saasaa THÀNH ỦY THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN CÁN BỘ TP HCM LỚP TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ HÀNH CHÍNH H 839 BÀI THU HOẠCH NGHIÊN CỨU THỰC TẾ ĐỀ TÀI TÌM HIỂU SỰ PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT QUA VIỆC NGHE BÁO CÁO, THAM QUAN THỰC TẾ TẠI CÔNG TY NHIỆT ĐIỆN VĨNH TÂN HỌC VIÊN TRẦN THANH TÀI ĐƠN VỊ CÔNG TÁC CTY CP VIỆT NAM KỸ NGHỆ SÚC SẢN GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN Th s ĐÀO XUÂN THỦY Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2021 ii LỜI CẢM ƠN Qua thời gian học tập với các Thầy, Cô Học viện Cán bộ Thành phố Hồ C.
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Lực Lượng Sản Xuất
Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, đồng thời phản ánh khả năng con người chinh phục tự nhiên bằng các sức mạnh hiện thực của mình, được khái quát thành lực lượng sản xuất Trình độ của lực lượng sản xuất biểu hiện mức độ chinh phục tự nhiên của con người và phản ánh năng lực thực tế của con người trong quá trình sản xuất nhằm tạo ra của cải vật chất cho xã hội và bảo đảm nhu cầu của con người.
- Về mặt kết cấu, lực lượng sản xuất gồm hai thành tố là Người lao động và
+ Người lao động là con người có sức khỏe, có kỹ năng lao động
+ Tư liệu sản xuất là những đối tượng được con người sử dụng, khai thác trong quá trình sản xuất, gồm:
* Tư liệu lao động Ví dụ: những công cụ lao động như cày, cuốc, máy kéo, dệt, máy, xe tải…; những nhiên liệu sản xuất như xăng, dầu, điện…
Đối tượng lao động là những vật liệu, nguyên liệu thô làm đầu vào cho sản xuất, điển hình với các ví dụ như sắt, thép, xi măng, sỏi, bông, len, sợi vải Đây là nguồn nguyên liệu thiết yếu để hình thành sản phẩm cuối cùng Do tầm quan trọng của nhân tố con người, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác khẳng định rằng năng lực lao động và tổ chức sản xuất của con người đóng vai trò quyết định trong quá trình sáng tạo giá trị và hiệu quả sản xuất.
“Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, người lao động”
Con người có đặc trưng sinh học và xã hội riêng, mang lại sức mạnh và kỹ năng lao động cả ở chân tay lẫn trí óc Trong quá trình làm việc, các khả năng này được phát huy và nhân lên gấp nhiều lần nhờ rèn luyện, học hỏi và sự hợp tác xã hội Sự kết hợp giữa sức mạnh thể chất, tư duy sắc bén và kỹ năng tổ chức giúp hiệu quả lao động tăng lên, tạo ra giá trị và sáng tạo vượt trội Vì thế, lao động của con người không chỉ dựa vào cơ bắp mà còn dựa vào trí tuệ, chiến lược và tinh thần đồng đội, giúp đạt được kết quả cao hơn nhiều so với ban đầu.
Lao động của con người ngày càng mang tính trí tuệ, với hàm lượng tri thức và kỹ năng ngày càng cao Vì vậy, con người là nguồn lực cơ bản và vô tận của nền sản xuất trong thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (cách mạng 4.0), đóng vai trò chủ đạo trong tăng trưởng kinh tế và đổi mới sáng tạo.
– Cùng với con người, công cụ lao động cũng là một thành tố cơ bản của lực lượng sản xuất
Trong mọi hoạt động sản xuất, công cụ lao động đóng vai trò như khí quan của bộ óc con người, là sức mạnh của tri thức đã được vật thể hóa Những công cụ này không chỉ nối dài bàn tay mà còn nhân lên trí tuệ của con người, giúp biến ý tưởng thành hiện thực và nâng cao hiệu quả làm việc cho cá nhân lẫn tập thể.
Khi công cụ lao động đã đạt trình độ tin học hóa, số hóa và tự động hóa ở mức phổ biến như hiện nay, hiệu suất của chúng thật sự kỳ diệu Trong mọi thời đại, công cụ sản xuất luôn là yếu tố động nhất của lực lượng sản xuất, có khả năng biến đổi và tiến hóa lên những mức cao hơn Công cụ sản xuất được tạo ra bởi con người, và nhờ đó năng lực thực tiễn của con người ngày càng được nâng cao.
Chuyển đổi, cải tiến và hoàn thiện không ngừng của công cụ lao động đã tạo ra những biến đổi sâu sắc trong toàn bộ tư liệu sản xuất, làm thay đổi cấu trúc và hiệu quả của quá trình sản xuất cũng như cách thức tổ chức lao động Quá trình tối ưu hóa công cụ lao động thúc đẩy sự phát triển của công nghệ và tăng năng suất, đồng thời làm nền tảng cho các biến đổi xã hội và kinh tế Nói ngắn gọn, sự tiến bộ của công cụ lao động chính là nguyên nhân căn bản của mọi biến đổi xã hội.
Trong quá trình chinh phục tự nhiên, con người đã sáng tạo khoa học và khoa học lại trở thành công cụ lao động đắc lực, nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất cũng như cải thiện đời sống Ngày nay, khoa học phát triển thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong công nghệ, sản xuất và đời sống hàng ngày, đồng thời thúc đẩy tiến bộ xã hội và kinh tế.
Cách thức mà khoa học thâm nhập và thể hiện trong hiện thực ngày càng phong phú, đa dạng và tăng nhanh theo cấp số nhân nhờ tiến bộ công nghệ, nghiên cứu và ứng dụng Khoa học đã phát triển đến mức độ mà chỉ vài thập kỷ trước con người còn khó hình dung, mở ra cơ hội và thách thức mới cho xã hội, từ chăm sóc sức khỏe đến sản xuất và đời sống hàng ngày.
