trong kinh tế và kinh doanh 3

NỘI DUNG DỰ ÁN

1 Tóm tắt nội dung nghiên cứu

Dự án này nghiên cứu về nhu cầu sử dụng thức ăn vặt cũng như thức ăn nhanh

của sinh viên mà ở đây cụ thể là sinh viên Đại học UEH

Thông qua phần mềm Google Biểu Mẫu (Google Forms), nhóm đã tạo một

cuộc khảo sát trực tuyến và đã có 99 bạn trả lời cho các câu hỏi mà nhóm đã đặt ra

nhằm mục đích thu thập dữ liệu

Từ các dữ liệu thu được thông qua cuộc khảo sát, nhóm đã tổng hợp và hoàn

thành nên dự án này Thông qua dự án, nhóm đã trả lời được các câu hỏi đặt ra khi

bắt đầu tiến hành dự án nghiên cứu này

2 Giới thiệu dự án nghiên cứu thống kê

- Lý do chọn dự án:

Bản thân đang là một sinh viên, các thành viên trong nhóm chúng tôi nhận ra

bản thân có một sự quan tâm đến việc ăn vặt và đã chi cho việc ăn vặt khá thường

xuyên kể từ khi còn là một học sinh cho đến bây giờ đã là sinh viên Với việc

muốn được giải đáp sự tò mò liệu rằng những bạn sinh viên khác có nhu cầu như

thế nào về lĩnh vực ăn uống này cũng như nhận ra đây là một lĩnh vực có tiềm

năng, nhóm đã tiến hành thực hiện khảo sát để tự mình giải đáp các thắc mắc ấy

Nhóm lựa chọn nghiên cứu khảo sát này để làm dự án vì nhóm nhận thấy tính thực

tế của nó

- Mục tiêu cụ thể:

Dự án được thực hiện nhằm hướng đến việc mở một quán ăn, thương hiệu mới

kinh doanh về đồ ăn vặt và đồ ăn nhanh để đáp ứng nhu cầu của trước hết là sinh

viên

- Câu hỏi mà dự án trả lời:

Các câu hỏi được nhóm đưa ra trong Google Biểu Mẫu nhằm thu thập thông tin

trả lời cho các câu hỏi sau:

