(Luận án tiến sĩ) Phân tích và dự báo lạm phát cơ bản của Việt Nam bằng các mô hình kinh tế lượng(Luận án tiến sĩ) Phân tích và dự báo lạm phát cơ bản của Việt Nam bằng các mô hình kinh tế lượng(Luận án tiến sĩ) Phân tích và dự báo lạm phát cơ bản của Việt Nam bằng các mô hình kinh tế lượng(Luận án tiến sĩ) Phân tích và dự báo lạm phát cơ bản của Việt Nam bằng các mô hình kinh tế lượng(Luận án tiến sĩ) Phân tích và dự báo lạm phát cơ bản của Việt Nam bằng các mô hình kinh tế lượng(Luận án tiến sĩ) Phân tích và dự báo lạm phát cơ bản của Việt Nam bằng các mô hình kinh tế lượng(Luận án tiến sĩ) Phân tích và dự báo lạm phát cơ bản của Việt Nam bằng các mô hình kinh tế lượng(Luận án tiến sĩ) Phân tích và dự báo lạm phát cơ bản của Việt Nam bằng các mô hình kinh tế lượng(Luận án tiến sĩ) Phân tích và dự báo lạm phát cơ bản của Việt Nam bằng các mô hình kinh tế lượng(Luận án tiến sĩ) Phân tích và dự báo lạm phát cơ bản của Việt Nam bằng các mô hình kinh tế lượng(Luận án tiến sĩ) Phân tích và dự báo lạm phát cơ bản của Việt Nam bằng các mô hình kinh tế lượng(Luận án tiến sĩ) Phân tích và dự báo lạm phát cơ bản của Việt Nam bằng các mô hình kinh tế lượng(Luận án tiến sĩ) Phân tích và dự báo lạm phát cơ bản của Việt Nam bằng các mô hình kinh tế lượng(Luận án tiến sĩ) Phân tích và dự báo lạm phát cơ bản của Việt Nam bằng các mô hình kinh tế lượng(Luận án tiến sĩ) Phân tích và dự báo lạm phát cơ bản của Việt Nam bằng các mô hình kinh tế lượng(Luận án tiến sĩ) Phân tích và dự báo lạm phát cơ bản của Việt Nam bằng các mô hình kinh tế lượng(Luận án tiến sĩ) Phân tích và dự báo lạm phát cơ bản của Việt Nam bằng các mô hình kinh tế lượng(Luận án tiến sĩ) Phân tích và dự báo lạm phát cơ bản của Việt Nam bằng các mô hình kinh tế lượng(Luận án tiến sĩ) Phân tích và dự báo lạm phát cơ bản của Việt Nam bằng các mô hình kinh tế lượng(Luận án tiến sĩ) Phân tích và dự báo lạm phát cơ bản của Việt Nam bằng các mô hình kinh tế lượng(Luận án tiến sĩ) Phân tích và dự báo lạm phát cơ bản của Việt Nam bằng các mô hình kinh tế lượng(Luận án tiến sĩ) Phân tích và dự báo lạm phát cơ bản của Việt Nam bằng các mô hình kinh tế lượng(Luận án tiến sĩ) Phân tích và dự báo lạm phát cơ bản của Việt Nam bằng các mô hình kinh tế lượng(Luận án tiến sĩ) Phân tích và dự báo lạm phát cơ bản của Việt Nam bằng các mô hình kinh tế lượng(Luận án tiến sĩ) Phân tích và dự báo lạm phát cơ bản của Việt Nam bằng các mô hình kinh tế lượng
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG LẠM PHÁT CƠ BẢN CHO VIỆT NAM
Xây dựng lạm phát cơ bản cho Việt Nam
1.2.1 Kinh nghi ệ m qu ố c t ế trong xây d ự ng l ạ m phát c ơ b ả n
Vào năm 1991, Bryan và Pike đề xuất tính lạm phát trung bình bằng cách sử dụng một số loại giá đơn lẻ thay cho cách tiếp cận dựa trên giỏ hàng CPI tổng hợp Phương pháp này dựa trên việc quan sát các chuỗi giá cả riêng lẻ của các mặt hàng trong giỏ CPI, vốn cho thấy có sự lệch đáng kể giữa chúng Ball và Mankin (1992) cũng ghi nhận thực tế này, nhấn mạnh sự khác biệt biến động giữa các hàng hóa và ảnh hưởng của chúng đến đo lường lạm phát.
Ball và Mankin (1992) phân tích mô hình quyết định giá và phân phối sự biến đổi của giá, đồng thời đề xuất một số lý thuyết hỗ trợ để đo lường lạm phát cơ bản Nghiên cứu dựa trên quan sát phân phối chéo của những biến đổi giá bất thường và sử dụng một mô hình thống kê với danh mục chi phí, cho thấy các cú sốc cung riêng lẻ làm tăng lạm phát trung bình một cách tạm thời và làm cho phân phối thay đổi giá bị lệch Họ đề nghị lấy giá trị ở phần nối thêm của phân phối chéo để đại diện cho các cú sốc tạm thời Cách tiếp cận của Ball và Mankin tập trung vào cú sốc cung và xem đây là nguồn gốc duy nhất của các cú sốc giá tương đối.
