1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN phân tích quan điểm của triết học mác lênin về con người và bản chất con người ý nghĩa lý luận và thực tiễn của quan điểm trên

15 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 162,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Con người là một thực thể sinh học – xã hội Con người là một loài sinh vật có trí tuệ, là sản phẩm của giới tự nhiên và là một động vật xã hội.. - Con người là một thực thể sinh học: Gi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC UEH KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN KINH DOANH

TIỂU LUẬN

HỌC PHẦN: TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN

Đề tài: Phân tích quan điểm của triết học Mác - Lênin về con người và bản chất con người Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của quan điểm trên.

Giảng viên hướng dẫn: TS.Bùi Xuân Thanh Sinh viên thực hiện: PhạmNguyễn Chí Khoa Ngày sinh: 04/09/2003

MSSV: 31211020279

Mã lớp HP: 21C1PHI51002343

Trang 2

1 Quan điểm của triết học Mác - Lênin về con người và bản chất con

người

1.1 Con người là một thực thể sinh học – xã hội

Con người là một loài sinh vật có trí tuệ, là sản phẩm của giới tự nhiên và là một động vật xã hội “Bản thân cái sự kiện là con người từ loài động vật mà ra, cũng đã quyết định việc con người không bao giờ hoàn toàn thoát ly khỏi những đặc tính vốn có của con vật”1 Điều đó có nghĩa rằng, cũng giống như những loài động vật khác, con người cũng cần phải tìm kiếm thức ăn, nước uống, đấu tranh để

có thể tồn tại, sinh sôi và phát triển Nhưng như chúng ta đã biết, con người là một thực thể sinh vật rất khác so với những loài động vật còn lại, chúng ta không tuyệt đối hóa những điều trên Không phải những đặc tính, bản năng sinh học, sự sinh tồn là thứ duy nhất cấu thành nên bản chất con người, mà con người còn là một thực thể xã hội Theo quan điểm của triết học Mác – Lênin, khi xem xét về con

Trang 3

người, chúng ta không thể tách rời hai phương diện sinh học (tự nhiên) và xã hội của con người thành các phương diện độc lập, quyết định cái còn lại

- Con người là một thực thể sinh học:

Giới tự nhiên chính là tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự hình thành, tồn tại và phát triển của con người Do đó, một trong những phương diện cơ bản của con người, loài người chính là bản tính sinh học Bản tính sinh học của con người được phân tích từ hai giác ngộ sau:

+ Con người là kết quả của sự tiến hóa và phát triển lâu dài của giới tự nhiên: cơ sở khoa học của kết luận này đã được chứng minh bằng toàn bộ sự phát triển của chủ nghĩa duy vật và khoa học tự nhiên, nổi bật và đặc biệt nhất là học thuyết tiến hóa của Đácuyn về sự tiến hóa của các loài, học thuyết này đã được

của loài người trải qua 04 giai đoạn chính: vượn người hóa thạch, người vượn hóa

Trang 4

thạch (người tối cổ), người cổ và người hiện đại Trong đó, vượn người hóa thạch

cổ đã tồn tại từ cách đây khoảng 18 triệu năm và sống chủ yếu ở trên cây Cho đến người hiện đại (Homo sapiens), họ giống hệt người hiện đại ngày nay, chỉ khác là răng to khỏe Qua quá trình phát triển lâu dài, loài người đã phân hóa thành 1 số chủng tộc, phân bố khắp các châu lục Nhưng chúng đều có chung nguồn gốc và thuộc 1 loài là loài người Homo sapiens

+ Con người là một bộ phận của giới tự nhiên và đồng thời “Giới tự nhiên

là thân thể vô cơ của con người, đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên”2 Trong quá trình tồn tại, tiến hóa và phát triển, con người luôn phải tuân theo các quy luật của tự nhiên, các quy luật như biến dị di truyền, chọn lọc tự nhiên, tiến hóa sinh học và các quá trình sinh học của giới tự nhiên Do

đó, những sự biến đổi của giới tự nhiên và tác động của quy luật tự nhiên một cách trực tiếp hoặc gián tiếp sẽ thường xuyên quy định sự tồn tại của con người Và

1 C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, t.20 Sđd Tr.146

2 C.Mác và Ph.Ăngghen (2000), Toàn tập, t.42, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội tr.135.

Trang 5

ngược lại, dù con người là một bộ phận đặc biệt quan trọng của giới tự nhiên nhưng lại có thể biến đổi, tác động trở lại giới tự nhiên thông qua các hoạt động của mình Bằng các hoạt động thực tiễn, con người thống nhất với giới tự nhiên bởi giới tự nhiên “là thân thể vô cơ của con người” Đây chính là điểm khác biệt quan trọng giữa con người và các thực thể sinh vật khác

- Con người là một thực thể xã hội:

Con người là một động vật xã hội với các đặc tính và hoạt động xã hội Từ xưa đến nay, mỗi con người với tư cách là “người” chính là xét trong mối quan hệ của cộng đồng xã hội, với tư cách là thành viên của xã hội nhất định, các cộng đồng đó là: gia đình, giai cấp, dân tộc, nhân loại, Bản tính xã hội của con người được phân tích từ hai giác độ sau:

