1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá măng sữa chanos chanos (forsskål, 1775)

201 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 201
Dung lượng 6,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÔNG NGHỆ VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRẦN THỊ KIM NGÂN NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ HOÀN THIỆN QUY TRÌNH SẢN XUẤT GIỐNG CÁ MĂNG SỮA Chanos chanos Forsskål, 1775

Trang 1

CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

TRẦN THỊ KIM NGÂN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ HOÀN THIỆN QUY TRÌNH SẢN XUẤT GIỐNG

CÁ MĂNG SỮA Chanos chanos (Forsskål, 1775)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

HÀ NỘI – 2022

Trang 2

CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS Nguyễn Quang Huy

2 TS Trần Đức Lương

HÀ NỘI – 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các kết quả thu được trong luận án này là thành quả nghiên cứu của Dự án sản xuất thử nghiệm cấp Nhà nước: “Sản xuất thử nghiệm giống và nuôi thương phẩm nguồn gen cá Măng

sữa Chanos chanos (Forsskal, 1775)”, mã số dự án: NVQG-2018/15 Tôi là một

thành viên tham gia trong nhóm nghiên cứu Tôi được sự đồng ý của bà Chủ nhiệm

đề tài cho phép sử dụng tất cả các số liệu nghiên cứu được cho luận án tiến sĩ của mình

Tôi xin cam đoan các kết quả, số liệu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả luận án

Trần Thị Kim Ngân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới hai thầy hướng dẫn là PGS.TS Nguyễn Quang Huy, TS Trần Đức Lương, đã nhiệt tình hướng dẫn khoa học giúp tôi hoàn thành luận án

Tôi xin cảm ơn Cơ sở đào tạo là Học viện Khoa học và Công nghệ, Ban Giám hiệu Trường Cao đẳng sư phạm Nghệ An, Lãnh đạo Khoa Trung học cơ sở,

Tổ Tự nhiên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện hoàn thành chương trình đào tạo tiến sĩ

Cảm ơn TS Tạ Thị Bình - Chủ nhiệm dự án: “Sản xuất thử nghiệm giống và

nuôi thương phẩm nguồn gen cá Măng sữa Chanos chanos (Forsskal, 1775)” Bộ

Khoa học và Công nghệ, đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện luận án

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp đã tạo điều kiện, động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận án

Cuối cùng là lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình, đặc biệt là chồng và các con đã động viên, giúp đỡ, hy sinh nhiều thời gian cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn những tình cảm, lời động viên và sự giúp đỡ quý báu đó

Nghiên cứu sinh

Trần Thị Kim Ngân

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Viết tắt Viết đầy đủ Tiếng việt (nếu có)

ADG Average daily growth Tốc độ tăng trưởng trung bình ngày

BW Body Weight Khối lượng cơ thể

CF Conditional Factor Yếu tố điều kiện

CV Coefficient of Variation Hệ số biến thiên

DLG Daily Length Gain Tốc độ tăng trưởng chiều dài trung bình ngày

DO Disoved Oxygen Hàm lượng oxy hòa tan

DOM DOMperidone Chất kháng dompamin

DWG Daily Weight Gain Tốc độ tăng trưởng khối lượng trung bình

ngày ĐVPD Động vật phù du

Hormone Hormone giải phóng kích dục tố

GSI Gonado Somatic Index Hệ số thành thục

LH Luteinizing Hormone hormone hoàng thể hóa

LHRHa Luteinizing

Hormone-Releasing Hormone Analog

Hormone kích thích phóng thích kích dục tố

Trang 6

Viết tắt Viết đầy đủ Tiếng việt (nếu có)

PMS Pregnant Mare Serum Kích dục tố huyết thanh ngựa chửa RLG Relative Lengh of the Gut Tỷ lệ chiều dài ruột/chiều dài thân SGR Specific Growth Rate Tốc độ tăng trưởng tương đối

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC v

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH x

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát 2

3 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 2

4 Nội dung nghiên cứu của luận án 2

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 3

6 Điểm mới của luận án 3

7 Bố cục luận án 3

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 4

1.1 Vị trí phân loại 4

1.2 Tình hình nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh sản nhân tạo và nuôi cá Măng sữa trên Thế giới 5

1.2.1 Một số đặc điểm sinh học cá Măng sữa 5

1.2.2 Nghiên cứu sinh sản và sản xuất giống cá Măng sữa trên thế giới 9

1.2.3 Tình hình nuôi cá Măng sữa trên thế giới 10

1.3 Tình hình nghiên cứu và nuôi cá Măng sữa ở Việt Nam 10

1.3.1 Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh sản và ương nuôi cá Măng sữa 10