Áp dụng mô hình tương tự, Roger (1995) và Bakhshi và Yates (1999) cung cấp một cách giải thích khác cho sự phân phối bất thường (non-normal) của sự thay đổi giá Nghiên cứu cho thấy nếu những cú sốc cầu không được điều chỉnh đúng cách thì chúng có thể làm thay đổi giá và có thể là nguyên nhân của những lệch tạm thời trong phân phối thay đổi giá Hơn nữa, sự gia tăng độ lệch của phân phối thay đổi giá có thể được xem như một chỉ báo dự báo lạm phát dai dẳng trong tương lai và không nên bỏ qua Họ không loại bỏ giải thích của Ball và Mankin cho rằng những cú sốc cung là nguyên nhân gây lệch tạm thời, mà còn đề nghị xem xét những nguyên nhân khác có thể ảnh hưởng đến sự thay đổi lạm phát dai dẳng, có nghĩa là nên cân nhắc thận trọng khi tính lạm phát cơ bản theo phương pháp loại trừ.
Quah và Vahey (1995) được xem là tài liệu tham khảo tiêu chuẩn về lạm phát cơ bản và họ sử dụng một mô hình SVAR hai biến với lạm phát cơ bản và đầu ra thực Định nghĩa của họ về lạm phát cơ bản là thành phần được đo lường mà không tác động đến đầu ra thực ở trung và dài hạn, phù hợp với đường cong Phillips dạng thẳng đứng Cách đo này dựa trên giả định rằng các biến động quan sát được chịu tác động của hai rối loạn: rối loạn lạm phát cơ bản có ảnh hưởng không ở trung và dài hạn, trong khi rối loạn thứ hai có thể tác động Họ kết luận rối loạn lạm phát cơ bản lần đầu có thể được điều chỉnh nhanh bởi nền kinh tế thực nhưng ảnh hưởng dai dẳng đến tỷ lệ lạm phát được đo Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp là khi dữ liệu mới được đưa vào để tính toán, cách đo lường thường bị sửa đổi, gây khó khăn cho ngân hàng trung ương trong việc giao tiếp với công chúng.
Trong nghiên cứu năm 2006 mang tự đề “An alternative measure of core inflation”, Micheal Perdensen cho rằng TMVC (loại bỏ những hàng hóa biến động nhất) là sự kết hợp của hai cách tính đã tồn tại trước đó: cách tính trung bình có loại trừ và chỉ số Edgeworth Ông cho rằng kết hợp hai cách tính này cho ra một phương pháp tính mới, TMVC, nhằm loại bỏ những nhóm hàng biến động mạnh nhất khỏi chỉ số lõi lạm phát.
CPI phản ánh ý tưởng cốt lõi của phương pháp tính trung bình có loại trừ, giúp giảm ảnh hưởng của biến động ngắn hạn lên chỉ số tổng thể Trong chỉ số Edgeworth, những hàng hóa có biến động mạnh nhất sẽ nhận tỷ trọng thấp nhất, nguyên lý này được duy trì trong cách tính TMVC vì các mặt hàng biến động mạnh nhất đã được loại trừ khỏi phép tính.
Jamie Armour (2006) trong nghiên cứu “An evaluation of core inflation” đưa ra ý kiến của mình khi sử dụng số liệu của Canada để tính toán Nghiên cứu chỉ ra rằng, hầu hết các cách tính truyền thống của lạm phát cơ bản đều làm cho chỉ số trở nên ổn định và ít biến động hơn Tác giả đã phân tích các cú sốc mà Canada gặp phải kể từ năm 1998, theo đó, giá dầu được xem là bất ổn định nhất trong thời kỳ đó, cùng với giá điện và giá bảo hiểm Từ sự phân tích này, ông đưa ra phương pháp gọi là
Phương pháp được gọi là cách đo lường Cutler xác định tỷ trọng của từng loại hàng hóa dựa trên sự thay đổi giá của nó Theo cách tính này, tỷ trọng của mỗi hàng hóa tỉ lệ với mức tăng giá của nó, nghĩa là hàng hóa có mức tăng giá càng lớn sẽ được gán trọng số càng cao; ngược lại, hàng hóa nào giảm giá sẽ có tỷ trọng bằng 0% Nhờ nguyên tắc này, cách đo lường Cutler tập trung vào biến động giá để phản ánh tác động lên danh mục, từ đó hỗ trợ phân tích thị trường và đưa ra các quyết định chiến lược dựa trên sự biến động giá.