+ Đối tượng khách hàng nào sẽ được nhắm đến

+ Những món ăn nào phù hợp thị hiếu của người tiêu dùng

+ Phân khúc mức giá và lượng nhập hàng ít hay nhiều là hợp lý

Trang 5

Thống kê ứng dụng trong kinh tế và kinh doanh 4

+ Điều gì sẽ làm hài lòng, thu hút và giữ chân khách hàng lâu dài

3 Phương pháp thực hiện nghiên cứu

- Đối tượng khảo sát: sinh viên của Đại Học UEH

- Vì tình hình dịch bệnh hiện nay vẫn còn mang tính chất phức tạp và khó lường

nên nhóm đã tiến hành thực hiện khảo sát bằng hình thức trực tuyến

- Tạo một bảng khảo sát bằng Google Biểu Mẫu, đăng biểu mẫu khảo sát lên

nền tảng mạng xã hội Facebook và đã nhận được 99 phản hồi

- Sử dụng Microsoft Excel để tổng hợp, phân tích, xử lý dữ liệu và vẽ biểu đồ

- Dùng Microsoft Word để tổng hợp kết quả, trình bày và báo cáo dự án

4 Trình bày kết quả dự án và thảo luận

Bảng 1: Bảng phân phối tần số, tuần suất, tần suất phần trăm

thể hiện giới tính của mẫu

Trang 6

Thống kê ứng dụng trong kinh tế và kinh doanh 5

42.42%

57.58%

BIỂU ĐỒ TRÒN THỂ HIỆN PHẦN TRĂM GIỚI TÍNH

Nam NữNhóm đã tiến hành khảo sát 99 đối tượng đạt yêu cầu gồm các sinh viên của

Đại học UEH Trong tổng số 99 đối tượng khảo sát có 42 đối tượng khảo sát là

nam, chiếm tỷ lệ 42,42% và 57 đối tượng là nữ, chiếm tỷ lệ 57,58% Tỷ lệ nam nữ

tương đối không có sự chệnh lệch quá lớn tạo điều kiện cho dữ liệu thu thập được

của nhóm trở nên thực tế và chính xác hơn Việc thu thập dữ liệu từ sinh viên UEH

là vì đây là những đối tượng dễ tiếp cận và thấu hiểu nhất đối với nhóm Đây cũng

chính là độ tuổi mà các bạn có thu nhập và có thời gian, là độ tuổi thích thưởng

thức và sống vì bản thân mình

Bảng 2: Bảng phân phối tần số về mức độ ăn vặt thường xuyên trong một tuần

của sinh viên UEH

Trang 7

Thống kê ứng dụng trong kinh tế và kinh doanh 6

1-3 lần 4-6 lần Trên 7 lần 0

5 10 15 20 25 30

Nam Nữ

Việc khảo sát này nhằm mang lại nguồn thông tin về mức độ thường xuyên

các bạn sinh viên UEH sẽ ăn vặt/ăn nhanh giúp cho việc cung cấp, chuẩn bị

nguyên liệu để làm đồ ăn trở nên chính xác tương đối hơn, không bị thiếu hay dư

thừa đồ ăn, góp cho việc tăng lợi nhuận bán hàng trong cửa hàng Thông qua các

dữ liệu trong đồ thị trên, ta có thể thấy rằng ở biến tần số thường xuyên trên 7 lần

thì số lượng sinh viên nữ (17 người) ăn vặt lớn hơn gần gấp 3 lần so với sinh viên

nam

(5 người) Trong khi đó ở các biến còn lại là 4-6 lần thì hầu như không có sự chênh

lệch giữa nam (17 người) và nữ (16 người) Thậm chí ở biến tần số 1-3 lần thì số

lượng sinh viên nữ (27 người) cũng lớn hơn so với sinh viên nam (20 người)

Chúng ta có thể dựa vào thông tin này để lựa chọn cách thức bày trí đồ ăn sao cho

phù hợp và gần gũi hơn với phái nữ thì khả năng thu hút khách hàng và bán được

hàng sẽ cao hơn

Trang 8

Thống kê ứng dụng trong kinh tế và kinh doanh 7

Trong số bốn món ăn vặt được nhóm liệt kê ra lần lượt là: bánh ngọt, bánh

tráng cuốn/trộn, các món chiên (cá viên/bò viên/khoai tây ) và khô gà/bò thì ba

món ăn vặt đầu tiên là được ưa chuộng nhất Thông qua biểu đồ chúng ta có thể

thấy được tỷ lệ bình chọn tương đối bằng nhau giữa bánh trán (31,3%), bánh ngọt

(31,3%) và các món chiên (29,3%) Với việc định mở một quán ăn mới với quy mô

vừa và nhỏ, thì thông qua khảo sát có thể rút ra được: chỉ cần tập trung vào ba món

ăn vặt được ưa chuộng ở trên, tạm thời không cần quan tâm đến món khô gà/bò với

tỷ lệ chọn chỉ 8,1% Trong tương lai, khi có đủ vốn thì chúng ta có thể xem xét mở

rộng và thêm những món mới vào danh sách các món phục vụ sau

BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN TỶ LỆ VỀ MÓN ĂN VẶT ĐƯỢC ƯA CHUỘNG NHẤT

Bánh ngọt Bánh tráng trộn/cuốn Các món chiên Khô gà/bò

Trang 9

Thống kê ứng dụng trong kinh tế và kinh doanh 8

<

1.000.000VN D; 55;

BIỂU ĐỒ TỶ LỆ phần trăm THU NHẬP CỦA 99 sinh viên ueh

< 1.000.000VND 1.000.000VND - 2.999.000VND 3.000.000 - 5.000.000VND

> 5.000.000VND

Như ta có thể thấy thông qua biểu đồ trên, đa phần sinh viên có thu nhập

hàng tháng dưới 1.000.000VND (chiếm 55,6%) Trong khi đó, số sinh viên có thu

nhập cao (> 5.000.000VND) chiếm tỷ lệ khá khiêm tốn, chỉ 9,1% Điều này có thể

lý giải do sinh viên có rất nhiều thứ phải chi trả và lo lắng, không nhiều người có

gia đình giàu hay khá giả để trợ cấp nhiều tiền cho con

nằm ở phần PHỤ LỤC)

Trang 10

Thống kê ứng dụng trong kinh tế và kinh doanh 9

12.12%

>

1.000.000VN D; 6; 6.06%

BIỂU ĐỒ TỶ LỆ phần trăm sẵn sàng chi cho ăn vặt CỦA 99 sinh viên ueh

< 200.000VND 200.000 - 499.000VND 500.000 - 1.000.000VND

> 1.000.000VND

Thông qua việc đánh giá và phân tích dữ liệu thu được, nhóm đã tổng hợp

nên được bảng 6 như bên dưới

Bảng 6: Bảng thể hiện mối quan hệ giữa thu nhập và chi tiêu cho ăn vặt

của sinh viên UEH

Thu

nhập

Chi tiêu

Dưới 1.000.000VND 2.999.000VND1.000.000 – 5.000.000VND3.000.000 – 5.000.000VNDTrên