1.3.2 Nghiên cứu về nuôi cá Măng sữa ở Việt Nam 13

1.4 Hiện trạng nghiên cứu sinh sản nhân tạo và phát triển nuôi cá biển ở Việt Nam 14

1.4.1 Công nghệ sản xuất giống nhân tạo 14

1.4.2 Công nghệ nuôi cá biển 16

1.4.3 Những thách thức về Khoa học công nghệ đối với nghề nuôi biển 18

1.4.4 Cơ hội cho phát triển nghề nuôi cá biển Việt Nam 20

Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 21

Trang 8

2.1.1 Thời gian nghiên cứu 21

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 21

2.2 Vật liệu nghiên cứu 23

2.2.1 Mẫu vật 23

2.2.2 Hoá chất, dụng cụ, vật tư 24

2.3 Phương pháp nghiên cứu 25

2.3.1 Sơ đồ khối nghiên cứu 25

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học cá Măng sữa ngoài tự nhiên 26

2.3.3 Phương pháp nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá Măng sữa trong điều kiện nhân tạo 31

2.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 42

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43

3.1 Kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh học cá của Măng sữa ngoài tự nhiên 43

3.1.1 Kết quả nghiên cứu đặc điểm hình thái cá Măng sữa 43

3.1.2 Kết quả nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng của cá Măng sữa 47

3.1.3 Kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh sản của cá Măng sữa 57

3.1.4 Sức sinh sản 72

3.2 Kết quả nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá Măng sữa 72

3.2.1 Ảnh hưởng của các loại thức ăn nuôi vô đến kết quả sinh sản cá Măng sữa bố mẹ 72

3.2.2 Kết quả nghiên cứu kỹ thuật ương cá Măng sữa giai đoạn cá bột lên cá hương 79

3.2.3 Kết quả nghiên cứu kỹ thuật ương cá Măng sữa giai đoạn cá hương lên cá giống 93

3.3 Đề xuất quy trình sản xuất giống nhân tạo cá Măng sữa 103

3.3.1 Căn cứ xây dựng quy trình 103

3.3.2 Đối tượng và phạm vi áp dụng 104

3.4 Yêu cầu kỹ thuật của quy trình 104

3.4.1 Yêu cầu kỹ thuật đối với ao nuôi vỗ cá bố mẹ: 104

3.4.2 Yêu cầu kỹ thuật các công trình phục vụ cho sinh sản nhân tạo giống 104

3.5 Nội dung quy trình 104

3.5.1 Sơ đồ quy trình 105

3.5.2 Nuôi vỗ cá bố mẹ, tuyển chọn cho cá sinh sản 106

Trang 9

3.6 Các thông số kỹ thuật quy trình 112

3.7 Những vấn đề đã hoàn thiện được của quy trình 112

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 114

1 Kết luận 114

2 Kiến nghị 115

NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN 116

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 117

TÀI LIỆU THAM KHẢO 118 PHỤ LỤC

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Danh sách các loài cá biển đã sản xuất giống nhân tạo thành công 16

Bảng 2.1 Địa điểm, thời gian thu mẫu và số lượng mẫu 21

Bảng 2.2 Số lượng mẫu thu tại các địa điểm và mẫu dùng trong nghiên cứu 23

Bảng 2.3 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn cho cá Măng sữa bố mẹ 24

Bảng 2.4 Quy ước tuổi cá trên vòng vảy 30

Bảng 2.5 Các nghiệm thức thí nghiệm 37

Bảng 2.6 Thời gian cho ăn và tần suất cho ăn khác nhau 39

Bảng 2.7 Chỉ tiêu đánh giá các môi trường theo dõi 41

Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu hình thái cá Măng sữa 44

Bảng 3.2 Tương quan chiều dài ruột và chiều dài thân của cá Măng sữa 57

Bảng 3.3 Kích thước và khối lượng cá Măng sữa theo nhóm tuổi 65

Bảng 3.4 Biến đổi các GĐ thành thục sinh dục của cá Măng sữa theo thời gian (n=220) 70

Bảng 3.5 Sức sinh sản của cá Măng sữa theo nhóm kích thước 72

Bảng 3.6 Theo dõi một số yếu tố môi trường trong quá trình nuôi vỗ 72

Bảng 3.7 Ảnh hưởng của thức ăn đến chất lượng sinh sản của cá Măng sữa 73

Bảng 3.8 Kết quả sinh sản nhân tạo cá Măng sữa bằng kích dục tố theo liều lượng khác nhau 74