+ Xét từ giác độ nguồn gốc hình thành loài người: nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tiến hóa của loài người không chỉ là nhân tố sinh học mà còn có nhân tố

Trang 6

xã hội Khi xã hội ngày càng phát triển, con người ngày càng sinh sôi, nảy nở, mà những sản phẩm có sẵn trong tự nhiên lại có giới hạn Từ đó, lao động sản xuất, một hoạt động xã hội cơ bản và quan trọng nhất của con người, đã được hình thành Nhờ có lao động mà con người có khả năng vượt qua loài động vật để tiến hóa và phát triển thành con người như ngày nay “Người là giống vật duy nhất có thể lao động mà thoát khỏi trạng thái thuần túy là loài vật”3 Trong khi các loài vật khác phải hoàn toàn sống dựa vào những sản phẩm có sẵn của tự nhiên thì con người lại sống bằng lao động sản xuất, cải tạo tự nhiên và sáng tạo nên những sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu của bản thân Chính nhờ có lao động sản xuất, về mặt sinh học, mà con người có thể trở thành thực thể xã hội

+ Xét từ giác độ tồn tại và phát triển của loài người: xã hội xét đến cùng là sản phẩm của sự tác động qua lại lẫn nhau giữa những con người Con người là thực thể sinh vật không thể tách rời khỏi xã hội và chính điều đó cũng là điểm cơ

Trang 7

bản làm cho con người khác con vật Do không thể tách khỏi xã hội nên tồn tại của con người luôn luôn bị các nhân tố xã hội và các quy luật xã hội chi phối Xã hội

mà thay đổi thì tương ứng với nó, mỗi con người cũng sẽ có những sự thay đổi Và ngược lại, sự phát triển của mỗi cá nhân cũng sẽ góp phần là tiền đề cho sự phát triển của toàn xã hội Các hoạt động của con người khi gắn với các quan hệ xã hội thì không chỉ phục vụ cho con người mà còn là cho xã hội, khác với con vật khi

mà chỉ phục vụ cho nhu cầu bản năng của chính nó Con người từ hoạt động và giao tiếp đã sinh ra ý thức người Tư duy và ý thức con người phát triển trong lao động và giao tiếp xã hội với nhau Rồi từ đó, ngôn ngữ xuất hiện và phát triển Chính ngôn ngữ và tư duy của con người là một trong những biểu hiện rõ nhất về phương diện con người là một chủ thể xã hội

Hai phương diện sinh học và xã hội của con người tồn tại trong tính thống nhất và không thể tách rời Chúng quy định, tác động, làm biến đổi lẫn nhau, nhờ

Trang 8

đó tạo nên khả năng sáng tạo của con người trong quá trình viết nên lịch sử của chính nó

1.2 Bản chất con người

- “Sáng tạo lịch sử” là bản chất của con người:

Không giống như những loài động vật khi mà lịch sử của chúng không phải do chúng làm ra, không xảy ra theo ý muốn của chúng và thậm chí là chúng không cảm nhận được dòng chảy của lịch sử Những gì mà thế hệ sau được nhận lại từ thế hệ trước đó chỉ là những đặc tính sinh học, tự nhiên, thông qua di truyền Thì ngược lại, con người có thể nhận thức được và tự mình tạo ra lịch sử Hoạt động lịch sử đầu tiên đánh dấu sự kiện con người tách ra khỏi con vật đó chính là chế tạo ra công cụ lao động và hoạt động lao động sản xuất Tuy nhiên, con người không thể sáng tạo lịch sử một cách tuy tiện theo ý muốn của mình, mà phải dựa vào những mối quan hệ của quá khứ và hiện tại Con người phải tiếp tục các hoạt

3 C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, t.20, Sđd tr.673.

Trang 9

động dựa trên các tiền đề, điều kiện cũ được thế hệ trước để lại trong khi phải tiến hành các hoạt động, nghiên cứu mới để cải biến những điều kiện cũ hay tìm ra những điều kiện mới Từ khi con người sáng tạo nên lịch sử đến nay, khi biết chế tạo công cụ lao động, thì con người luôn là chủ thể của lịch sử, nhưng cũng luôn là sản phẩm của lịch sử, của bản thân con người

- Bản chất của con người là tổng hòa các quan hệ xã hội:

Trong tác phẩm Luận cương về Phoi-ơ-bắc (1845), C.Mác có viết: "Bản chất con người không phải là một cái gì trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội" Với quan điểm đó, C.Mác đã chỉ ra rằng bản chất của con người luôn được hình thành

và biểu hiện ở những con người cụ thể ở hiện thực và trong những điều kiện lịch

sử cụ thể Con người là một thực thể thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội, nhưng yếu tố xã hội mới là bản chất đích thực của con người Chính bản tính