Trang 11

Thống kê ứng dụng trong kinh tế và kinh doanh 10

0 5 10 15 20 25 30 35 40

BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN MỐI QUAN HỆ GIỮA THU NHẬP VÀ CHI CHO ĂN VẶT CỦA SINH VIÊN UEH

< 200.000VND 200.000 - 499.000VND 500.000-1.000.000VND > 1.000.000VND

Thu nhập hàng tháng

Qua biểu đồ thể hiện thu nhập và số tiền chi cho ăn vặt ta thấy:

Số người có thu nhập dưới 1.000.000VND chi cho ăn vặt khá ít, chủ yếu là

dưới 200.000VND Nhưng do số lượng người có thu nhập dưới 1.000.000VND

chiếm số lượng lớn (56%) nên tổng chi của nhóm người này vẫn khá cao Tuy

nhiên, thông qua biểu đồ ta có thể nhận ra một điều có vẻ như không hợp lý, đó

chính là việc những sinh viên có thu nhập dưới 1.000.000VND nhưng lại sẵn sàng

chi trên 1.000.000VND cho ăn vặt hàng tháng Điều này có thể được giải thích dựa

vào việc họ cực kì yêu thích việc ăn vặt và không thể kiểm soát chi tiêu của mình

vào việc ăn vặt hoặc đây là một trong những hạn chế sẽ được nêu ở phần 5 Những

hạn chế

Ta có thể thấy ở mức thu nhập dưới 1.000.000VND thì số tiền sẵn sàng chi

chiếm đại đa số là ở mức dưới 200.000VND Ở các mức thu nhập cao hơn thì điều

này lại khác, ở mức thu nhập từ 1.000.000VND đến 2.999.000VND thì số tiền sẵn

sàng chi từ 200.000VND đến 499.000VND lại chiếm đa số, ở mức thu nhập trên

5.000.000VND thì số tiền sẵn sàng chi là từ 500.000VND đến 1.000.000VND

Điều này nói lên rằng sinh viên có thu nhập thấp sẽ có ít sự lựa chọn hơn khi mà

bao tử “say yes” mà túi tiền lại “say no”, trong khi đó những sinh viên có thu nhập

càng cao thì sẽ càng sẵn sàng chi nhiều hơn cho việc ăn vặt, điều này cho thấy các

Trang 12

Thống kê ứng dụng trong kinh tế và kinh doanh 11

món ăn vặt là phù hợp cho hầu hết mọi người, nó khó có thể bị thay thế dù cho thu

nhập có tăng lên vì nó đã trở thành một sở thích hay món khoái khẩu của họ

Theo những dữ liệu thu được thì không hẳn là 100% sinh viên đều sẵn sàng

chi tiền cho ăn vặt phù hợp với thu nhập của mình, điển hình là ở mức thu nhập

dưới 1.000.000VND vẫn có những sinh viên sẵn sàng chi từ 500.000VND đến

1.000.000VND hay hay tỷ lệ sinh viên sẵn sàng chi dưới 200.000VND là cao nhất

trong mức thu nhập từ 3.000.000VND đến 5.000.000VND, nhưng ta vẫn có thể kết

luận rằng, giá thành và thu nhập ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn của sinh viên

hơn cả mức độ yêu thích của họ dành cho ăn vặt

Với việc bán những sản phẩm khác nhau với những mức giá khác nhau đòi

hỏi nhiều công sức và vốn, chúng tôi quyết định sẽ chỉ tập trung vào một vài phân

khúc nhất định Dựa trên các số liệu phía trên, chúng tôi nhận thấy phân khúc giá

rẻ sẽ là phù hợp nhất với mình Nhưng cũng không vì thế mà ta sẽ bỏ qua những

phân khúc cao hơn, khi mà ở đó giá cả đối với khách hàng không còn là một vấn

đề, chúng tôi sẽ vẫn có một vài sản phẩm có giá tầm trung hoặc cao để đáp ứng

những khách hàng ở phân khúc này Việc đa dạng hóa sản phẩm sẽ luôn được lưu

tâm, để có thể mang lại sự mới mẻ cho khách hàng, việc đa dạng hóa và mở rộng

sẽ được thực hiện khi mà quán đã có được lượng doanh thu nhất định

Dựa trên việc tần suất ăn vặt của hàng tuần của sinh viên không quá cao (1-3

lần chiếm 47,5% - xem thêm biểu đồ) và đại đa số sinh viên trong phân khúc chính

đã lựa chọn sẽ không chi quá nhiều tiền cho việc ăn vặt, chúng tôi đánh giá rằng sẽ