Bảng 3.9 Tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở, tỷ lệ dị hình và tỷ lệ ra bột của trứng 75

Bảng 3.10 Kết quả ấp trứng cá Măng bằng các hình thức khác nhau 76

Bảng 3.11 Kết quả ấp trứng cá Măng khi ấp ở các mật độ khác nhau 78

Bảng 3.12 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng, hệ số phân đàn của ấu trùng cá Măng sữa từ 1-7 ngày tuổi 79

Bảng 3.13 Ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng, hệ số phân đàn của ấu trùng cá Măng sữa giai đoạn 7 – 14 ngày tuổi 82

Bảng 3.14 Ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng, hệ số phân đàn của ấu trùng cá Măng sữa giai đoạn 15 – 30 ngày tuổi 85

Bảng 3.15 Ảnh hưởng của tần suất và tỉ lệ cho ăn đến tăng trưởng cá Măng sữa giai đoạn cá bột lên cá hương 88

Bảng 3.16 Ảnh hưởng của tần suất và tỉ lệ cho ăn lên tỷ lệ sống, tỷ lệ dị hình và hệ số phân đàn của cá Măng sữa giai đoạn cá bột lên cá hương 91

Trang 11

Bảng 3.17 Yếu tố môi trường trong thí nghiệm mật độ ương cá Măng sữa giai đoạn

cá hương lên cá gống 93

Bảng 3.18 Ảnh hưởng mật độ ương lên tăng trưởng của cá Măng sữa 94 Bảng 3.19 Yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm tần suất và tỉ lệ cho ăn phù

hợp khi ương cá Măng sữa giai đoạn cá hương lên cá giống 99

Bảng 3.20 Ảnh hưởng tần suất và tỉ lệ cho ăn đến tăng trưởng của cá Măng sữa giai đoạn cá hương lên cá giống 100

Bảng 3.21 Ảnh hưởng của tỉ lệ cho ăn và tần suất cho ăn đến tỷ lệ sống,hệ số phân đàn và hệ số chuyển đổi thức ăn của cá Măng sữa giống 102

Trang 12

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Cá Măng sữa - Chanos chanos (Forsskål, 1775) 5

Hình 1.2 Sản lượng cá cá Măng sữa trên Thế giới giai đoạn 1950 – 2016 10

Hình 1.3 Mô hình nuôi cá biển quy mô công nghiệp - Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 tại vịnh Vân Phong, Khánh Hòa 18