Ví dụ điển hình cho thấy công nghệ Internet, trí tuệ nhân tạo (AI), mạng 5G và các nền tảng mạng xã hội như Facebook, YouTube đã tác động mạnh mẽ đến nhiều khâu trong quá trình sản xuất của con người Những công nghệ hiện đại này thể hiện đặc trưng mang tính thời đại và phản ánh rõ lực lượng sản xuất ngày nay Việc áp dụng rộng rãi những công nghệ này giúp tối ưu quy trình làm việc, tăng năng suất và mở ra cơ hội đổi mới sáng tạo cho doanh nghiệp và xã hội.
Quan Hệ Sản Xuất
Để tiến hành quá trình sản xuất, con người nhất định phải có mối quan hệ với nhau Tổng thể những mối quan hệ đó gọi là quan hệ sản xuất, hay nói cách khác là quan hệ giữa người với người trong sản xuất.
Trong đời sống xã hội, con người buộc phải duy trì các quan hệ nhất định để trao đổi hoạt động sản xuất và kết quả lao động Những quan hệ sản xuất này được con người tạo ra nhưng lại hình thành một cách khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn của bất kỳ ai Việc thiết lập các mối quan hệ trong sản xuất mang tính quy luật tất yếu và phản ánh sự vận động khách quan của xã hội.
Quan hệ sản xuất là quan hệ kinh tế khách quan không phụ thuộc ý muốn của con người, mang tính vật chất của đời sống xã hội và là hình thức xã hội của lực lượng sản xuất Đây vừa là cơ sở của đời sống xã hội vừa quyết định cách xã hội tổ chức sản xuất, trao đổi và phân phối, đồng thời phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và hình thành cấu trúc xã hội.
- Quan hệ sản xuất gồm 3 mặt:
Quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất là mối quan hệ giữa con người và tư liệu sản xuất, thể hiện cách con người chiếm hữu, quản lý và sử dụng tư liệu sản xuất; tính chất của quan hệ sản xuất được quy định trước hết bởi quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất—biểu hiện thông qua chế độ sở hữu Trong hệ thống các quan hệ sản xuất, quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất đóng vai trò quyết định, định hình và tác động tới các quan hệ xã hội khác.
Quan hệ tổ chức và quản lý kinh doanh sản xuất là sự tương tác giữa người với người trong quá trình sản xuất và trao đổi vật chất Trong hệ thống quan hệ sản xuất, các quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất có khả năng quyết định quy mô, tốc độ và hiệu quả của nền sản xuất cụ thể, đồng thời định hình xu hướng phát triển Những yếu tố này có thể tác động ngược lại với các quan hệ quản lý và tổ chức, từ đó làm biến dạng quan hệ sở hữu và gây ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế xã hội.
+ Quan hệ phân phối sản xuất sản phẩm: tức là quan hệ chặt chẽ với nhau cùng mục tiêu chung là sử dụng hợp lý và có hiệu quả tư liệu sản xuất để làm cho chúng không ngừng được tăng trưởng, thúc đẩy tái sản xuất mở rộng nâng cao phúc lợi cho người lao động Bên cạnh các quan hệ về mặt tổ chức quản lý, trong hệ thống quan hệ sản xuất, các quan hệ về mặt phân phối sản phẩm lao động cũng là những nhân tố có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vận động của
Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Lực Lượng Sản Xuất Và Quan Hệ Sản Xuất
- Nếu xét riêng trong phạm vi một quan hệ sản xuất nhất định thì tính chất sở hữu quyết định tính chất của quản lý và phân phối Mặt khác trong mỗi hình thái kinh tế xã hội nhất định quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chi phối các quan hệ sản xuất khác, ít nhiều cải biến chúng để chẳng những chúng không đối lập mà phục vụ đắc lực cho sự tồn tại và phát triển của kinh tế xã hội mới
3 Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Lực Lượng Sản Xuất Và Quan Hệ Sản Xuất
Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, nội dung cốt lõi của mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất như sau:
Trong một phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai thành tố cơ bản tồn tại trong mối quan hệ thống nhất, ràng buộc lẫn nhau trong quá trình sản xuất xã hội Mỗi phương thức sản xuất không thể tiến hành nếu thiếu một trong hai yếu tố này Lực lượng sản xuất là nội dung vật chất, kỹ thuật và công nghệ của quá trình sản xuất, còn quan hệ sản xuất đóng vai trò là hình thức kinh tế của quá trình đó Sự phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi quan hệ sản xuất được điều chỉnh cho phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; chỉ có sự thích ứng giữa quan hệ và lực lượng sản xuất mới cho phép chúng tiếp tục phát triển.
Trong mỗi phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định, và sự quyết định này được thể hiện đồng thời ở hai mặt thống nhất: lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất và quan hệ sản xuất lại phải phù hợp với lực lượng sản xuất Do đó, khi lực lượng sản xuất thay đổi, đòi hỏi tất yếu những điều chỉnh nhất định đối với quan hệ sản xuất để duy trì sự phù hợp và phát triển của hệ thống sản xuất.
Quan hệ sản xuất có khả năng tác động ngược lại lên lực lượng sản xuất trong quá trình bảo tồn, khai thác, sử dụng và phát triển Tác động này có hai chiều: tích cực khi quan hệ sản xuất phù hợp với nhu cầu khách quan của lực lượng sản xuất và tiêu cực khi ngược lại Lực lượng sản xuất phát triển liên tục, còn quan hệ sản xuất mang tính ổn định tương đối vì gắn với các thiết chế xã hội và lợi ích của giai cấp cầm quyền Theo Karl Marx, tổng thể các quan hệ sản xuất hợp thành xã hội ở một giai đoạn lịch sử nhất định, đại diện cho một giai đoạn phát triển đặc thù: xã hội cổ đại, xã hội phong kiến, xã hội tư bản đều là những tổng thể như vậy Sự tác động biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thúc đẩy xã hội loài người phát triển như một quá trình lịch sử – tự nhiên.
