1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam

177 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 12,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam

Trang 1

-          -

NGUYỄN THỊ XUÂN MAI

PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG VÀ TÍNH CHỈ SỐ TỔNG HỢP ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG

Ở VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH KINH TẾ HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

-          -

NGUYỄN THỊ XUÂN MAI

PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG VÀ TÍNH CHỈ SỐ TỔNG HỢP ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG

Trang 3

CAM KẾT

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật

Xác nhận của người hướng dẫn khoa học

PGS.TS Trần Thị Kim Thu

Tác giả

Nguyễn Thị Xuân Mai

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, cho phép tôi được bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Thị Kim Thu - người hướng dẫn khoa học cũng là cô giáo trong nhiều năm của tôi Cô là người đã dạy tôi những kiến thức đầu tiên về thống kê và cũng là người đã giúp tôi phát triển và thực hiện ý tưởng nghiên cứu này

Tiếp theo, xin được gửi lời cảm ơn trân trọng tới các nhà khoa học, các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực đã cùng tham gia thảo luận, nhận xét và đóng góp những ý kiến quý báu để Luận án được hoàn chỉnh hơn

Xin cảm ơn các anh chị trong Tổng cục Thống kê và các cơ quan Bộ, ngành đã nhiệt tình hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập số liệu

Xin được gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo khoa Thống kê, các thầy cô và đồng nghiệp trong khoa cũng như trường Đại học Kinh tế quốc dân vì đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận án

Tôi xin cảm ơn Viện Sau đại học, trường Đại học Kinh tế quốc dân, đã luôn tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Cuối cùng, xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình tôi đã luôn quan tâm, động viên, làm hậu phương vững chắc để tôi có thể yên tâm thực hiện nghiên cứu

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, tuy nhiên, do khả năng có hạn nên luận án còn tồn tại nhiều thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý và chỉ dẫn của các nhà khoa học, các thầy cô và bạn bè đồng nghiệp

Trân trọng cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH ix

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Những đóng góp mới của luận án 9

6 Kết cấu của luận án 10

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG 11

1.1 Một số vấn đề lý luận chung về chất lượng cuộc sống 11

1.1.1 Các cách tiếp cận nghiên cứu chất lượng cuộc sống 11

1.1.2 Một số tranh luận xung quanh khái niệm chất lượng cuộc sống 15

1.1.2.1.Cách tiếp cận đo lường chất lượng cuộc sống 16

1.1.2.2.Các thành phần của khái niệm chất lượng cuộc sống 19

1.1.3 Một số đo lường chất lượng cuộc sống của các tổ chức quốc tế và quốc gia trên thế giới 24

1.2 Khung lý thuyết chất lượng cuộc sống ở Việt Nam 31

1.2.1 Quan điểm phát triển và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam 32

1.2.2 Cách tiếp cận đo lường chất lượng cuộc sống ở Việt Nam 34

1.2.3 Đề xuất khung lý thuyết chất lượng cuộc sống ở Việt Nam 37

1.2.3.1.Khái niệm chất lượng cuộc sống ở Việt Nam 37

1.2.3.2.Các thành phần của chất lượng cuộc sống ở Việt Nam 38

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 45

Trang 6

CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ ĐO LƯỜNG CHẤT LƯỢNG

CUỘC SỐNG Ở VIỆT NAM 46

2.1 Một số vấn đề chung về xây dựng hệ thống chỉ tiêu đo lường chất lượng cuộc sống 46

2.1.1 Phương pháp xây dựng hệ thống chỉ tiêu đo lường chất lượng cuộc sống 46

2.1.2 Một số yêu cầu và nguyên tắc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê đo lường chất lượng cuộc sống ở Việt Nam 50

2.1.2.1.Yêu cầu của hệ thống chỉ tiêu thống kê đo lường chất lượng cuộc sống ở Việt Nam 50

2.1.2.2.Nguyên tắc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê đo lường chất lượng cuộc sống ở Việt Nam 50