Trong nghiên cứu của Clark (2001) "Comparing measures of core inflation" sử dụng số liệu lạm phát của Mỹ để tính toán năm chỉ số lạm phát cơ bản khác nhau, bao gồm: CPI loại trừ thực phẩm và năng lượng, CPI loại trừ năng lượng, CPI loại trừ tám mặt hàng hóa biến động mạnh nhất, và hai phương pháp tính trung bình có loại trừ (trimmed mean) và trung vị theo tỷ trọng (weighted median) Ông kiểm định các chỉ số này dựa trên hai tiêu chí: khả năng theo dõi xu hướng và khả năng dự báo lạm phát trong tương lai Kết quả cho thấy hai cách tính trung bình có loại trừ và CPI loại trừ năng lượng là hai phương án lạm phát cơ bản phù hợp nhất Đối với một số quốc gia, việc tính toán lạm phát cơ bản được thực hiện bằng cách loại bỏ một số mặt hàng nhất định.
Các nước như Mỹ và Canada chọn đo lạm phát cơ bản bằng cách loại bỏ hoàn toàn nhóm hàng lương thực - thực phẩm và năng lượng Ở Mỹ, lạm phát cơ bản chiếm 77,18% CPI với lương thực - thực phẩm chiếm 13,742% và năng lượng 9,079%; do đó, nền tảng này phản ánh phần lớn biến động giá cả Ở Canada, lạm phát cơ bản chiếm 73,93% CPI và Canada còn dùng một chỉ tiêu CPIX tính từ CPI sau khi loại bỏ 8 mặt hàng dễ biến động nhất gồm trái cây, xăng, rau củ, dầu nhiên liệu, khí tự nhiên, chi phí lãi suất thế chấp, vận tải đô thị, thuốc lá và tác động của thuế gián thu, chiếm 82,2% CPI Ở Nhật Bản, cơ bản được đo bằng loại trừ các thực phẩm tươi sống như cá tươi và thịt tươi, chiếm 0,412% CPI Ở Peru, ngoài loại bỏ một số mặt hàng lương thực - thực phẩm như rau quả, còn loại bỏ thêm giá nhóm vận tải, với tỷ trọng 21,2% CPI Thái Lan là một trong những nước hiếm hoi áp dụng khuôn khổ lạm phát mục tiêu; Ngân hàng Trung ương Thái Lan tính lạm phát cơ bản bằng cách loại trừ thực phẩm tươi sống và năng lượng, bao gồm gạo, bột mì, sản phẩm ngũ cốc, rau quả, trái cây, tiền điện, ga nấu ăn và xăng, chiếm 24,7% Khi Thái Lan đi theo khuôn khổ lạm phát mục tiêu vào mùa xuân năm 2000, lạm phát cơ bản được xem là mục tiêu trung gian, trong khi CPI được xem là mục tiêu cuối cùng của NHTW Thái Lan Đối với Philippines, lạm phát cơ bản được công nhận với định nghĩa chính thức; NSBC đã thông qua nghị quyết 6/NSBC năm 2003 để xác định và tính toán theo phương pháp loại trừ, theo đó NSO công bố lạm phát cơ bản là tỷ lệ thay đổi CPI sau khi loại bỏ nhóm thực phẩm và năng lượng, và định nghĩa này là kết quả của các cuộc thảo luận kỹ thuật giữa NSO, NSBC, NEDA, SRTC, NWPC, DTI và Ngân hàng Trung ương Philippines.
Đối với lạm phát cơ bản, phương pháp loại trừ thực phẩm và năng lượng được xem là lựa chọn phù hợp vì nó dễ hiểu hơn so với các phương pháp khác, có tính minh bạch và dễ tính toán từ chỉ số CPI cho bất kỳ người nào Phương pháp này có thể được công bố đồng thời với CPI, giúp so sánh hai thước đo một cách trực quan và thống nhất trong báo cáo Nó cũng phù hợp với thực tiễn quốc tế, khi loại trừ thực phẩm và năng lượng khỏi CPI được áp dụng ở nhiều nước để phản ánh xu hướng lạm phát dài hạn mà không bị dao động bởi biến động ngắn hạn của giá thực phẩm và năng lượng.
Những hàng hóa được loại trừ khi tính chỉ số lạm phát cơ bản gồm gạo, bắp, trái cây và rau quả, dầu khí, dầu hỏa, dầu, xăng và diesel, chiếm khoảng 18,4% trọng số của chỉ số CPI Ở Mỹ, chỉ số lạm phát cơ bản hàng tháng được công bố minh bạch, kịp thời và đầy đủ, với hầu hết các chỉ số liên quan đến đo lường lạm phát được công bố rộng rãi và các nhà điều hành của FED sử dụng chúng trong điều hành Việc so sánh giá giữa các thời kỳ cho thấy một cách đo lường lạm phát (nếu giá tăng) hay giảm phát (nếu giá giảm) dựa trên biến động giá theo thời gian Vì vậy, nhiều cách đo lường lạm phát cơ bản đã được phát triển từ chỉ số giá cơ bản, như CPI loại trừ thực phẩm và năng lượng, CPI trung vị hay Core PCE (chỉ số chi tiêu tiêu dùng cá nhân) Ở Mỹ, các cách đo lường chỉ số lạm phát cơ bản phổ biến bao gồm CPI loại trừ thực phẩm và năng lượng, CPI trung vị và Core PCE.
