Untitled TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ =====o0o===== Hà Nội, năm 2021 TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN Ở VIỆT NAM; VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA THÀNH PHẦN KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Giảng viên hướng dẫn ThS Đinh Thị Quỳnh Hà MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 3 NỘI DUNG 4 CHƯƠNG I NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 4 1 Tính tất yếu khách quan và vai trò của nền kinh tế nhiều thành phần 4 1 1 Thành phần kinh tế là gì? 4 1 2.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
=====o0o=====
Hà Nội, năm 2021
TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN Ở VIỆT NAM; VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA THÀNH PHẦN KINH TẾ CÓ VỐN
ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
Giảng viên hướng dẫn: ThS Đinh Thị Quỳnh Hà
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG I: NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN TRONG THỜI
KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 4
1 Tính tất yếu khách quan và vai trò của nền kinh tế nhiều thành phần 4
1.1: Thành phần kinh tế là gì? 4
1.2: Tính tất yếu khách quan của thành phần kinh tế 4
1.3: Vai trò của nền kinh tế thành phần 5
Nền kinh tế nhiều thành phần có một vai trò to lớn vì: 5
2 Cơ cấu các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 6
CHƯƠNG II: VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA THÀNH PHẦN KINH TẾ CÓ
VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 8
1 Khái quát thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 8
1.1: Khái niệm thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 8
1.2: Các hình thức của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.8 2 Vai trò của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 8
3 Những khó khăn và giải pháp khắc phục trong công cuộc thu hút vốn đầu tư nước ngoài 11
3.1: Thực trạng thu hút vốn FDI vào Việt Nam 11
3.2: Những khó khăn 14
3.3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút vốn FDI 15
KẾT LUẬN 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động trên thị trường quốc
tế, tốc độ toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại diễn ra nhanh chóng ở nhiều quốc gia Các tập đoàn, công ty từ các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản sở hữu lượng vốn lớn luôn mong muốn tìm kiếm các nước đang phát triển để đầu tư Đây là điều kiện thuận lợi đối với các nước thiếu vốn
có nhu cầu đầu tư lớn Vì vậy đầu tư nước ngoài chiếm một vị trí rất quan trọng trong bối cảnh hiện nay đối với không chỉ những nước phát triển mà còn quan trọng đối với những nước đang phát triển, đặc biệt là đối với Việt Nam Việt Nam chúng ta có thế mạnh về chính trị ổn định, số lượng người trong độ tuổi lao động cao luôn mong muốn nhận được đầu tư từ các nước phát triển nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá,
chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, xây dựng kết cấu hạ tầng, đổi mới công nghệ thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và tăng sức mạnh cạnh tranh của hàng hoá Tại Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ IX đã khẳng định: “Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một
bộ phận quan trọng của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở nước ta, được khuyến khích phát triển lâu đầu tư nước ngoài, bình đẳng với các thành phần khác Thu hút đầu tư nước ngoài là chủ trương quan trọng, góp phần khai thác các nguồn lực trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển của đất nước.”
Như vậy, vai trò của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là rất quan trọng, có đóng góp không nhỏ trong việc tăng trưởng GDP, giải quyết việc làm cho người lao động, sự tăng trưởng của kim ngạch xuất
nhập khẩu Chính vì những tác động to lớn đó nên em đã chọn đề tài: Nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam; Vị trí, vai trò của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Trang 4NỘI DUNG
CHƯƠNG I: NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
1 Tính tất yếu khách quan và vai trò của nền kinh tế nhiều thành phần.
1.1: Thành phần kinh tế là gì?