2.1.3 Các tiêu chí lựa chọn chỉ tiêu thống kê đo lường chất lượng cuộc sống 52

2.1.4 Qui trình xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê đo lường chất lượng cuộc sống 54

2.2 Đề xuất hệ thống chỉ tiêu thống kê đo lường chất lượng cuộc sống ở Việt Nam 55 2.2.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh điều kiện kinh tế 55

2.2.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh điều kiện nhà ở và cơ sở hạ tầng căn bản 58

2.2.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh giáo dục 60

2.2.4 Nhóm chỉ tiêu phản ánh điều kiện chăm sóc y tế và sức khỏe 63

2.2.5 Nhóm chỉ tiêu phản ánh quan hệ gia đình 66

2.2.6 Nhóm chỉ tiêu phản ánh sự tham gia sinh hoạt cộng đồng và các hoạt động văn hóa, giải trí 68

2.2.7 Nhóm chỉ tiêu phản ánh điều kiện môi trường tự nhiên 70

2.2.8 Nhóm chỉ tiêu phản ánh môi trường xã hội 72

2.2.9 Nhóm chỉ tiêu phản ánh quản trị 74

2.2.10 Nhóm chỉ tiêu phản ánh quyền chính trị 76

2.2.11 Nhóm chỉ tiêu phản ánh sự hài lòng với cuộc sống 78

2.2.12 Nhóm chỉ tiêu đánh giá tổng hợp về chất lượng cuộc sống 79

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 84

Trang 7

CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP TÍNH CHỈ SỐ TỔNG HỢP CHẤT

LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở VIỆT NAM 86

3.1 Tổng quan về các phương pháp xây dựng chỉ số tổng hợp 86

3.1.1 Khái niệm và ưu, nhược điểm của chỉ số tổng hợp 86

3.1.2 Phương pháp tính chỉ số tổng hợp 88

3.1.3 Lựa chọn phương pháp tính chỉ số tổng hợp 89

3.2 Đề xuất phương pháp tính chỉ số tổng hợp chất lượng cuộc sống ở Việt Nam 93

3.2.1 Chuẩn hóa dữ liệu 93

3.2.2 Xác định trọng số 97

3.2.3 Xác định phương pháp tổng hợp 101

3.3 Tính thử nghiệm chỉ số tổng hợp chất lượng cuộc sống ở Việt Nam 104

3.3.1 Kết quả tính thử nghiệm chỉ số tổng hợp chất lượng cuộc sống ở Việt Nam 104 3.3.2 Một số vấn đề rút ra từ kết quả tính thử nghiệm 118

3.4 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp chất lượng cuộc sống ở Việt Nam 119

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 122

KẾT LUẬN 124

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 126

TÀI LIỆU THAM KHẢO 127

PHỤ LỤC 134

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

AHP Analytic Hierarchy Processes Phân tích thứ bậc

BAP Budget Allocation Processes Quy trình phân bổ ngân sách CECODES Center for Community Support

Development Studies

Trung tâm nghiên cứu phát triển hỗ trợ cộng đồng

CLCS Chất lượng cuộc sống

EIU Economist Intelligence Unit Cơ quan Tình báo Kinh tế

FA Factor Analysis Phân tích nhân tố

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội GHI Green and Happiness Index Chỉ số Hạnh phúc và Xanh GNH Gross National Happiness Tổng hạnh phúc quốc gia HDI Human Development Index Chỉ số Phát triển con người HPI Happy Planet Index Chỉ số Hành tinh hạnh phúc IMR Infant Mortality Rate Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1

tuổi KTXH Kinh tế xã hội

MCA Multi-Criteria Analysis Phân tích đa tiêu chí

MQL Malaysia Quality of Life Chỉ số chất lượng cuộc sống

của Malaysia NEF New Economics Foundation Quỹ Kinh tế mới

OECD Organisation for Economic

Co-operation and Development

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

Trang 9

Tiếng Anh Tiếng Việt

PAPI Provincial Governance and

Public Administration Performance Index

Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công

PCA Principal Component Analysis Phân tích thành phần chính SDGs Sustainable Development

UNDP United Nation Development

Programme

Chương trình Phát triển Liên hợp quốc

VSDGI Vietnam Sustainable

Development Goal Indicators

Danh mục chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững của Việt Nam

WHI World Happiness index Chỉ số Hạnh phúc thế giới WHO World Health Organisation Tổ chức Y tế Thế giới