CPI lõi loại trừ thực phẩm và năng lượng vì hai yếu tố này có mức độ biến động cao trong quá khứ; sự biến động giá thực phẩm và năng lượng thường ngắn hạn và phản ánh thay đổi giá tương đối, chứ không đại diện cho xu hướng lạm phát dài hạn Trong nhiều trường hợp, biến động giá thực phẩm và năng lượng xuất phát từ sự gián đoạn nguồn cung do hạn hán hoặc OPEC cắt giảm sản lượng.
Thứ hai, cách đo lường Trimmed mean (phương pháp trung bình có loại trừ) nhằm ước lượng lạm phát CPI bằng cách loại bỏ các biến động giá hàng tháng quá lớn và quá nhỏ Phương pháp này thiết lập danh sách các hàng hóa được loại trừ thay đổi theo tháng và bỏ đi các biến động giá cao nhất và thấp nhất, vì hai loại biến động này được cho là có biến động lớn so với mức trung bình hàng tháng.
CPI loại trừ năng lượng được xem như một chỉ số có khả năng thay thế cho CPI loại trừ thực phẩm và năng lượng Giá thực phẩm được chia thành hai nhóm: thực phẩm ăn uống ngoài gia đình và thực phẩm tại gia đình Nhóm thực phẩm ăn uống ngoài gia đình khá ổn định, vì vậy biến động giá của nhóm này ít tác động tới CPI và có khả năng dự báo tốt trong tương lai Ngược lại, thực phẩm tại nhà đóng vai trò ngày càng ít quan trọng khi tính CPI Tỉ trọng của thực phẩm tại nhà đã giảm mạnh từ 17,8% xuống 9,6% năm 2000 Do đó, biến động giá thực phẩm tại nhà hiện nay tác động lên tổng thể CPI ít hơn so với hơn 30 năm trước, và biến động giá thực phẩm tại nhà có xu hướng giảm theo thời gian.
Kết luận chương 1
Trong chương 1 của luận án, tác giả trình bày một cách có hệ thống và dựa trên cơ sở khoa học về lạm phát cơ bản Khái niệm lạm phát cơ bản và các cách đo lường đã xuất hiện từ đầu những năm 1960, nhưng ở Việt Nam lạm phát cơ bản chỉ được GSO công bố từ tháng 1/2015 và chưa công bố chính thức về cách tính cũng như cơ sở để lựa chọn phương pháp tính Do vậy, luận án hệ thống hóa các phương pháp tính toán và chỉ ra phương pháp loại trừ là phương pháp phù hợp nhất để tính lạm phát cơ bản ở Việt Nam Dựa trên phương pháp này, tác giả thực hiện tính toán lạm phát cơ bản của Việt Nam giai đoạn 2000–2015 sau khi loại trừ 13 nhóm hàng cấp 3 ra khỏi giỏ hàng hóa tính CPI Cụ thể, các nhóm hàng bị loại bỏ gồm: gạo; bột mỳ và ngũ cốc; thịt gia súc tươi sống; thịt gia cầm tươi sống; trứng các loại; thủy sản tươi sống; rau tươi rau khô và chế biến; quả tươi và chế biến; điện sinh hoạt; gas và các loại chất đốt khác; nhiên liệu; dịch vụ giáo dục; dịch vụ y tế.
Trong luận án này, tác giả đã hệ thống hóa các phương pháp phân tích và dự báo lạm phát cơ bản và đề xuất các mô hình phù hợp cho Việt Nam, gồm các mô hình theo trường phái Keynes với đường cong Phillips và các mô hình theo trường phái tiền tệ như mô hình hồi quy sử dụng phương pháp hồi quy từng bước và mô hình Vector Error Correction Model (VECM) Đối với các phương pháp dự báo, nội dung được phân thành ba nhóm: (1) dự báo dựa trên thông tin quá khứ, (2) dự báo dựa trên đo lường, và (3) phương pháp dự báo kết hợp Phương pháp kết hợp dự báo được xem là điểm mới của luận án này, vì tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào ứng dụng phương pháp này để dự báo lạm phát cơ bản.
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG LẠM PHÁT CƠ BẢN VÀ CÁC BIẾN SÔ KINH TẾ VĨ
MÔ TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2015
Chương 2 của luận án tập trung vào hai nội dung chính: Thứ nhất là xem xét bối cảnh kinh tế xã hội của Việt Nam giai đoạn 2000-2015 để thấy được các chính sách của Việt Nam trong phát triển kinh tế Thứ hai, tác giả dựa trên các số liệu thống kê để phân tích thực trạng của lạm phát cơ bản và các yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát cơ bản
2.1 Bối cảnh kinh tế xã hội
Trong quá trình phát triển kinh tế, Việt Nam đã triển khai nhiều chính sách kinh tế vĩ mô nhằm thúc đẩy tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô Đặc biệt, sau giai đoạn lạm phát cao năm 2008 và 2011, nước ta xác định ổn định kinh tế vĩ mô là mục tiêu hàng đầu, được cụ thể hoá trong các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Các chính sách này tập trung vào tăng trưởng bền vững, kiềm chế lạm phát và cải thiện điều kiện đầu tư, từ đó nâng cao thu nhập và chất lượng đời sống người dân.