Hình 2.1 Sơ đồ các điểm thu mẫu cá Măng sữa 22

Hình 2.2 Sơ đồ khối nghiên cứu cá Măng sữa 25

Hình 2.3 Sơ đồ đo hình dạng cá Măng sữa Chanos chanos (Forskal, 1775) 26

Hình 2.4 Cá Măng sữa ương trong bể composite giai đoạn cá bột lên cá hương 37

Hình 2.5 Cá Măng sữa ương bể composite giai đoạn cá hương lên cá giống 39

Hình 3.1a Đặc điểm hình thái ngoài của cá Măng sữa 44

Hình 3.1b Ảnh chụp X-Quang bộ xương cá Măng sữa 45

Hình 3.2 Cá Măng sữa giai đoạn cá bột 46

Hình 3.3 Cá Măng sữa giai đoạn cá hương (cỡ 2,5 cm) 46

Hình 3.4 Cá Măng sữa giai đoạn cá giống (cỡ 7,0 cm) 47

Hình 3.5 Phân loại các kích cỡ cá Măng sữa giống (cỡ ≥ 6cm) 47

Hình 3.6 Hệ tiêu hoá cá Măng sữa giai đoạn giống (cỡ 4 cm) 48

Hình 3.7 Hệ tiêu hoá cá Măng sữa giai đoạn trưởng thành 48

Hình 3.8 Miệng, mang cá Măng sữa 48

Hình 3.9 Thực quản cá măng sữa 49

Hình 3.10 Cấu trúc lát cắt ngang thực quản cá măng sữa 49

Hình 3.11 Dạ dày cá măng sữa 50

Hình 3.12 Cấu trúc lát cắt dạ dày cá măng sữa 50

Hình 3.13 Ruột cá Măng sữa 52

Hình 3.14 Lát cắt ngang ruộtcá Măng sữa (10X) 52

Hình 3.15 Tuyến tiêu hóa cá Măng sữa 52

Hình 3.16 Tiêu bản lá gan (10X) 53

Hình 3.17 Tiêu bản túi mật (20X) 53

Hình 3.18 Tần suất xuất hiện thức ăn của cá Măng sữa (Wt ≤ 50 g) 53

Hình 3.19 Tần suất xuất hiện thức ăn của cá Măng sữa (Wt ≥ 50 g) 54

Hình 3.20 Phổ dinh dưỡng cá Măng sữa 56

Hình 3.21 a) Cá Măng sữa đực và cái, b) Lỗ sinh dục cá đực; c) Lỗ sinh dục cá cái 58

Trang 13

Hình 3.22 Thành phần giới tính cá Măng sữa theo nhóm tuổi 59

Hình 3.23 Mô học tế bào trứnggiai đoạn I (40x) 59

Hình 3.24 Mô học tế bào trứnggiai đoạn II (40x) 60

Hình 3.25 Mô học tế bào trứnggiai đoạn III (40x) 60

Hình 3.26 Mô học tế bào trứnggiai đoạn IV (40x) 61

Hình 3.27 Mô học tế bào trứnggiai đoạn V (40x) 61

Hình 3.28 Mô tế bào tinh Giai đoạn I 62

Hình 3.29 Mô tế bào tinh Giai đoạn II 62

Hình 3.30 Mô tế bào tinh Giai đoạn III 63

Hình 3.31 Mô tế bào tinh Giai đoạn IV 63

Hình 3.32 Mô tế bào tinh Giai đoạn V 63

Hình 3.33 Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục theo nhóm tuổi (n=220) 65

Hình 3.34 Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục theo giới tính (n=220) 66

Hình 3.35 Biến động hệ số thành thục của cá Măng sữa 67

Hình 3.36 Sự biến đổi độ béo Fulton và Clark của cá Măng sữa 68

Hình 3.37 Biến động của hệ số thành thục và độ béo của cá Măng sữa 69

Hình 3.38 Biến đổi các giai đoạn thành thục sinh dục của cá Măng sữa 71

Hình 3.39 Sơ đồ biểu diễn mùa vụ sinh sản của cá Măng sữa trong tự nhiên 71

Hình 3.40 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống ấu trùng cá Măng sữa 80

1-7 ngày tuổi 80

Hình 3.41 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ dị hình của ấu trùng cá Măng sữa 81

1-7 ngày tuổi 81

Hình 3.42 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của ấu trùng cá Măng sữa 7-14 ngày tuổi ương bằng các loại thức ăn khác nhau 83

Hình 3.43 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ dị hình của ấu trùng cá Măng sữa 7-14 ngày tuổi ương bằng các loại thức ăn khác nhau 84

Hình 3.44 Ảnh hưởng thức ăn lên tỷ lệ sống của ấu trùng cá Măng sữa sau 14 ngày tuổi 86

Hình 3.45 Ảnh hưởng thức ăn lên tỷ lệ dị hình của ấu trùng cá Măng sữa sau 14 ngày tuổi 86

Hình 3.46 Ảnh hưởng của tần suất và tỉ lệ cho ăn lên tăng trưởng tích lũy về chiều dài của cá Măng sữa giai đoạn cá bột lên cá hương 89

Trang 14

Hình 3.47 Ảnh hưởng của tần suất và tỉ lệ cho ăn lên tăng trưởng tích lũy về khối

lượng của cá Măng sữa giai đoạn cá bột lên cá hương 90

Hình 3.48 Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng chiều dài tích lũy của cá Măng sữa giai đoạn cá hương lên cá giống 95

Hình 3.49 Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng khối lượng tích lũy của cá Măng sữa giai đoạn cá hương lên cá giống 95

Hình 3.50 Ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống của cá Măng sữa giai đoạn cá hương lên cá giống 96

Hình 3.51 Ảnh hưởng của mật độ lên hệ số phân đàn theo chiều dài của cá Măng

sữa giai đoạn cá hương lên cá giống 97

Hình 3.52 Ảnh hưởng của mật độ đến hệ số thức ăn của cá Măng sữa giai đoạn cá hương lên cá giống 98

Trang 15

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Cá Măng sữa Chanos chanos (Forsskål, 1775) còn gọi là cá Măng biển, là loài

duy nhất còn tồn tại trong họ Chanidae Cá Măng sữa là một trong những loài cá nuôi quan trọng tại khu vực Đông Nam Á Thịt cá Măng sữa có giá trị dinh dưỡng cao, trong đó hàm lượng protein chiếm 24,18%, axit béo không bão hòa là 32,11%