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Ưu nhược điểm của các đo lường khách quan và đo lường chủ quan 17

Bảng 1.2 Sự kết hợp các yếu tố chủ quan và khách quan trong đánh giá về CLCS 19

Bảng 1.3 Một số định nghĩa về chất lượng cuộc sống theo quan điểm đa chiều 20

Bảng 1.4 Các lĩnh vực trọng tâm của CLCS theo quan điểm của một số học giả 22

Bảng 1.5 Các thành phần của CLCS trong một số nghiên cứu của các tổ chức quốc tế 26

Bảng 1.6 Các thành phần của CLCS trong một số nghiên cứu của các quốc gia trên thế giới 29

Bảng 2.1 Hệ thống chỉ tiêu thống kê đo lường CLCS ở Việt Nam 80

Bảng 3.1 Khung giá trị của chỉ số tổng hợp CLCS ở Việt Nam 104

Bảng 3.2 Kết quả tính chỉ số riêng biệt 108

Bảng 3.3 Cơ cấu đặc điểm theo một số tiêu thức của các chuyên gia phỏng vấn 112

Bảng 3.4 Điểm trung bình của các thành phần CLCS 113

Bảng 3.5 Ma trận hệ số Sig của các so sánh cặp giá trị trung bình 114

Bảng 3.6 Trọng số của từng thành phần CLCS 115

Bảng 3.7 Kết quả tính các chỉ số thành phần 116

Bảng 3.8 Kết quả tính chỉ số tổng hợp chất lượng cuộc sống ở Việt Nam năm 2016 117

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Khung lý thuyết nghiên cứu chất lượng cuộc sống ở Việt Nam 44Hình 2.1 Tổng quan quá trình xây dựng hệ thống chỉ tiêu 47Hình 3.1 Sơ đồ lựa chọn phương pháp tốt nhất khi xây dựng chỉ số tổng hợp 92

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Vấn đề chất lượng cuộc sống (CLCS) (tiếng anh là Quality of Life) và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân là nội dung chủ yếu trong chiến lược phát triển con người Đây là mục tiêu hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội (KTXH) của mọi quốc gia, là vấn đề được nhiều nước trên thế giới cũng như Việt Nam hết sức quan tâm Năm 2009, Ủy ban Đo lường hiệu quả kinh tế và tiến bộ xã hội bao gồm 22 chuyên gia kinh tế và khoa học xã hội dưới sự điều hành của giáo sư Joseph Stiglitz, Nobel kinh

tế 2001, đã trình lên tổng thống Pháp một bản báo cáo hơn 300 trang về “Đo lường hiệu quả kinh tế và tiến bộ xã hội”, được gọi tắt là báo cáo Stiglitz Theo báo cáo này, mọi người trong xã hội không được hưởng những thành tựu kinh tế như nhau Do đó song song với chỉ số tăng trưởng GDP, vốn được sử dụng để đo lường của cải mà một quốc gia tạo ra trong năm, Ủy ban Stiglitz đề nghị một vài chỉ số khác chú trọng nhiều hơn đến chất lượng đời sống và hạnh phúc con người, cũng như đến khả năng một nền kinh

tế duy trì được mức hạnh phúc đó một cách lâu dài Theo đó, một chính phủ nên có hai loại chỉ số, một chỉ số thuần túy kinh tế và bên cạnh đó là chỉ số chất lượng cuộc sống Tuy nhiên, không phải đến lúc này, vấn đề CLCS mới được đặt ra Trên thực tế, đây là vấn đề đã được thảo luận từ rất lâu Theo Hagerty và cộng sự (2001), Plato và Aristotle (384-322 trước Công nguyên) đã từng đề cập tới “good life - cuộc sống tốt” và các chính sách công nhằm nuôi dưỡng nó Theo Massam (2002), vào những năm 1930, các nhà nghiên cứu bắt đầu có mối quan tâm thực sự đến chủ đề này Các khái niệm, các phép đo lường hay các cuộc điều tra liên quan đến CLCS được đưa ra CLCS cũng đã