Thành phần kinh tế là khu vực kinh tế, kiểu quan hệ kinh tế dựa trên một hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất Thành phần kinh tế tồn tại ở những hình thức tổ chức kinh tế nhất định, trong đó căn cứ vào quan hệ sản xuất (mà hạt nhân là quan hệ sở hữu) nào thống trị để xác định từng thành phần kinh tế
Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
là tổng thể các thành phần kinh tế cùng tồn tại trong môi trường hợp tác và cạnh tranh
1.2: Tính tất yếu khách quan của thành phần kinh tế
Sự tồn tại cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là đặc trưng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và là tất yếu khách quan:
Một số thành phần kinh tế của phương thức sản xuất cũ (như kinh tế cá thể,
tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân ) để lại, chúng đang có tác dụng đối với sự
phát triển lực lượng sản xuất; một số thành phần kinh tế mới hình thành trong quá trình cải tạo quan hệ sản xuất cũ và xây dựng quan hệ sản xuất
mới (như kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản nhà nước) Các
thành phần kinh tế cũ và các thành phần kinh tế mới tồn tại khách quan, có quan hệ với nhau cấu thành cơ cấu kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Trang 5Nguyên nhân cơ bản của sự tồn tại cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, suy đến cùng, là do quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất quy định Thời kỳ quá độ ở nước ta, do trình độ lực lượng sản xuất còn rất thấp, tồn tại ở nhiều thang bậc khác nhau, lại phân bố không đều giữa các ngành, vùng nên tất yếu còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế
1.3: Vai trò của nền kinh tế thành phần
Nền kinh tế nhiều thành phần có một vai trò to lớn vì:
Một là, sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế, tức là tồn tại nhiều hình thức tổ
chức kinh tế, nhiều phương thức quản lý phù hợp với trình độ khác nhau của lực lượng sản xuất Chính sự phù hợp này đến lượt nó, có tác dụng thúc đẩy tăng năng suất lao động, tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả kinh tế trong các thành phần kinh tế và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Hai là, nền kinh tế nhiều thành phần làm phong phú và đa dạng các chủ thể
kinh tế, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế hàng hoá, tạo tiền đề đẩy mạnh cạnh tranh, khắc phục tình trạng độc quyền Điều này thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững đồng thời nâng cao đời sống xã hội của nhân dân
Ba là, tạo điều kiện thực hiện và mở rộng các hình thức kinh tế quá độ,
trong đó có hình thức kinh tế tư bản nhà nước Đó là những "cầu nối", trạm
"trung gian" cần thiết để đưa nước ta từ sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa xã hội,
bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa
Bốn là, phát triển mạnh các thành phần kinh tế và cùng với nó là các hình
thức tổ chức sản xuất kinh doanh là một nội dung cơ bản của việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Trang 6Năm là, sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế đáp ứng được lợi ích kinh tế
của các giai cấp, tầng lớp xã hội, có tác dụng khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, các tiềm năng của đất nước
2 Cơ cấu các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Trên cơ sở nguyên lý ba thành phần kinh tế chủ yếu mà V.I.Lênin đã chỉ ra
trong thời kỳ quá độ (kinh tế xã hội chủ nghĩa, kinh tế của những người
sản xuất hàng hóa nhỏ, kinh tế tư bản tư nhân), tuỳ hoàn cảnh cụ thể mà
xác định cơ cấu thành phần của từng giai đoạn cho phù hợp
Qua thực tiễn của quá trình đổi mới, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X, Đảng ta đã xác định nền kinh tế nước ta có năm thành phần Đó là:
Kinh tế nhà nước
Kinh tế tập thể
Kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân)
Kinh tế tư bản nhà nước
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
* Kinh tế nhà nước:
Kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu toàn dân về
tư liệu sản xuất Kinh tế nhà nước bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, ngân hàng nhà nước, ngân sách nhà nước, các quỹ dự trữ quốc gia, các quỹ bảo hiểm nhà nước và các tài nguyên quốc gia, các tài sản khác thuộc sở hữu nhà nước có thể dựa vào vòng chu chuyển kinh tế
Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
* Kinh tế tập thể:
Kinh tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, mà nòng cốt là hợp tác
xã, dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể; liên kết rộng rãi
Trang 7những người lao động, các hộ sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ
và vừa thuộc các thành phần kinh tế, không giới hạn quy mô, lĩnh vực và địa bàn (trừ một số lĩnh vực có quy định riêng); phân phối theo lao động, theo vốn góp và mức độ tham gia dịch vụ; hoạt động theo các nguyên tắc: hợp tác tự nguyện; dân chủ, bình đẳng và công khai; tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi; hợp tác và phát triển cộng đồng
* Kinh tế tư nhân:
Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất
Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa
Thành phần kinh tế tư nhân bao gồm:
- Kinh tế cá thể, tiểu chủ: dựa trên hình thức tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất
- Kinh tế tư bản tư nhân: dựa trên hình thức sở hữu tư nhân tư bản chủ
nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê
*Kinh tế tư bản nhà nước
Kinh tế tư bản nhà nước là thành phần kinh tế bao gồm các hình thức liên doanh liên kết giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư bản tư nhân trong nước
và ngoài nước, mang lại lợi ích thiết thực cho các bên đầu tư kinh doanh
*Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm các doanh nghiệp có thể 100% vốn nước ngoài (một thành viên hoặc nhiều thành viên) có thể liên kết, liên doanh với doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp tư nhân của nước ta
Trang 8CHƯƠNG II: VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA THÀNH PHẦN KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI.