Trong lý thuyết, mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất được coi là một mối quan hệ mâu thuẫn biện chứng, thể hiện sự thống nhất của hai mặt đối lập Sự vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất diễn ra theo chu trình từ trạng thái thống nhất ban đầu tới sự hình thành mâu thuẫn, và khi mâu thuẫn được giải quyết sẽ tái thiết lập một thống nhất mới Quá trình này lặp đi lặp lại trong lịch sử, từ đó tạo ra sự phát triển của phương thức sản xuất.
SỰ PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT CỦA CÔNG TY NHIỆT ĐIỆN VĨNH TÂN 2
Vài Nét Về Bình Thuận Nơi Đoàn Đến Thực Tế
Bình Thuận là tỉnh ven biển ở miền Nam Trung Bộ, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, với thành phố Phan Thiết làm trung tâm Phan Thiết cách TP Hồ Chí Minh khoảng 200 km về phía nam, cách Nha Trang khoảng 250 km và cách thủ đô Hà Nội khoảng 1.518 km về phía bắc Tỉnh có đường bờ biển dài 192 km từ mũi Đá Chẹt giáp Cà Ná thuộc Ninh Thuận đến bãi bồi Bình Châu thuộc địa phận tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu Với vị trí này, Bình Thuận có điều kiện mở rộng giao lưu và phát triển kinh tế với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đồng thời tăng cường liên kết với Tây Nguyên và cả nước Sức hút từ các thành phố lớn như Hồ Chí Minh, Vũng Tàu và Nha Trang sẽ thúc đẩy tỉnh đẩy mạnh sản xuất hàng hóa và tiếp thu nhanh khoa học kỹ thuật.
1.2 Điều kiện tự nhiên Địa hình Bình Thuận chủ yếu là đồi núi thấp, đồng bằng ven biển nhỏ hẹp, địa hình hẹp ngang kéo theo hướng đông bắc - tây nam, phân hoá thành 4 dạng địa hình chính gồm đất cát và cồn cát ven biển chiếm 18,22%, đồng bằng phù sa chiếm 9,43%, vùng đồi gò chiếm 31,65% và vùng núi thấp chiếm 40,7% diện tích đất tự nhiên Với địa hình này đã tạo điều kiện cho tỉnh phát triển kinh tế đa dạng
Với khí hậu nhiệt đới gió mùa gần xích đạo, khu vực này có nhiều nắng, gió mạnh và không có mùa đông lạnh, là nơi khô hạn nhất cả nước Khí hậu nơi đây phân hóa thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa được cho là kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, còn mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Tuy nhiên, thực tế lượng mưa lại tập trung chỉ vào ba tháng 8, 9 và 10, khiến mùa mưa ngắn lại và mùa khô thường kéo dài hơn so với dự báo.
Bình Thuận có 10 loại đất với 20 tổ đất khác nhau, cho thấy sự đa dạng về thổ nhưỡng và tiềm năng sử dụng đất Trong đó gồm các kiểu rừng gỗ lá rộng, rừng rụng lá, rừng hỗn giao lá kim chiếm ưu thế, và rừng hỗn giao tre nứa thuần loại Bên cạnh đó, tỉnh có nguồn khoáng sản phong phú với nhiều loại như vàng, wolfram, chì, kẽm, nước khoáng và các khoáng phi kim khác Đáng chú ý, nước khoáng, sét và đá xây dựng có giá trị thương mại và công nghiệp cao, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của Bình Thuận.
Ở Bình Thuận, hệ thống sông ngòi tương đối ngắn và lượng nước không điều hòa theo mùa Vào mùa mưa, nước sông dâng cao và chảy mạnh, còn mùa khô khiến nhiều khu vực bị khô hạn Tỉnh có bốn sông lớn là sông Lũy, sông Lòng Sông, sông Cái và sông Cà Ty, đóng góp quan trọng cho sinh hoạt và nông nghiệp địa phương.
Sông Lòng Sông bắt nguồn từ dãy núi nằm trên ranh giới hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, chảy theo hướng Bắc-Nam dọc theo ranh giới giữa hai quận Tuy Phong và Phan Lý Chàm, dài khoảng 40 km từ nguồn đến cửa biển Sông Lũy bắt nguồn từ cao nguyên Tuyên Đức; từ nguồn đến ranh giới quận Hòa Đa, sông chảy theo hướng Bắc-Nam với chiều dài khoảng 40 km, sau đó rẽ ra biển và tiếp tục chảy theo hướng Tây-Đông với chiều dài trên 20 km; lòng sông Lũy hẹp và quanh co, vào mùa mưa thường gây lụt lội.
Sông Cái phát nguồn từ cao nguyên Lâm Đồng chảy qua địa phận Thiện Giáo, rồi chảy theo hướng Bắc-Nam và dài khoảng 40 cây số
Sông Cà Ty phát nguồn từ cao nguyên phía Tây và chảy theo hướng Đông- Nam, dài 27 cây số
Bình Thuận là tỉnh có 10 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm thành phố Phan Thiết, thị xã La Gi và 8 huyện Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, Tánh Linh, Hàm Tân, Đức Linh và Phú Quý Cấu trúc này cho thấy sự phân bổ lãnh thổ đa dạng, trong đó Phan Thiết là thành phố trực thuộc tỉnh, La Gi là thị xã và 8 huyện còn lại đảm nhận vai trò cấp huyện.
Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, dân số của tỉnh đạt 1.230.808 người 38,1% dân số sống ở đô thị và 61,9% dân số sống ở nông thôn
Dân cư tỉnh phân bố không đồng đều giữa các huyện, thị xã và thành phố Trung tâm đông dân nhất tập trung tại Thành phố Phan Thiết: dân số năm 2015 là 272.457 người, chiếm gần 1/4 dân số toàn tỉnh Tiếp theo là Phan Rí Cửa và Thị xã La Gi, trong khi các huyện Bắc Bình, Tánh Linh và Hàm Tân có mật độ dân cư thưa thớt.