đi vào chương trình nghị sự mang tính chính trị Năm 1933, nhà xã hội học William Ogburns đã đưa ra một báo cáo hai tập “Recent Social Trends” trình bày về các xu hướng

xã hội thời bấy giờ - trong đó có vấn đề về CLCS Đây là một sự kiện đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phong trào các chỉ tiêu xã hội (The Social Indicators Movement) mà CLCS là một mối quan tâm lớn Phong trào này đã phát triển ở Mỹ và các quốc gia Scandinavia trong những năm 1960-1970 khi họ nhận thấy, chỉ riêng các chỉ tiêu kinh tế là không đủ để phản ánh CLCS của người dân

Cho đến những năm 1970, phong trào trở nên bùng nổ cùng với sự phát triển của khoa học máy tính và sự hình thành các tạp chí chuyên ngành như Social Indicator Research năm 1974 Nhiều năm sau, các nghiên cứu về CLCS đã phát triển nhanh chóng với sự ủng hộ và chấp nhận của các chính phủ và cơ quan thuộc khu vực công khắp thế

Trang 13

giới nhằm xác định cách đo lường và so sánh sự thay đổi về CLCS giữa các cộng đồng, các thành phố, vùng và các quốc gia

Trong những năm qua, dựa trên nền những nghiên cứu về CLCS của các học giả trên toàn thế giới, nhiều tổ chức quốc tế cũng như nhiều quốc gia đã đưa ra các quan điểm, khái niệm hay định nghĩa khác nhau về CLCS, tùy thuộc vào trình độ phát triển, quan niệm văn hóa xã hội, truyền thống của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Cùng với việc xây dựng khái niệm về CLCS, các tổ chức quốc tế và các quốc gia cũng nghiên cứu và xây dựng các hệ thống chỉ tiêu đo lường CLCS, mức độ hài lòng, hạnh phúc về cuộc sống Trên cơ sở các chỉ tiêu này, các tổ chức cũng như các quốc gia đã tính chỉ số tổng hợp nhằm đánh giá CLCS của người dân, sự thay đổi CLCS qua thời gian hay so sánh giữa các quốc gia, vùng, miền hay cộng đồng dân cư

Các nghiên cứu của các tổ chức quốc tế thường hướng đến việc so sánh, đánh giá CLCS giữa các quốc gia Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organisation - WHO) xây dựng hai công cụ đo lường CLCS là WHOQOL-100 (gồm 100 chỉ báo) và WHOQOL-BREF (gồm 26 chỉ báo rút gọn từ WHOQOL-100) được sử dụng ở nhiều bối cảnh khác nhau mà vẫn cho phép so sánh kết quả giữa các tổng thể hoặc các quốc gia Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organisation for Economic Co-operation and Development - OECD) đã tính chỉ số Cuộc sống tốt đẹp hơn (Better Life Index) phản ánh CLCS cho 35 quốc gia thành viên và một số đối tác chính như Brazil, Nga và Nam Phi Cơ quan thống kê châu Âu (Eurostat) xây dựng ấn phẩm online “Chất lượng cuộc sống ở châu Âu” (Quality of Life in Europe) nhằm cung cấp các số liệu thống kê mới nhất về CLCS của các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu Cơ quan Tình báo Kinh

tế (The Economist Intelligence Unit - EIU) đã xây dựng chỉ số CLCS (Quality of life index) dựa trên phương pháp kết nối kết quả các cuộc điều tra sự hài lòng mang tính chủ quan với cuộc sống và các yếu tố mang tính khách quan về CLCS ở các quốc gia Đến năm 2013, chỉ số này được đổi tên thành Nơi được sinh ra (Where-to-be-born index), cho biết liệu quốc gia nào sẽ cung cấp những cơ hội tốt nhất cho một cuộc sống lành mạnh, an toàn và thịnh vượng trong những năm tới Quỹ Kinh tế mới (New Economics Foundation - NEF) sử dụng chỉ số Hành tinh hạnh phúc (The Happy Planet Index - HPI) nhằm đo lường sự hạnh phúc bền vững và tác động của môi trường Trong bối cảnh hạnh phúc ngày càng được coi là một thước đo thích hợp của tiến bộ xã hội và mục tiêu của chính sách công, Liên hợp quốc đã tính chỉ số Hạnh phúc thế giới (World Happiness index - WHI) Đây mới chỉ là một số ít kết quả nghiên cứu về CLCS của các tổ chức quốc tế