Kinh tế Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn khó khăn, với tăng trưởng chậm lại do ảnh hưởng của khủng hoảng tài khóa châu Á 1998-1999, khủng hoảng tài khóa toàn cầu 2007-2009 và giai đoạn đình đốn từ năm 2010 đến nay Trải qua từng giai đoạn, Việt Nam đã điều chỉnh chính sách tài khóa và tiền tệ, thể hiện sự linh hoạt trong điều hành nhằm duy trì ổn định vĩ mô và tạo đà phục hồi tăng trưởng Các giai đoạn này cho thấy cách Việt Nam thích ứng với biến động kinh tế thế giới bằng cách điều chỉnh mục tiêu ngân sách, phân bổ nguồn lực và công cụ điều tiết tiền tệ để hỗ trợ tăng trưởng.
Trong giai đoạn 2000–2005 và 2006–2010, mục tiêu hàng đầu là duy trì đà tăng trưởng Tuy nhiên, sau năm 2011, nền kinh tế cho thấy nhiều dấu hiệu bất ổn và mất cân đối, đòi hỏi sự điều chỉnh chính sách và theo dõi chặt chẽ nhằm bảo đảm sự ổn định và tính bền vững.
Ở Việt Nam, ổn định vĩ mô được xem là mục tiêu ưu tiên hàng đầu trong điều hành chính sách Thực tiễn diễn biến chính sách tài khóa và tiền tệ qua các giai đoạn cho thấy một chu kỳ điều chỉnh rõ rệt: nới lỏng trước năm 2007, thắt chặt tài khóa và tiền tệ để kiềm chế lạm phát năm 2008, kích cầu năm 2009, sau đó thực hiện một chính sách tài khóa và tiền tệ chặt chẽ nhưng linh hoạt nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm tăng trưởng trong giai đoạn 2010–2012, và tiếp tục ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô từ năm 2013 đến nay.
Trong bối cảnh lạm phát nội địa tăng cao và bong bóng ở thị trường bất động sản, kinh tế thế giới cũng gặp khó khăn khi một số nền kinh tế lớn rơi vào khủng hoảng, Chính phủ đã thắt chặt chính sách tiền tệ với việc tăng dự trữ bắt buộc từ 10% lên 11% và mở rộng phạm vi dự trữ bắt buộc, lãi suất cơ bản được đẩy lên 12% rồi 14%, hệ thống lãi suất điều hành với cặp lãi suất tái cấp vốn tăng lên 15% và 13%, đồng thời kiềm chế tín dụng và hạn chế cho vay ở các lĩnh vực rủi ro cao như đầu tư kinh doanh chứng khoán và bất động sản; song song CSTT, chi tiêu công được rà soát và giảm 10% chi thường xuyên, dừng hoặc giãn hơn 3.000 dự án với tổng vốn 37.000 tỷ đồng và ưu tiên các dự án cấp thiết có thể hoàn thành trong năm 2008, đồng thời giảm 25% kế hoạch vốn từ nguồn trái phiếu Chính phủ, riêng trái phiếu giáo dục giảm 5,6% so với mức Quốc hội quyết định Tuy nhiên, các biện pháp chưa thực sự quyết liệt khiến tổng chi tiêu của Chính phủ năm 2008 vượt 19% so với dự toán, tăng hơn 22% so với thực hiện năm 2007 và chiếm 31,75% GDP; đầu tư phát triển được cắt giảm nhưng vẫn chiếm 7,9% GDP, vượt dự toán 18% và tăng 5% so với năm 2007 Kết quả thâm hụt ngân sách nhà nước năm 2008 ở mức khoảng 5% GDP Đến 31/12/2008, nợ công chiếm 42% GDP và dư nợ nước ngoài bằng 27,2% GDP.
Từ đầu năm 2009, dù lạm phát vẫn ở mức rất cao, Chính phủ tập trung điều hành các biện pháp kích thích đầu tư và tăng trưởng để đối phó với suy giảm kinh tế từ cuối năm 2008; Chính sách tiền tệ và tài khóa được điều chỉnh linh hoạt theo hướng nới lỏng nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn vay, trong đó Ngân hàng Nhà nước hạ lãi suất từ 14% xuống 7% và giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 11% xuống 5%, đi kèm gói kích thích lãi suất lên tới 17.000 tỷ đồng; bội chi ngân sách cũng tăng lên tại thời điểm này khi tổng chi NSNN năm 2009 tăng 19% so với dự toán, chi đầu tư phát triển tăng gần 60% so với dự toán và chiếm gần 31% tổng chi NSNN.