Có 34 dân tộc cùng sinh sống ở Bình Thuận, trong đó đông nhất là dân tộc Kinh; tiếp đến là các dân tộc Chăm, Ra Glai, Hoa (tập trung nhiều ở phường Đức Nghĩa - thành phố Phan Thiết, Xã Hải Ninh và xã Sông Lũy- huyện Bắc Bình), Cơ Ho, Tày, Chơ Ro, Nùng, Mường
Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, toàn tỉnh có 12 tôn giáo khác nhau đạt
Toàn dân số được ghi nhận là 386.223 người, trong đó Công giáo chiếm số lượng lớn nhất với 188.996 người, tiếp đến Phật giáo 130.016 người, Hồi giáo 29.550 người, Bà La Môn 25.110 người, Tin Lành 9.956 người và Cao Đài 2.403 người Các tôn giáo khác bao gồm Phật giáo Hòa Hảo 90 người, Baha'i giáo 63 người, Minh Sư đạo 17 người, Tứ Ân Hiếu Nghĩa 13 người, Bửu Sơn Kỳ Hương 6 người và Minh Lý đạo 3 người.
Đề án Phát triển kinh tế biển tỉnh Bình Thuận đến năm 2020 nhằm định hướng phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững, với sự phát triển đồng bộ của ngành kinh tế biển Bình Thuận ở các khâu khai thác, chế biến, nuôi trồng và dịch vụ hậu cần nghề cá; đồng thời gắn với việc phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ du lịch và công nghiệp khai thác, để xây dựng huyện đảo Phú Quý trở thành trung tâm khai thác và dịch vụ hậu cần nghề cá, căn cứ chi viện hậu cần, kỹ thuật cho khu vực quần đảo Trường.
Ở Bình Thuận, từ tháng 10-2015 đến nay, tỉnh đã xây dựng và phát triển đội tàu hậu cần hải sản nhằm hỗ trợ ngư dân và thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn trên biển, đặc biệt ở khu vực Nhà giàn DK1 Quá trình này được phê duyệt và đóng mới các tàu phục vụ hậu cần, tăng cường cung ứng nhiên liệu, lương thực và dụng cụ nghề cá cho đoàn tàu khai thác ở biển khơi Đội tàu hậu cần hải sản Bình Thuận không chỉ nâng cao khả năng ứng phó sự cố trên biển mà còn bảo đảm an toàn và hiệu quả cho hoạt động khai thác hải sản Nhờ đầu tư này, chuỗi cung ứng hải sản tại vùng biển Bình Thuận được cải thiện, góp phần ổn định đời sống ngư dân và tăng cường vị thế kinh tế biển của địa phương.
109 tàu vỏ sắt được triển khai và phối hợp với Tập đoàn Yanmar (Nhật Bản) để đóng 20 tàu bằng vật liệu composite, đánh dấu bước tiến công nghệ và nâng cao hiệu quả đóng tàu Từ đầu năm 2016 đến nay, năng suất khai thác và nuôi trồng thủy sản đạt trên 50.000 tấn, và nhiều sản phẩm của ngành đã xây dựng được thương hiệu uy tín trên thị trường thế giới.
Các đề án "Xây dựng Bình Thuận trở thành trung tâm văn hóa, thể thao, du lịch biển mang tầm quốc gia", "Đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch giai đoạn 2015-2020" và "Bảo tồn và phát triển cảnh quan du lịch đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030" được triển khai nhằm khai thác tối đa tiềm năng du lịch của tỉnh Bình Thuận Mục tiêu định hướng là biến Bình Thuận thành điểm đến du lịch biển có tầm vóc quốc gia, đồng thời nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và bảo tồn cảnh quan để phát triển du lịch bền vững đến 2030 Trong những năm gần đây, ngành du lịch Bình Thuận đã có bước đột phá về tăng trưởng doanh thu và lượng khách đến, với mức tăng trưởng được duy trì hàng năm.
Bình Thuận tiếp tục ghi nhận đà tăng trưởng du lịch với mức tăng doanh thu khoảng 30% và tăng trưởng lượt khách từ 12-20%, năm 2015 đón 4,25 triệu lượt khách và đạt doanh thu 7.640 tỷ đồng; trong quý I-2016, đón hơn 1,5 triệu du khách, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm 2015 Quý I-2016 tại tỉnh diễn ra nhiều sự kiện văn hóa, thể thao như hội thảo Liên kết phát triển du lịch Việt Nam - Lào - Campuchia; giải billiards và snooker vô địch quốc gia; giải lướt ván buồm mở rộng Mui Ne Fan Cup lần thứ 17 năm 2016; giải đua thuyền truyền thống, kịp thời tuyên truyền, quảng bá và thu hút doanh nghiệp, du khách đến tham quan và tìm hiểu đầu tư Tính đến nay đã có 436 dự án với tổng vốn đầu tư 63.738 tỷ đồng vào Bình Thuận.
Du lịch cáp treo Tà Cú - Tỉnh Bình Thuận
Tổng Quan Nhà Máy Nhiệt Điện Vĩnh Tân 2
Nhà máy Nhiệt Điện Ninh Tân 2 là một dự án trọng điểm của Việt Nam thuộc Quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia giai đoạn 2006-2015 có xét đến năm 2025 (Tổng sơ đồ VI) Dự án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và là dự án nhiệt điện than lớn đầu tiên được xây dựng ở miền Nam, đánh dấu bước phát triển mới của ngành điện lực Việt Nam.
Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 do EVN làm chủ đầu tư được khởi công xây dựng vào tháng 8/2010, gồm 2 tổ máy với tổng công suất lắp đặt 1.244 MW (2x622 MW), sản lượng điện sản xuất hàng năm khoảng 7,2 tỷ kWh Nhà máy nằm trong TTĐL Vĩnh Tân trên địa bàn xã Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, cách thành phố Phan Thiết khoảng 90 km, cách Thành Phố Hồ Chí Minh gần 250 km và cách tỉnh Ninh Thuận khoảng 15 km.