Trang 14

Không chỉ các tổ chức quốc tế mà nhiều quốc gia trên thế giới cũng nghiên cứu, xây dựng hệ thống chỉ tiêu đo lường CLCS và tính chỉ số tổng hợp phản ánh CLCS hay những khái niệm tương tự như thế Có những chỉ số khá nổi tiếng trên thế giới như chỉ

số Tổng hạnh phúc quốc gia (Gross National Happiness - GNH), đang được sử dụng bởi chính phủ Bhutan, là một chỉ số đo lường CLCS hay tiến bộ xã hội dưới giác độ tâm lý học và triết học Nhiều quốc gia khác như Anh, Pháp, New Zealand, Canada… đều thực hiện các cuộc điều tra định kỳ nhằm thu thập thông tin phục vụ cho nghiên cứu về CLCS

ở quốc gia Một số quốc gia lân cận với Việt Nam cũng đã nhiều năm nghiên cứu về lĩnh vực này như chỉ số CLCS của Malaysia (Malaysia Quality of Life - MQL), chỉ số Hạnh phúc và Xanh (Green and Happiness Index - GHI) của Thái Lan…

Sau nhiều năm theo đuổi mục tiêu phát triển kinh tế, càng ngày chúng ta càng nhận thấy sự phát triển xã hội, phát triển con người phải được đặt lên hàng đầu Chính vì thế, vấn đề phát triển con người, quyền con người, nâng cao CLCS đã đi vào chương trình nghị sự quốc gia trong nhiều năm nay Chiến lược Phát triển KTXH 2011-2020 nêu rõ

cam kết của chính phủ Việt Nam nhằm: “Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hoà với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.”

Tuy nhiên, làm thế nào để đánh giá một cách rõ ràng sự cải thiện của CLCS nếu không có một khái niệm và các tiêu chí cụ thể Trên thực tế, khái niệm về CLCS kế thừa

từ những thay đổi của chuẩn mực xã hội, trong khi xã hội luôn hướng tới việc thoả mãn những nhu cầu ngày càng tốt hơn so với những gì xã hội đã thừa nhận CLCS của người dân được cải thiện không ngừng cho thấy sự thành công của các chính sách quản lý KTXH Vì vậy, nâng cao CLCS của người dân là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu với các nhà quản lý ở cả tầm vĩ mô và vi mô Với họ, các câu hỏi thường nảy sinh là: “Làm thế nào để nâng cao CLCS của người dân?” hay “Quốc gia nào/Địa phương nào có CLCS tốt nhất?”

Cùng với nhiều quốc gia khác, Việt Nam đã được một số tổ chức quốc tế đánh giá

và xếp hạng CLCS Theo EIU, năm 2013, CLCS ở Việt Nam đứng thứ 68 trên 80 quốc gia được xếp hạng Năm 2015, theo xếp hạng của website Numbeo.com, Việt Nam nằm trong tốp 10 quốc gia có CLCS thấp nhất trên thế giới, sau cả Campuchia và Lào Tuy nhiên, theo xếp hạng của NEF về chỉ số HPI năm 2016, Việt Nam được xếp vào hàng thứ năm trên thế giới Sự khác biệt về thứ hạng này là do sự khác biệt về quan điểm hạnh phúc hay CLCS cũng như tiêu chí đánh giá, nguồn số liệu của các tổ chức Nhưng vấn đề đặt ra là, liệu các tiêu chí, các chỉ tiêu thống kê dùng để đánh giá đã hoàn toàn

Trang 15

phù hợp với điều kiện và bối cảnh KTXH của Việt Nam chưa hay liệu đã phản ánh chính xác CLCS ở Việt Nam chưa?