Trang 10

xã hội là phương diện bản chất nhất của con người với tư cách “người”, phân biệt con người với các thực thể sinh vật khác của giới tự nhiên Con người là một thực thể sinh học mang đặc tính xã hội Và bởi xã hội hay chính xã hội của con người được tạo nên hoàn toàn bởi các mối quan hệ xã hội giữa người với người như: quan hệ quá khứ, quan hệ hiện tại, quan hệ kinh tế, quan hệ chính trị, quan hệ trực tiêp, quan hệ gián tiếp, Không phải các mối quan hệ xã hội tạo nên bản chất của con người được kết hợp một cách đơn giản hay là cộng gộp với nhau mà đó là sự tổng hòa giữa chúng Mỗi quan hệ xã hội lại có một vị trí và vai trò khác nhau, chúng tác động lẫn nhau và không tách rời nhau Tất cả các quan hệ xã hội đều góp phần tạo nên bản chất của con người, do đó, khi các quan hệ xã hội thay đổi thì ít hay nhiều, sớm hay muộn, bản chất của con người cũng sẽ thay đổi theo

Các quan hệ xã hội một khi đã hình thành sẽ có vai trò quan trọng chi phối và quyết định các mặt khác của đời sống con người Làm cho con người không còn là

Trang 11

một loài động vật thuần túy mà là một động vật xã hội Khi muốn giải phóng bản chất của con người thì ta cần hướng vào việc giải phóng những mối quan hệ kinh

tế, văn hóa, chính trị, của nó, từ đó mà phát huy khả năng sáng tạo lịch sử của con người Con người “bẩm sinh đã là sinh vật có tính xã hội”4 Khía cạnh thực thể sinh học là tiền đề để trên đó thực thể xã hội tồn tại, phát triển và chi phối

2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

2.1 Về lý luận

Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về con người và bản chất của con người là cơ sở phương pháp luận cho mọi hoạt động của con người

- Bằng hoạt động thực tiễn, con người có một mối quan hệ chặt chẽ với giới tự nhiên, thống nhất với giới tự nhiên, bởi giới tự nhiên là “thân thể vô cơ của con người” Vì thế con người phải gắn bó, hòa hợp với giới tự nhiên mới có thể tồn tại

và phát triển Cần phải đẩy mạnh các hoạt động bảo vệ môi trường, cách sống

4 C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.2 Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội tr.200.

Trang 12

xanh, sống dựa vào giới tự nhiên để cùng nhau tồn tại, nhất là trong tình trạng ô nhiễm môi trường, khủng hoảng sinh thái và đòi hỏi sự phát triển bền vững như hiện nay

- Cần phải xem xét cả phương diện bản tính sinh học lẫn phương diện bản tính

xã hội khi đánh giá con người, nhưng phải coi trọng hơn việc nhận thức con người

từ phương diện bản tính xã hội, vì chỉ từ bản tính xã hội mới thể hiện được sự khác nhau và nét riêng của mỗi người Mặc khác, trong cuộc sống, ta cần phải biết tính đến nhu cầu sinh học nhưng cần đặc biệt rèn luyện và đề cao phẩm chất xã hội, tránh sống mà chỉ biết chạy theo nhu cầu bản năng tầm thường, không khác gì loài vật

- Do bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội nên việc xây dựng một môi trường xã hội tốt đẹp với những quan hệ xã hội tốt đẹp là hết sức quan trọng

để có thể phát triển được những con người hoàn thiện, tốt đẹp Song song với đó,

Trang 13

trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải giải quyết đúng đắn giữa mối quan hệ xã hội – cá nhân Chúng ta cần phải tránh khuynh hướng đề cao quá mức

cá nhân hay xã hội con người mới là tổng thể của các quan hệ xã hội Nếu chúng

ta đề cao quá mức cá nhân mà đối lập với xã hội hay đề cao xã hội mà bỏ quên cá nhân thì cũng có thể sẽ dẫn đến những hệ lụy khó lường cho cả xã hội lẫn cá nhân

2.2 Về thực tiễn

Đảng ta đã quán triệt và vận dụng quan điểm lý của chủ nghĩa Mác – Lênin về con người và bản chất của con người là nền tảng lý luận cho việc phát huy vai trò con người trong thời kì đổi mới đất nước Do nhu cầu khách quan của sự phát triển lịch sử - xã hội Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu, học hỏi lý luận về con người của chủ nghĩa Mác – Lênin, đã vận dụng và sáng tạo, phát triển lý luận cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh và lịch sử xã hội Việt Nam

Trang 14

- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cụ thể hóa quan niệm về con người, bao hoàm cả

cá nhân, cộng đồng, giai cấp, dân tộc, nhân loại Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người bao hàm nhiều nội dung khác nhau với các nội dung cơ bản về: tư tưởng về giải phóng nhân dân lao động, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc

- Muốn xem xét, thấu hiểu một con người cần phải xem xét gắn liền với điều kiện lịch sử và xã hội của hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định tư tưởng giải phóng dân tộc phải do do chính các dân tộc bị áp bức bóc lột thực hiện:

“Người ta sẽ không làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại và duy nhât của đời sống xã hội của họ”5 Quan điểm này còn được thể hiện rõ thông qua câu nói: “Hỡi anh em các thuộc địa! chúng tôi xin nói với anh

em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em”

Ngày đăng: 16/04/2022, 09:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w