Giai đoạn 2010-2012 đánh dấu sự thực thi của chính sách vĩ mô thận trọng nhằm ổn định và duy trì mục tiêu tăng trưởng năm 2010 Để tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn vay, lãi suất cơ bản được duy trì ở mức như năm 2009, tuy nhiên các giải pháp tài khóa nhằm khắc phục tác động của khủng hoảng kinh tế - tài khóa toàn cầu năm 2009 như miễn, giảm, giãn thuế đã dừng thực hiện Đồng thời, quản lý chi tiêu được tăng cường để tiết kiệm chi và cắt giảm các khoản đầu tư không hiệu quả Diễn biến lạm phát gia tăng tạo áp lực lên chính sách tiền tệ; NHNN đã tăng thêm 1% mức lãi suất chỉ đạo và áp trần lãi suất tiền gửi trên 14%/năm, đồng thời triển khai các giải pháp bình ổn thị trường vàng, kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các quy định pháp luật và chỉ đạo của Chính phủ về hoạt động kinh doanh vàng.
Từ năm 2013 đến nay, trong bối cảnh kinh tế trong nước khó khăn, Chính phủ điều hành chính sách tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát, đồng thời tháo gỡ khó khăn cho cộng đồng doanh nghiệp và thúc đẩy đầu tư; chính sách tiền tệ tiếp tục thận trọng nhưng linh hoạt hơn, lãi suất tái chiết khấu và lãi suất cấp vốn được điều chỉnh giảm để tiết kiệm chi phí vay vốn cho doanh nghiệp, dù lãi suất cho vay dài hạn ở mức cao vẫn khiến doanh nghiệp khó tiếp cận vốn; đồng thời có một loạt chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và kích thích đầu tư thông qua miễn, giảm thuế được thực hiện; chi ngân sách nhà nước tăng nhẹ nhưng vẫn thắt chặt chi tiêu và cắt giảm đầu tư công; việc can thiệp vào thị trường vàng có chuyển biến lớn khi quy định các ngân hàng thương mại tất toán trạng thái huy động vàng và NHNN độc quyền nhập khẩu vàng, cung ứng cho thị trường trong nước; chương trình tái cơ cấu kinh tế với ba đòi hỏi đột phá gồm tái cơ cấu đầu tư công, ngân hàng thương mại và doanh nghiệp nhà nước được thực hiện một phần; đồng thời nỗ lực xử lý nợ xấu được đẩy mạnh với việc thành lập Công ty Quản lý tài sản quốc gia VACM, nhưng theo đánh giá của nhiều chuyên gia, thể hiện còn chậm và chưa đạt được hiệu quả như kỳ vọng.
Trong quá trình đổi mới nền kinh tế, Việt Nam đã đồng thời đổi mới chính sách tài khóa và tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát phi mã và giữ lạm phát ở mức hợp lý Từ mức lạm phát rất cao trong thập kỷ 80, có năm lên tới trên 774%, nước ta đã vận dụng khéo léo các công cụ như tỷ giá, giá cả và lãi suất theo hướng tôn trọng các quy luật khách quan của kinh tế thị trường và kết hợp với các chương trình thúc đẩy kinh tế phát triển Nhờ đó, lạm phát được kiểm soát và giảm dần xuống mức một con số, biên độ dao động của lạm phát được giữ ở mức cho phép và nền kinh tế đạt được tăng trưởng ổn định.
Trong các giai đoạn 2000-2005 và 2006-2010, nền kinh tế tập trung vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhưng vẫn duy trì ổn định vĩ mô Cung tiền M2 và vốn đầu tư nhà nước tăng lên, đồng thời tỉ lệ bội chi ngân sách trên GDP cũng tăng, trong khi lạm phát chỉ tăng nhẹ quanh mức 8%, phần nào cho thấy khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế Dòng tiền được bổ sung chủ yếu vào khu vực sản xuất, góp phần cải thiện tổng sản lượng và củng cố ổn định kinh tế vĩ mô Do đó, chính sách tài khóa và tiền tệ mở rộng trong giai đoạn này đã góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.
Bảng 2.1: Mục tiêu tăng trưởng kinh tế, lạm phát và chỉ tiêu tiền tệ giai đoạn 2000-2015
Năm Lạm phát Tăng trưởng Chỉ tiêu tiền tệ
MT TH MT TH* M2 tín dụng
Đến năm 2008, nền kinh tế Việt Nam chịu tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài khóa toàn cầu, khiến khu vực sản xuất trong nước bị ảnh hưởng nặng nề Tác động trễ từ mức tăng trưởng cung tiền M2 lên tới 46,1% trong năm trước đó cùng với tỷ lệ bội chi ở mức 6,6% năm 2007 đã làm suy yếu ổn định vĩ mô và đẩy lạm phát lên trên 28% trong năm đó Điều này cho thấy lạm phát của nền kinh tế chịu tác động trễ từ các chính sách tài khóa và tiền tệ được thực thi trong 1–2 năm trước đó.