là nguy hiểm nếu nhập một lượng hàng, nguyên liệu lớn đối với quán mới mở, việc

nhập hàng nhỏ giọt và từng đợt để chờ đợi kết quả buôn bán từ thực tế sẽ được áp

dụng

Bảng 7: Bảng thể hiện lý do chọn đồ ăn vặt của một quán/thương hiệu

của 99 sinh viên UEH

Rất KhôngĐồng Ý

Không Đồng Ý

BìnhThường Đồng Ý Rất Đồng Ý

Trang trí đẹp

Trang 13

Thống kê ứng dụng trong kinh tế và kinh doanh 12

An toàn vệ

Hợp k

hẩu vị

29

11

34

Biểu đồ thể hiện lý do chọn đồ ăn vặt của một quán của sinh viên ueh

Rất không đồng ý Không đồng ý Bình thường Đồng ý Rất đồng ý

Ở dữ liệu này, sinh viên cho thấy sự tán thành với tỷ lệ 85/99 tức 85,86% sự

đánh giá là quan tâm (rất đồng ý, đồng ý) về hợp khẩu vị của món ăn vặt khi chọn

một cửa hàng/thương hiệu Tương tự với đó là giá thành rẻ và vệ sinh an toàn thực

phẩm của món ăn với lần lượt là 71,71% và 73,74% sự đánh giá là quan tâm.

Trong khi đó, chỉ có 42,42% sự đánh giá là quan tâm với việc trang trí món ăn đẹp

và bắt mắt, đây là một tỷ lệ không quá cao khi so với những tiêu chí phía trên

Những con số đã thể hiện rằng, sinh viên UEH chú trọng nhiều về khẩu vị, giá

thành và độ an toàn vệ sinh thực phẩm của đồ ăn vặt tại một cửa hàng/thương hiệu

Vì thế đây cũng chính là những tiêu chí mà những chúng tôi sẽ xem xét và đề cao

để có thể thu hút và giữ chân được khách hàng một cách lâu dài Và dù nhận được

ít sự đánh giá quan tâm hơn các tiêu chí còn lại, thì việc trang trí món ăn đẹp và bắt

mắt cũng sẽ được cửa hàng để tâm khi cửa hàng đã đủ điều kiện để đáp ứng, vì dù

sao thì cửa hàng luôn muốn làm hài lòng càng nhiều khách hàng càng tốt

Trang 14

Thống kê ứng dụng trong kinh tế và kinh doanh 13

Việc lựa chọn hình thức kinh doanh cũng hết sức quan trọng vì nó sẽ quyết

định đến việc tiếp cận khách hàng Việc bán hàng nghiêng về bán trực tiếp hay trực

tuyến nhiều hơn sẽ ảnh hưởng đến quyết định chi ngân sách Vì chỉ dự định mở

một quán vừa và nhỏ với số vốn không quá lớn nên chúng tôi dự định ban đầu sẽ

chỉ tập trung vào một mảng Nên nhóm đã đưa ra một vài câu hỏi để có thể xác

định được hướng đi cho mình

Từ dữ liệu và biểu đồ, ta có thể nhận thấy rằng chủ yếu có hai nhóm khách

hàng về lựa chọn hình thức mua hàng khi mua đồ ăn vặt Lần lượt là đó là mua tại

quán và mang đi với 46 người lựa chọn, chiếm 46,46% và mua tại quán và thưởng

thức tại quán với 47 người lựa chọn, chiếm 47,47% Trong khỉ đó, chỉ có 6 người

lựa chọn hình thức mua online qua page của quán, chiếm 6,06%

Những dữ liệu trên có vẻ gây bất ngờ vì chúng tôi nghĩ rằng sinh viên sẽ chú

trọng vào việc tiết kiệm thời gian và công sức thông qua việc mua đồ ăn trực

tuyến Nhưng điều đó cũng không quá khó hiểu khi giới sinh viên hiện nay ưu tiên

trải nghiệm hơn, thích việc mua tại quán để có cái nhìn chân thực về đồ ăn cũng

46

47

6

BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN VIỆC LỰA CHỌN HÌNH THỨC MUA HÀNG CỦA SINH VIÊN (%)