- Phía Bắc giáp đường Quốc lộ 1A
- Phía Nam giáp biển Đông
- Phía Đông Bắc giáp Xã Phước Diêm, Huyện Ninh Phước, Tỉnh Ninh Thuận
- Phía Tây Nam giáp xã Vĩnh Hảo
Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 là một nhà máy nhiệt điện ngưng hơi truyền thống với công nghệ đốt hiện đại, sử dụng than Antraxit cám 6A từ Hòn Gai - Cẩm Phả - Quảng Ninh làm nhiên liệu chính và dầu FO cho khởi động và phụ trợ khi tải dưới 70% Sự kết hợp này được thiết kế nhằm tối ưu độ sẵn sàng, hiệu suất, tính ổn định và an toàn, đồng thời đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường thông qua lọc bụi và khử NOx và SOx bằng các thiết bị hiện đại Nhờ đó nhà máy có khả năng vận hành ổn định và hiệu quả, kết hợp với các biện pháp bảo vệ môi trường tiên tiến.
Than sẽ được vận chuyển đến nhà máy bằng phương tiện vận tải thuỷ có tải trọng đến 30.000DWT Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 được nối với hệ thống điện Quốc gia thông qua trạm 220kV/500kV bằng tuyến cáp ngầm Nguồn nước vận hành cho nhà máy được lấy từ hồ Đá Bạc và sông Lòng Sông
2.1 Các tiêu chuẩn thiết kế
Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 sẽ được thiết kế lắp đặt và chạy thử theo các quy phạm, tiêu chuẩn, quy định phòng ngừa tai nạn và các quy định pháp luật mới nhất liên quan Tất cả các loại vật liệu, thiết bị và hạng mục xây dựng được thực hiện đầy đủ với bảng tính toán, bản vẽ, chất lượng, chuẩn loại hàng hóa, phương thức kiểm tra và những đặc tính riêng về mặt xây dựng của các thiết bị cũng như của từng hạng mục; nghiệm thu nhà máy theo từng phần khi không còn nằm trong các yêu cầu đặc biệt của đặc tính kỹ thuật sẽ áp dụng các quy phạm kỹ thuật tương ứng với từng khía cạnh Dự án áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật thuộc hệ thống ISO và IFC, cùng các tiêu chuẩn xây dựng cấp quốc gia và các nước trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Anh, Đức, Úc, phù hợp với quy định trong Quy chế ban hành kèm theo quyết định số 09/2005/QĐ-BXD ngày 7/4/2005 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng.
Các tiêu chuẩn quy phạm của hiệp hội, tổ chức được quốc tế công nhận như ASTM, ASME, API, NFPA vv…
Việc tuân thủ các quy định hiện hành về áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật Việt Nam, đặc biệt là các tiêu chuẩn bắt buộc liên quan đến phòng cháy chữa cháy, vệ sinh, an toàn cho người tiêu dùng, an toàn cho thiết bị và công trình, cũng như các tiêu chuẩn liên quan đến môi trường và điều kiện đặc thù Việt Nam, là bắt buộc Việc áp dụng đầy đủ các chuẩn này giúp bảo đảm an toàn, chất lượng và tính tin cậy của sản phẩm và dịch vụ, đồng thời đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và phù hợp với thực tiễn thị trường trong nước.
Cho phép áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật khác với tiêu chuẩn quy định tại điểm (i) với điều kiện các tiêu chuẩn được lựa chọn phải có mức độ tiên tiến tương đương hoặc cao hơn so với tiêu chuẩn tương ứng thuộc các hệ thống chuẩn được nêu tại điểm (i) Trong các trường hợp tiêu chuẩn Việt Nam có mức độ tiên tiến thấp hơn so với tiêu chuẩn quốc tế hoặc tiêu chuẩn nước ngoài, áp dụng tiêu chuẩn quốc tế hoặc tiêu chuẩn nước ngoài; ngược lại, khi tiêu chuẩn Việt Nam có mức độ tiên tiến cao hơn, áp dụng tiêu chuẩn Việt Nam.
2.2 Công tác quản lý môi trường
Kiểm tra và giám sát công tác môi trường tại Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân được thực hiện không chỉ bởi nhà máy và các báo cáo định kỳ gửi cho cơ quan chức năng mà còn có sự tham gia của chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể và người dân Vĩnh Tân Các chỉ số môi trường và kết quả quan trắc quanh khu vực nhà máy được tập trung và truyền về trung tâm điều khiển của Vĩnh Tân 2, đồng thời được chuyển trực tiếp tới Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận để đảm bảo minh bạch và kịp thời trong công tác quản lý môi trường.
Hình ảnh - Phòng điều khiển trung tâm của nhiệt điện Vĩnh Tân 2
Ở Vĩnh Tân, công tác môi trường tại Vĩnh Tân 2 được giám sát qua ba kênh chính: kênh 1 là giám sát của các cơ quan chức năng của tỉnh theo quy chế phối hợp giữa tỉnh, huyện, xã do UBND tỉnh ban hành, đảm bảo 24/24 giờ giám sát mọi hoạt động của nhà máy và khu vực thải xỉ trên địa bàn Vĩnh Tân; kênh 2 là giám sát của nhân dân thông qua các tổ giám sát của các tổ chức chính trị, đoàn thể, được Bình Thuận coi là kênh có vai trò quan trọng để đối chiếu kết quả giám sát giữa các cơ quan Nhà nước; kênh 3 là giám sát của nhà máy.