THỰ C TRẠNG LẠM PHÁT CƠ BẢN VÀ CÁC BIẾN SỐ KINH TẾ VĨ MÔ TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2015
Bối cảnh kinh tế xã hội
Việt Nam đã triển khai và xây dựng nhiều chính sách kinh tế vĩ mô nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô Đặc biệt, sau những năm lạm phát cao vào 2008 và 2011, nước ta đã đặt mục tiêu hàng đầu là ổn định kinh tế vĩ mô, được thể hiện cụ thể trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
Kinh tế Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn khó khăn: tăng trưởng chậm lại do ảnh hưởng của khủng hoảng tài khóa Châu Á năm 1998-1999, khủng hoảng tài khóa toàn cầu giai đoạn 2007-2009 và giai đoạn đình đốn từ 2010 cho tới nay Trải qua mỗi giai đoạn, mặc dù có sự điều chỉnh trong thực thi các chính sách, có thể nhận thấy sự điều hành linh hoạt của các công cụ tài khóa và tiền tệ.
Trong hai giai đoạn 2000–2005 và 2006–2010, mục tiêu hàng đầu là duy trì đà tăng trưởng ổn định Tuy nhiên, kể từ sau năm 2011, nền kinh tế đã cho thấy nhiều dấu hiệu bất ổn và mất cân đối.
Do vậy, ổn định vĩ mô được coi là mục tiêu ưu tiên hàng đầu trong điều hành chính sách Diễn biến chính sách tài khóa và tiền tệ tại Việt Nam trong thời gian qua có thể khái quát qua các giai đoạn chính: trước năm 2007 là thời kỳ nới lỏng chính sách; năm 2008 thắt chặt tài khóa và tiền tệ để kiềm chế lạm phát; năm 2009 kích cầu nền kinh tế; giai đoạn 2010–2012 thực hiện đồng thời chính sách tài khóa và tiền tệ chặt chẽ nhưng linh hoạt nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm tăng trưởng; và từ năm 2013 tới nay tiếp tục ưu tiên kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.
Vào năm 2008, trước áp lực lạm phát trong nước tăng cao và bong bóng ở thị trường bất động sản và chứng khoán, Chính phủ đã thắt chặt chính sách tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát Các công cụ tiền tệ được điều chỉnh tăng: tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 10% lên 11% và mở rộng phạm vi tiền gửi dự trữ bắt buộc; lãi suất cơ bản được nâng lên 12% rồi 14%; hệ thống lãi suất điều hành với cặp lãi suất tái cấp vốn được điều chỉnh lên 15% và 13%, kiềm chế tín dụng và kiểm soát chặt những lĩnh vực cho vay có rủi ro cao, đặc biệt cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán và bất động sản Cùng với CSTT, Chính phủ tiến hành cắt giảm chi tiêu công thông qua rà soát, sắp xếp giảm chi đầu tư các dự án chưa thực sự cấp bách và tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên; khoảng hơn 3.000 dự án bị dừng hoặc giãn tiến độ với tổng vốn khoảng 37.000 tỷ đồng, tập trung cho các dự án cấp thiết có khả năng hoàn thành và đưa vào sử dụng trong năm 2008 Chính phủ cũng giảm 25% kế hoạch vốn đầu tư từ nguồn trái phiếu Chính phủ, riêng trái phiếu giáo dục điều chỉnh giảm 5,6% so với mức Quốc hội quyết định; tuy nhiên, các biện pháp này chưa thực sự quyết liệt và tổng chi tiêu thực hiện năm 2008 vẫn vượt dự toán 19%, tăng hơn 22% so với năm 2007 và chiếm 31,75% GDP Chi đầu tư phát triển đã được cắt giảm đáng kể nhưng vẫn chiếm 7,9% GDP, vượt 18% dự toán và tăng 5% so với năm 2007; kết quả thâm hụt ngân sách nhà nước năm 2008 ở mức xấp xỉ 5% GDP Đến ngày 31/12/2008, nợ công chiếm 42% GDP và dư nợ ngoài nước của quốc gia bằng 27,2% GDP.
Ngay từ đầu năm 2009, dù lạm phát vẫn ở mức cao, Chính phủ tập trung điều hành chính sách nhằm đối phó với suy thoái kinh tế diễn ra từ cuối năm 2008 bằng cách kích thích đầu tư và tăng trưởng Chính sách tiền tệ và tài khóa được điều chỉnh linh hoạt theo hướng nới lỏng, tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn vay NHNN đã hạ lãi suất từ 14% xuống 7% và hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 11% xuống 5%, đồng thời kích thích kinh tế bằng gói hỗ trợ lãi suất lên tới 17.000 tỷ đồng Bội chi ngân sách tăng ở thời điểm này; tổng chi NSNN năm 2009 tăng 19% so với dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển tăng gần 60% so với dự toán, chiếm gần 31% tổng chi NSNN.