Nhiều năm qua, có rất nhiều nghiên cứu về CLCS được thực hiện trên thế giới Các nghiên cứu này đi từ việc xây dựng khái niệm CLCS đến việc đo lường CLCS và

so sánh, đánh giá CLCS Tuy nhiên, ở Việt Nam, những nghiên cứu mang tính học thuật

về vấn đề này còn tương đối ít

Liên quan đến khái niệm CLCS, đã có một số nghiên cứu, bài viết đề cập đến vấn

đề này Nguyễn Thị Kim Thoa (2003) có bàn luận về khái niệm CLCS dựa trên cơ sở tổng hợp nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau của các học giả trên thế giới Tác giả đã kết luận: “CLCS thể hiện ở mức sung túc về kinh tế, con người có giáo dục, sống khỏe mạnh và trường thọ, được sống trong môi trường tự nhiên, xã hội, nhân tạo an toàn, bình đẳng và được tôn trọng” Vũ Mạnh Cường (2011) quan niệm CLCS được thể hiện trên bốn nội dung: (1) Phát triển con người, (2) Phát triển văn hóa, (3) Công bằng xã hội và (4) Xóa đói giảm nghèo Như vậy, nâng cao CLCS chính là xây dựng con người toàn diện có đời sống văn hoá và tinh thần cao, phát huy những giá trị sống và đạo đức tốt đẹp trong xã hội; là tăng chỉ số Phát triển con người (Human Development Index - HDI);

là giảm dần tình trạng đói nghèo; và thực hành công bằng xã hội Năm 2012, hội thảo khoa học “Chất lượng cuộc sống của người dân thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh kinh tế hiện nay” được tổ chức Trình bày tại hội thảo, tác giả Nguyễn Hữu Nguyên (2012) cho rằng, CLCS là tổng hòa của nhiều yếu tố trong đời sống vật chất và tinh thần của con người, với ba nhóm chính gồm: (1) mức sống vật chất: ăn, ở, mặc, đi lại, điều kiện và cường độ lao động… (2) mức sống tinh thần: trật tự, an toàn xã hội, bình đẳng, công bằng xã hội, hưởng thụ văn hóa, hưởng thụ giáo dục… và (3) môi trường sinh thái

tự nhiên: khí hậu, thời tiết, mức độ ô nhiễm không khí, nguồn nước, mặt đất, tiếng ồn… Theo tác giả, cần khảo sát tất cả các nội dung trên mới đủ cơ sở để đánh giá về CLCS Tác giả Hồ Bá Thâm (2012) cũng đưa ra một số bàn luận về khái niệm CLCS, các tiêu chí để đánh giá và kết luận có 11 nhân tố tác động đến CLCS Tuy nhiên, những bài viết trên mới chỉ dừng lại ở mức độ gợi mở vấn đề chứ chưa bàn luận sâu vào cơ sở lý thuyết

và bối cảnh thực tế hình thành nên khái niệm

Liên quan đến việc đo lường CLCS, ở Việt Nam hiện mới chỉ có một vài nghiên cứu về CLCS của người cao tuổi và trẻ em

Lê Hải Hà và cộng sự (2012) đã thực hiện một nghiên cứu nhằm xây dựng và chuẩn hóa thang đo CLCS của người cao tuổi ở Việt Nam trong lĩnh vực y tế công cộng Nghiên cứu cho thấy, CLCS là một khái niệm trừu tượng, đa chiều trong đó tổng hợp nhiều nhân tố khác nhau chứ không chỉ riêng mức sống Bên cạnh đó, khái niệm CLCS

Trang 36

Trên cơ sở các gợi ý của Ủy ban Đo lường Hiệu quả kinh tế và Tiến bộ xã hội, OECD đã nghiên cứu và tính chỉ số Cuộc sống tốt đẹp hơn cho 35 quốc gia thành viên

và một số đối tác chính như Brazil, Nga và Nam Phi; Eurostat đã xây dựng ấn phẩm online “Chất lượng cuộc sống ở châu Âu” (Quality of Life in Europe) nhằm cung cấp các số liệu thống kê mới nhất về CLCS của các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu Các chỉ số này đều bao gồm trong đó các khía cạnh chủ quan và khách quan nhằm phản ánh CLCS, sự hạnh phúc