Hiện nay, nhà máy đã lắp đặt hệ thống xử lý bụi, SO2 và NOx nhằm đảm bảo nồng độ các thông số phát thải ở mức cho phép; đồng thời hệ thống quan trắc tự động liên tục theo dõi các thông số khí thải trước khi thải ra khỏi ống khói, như bụi, NOx, SO2, CO, CO2, O2, lưu lượng và nhiệt độ Hệ thống này được Bộ Tài nguyên và Môi trường kiểm tra và cấp giấy xác nhận hoàn thành công trình Bảo vệ môi trường Theo yêu cầu trong giấy xác nhận này, công ty đã thuê đơn vị chuyên ngành quan trắc khí thải nhà máy định kỳ 3 tháng/lần, quan trắc không khí xung quanh định kỳ 6 tháng/lần và báo cáo đầy đủ quy định lên cơ quan chức năng Kết quả quan trắc cho thấy nồng độ các thông số phát thải đều nằm trong giới hạn cho phép Để khắc phục triệt để vấn đề phát thải khói đen trong quá trình khởi động, công ty đã tổ chức nghiên cứu, thử nghiệm và đưa hệ thống hút bụi tĩnh điện ESP vào vận hành.
Vĩnh Tân 2 được thiết kế để sử dụng than cám 6a với mức tiêu thụ khoảng 3,5 triệu tấn mỗi năm, cho lượng tro xỉ thải khoảng 1,3 triệu tấn/năm, trong đó khoảng 90% là tro bay và phần còn lại là xỉ đáy lò Quá trình vận hành của hai lò hơi sinh ra tro bay được thu giữ và chứa vào 3 silo Tại các silo, tro khô được trộn với nước để đạt độ ẩm tối đa 30% nhằm ngăn ngừa phát tán bụi tro bay, đổ vào xe chuyên dụng và vận chuyển ra lưu giữ tại bãi xỉ bằng đường vận hành riêng thuộc Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân.
Tro và xỉ từ Nhà máy Vĩnh Tân 2 đã được đơn vị có chức năng thử nghiệm cấp chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy và có thể được dùng cho bê tông, vữa xây, xi măng cũng như làm vật liệu san lấp.
Bãi thải xỉ Hố Dừa của khu vực Vĩnh Tân 2 được thiết kế gồm ba lớp cấu thành gồm lớp đất bảo vệ, lớp màng chống thấm và lớp đất đệm nhằm tăng cường an toàn và ổn định cho khu vực xỉ; quanh bãi xỉ được lắp đặt hệ thống phun nước mạch vòng sẵn sàng cấp nước để kiểm soát bụi trong điều kiện thời tiết bất lợi; xung quanh khu vực này có hơn 10 camera được bố trí để quan sát và thu thập thông tin, hình ảnh quan trắc môi trường hàng ngày, rồi truyền hình ảnh và số liệu online về thẳng trung tâm điều khiển của nhà máy và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận.
Nước thải từ các nguồn nhiễm than, nhiễm dầu và nước thải sinh hoạt từ nhà máy được xử lý theo quy trình nghiêm ngặt, được giám sát trực tuyến 24/7 để đảm bảo đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của Giấy phép xả nước thải vào nguồn nước về độ pH, nhiệt độ và DO; Công ty đã tiến hành quan trắc nước thải công nghiệp và nước thải làm mát định kỳ 3 tháng/lần, quan trắc nước biển định kỳ 6 tháng/lần và báo cáo đầy đủ cho cơ quan chức năng theo quy định; các kết quả quan trắc cho thấy nồng độ các thông số thải của Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 nằm trong giới hạn cho phép.
Hình ảnh – Khu vực lưu trữ tro xỉ
Công Tác Đào Tạo – Phát Triển Nguồn Nhân Lực Tại Nhà Máy Nhiệt Điện Vĩnh Tân 2
3.1 Kết quả thực hiện giai đoạn 2017 - 2019
3.1.1 Kết quả đạt được trong công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2017 – 2019
Công ty tuân thủ đầy đủ các quy định và quy chế liên quan đến công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực do Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tổng Công ty Phát điện 3 ban hành; công ty đã áp dụng trực tiếp và thực hiện đầy đủ các thủ tục liên quan của Quy chế đào tạo phát triển nguồn nhân lực nhằm đảm bảo quản trị nguồn nhân lực hiệu quả và nâng cao năng lực đội ngũ.
Phong trào thi đua thực hiện công tác đào tạo và chủ đề năm 2018 được lãnh đạo Công ty triển khai sâu rộng trên toàn hệ thống, tạo điều kiện để đoàn viên và người lao động tích cực học tập nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và trình độ chính trị, kiến thức pháp luật, trình độ học vấn cũng như kỹ năng nghề nghiệp Hầu hết cán bộ, công chức, viên chức đều đồng tình ủng hộ và nhiệt tình tham gia phong trào, nhận thấy việc học tập là quyền lợi đồng thời là trách nhiệm đối với Công ty, Tổng công ty và ngành Điện Việc đẩy mạnh công tác đào tạo không chỉ nâng cao năng lực và kinh nghiệm cho CBCNV mà còn giúp Công ty từng bước chuẩn hóa tài liệu giảng dạy và phát triển nguồn nhân lực lâu dài cho tổ chức.
Chúng tôi triển khai và hoàn thiện các bài giảng E-learning được EVN phân công, đồng thời chuẩn hóa tài liệu giảng dạy và xây dựng ngân hàng câu hỏi theo từng chuyên đề, tương ứng với từng chức danh vận hành Quy trình này tăng chất lượng đào tạo, đảm bảo nội dung nhất quán và dễ tiếp cận cho người học, đồng thời tối ưu hóa đánh giá năng lực và hiệu quả công tác vận hành.
Việc triển khai các khóa đào tạo về quản lý vận hành NMNĐ than, sửa chữa điện/C&I, kỹ thuật bảo dưỡng và sửa chữa lò hơi, tuabin hơi và máy phát điện NMNĐ công suất lớn đã phát huy hiệu quả Đặc biệt, hai khóa đào tạo chuyên sâu có yếu tố nước ngoài được tổ chức thành công với sự tham gia của các đơn vị trong Tổng Công ty, bao gồm nâng cao kiến thức DCS ABB tại Singapore và cải thiện hiệu suất vận hành NMNĐ Vĩnh Tân 2 do JCOAL Nhật Bản đào tạo.