Mua tại quán và mang đi Mua tại quán và thưởng thức tại quán

Mua online qua page của quán

Trang 15

Thống kê ứng dụng trong kinh tế và kinh doanh 14

Thêm vào đó việc mua đồ ăn trực tuyến có thể sẽ ảnh hưởng nhiều đến chất lượng

món ăn do nhiều lý do khác nhau mà thể kể đến như: mất nhiều thời gian để giao

hàng khiến những món nóng hay ăn liền bị giảm chất lượng, quá trình vận chuyển

gặp vấn đề, sự cố, Và việc mua đồ ăn trực tiếp có thể khiến khách hàng cảm thấy

yên tâm hơn về an toàn vệ sinh thực phẩm, một yếu tố được sinh viên quan tâm

(73,74% đánh giá là quan tâm), khi mà họ có thể trực tiếp quan sát được quán ăn

như thế nào và đôi khi là cả quy trình chế biến

Mặc dù hiện nay việc bán hàng trực tuyến là một mảng không thể thiếu của

các cửa hàng, nhưng dựa vào các dữ liệu trên, chúng tôi quyết định sẽ tạm hoãn

việc triển khai việc bán hàng trực tuyến, vì việc xây dựng website bán hàng, lập

đội ngũ shipper hay liên kết với các công ty vận chuyển khác sẽ tốn rất nhiều thời

gian, công sức và tiền bạc

Cũng là những người thường hay ăn vặt, chúng tôi đã nghĩ đến việc quán sẽ

có một không gian để khách hàng có thể thoải mái thưởng thức món ăn Để có thể

củng cố thêm suy nghĩ của mình, nhóm đã đưa vào câu hỏi số 7 thêm một phương

án là “mua tại quán và thưởng thức tại quán” Và với thông tin đã thu được, cụ thể

là 47,47% sinh viên lựa chọn mua tại quán và thưởng thức tại quán, thì giờ đây

nhóm xác nhận việc chú trọng vào không gian quán là cần thiết Đã dự đoán được

điều đó, nhóm đã đưa ra câu hỏi số 8 nhằm khảo sát xem sở thích của mọi người

về không quán là như thế nào

Bảng 9: Bảng thể hiện sự yêu thích về không gian quán của sinh viên UEH

Rấtkhôngthích

Khôngthích

Bìnhthường Thích Rất thích

Trang 16

Thống kê ứng dụng trong kinh tế và kinh doanh 15

Có kệ sách Có thú cưng Không gian xanh, thoáng mát Không gian yên tĩnh 0

BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN SỰ YÊU THÍCH VỀ KHÔNG GIAN QUÁN CỦA SINH VIÊN UEH

Rất không thích Không thíchĐơn vị: %Bình thường Thích Rất thích

Thông qua dữ liệu và biểu đồ trên, ta có thể nhận thấy rằng sinh viên thể hiện

mức độ yêu thích lớn đối với hai yếu tố lần lượt là “không gian xanh, thoáng mát”

với 78 người đánh giá tích cực (thích và rất thích), chiếm 78,78% và “không gian

yên tĩnh” với 72 người đánh giá tích cực, chiếm 72,72% Đặc biệt là không gian

xanh và thoáng mát có số người đánh giá rất thích chiếm tỷ lệ rất cao 45,45%, cao

hơn tất cả cá đánh giá rất thích và thậm chí là đánh giá thích của các yếu tố khác.

Qua đó việc xây dựng nên một không gian mát mẻ với cây xanh sẽ được ưu tiên,

cùng với đó là giữ một không gian yên tĩnh và nhẹ nhàng

Trong khi đó, hai yếu tố có mức độ yêu thích thấp hơn là lần lượt là quán có thú

cưng (52,52 %) và quán có kệ sách (45,45%) Đối với việc quán có kệ sách có tỷ lệ

đánh giá bình thường là rất cao (45,45%), điều đó có nghĩa rằng có nhiều người

không quan tâm đến việc có kệ sách hay không nên việc đầu tư vào việc trang trí

quán với các kệ sách sẽ tạm thời được bỏ qua vì mức độ ưu tiên không cao và cũng

mang đến thách thức cho việc bày trí quán ăn Đối với việc quán có thú cưng thì lại

ghi nhận tỷ lệ số người không yêu thích (rất không thích, không thích) cao nhất

(14,14%), có thể hiểu rằng có một số người sẽ bị ứng với lông của thú cưng hay

Ngày đăng: 16/04/2022, 10:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w