Bên cạnh những tổ chức quốc tế lớn kể trên, nhiều cơ quan, tổ chức quốc tế khác cũng đưa ra các kết quả nghiên cứu về CLCS EIU đã xây dựng chỉ số CLCS dựa trên phương pháp kết nối kết quả các cuộc điều tra sự hài lòng mang tính chủ quan với cuộc sống và các yếu tố mang tính khách quan về CLCS ở các quốc gia Năm 2013, chỉ số này được đổi tên thành chỉ số Nơi được sinh ra cho biết liệu quốc gia nào sẽ cung cấp những cơ hội tốt nhất cho một cuộc sống lành mạnh, an toàn và thịnh vượng trong những năm tới Trong ‘Thế giới năm 2013’, số liệu được thu thập, tính toán và xếp hạng cho

80 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có Việt Nam

Với mục tiêu đo lường sự hạnh phúc bền vững và tác động của môi trường, NEF

đã xây dựng chỉ số HPI trên cơ sở kết hợp bốn yếu tố - sự hạnh phúc, tuổi thọ, sự bất bình đẳng và dấu chân sinh thái - nhằm chỉ ra cư dân của các quốc gia khác nhau đang

sử dụng tài nguyên môi trường hiệu quả như thế nào để sống một cuộc sống lâu dài, hạnh phúc, trong đó nhấn mạnh yếu tố môi trường

Bảng 1.5 dưới đây trình bày tóm tắt về các thành phần của CLCS trong một số nghiên cứu của các tổ chức quốc tế Nội dung chi tiết của các thành phần cũng như các

chỉ tiêu thống kê đo lường từng thành phần đó được trình bày chi tiết trong Phụ lục 2

của luận án

Trang 37

Bảng 1.5 Các thành phần của CLCS trong một số nghiên cứu của các tổ chức quốc tế

Chỉ số HDI của UNDP 3 thành phần: thu nhập; sức khỏe và tri thức

6 chỉ tiêu: GDP bình quân đầu người; số năm sống khỏe mạnh; hỗ trợ xã hội;

nhận thức về tham nhũng; sự tự do đưa ra các quyết định trong cuộc sống; và lòng hảo tâm

Đo lường khách quan và chủ quan

Helliwell, J và cộng sự (2016)

quan hệ xã hội; môi trường; và tâm linh/ tôn giáo/ tín ngưỡng cá nhân

Đo lường chủ quan

WHO (1998)

Chỉ số Cuộc sống tốt

đẹp hơn của OECD

11 thành phần: nhà ở; thu nhập; việc làm; cộng đồng; giáo dục; môi trường; sự

tham gia của công dân; sức khỏe; sự hài lòng với cuộc sống; sự an toàn và sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống

22 chỉ tiêu

Đo lường khách quan và chủ quan

OECD (2018)

Chất lượng cuộc sống

ở châu Âu của Eurostat

9 thành phần: các điều kiện sống vật chất; các hoạt động sản xuất chủ yếu; sức

khỏe; giáo dục; giải trí và tương tác xã hội; sự an toàn về kinh tế và thể chất;

quản trị và các quyền cơ bản; môi trường sống và môi trường tự nhiên; và trải nghiệm cuộc sống chung

27 chỉ tiêu

Đo lường khách quan và chủ quan

Eurostat (2018)

Trang 38

Nghiên cứu Các thành phần Nguồn

Chỉ số Nơi được sinh

ra của EIU

10 thành phần: sự thoải mái về vật chất; bảo đảm việc làm; chất lượng cuộc

sống cộng đồng; khí hậu; tình trạng tự do chính trị; tuổi thọ trung bình; bình đẳng giới; xếp hạng an toàn thể chất cá nhân; chất lượng cuộc sống gia đình;

quản trị

12 chỉ tiêu

Đo lường khách quan và chủ quan

Kekic (2012)

Đo lường khách quan và chủ quan

NEF (2018)

Chỉ số chất lượng sống

của Mercer

10 thành phần: môi trường chính trị xã hội; môi trường kinh tế; môi trường văn

hóa xã hội; y tế và chăm sóc sức khỏe; giáo dục và đào tạo; dịch vụ công và vận chuyển; vui chơi giải trí; cung cấp sản phẩm tiêu dùng; nhà ở; và môi trường tự nhiên