Trong giai đoạn 2010-2012, Việt Nam thực hiện chính sách vĩ mô thận trọng nhằm ổn định và duy trì mục tiêu tăng trưởng cho năm 2010 Để tiếp tục hỗ trợ khu vực doanh nghiệp tiếp cận vốn vay, lãi suất cơ bản được duy trì ở mức như năm 2009; tuy nhiên các giải pháp tài khóa thực hiện để đối phó với khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu trong năm 2009 như miễn, giảm, giãn thuế đã dừng lại, đồng thời thực hiện quản lý chi tiêu chặt chẽ, tiết kiệm chi và cắt giảm những khoản đầu tư không hiệu quả Diễn biến lạm phát tiếp tục tăng, tạo áp lực cho chính sách tiền tệ; Ngân hàng Nhà nước đã tăng các mức lãi suất chỉ đạo thêm 1% và áp đặt trần lãi suất tiền gửi trên mức 14%/năm, đồng thời triển khai các giải pháp bình ổn thị trường vàng và tiến hành kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các quy định pháp luật và chỉ đạo của Chính phủ về hoạt động kinh doanh vàng.
Từ năm 2013 đến nay, trong bối cảnh kinh tế trong nước gặp khó khăn, Chính phủ điều hành chính sách tiền tệ và lạm phát nhằm kiểm soát lạm phát, đồng thời tháo gỡ khó khăn cho cộng đồng doanh nghiệp và thúc đẩy đầu tư Chính sách tiền tệ vẫn được thận trọng, nhưng thắt chặt được giảm bớt; các mức lãi suất, như lãi suất tái chiết khấu và lãi suất cấp vốn, đã được điều chỉnh giảm để tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp, tuy nhiên lãi suất cho vay dài hạn vẫn còn ở mức cao, khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiếp cận vốn Cùng với đó, nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, thúc đẩy đầu tư thông qua miễn, giảm thuế đã được thực hiện Ngân sách nhà nước (NSNN) tăng nhẹ nhưng vẫn duy trì thắt chặt chi tiêu và cắt giảm đầu tư công Bên cạnh đó, can thiệp vào thị trường vàng có sự biến chuyển lớn khi quy định các ngân hàng thương mại tất toán trạng thái huy động vàng và NHNN độc quyền trong nhập khẩu vàng và cung ứng cho thị trường trong nước Chủ trương tái cơ cấu kinh tế với ba khâu đột phá — tái cơ cấu đầu tư công, ngân hàng thương mại và doanh nghiệp nhà nước — cũng được thực hiện một phần Cùng với đó, nỗ lực xử lý nợ xấu đã bắt đầu triển khai mạnh mẽ với sự ra đời của Công ty Quản lý tài sản quốc gia (VACM) Tuy nhiên, theo đánh giá của nhiều chuyên gia, hoạt động xử lý nợ xấu còn triển khai chậm và chưa thật sự đạt được hiệu quả như kỳ vọng.
Trong quá trình đổi mới nền kinh tế, đặc biệt là đổi mới về chính sách tài khóa và tiền tệ, lạm phát phi mã đã được chặn đứng và kiềm chế ở mức thấp, biên độ dao động của lạm phát được giữ ở mức cho phép Từ mức lạm phát rất cao trong thập kỷ 80, có năm lên tới trên 774, sự vận dụng khéo léo các công cụ như chính sách tỷ giá, chính sách giá cả và chính sách lãi suất theo hướng tôn trọng quy luật khách quan của kinh tế thị trường cùng với các chương trình thúc đẩy kinh tế phát triển khác đã giúp lạm phát giảm dần xuống mức 1 con số.
Trong hai giai đoạn 2000-2005 và 2006-2010, nền kinh tế vừa tập trung vào mục tiêu tăng trưởng vừa duy trì được ổn định vĩ mô Cung tiền M2 tăng lên, vốn đầu tư nhà nước cũng tăng lên, song song với mức tăng bội chi ngân sách trên GDP, nhưng lạm phát chỉ tăng nhẹ quanh ngưỡng khoảng 8%, cho thấy khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế đang được cải thiện Dòng tiền đã được bổ sung chủ yếu vào khu vực sản xuất, góp phần cải thiện tổng sản lượng và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô Do đó, chính sách tài khóa và tiền tệ mở rộng ở giai đoạn này đóng góp vào sự ổn định kinh tế vĩ mô.
Bảng 2.1: Mục tiêu tăng trưởng kinh tế, lạm phát và chỉ tiêu tiền tệ giai đoạn 2000-2015
Năm Lạm phát Tăng trưởng Chỉ tiêu tiền tệ
MT TH MT TH* M2 tín dụng
Đến năm 2008, nền kinh tế Việt Nam đối mặt với tác động tiêu cực từ khủng hoảng tài khóa toàn cầu, khiến khu vực sản xuất trong nước bị ảnh hưởng nặng nề Tác động trễ từ tăng trưởng cung tiền M2 lên 46,12% và tỷ lệ bội chi ở mức 6,6% trong năm 2007 đã làm suy yếu ổn định vĩ mô và đẩy lạm phát lên trên 28% trong năm đó Điều này cho thấy mức lạm phát của nền kinh tế bị chi phối bởi các chính sách tài khóa và tiền tệ của 1–2 năm trước đó.