1 Khái quát thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
1.1: Khái niệm thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là thành phần kinh tế dựa trên hình thức sở hữu vốn của nước ngoài
1.2: Các hình thức của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của Nhà nước đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh
Công ty liên doanh
Công ty liên doanh là doanh nghiệp do 2 bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc ký hiệp định giữa Chính phủ nước CHXNCN Việt Nam và Chính phủ nước ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là những doanh nghiệp được các công ty nước ngoài thành lập để đầu tư phát triển kinh doanh tại thị trường Việt Nam hoặc là các doanh nghiệp trong nước được mua lại và sáp nhập vào các công ty nước ngoài
2 Vai trò của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Vốn, công nghệ và kỹ thuật quản lý ( chuyển giao nguồn lực )
Đối với một nước lạc hậu, trình độ sản xuất thấp, sức sản xuất kém phát triển, cơ sở vật chất - kỹ thuật kém thì việc tiếp thu một nguồn vốn lớn và công nghệ thích hợp để tăng năng suất có thể gặp nhiều khó khăn Nâng cao năng suất và chất lượng, cải tiến quản lý là điều cần thiết vì công nghệ
Trang 9đang là trọng tâm của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở một số nước đang phát triển Khi đầu tư trực tiếp, công nghệ mới được nhập khẩu vào nước
sở tại, bao gồm một số công nghệ bị cấm xuất khẩu qua ngoại thương Các chuyên gia có kỹ năng quản lý sẽ giúp nâng cao hiệu quả của công nghệ này, từ đó người lao động, các doanh nghiệp, công chức, viên chức có thể học hỏi kinh nghiệm
Chuyển giao công nghệ (bao gồm năng lực quản lý và marketing) khó đo lường hơn so với dòng vốn vào và hầu hết chuyển giao diễn ra ở công ty
mẹ ở nước ngoài và các công ty con của nó Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng tầm quan trọng của việc chuyển giao công nghệ trong các công ty này phụ thuộc vào việc chuyển giao từ các bên khác nhau
Tăng năng suất, thu nhập quốc dân và thúc đẩy cạnh tranh, nâng cao
hiệu quả kinh tế
Công nghệ và trình độ quản lý được cải thiện dẫn tới sự gia tăng năng suất lao động Không những thế, nhờ có những công nghệ tiên tiến, hiện đại đã tạo ra nhiều sản phẩm hơn, có chất lượng cao hơn, mẫu mã đẹp hơn, có tính năng đa dạng hơn và giá thành cũng rẻ hơn so với trước đây Chất lượng sản phẩm ngày càng được cải thiện ngày càng thu hút người tiêu dùng Do
sự tiêu thụ được tăng lên mà các ngành sản xuất, dịch vụ được tiếp thêm một luồng sức sống mới, nhân lực, máy móc và các nguyên vật liệu được đem ngay vào sản xuất, từ đó sức đóng góp của các ngành này vào GDP cũng đã tăng lên Ngày càng xuất hiện nhiều công ty có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới càng thúc đẩy các công ty đề cao chất lượng sản phẩm, kỹ thuật Do đó, thị trường Việt Nam ngày càng thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài
Khuyến khích năng lực kinh doanh trong nước
Ngày càng có nhiều nhà đầu tư nước ngoài với công nghệ, kĩ thuật hiện đại đầu tư vào thị trường Việt Nam đã phần nào đó đe dọa đến các nhà đầu tư trong nước Chính vì thế, để có thể tồn tại lâu dài, các nhà đầu tư trong
Trang 10nước phải thay đổi chiến thuật, đổi mới cả quá trình sản xuất của mình nhằm nâng cao trình độ lao động, mẫu mã, chất lượng sản phẩm và phương pháp quản lý để có thể đứng vững trên thị trường Đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội cho các nhà đầu tư trong nước thể hiện năng lực, sức mạnh của mình Cạnh tranh góp phần làm tăng trưởng kinh tế, cải thiện chất lượng sản phẩm