Trang 39

Đo lường CLCS và sự hạnh phúc cũng được thực hiện ở nhiều quốc gia Khái niệm

về CLCS và các thành phần của CLCS được xác định tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của từng quốc gia

Có những khái niệm đã được đề cập từ rất sớm như Tổng hạnh phúc quốc gia xuất phát ở Bhutan từ những năm 1970 mà sau này được xây dựng thành chỉ số GNH - đo lường CLCS hay tiến bộ xã hội dưới giác độ tâm lý học và triết học

Ở nhiều quốc gia phát triển như Mỹ, Canada, New Zealand… còn có nhiều nghiên cứu về CLCS ở cấp cộng đồng cho đến cấp vùng, bang và cấp quốc gia Chẳng hạn, dự

án CLCS của New Zealand được khởi xướng vào năm 1999 nhằm phản ứng với các áp lực ngày càng tăng trên các cộng đồng đô thị, mối quan tâm về tác động của đô thị hóa

và những ảnh hưởng của nó đến phúc lợi của người dân Mục tiêu chính của dự án này

là cung cấp thông tin cho những người làm chính sách nhằm cải thiện CLCS ở các đô thị chính của New Zealand

Bên cạnh đó, nhiều quốc gia ở châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông… và một số quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Malaysia cũng đã triển khai nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực này

Chỉ số GHI của Thái Lan cho biết trạng thái mà người Thái đang hạnh phúc với CLCS tốt, có sự cân bằng tốt giữa thể chất, tinh thần và trí tuệ; các nền kinh tế, xã hội

và môi trường được tích hợp tốt tạo thành một mô hình toàn diện; người Thái sống trong

xã hội hòa bình và hài hòa, trong đó có sự cân bằng tốt giữa con người với tài nguyên thiên nhiên và môi trường

Trong khi đó, ở Malaysia, khái niệm về CLCS bao gồm những tiến bộ cá nhân, sự tiếp cận và tự do nâng cao kiến thức và một chuẩn mực sống vượt trội so với các nhu cầu cơ bản của các cá nhân và các nhu cầu về tâm lý nhằm đạt được một mức độ phồn vinh của xã hội tương thích với khát vọng của dân tộc Từ khái niệm, các thành phần của khái niệm và các chỉ tiêu phản ánh đã được xác định, là cơ sở để đo lường CLCS Bảng 1.6 trình bày tóm tắt các thành phần của CLCS trong một số nghiên cứu của các quốc gia trên thế giới Chi tiết về các chỉ tiêu thống kê trong từng thành phần được

trình bày trong Phụ lục 2

Trang 40

Bảng 1.6 Các thành phần của CLCS trong một số nghiên cứu của các quốc gia trên thế giới

Chỉ số GNH của

Bhutan

4 trụ cột: quản trị tốt; phát triển KTXH bền vững; bảo tồn văn hóa; và

bảo vệ môi trường

9 thành phần: tình trạng tâm lý; sức khỏe; giáo dục; sử dụng thời gian;

đa dạng và phục hồi văn hóa; quản trị tốt; sức sống cộng đồng; đa dạng

và phục hồi sinh thái; và mức sống

33 chỉ tiêu

Đo lường khách quan

GNHCentreBhutan (2018)

CLCS ở New Zealand 11 thành phần: người dân; kiến thức và kỹ năng; sức khỏe; sự an toàn;

nhà ở; kết nối xã hội; quyền dân sự và chính trị; mức sống vật chất; phát triển kinh tế; môi trường tự nhiên; và môi trường nhân tạo

68 chỉ tiêu

Đo lường khách quan và chủ quan

Qualityoflifeproject (2007)

động (việc làm và giải trí); môi trường xã hội; tài chính cá nhân; nền kinh tế; giáo dục và sự hình thành các kỹ năng; chính quyền; và môi trường tự nhiên

41 chỉ tiêu

Đo lường khách quan và chủ quan

Randall (2014)

Ngày đăng: 15/04/2022, 22:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w