Trong khuôn khổ khung đào tạo EVN/Tổng Công ty, chúng tôi tham gia các lớp quản lý cấp 3 và cấp 4 tại EVNGENCO 3 và cử cán bộ tham gia, đóng góp ý kiến nhằm hoàn thiện chương trình đào tạo phát triển chuyên gia NMNĐ than của EVN.
Dựa trên kế hoạch đào tạo hàng năm được Tổng Công ty Phát điện 3 giao, Công ty đã triển khai các khóa đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, các khóa đào tạo nội bộ và tham gia hội thảo để học hỏi kinh nghiệm từ các đơn vị khác Các hoạt động này được thiết kế nhằm nâng cao năng lực đội ngũ, cải thiện chất lượng công việc và đáp ứng yêu cầu của ngành Cụ thể, công ty đã tổ chức đa dạng khóa học từ nâng cao nghiệp vụ đến trao đổi kinh nghiệm, nhằm áp dụng hiệu quả vào hoạt động sản xuất và kinh doanh.
+ Năm 2017: triển khai 3091 lượt đào tạo;
+ Năm 2018: triển khai 2447 lượt đào tạo;
+ Năm 2019: triển khai 2674 lượt đào tạo
Được gắn với mục tiêu sản xuất kinh doanh, Công ty Nhiệt điện Vĩnh Tân luôn hướng tới đảm bảo an toàn – liên tục – hiệu quả kinh tế trong mọi hoạt động Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho đội ngũ CBCNV của công ty được xem là một trong những mục tiêu trọng yếu nhằm nâng cao chất lượng vận hành, đảm bảo an toàn tuyệt đối và duy trì sự ổn định của hệ thống vận hành nhà máy.
Trong giai đoạn 2017-2019, Công ty Nhiệt điện Vĩnh Tân đã chủ động triển khai và lựa chọn các đối tác, đơn vị đào tạo có nhiều kinh nghiệm để tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ kỹ sư và cán bộ kỹ thuật; đồng thời thực hiện các khóa đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, rèn luyện kỹ năng mềm và bồi dưỡng sát hạch nghề hàng năm, tham gia đầy đủ các khóa đào tạo do EVN và EVNGENCO3 tổ chức Thuận lợi của quá trình này là nguồn nhân lực được nâng cao chất lượng, tăng cường năng lực vận hành và tối ưu hóa hiệu suất, đáp ứng yêu cầu vận hành an toàn và hiệu quả của hệ thống.
Dưới sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo Tổng Công ty Phát điện 3 và Lãnh đạo Công ty, kế hoạch đào tạo hàng năm được triển khai bài bản, đặc biệt tập trung vào các khóa đào tạo chuyên sâu nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả làm việc của đội ngũ.
Đội ngũ CBCNV của công ty thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, có lòng yêu nghề và tích cực tham gia các khóa đào tạo do Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tổng Công ty Phát điện 3 và công ty tổ chức Phần nội dung cũng nêu rõ những khó khăn liên quan.
Bên cạnh những mặt thuận lợi trong việc triển khai kế hoạch đào tạo, Công ty Nhiệt điện Vĩnh Tân chưa xây dựng và phát triển được đội ngũ giảng viên nội bộ
3.2 Kế Hoạch Đào Tạo, Phát Triển Nguồn Nhân Lực Tại Nhà Máy Giai Đoạn 2021 - 2025, Định Hướng Đến Năm 2030
Trên cơ sở Kế hoạch đào tạo phát triển nguồn nhân lực của Công ty giai đoạn 2021-2025, Công ty Nhiệt điện Vĩnh Tân đề xuất một số giải pháp để triển khai công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, cụ thể như sau:
+ Hoàn thiện cơ cấu tổ chức của Công ty, xây dựng cơ cấu, bố trí nhân sự phù hợp với từng vị trí chức danh
Để nâng cao hiệu quả quản trị nguồn nhân lực, cần hoàn thiện bản mô tả chức danh công việc và quy định chức năng, nhiệm vụ của từng vị trí, xây dựng khung năng lực cùng tiêu chuẩn kỹ năng nghề phù hợp với yêu cầu công việc; đồng thời hoàn thiện cơ chế đánh giá kết quả thực hiện công việc để làm căn cứ xác định nhu cầu đào tạo và làm cơ sở triển khai các hoạt động đào tạo nhằm nâng cao năng lực đội ngũ.
+ Xây dựng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sau đào tạo
+ Xây dựng hệ thống giảng viên nội bộ và phát triển năng lực cho đội ngũ giảng viên nội bộ tại Công ty
+ Xây dựng văn hóa khuyến khích học tập nâng cao trình độ nguồn nhân lực tại Công ty
+ Xây dựng các chương trình đào tạo, tìm hiểu các đơn vị đào tạo có nhiều kinh nghiệm để triển khai các khóa đào tạo liên quan
Chúng tôi triển khai các khóa đào tạo với nhiều hình thức như đào tạo nội bộ, huấn luyện, đào tạo trực tuyến và E-Learning, nhằm khuyến khích tinh thần tự học, tự nâng cao trình độ và phát triển nghề nghiệp cho người tham gia Chương trình được thiết kế linh hoạt, phù hợp với nhịp làm việc và thời gian của từng cá nhân, giúp người học tiếp cận nội dung chất lượng cao và áp dụng hiệu quả kiến thức mới vào công việc hàng ngày.