Tiếp cận với thị trường nước ngoài
FDI đã cho các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội được làm quen, học hỏi với các đối tác kinh tế mới từ nước ngoài Họ nhận thấy được rất nhiều nơi cần cái họ đang có và ngược lại họ cũng đang cần những cái đối tác có Do
đó, nhu cầu hợp tác giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước ngày càng tăng cao
Nếu như là trước đây khi chưa có FDI, các doanh nghiệp trong nước chỉ biết đến có thị trường trong nước, nhưng khi có FDI thì họ được làm quen với các đối tác kinh tế mới từ nước ngoài Họ chắc chắn sẽ nhận thấy rất nhiều nơi cần cái họ đang có và ngược lại họ cũng đang cần những cái ỏ nơi đối tác đang có Điều này dẫn đến sự cần thiết phải tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước, ngày càng tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị Sự trao đổi thương mại này một lần nữa thúc đẩy đầu tư quốc tế giữa các quốc gia
Tạo sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nước
Đầu tư nước ngoài góp phần tích cực vào việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế của nước sở tại theo hướng tích cực hơn, thường tập trung vào các ngành công nghệ cao có tính cạnh tranh như công nghệ hay thông tin Nếu nước thụ hưởng đầu tư là một nước nông nghiệp, thì sau thời gian mở cửa cho FDI, các ngành công nghiệp hay dịch vụ sẽ tăng về tỷ trọng góp phần tăng trưởng GDP cho đất nước Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư nước ngoài có tác dụng giải quyết sự mất cân đối phát triển nhất định giữa các vùng lãnh thổ, đưa các vùng kém phát triển thoát nghèo và phát huy tối đa lợi thế về tài
Trang 11nguyên, đưa tiềm năng chưa được khai thác vào các quá trình sản xuất, dịch vụ và phục vụ bàn đạp thúc đẩy sự phát triển của các vùng khác nhau
3 Những khó khăn và giải pháp khắc phục trong công cuộc thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có đóng góp rất to lớn đối với quốc gia, đặc biệt là một nước đang có tiềm năng phát triển như nước ta Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã mang lại những giá trị to lớn góp phần làm tăng thêm của cải và nâng cao sức cạnh tranh của các mặt hàng trong nước, đẩy mạnh chuyển đổi công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đồng thời tạo ra một số lượng lớn việc làm cho lao động trong nước
3.1: Thực trạng thu hút vốn FDI vào Việt Nam
Cùng với quá trình đổi mới và mở cửa nền kinh tế, ngày 29/12/1987, Quốc hội thông qua Luật Đầu tư nước ngoài (ĐTNN), đánh dấu bước ngoặt trong thu hút dòng vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam Khu vực có vốn FDI có
sự thay đổi nhanh chóng, ngày càng phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trở thành những khu vực quan trọng góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế - xã hội của đất nước Sau khi Việt Nam tham gia vào các hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương, dòng vốn FDI vào Việt Nam những năm gần đây có xu hướng gia tăng Từ năm 2010 – 2014, vốn FDI đầu tư vào Việt Nam tăng nhẹ từ 19,89 tỷ USD năm 2010 lên 21,92 tỷ USD vào năm 2014 Từ năm 2015 tổng vốn FDI đầu tư vào Việt Nam gia tăng nhanh chóng và mạnh mẽ Đỉnh điểm năm 2019 tổng vốn FDI đăng kí vào Việt Nam đạt 38,95 tỷ USD