+ Tạo môi trường làm việc cho CBCNV ứng dụng tốt hơn những điều đã học vào công việc thực tế
Ngoài ra, Công ty Nhiệt điện Vĩnh Tân kính đề nghị Tổng Công ty Phát điện
3 hỗ trợ, hướng dẫn một số vấn đề sau:
- Tiếp tục hỗ trợ Công ty triển khai các khóa đào tạo giai đoạn 2021-2025 đặc biệt các khóa đào tạo chuyên sâu, nâng cao chuyên môn nhiệp vụ
- Hướng dẫn xây dựng tiêu chí đánh giá khung hiệu quả sau đào tạo
- Hướng dẫn thực hiện việc xây dựng lộ trình phát triển cá nhân gắn liền với lộ trình đào tạo
- Hướng dẫn xây dựng khung năng lực cho các vị trí nhân sự, bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề.
CẢM NHẬN CỦA BẢN THÂN VỀ CHUYẾN THAM QUAN THỰC TẾ TẠI CÔNG TY NHIỆT ĐIỆN VĨNH TÂN 2
Đến vùng đất Tuy Phong – Bình Thuận vào những ngày tháng 3 nắng gắt, bầu không khí nóng rát và gió khô khiến tôi lo lắng cho môi trường và cuộc sống của người dân khi Trung tâm nhiệt điện Vĩnh Tân, Trung tâm nhiệt điện lớn nhất nước, với Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 đi vào vận hành Tuy vậy, cảm giác ấy nhanh phai nhạt khi tôi bước vào khuôn viên Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân: ở đây nhà máy rất sạch, như đang tạm dừng hoạt động; với công suất 1.244 MW và lượng than tiêu thụ hàng ngày lên tới hàng chục ngàn tấn, nhưng không thấy một gợn khói đen hay bụi nào và hầu như không có tiếng ồn từ máy móc, thiết bị, một điều khiến tôi ngạc nhiên so với những suy nghĩ ban đầu.
Thông qua buổi tham quan thực tế và báo cáo từ Ban lãnh đạo Công ty Nhiệt điện Vĩnh Tân 2, tôi đã hiểu rõ rằng để đạt được kết quả như vậy, nhà máy đã nhận thức sâu sắc vai trò của khoa học công nghệ và không ngừng áp dụng công nghệ hiện đại vào dây chuyền sản xuất Dây chuyền tự động gần như đạt 100%, vận hành bằng hệ thống điều khiển của máy tính, giúp tiết kiệm đáng kể nhân công và chi phí cho một nhà máy quy mô lớn; đồng thời công tác xử lý khí thải và tro bụi được triển khai hiệu quả, góp phần bảo vệ môi trường và xây dựng khuôn viên xanh sạch đẹp Đây chính là minh chứng cho sự phát triển kinh tế theo hướng bền vững theo định hướng của Đảng và Nhà nước mà nhà máy đã lĩnh hội và thực hiện tốt.
Ngoài việc xây dựng và vận hành sản xuất, Ban lãnh đạo nhà máy chú trọng nâng cao trình độ của lực lượng lao động thông qua các chương trình đào tạo bài bản Nhà máy đã xây dựng kế hoạch và định hướng phát triển nguồn nhân lực nhằm đảm bảo đáp ứng kịp thời các yêu cầu tăng trưởng và mục tiêu phát triển của Công ty.
Bài học rút ra từ thực tế tại Nhà máy Nhiệt Điện Vĩnh Tân 2 cho thấy cần nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của công tác đào tạo và nâng cao trình độ lực lượng sản xuất để có thể tiếp thu và áp dụng khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất, kinh doanh nhằm mang lại hiệu quả cao nhất Trong quá trình phát triển sản xuất, cần chú ý đến công tác bảo vệ môi trường và xây dựng môi trường làm việc lành mạnh để đảm bảo phát triển bền vững.
Trong chuyến đi thực tế lần này, ngoài các hoạt động đã lên kế hoạch, một trải nghiệm khác của đoàn đã để lại cho tôi một cảm giác không thể quên: chuyến tham quan hòn đảo Cù Lao Đó là cơ hội để tôi ngắm nhìn vẻ đẹp hoang sơ của thắng cảnh biển, tìm hiểu đời sống và văn hóa của người dân địa phương, và cảm nhận sự yên bình giữa mênh mông đại dương Những khoảnh khắc trên bờ cát, tiếng sóng rì rào và ánh nắng thay đổi trên mặt nước đã làm tăng thêm ý nghĩa cho hành trình thực tế, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của du lịch có trách nhiệm và bảo tồn thiên nhiên.
Đảo Cù Lao Câu, một hòn đảo nhỏ cách Phan Thiết khoảng 110 km về phía đông bắc, nổi bật với vẻ đẹp hoang sơ và hùng vĩ Du khách có thể trải nghiệm cảm giác như đang bay trên mặt biển khi tàu cao tốc vượt qua những con sóng lớn, ngắm nhìn làn nước trong xanh và thưởng thức nét đẹp hoang sơ của đảo Tuy nhiên, nơi đây cũng cho thấy điều kiện sinh hoạt và công tác của các chiến sĩ hải quân và bộ đội làm nhiệm vụ ở vùng đảo xa còn nhiều khó khăn, từ đó ta hiểu rõ và trân trọng những hy sinh, cống hiến của họ Những trải nghiệm này khơi dậy niềm tự hào về quê hương, thúc đẩy nỗ lực học tập và làm việc, và nhắc nhở trách nhiệm chung tay đóng góp xây dựng đất nước cũng như bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.
Dù thời gian có hạn, chuyến đi nghiên cứu và tham quan thực tế đã mang lại cho tôi nhiều kiến thức thực tế và củng cố cách nhìn nhận, phân tích vấn đề một cách sắc bén Điều này hình thành thái độ tích cực trong học tập và công tác, đồng thời giúp tôi có sự gần gũi, gắn bó hơn với các thầy cô và anh chị trong đoàn Nhờ vậy, tinh thần đoàn kết của lớp được nâng cao, thúc đẩy sự phối hợp nhịp nhàng và phát triển tập thể hiệu quả hơn.