(Malle et al., 2019) [1] Các axit amin thiết yếu chiếm 49,49% tổng số axit amin của

thịt cá Măng sữa, trong đó Leucine (8%), lysine (7,3%), phenyl alanin (6,7%) và

histidine (6,1%), axit glutamic (18,2%) là axit amin có tỉ lệ cao nhất (Murthy et al.,

2016) [2]

Cá Măng sữa là một trong những loài nuôi truyền thống lâu đời và quan trọng bậc nhất ở Châu Á, đặc biệt ở các quốc gia và vùng lãnh thổ như Indonesia, Philippines và Đài Loan Cá Măng sữa có tính ăn tạp, rộng muối là loài cá có giá trị cao, được sản xuất giống và nuôi thương phẩm hàng thập kỷ ở những quốc gia này

(Liao et al., 2010) [3] Cá Măng sữa cũng là một trong những đối tượng nuôi chủ

yếu trong nghề nuôi thủy sản của thế giới Sản lượng nuôi loài cá này liên tục tăng,

từ 808,6 nghìn tấn năm 2010 lên 1,327 triệu tấn vào năm 2018 (FAO, 2020) [4]

Ở Việt Nam, cá Măng sữa phân bố dọc ven biển từ Nghệ An đến Bình Thuận, tập trung nhiểu nhất ở Bình Định và Khánh Hoà Loài này đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam với phân hạng sẽ nguy cấp – VU A2d (Sách Đỏ Việt Nam, 2007) [5] Đồng thời, cá Măng sữa cũng đã được đưa vào danh mục nguồn gen quý hiếm trong cơ sở dữ liệu nguồn lợi thủy sản toàn quốc, thuộc nhóm đối tượng cần phải bảo tồn và phát triển (Quyết định số 188/QĐ-TTg ngày 13/2/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản đến năm 2020) Cá Măng sữa có sức sinh sản cao nhưng tỉ lệ sống ở giai đoạn phôi và cá con thấp, do cường độ đánh bắt cá con rất lớn ở các vùng ven biển trong các đầm phá và do tình trạng ô nhiễm ngày càng tăng ở vùng biển gần bờ Cá Măng sữa là đối tượng nuôi mới ở nước ta Chúng có thể nuôi đơn trong lồng bè, ao đất, hoặc nuôi ghép với tôm, cua ở những vùng nước lợ, góp phần tăng thêm thu nhập và giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường nước trong vùng nuôi tôm tập trung

(Nguyễn Thị Mỹ Dung và cs., 2020) [6] Tuy nhiên nguồn cá Măng sữa giống hiện

nay phụ thuộc hoàn toàn vào khai thác từ tự nhiên và chưa đáp ứng đủ nhu cầu nuôi của người dân Trong khi đó, nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo cá Măng sữa ở

Trang 16

nước ta còn hạn chế, mới chỉ dừng ở quy mô thí nghiệm nhỏ Tỉ lệ sống của cá từ giai đoạn bột lên lương và từ cá hương lên cá giống còn thấp, dao động từ 20,2-27,9

%, sử dụng phương pháp cho sinh sản tự nhiên bằng cách điều chỉnh một số yếu tố môi trường nước (Nguyễn Thị Kim Vân và cs., 2009) [7]

Hiện nay, các nghiên cứu về đặc điểm sinh học của cá Măng sữa ở Việt Nam mới chủ yếu ở mức độ cung cấp một số dẫn liệu về phân bố, đặc điểm phân loại và sơ lược về đặc điểm hình thái (Nguyễn Thị Mỹ Dung và cs., 2020) [8] Đặc biệt, chưa có nghiên cứu cụ thể nào về đặc điểm sinh học sinh sản, dinh dưỡng và quy trình kỹ thuật sản xuất giống một cách đầy đủ và có hệ thống ở đối tượng này,

từ thu thập thuần hóa và nuôi vỗ cá bố mẹ, kích thích sinh sản, nghiên cứu ấp trứng, ương từ giai đoạn cá bột lên cá hương và cá giống Vì vậy, nghiên cứu toàn diện hơn về đặc điểm sinh học làm cơ sở xây dựng quy trình sản xuất giống nhân tạo đối tượng này để có thể áp dụng vào thực tiễn sản xuất là rất cần thiết

Xuất phát từ thực tế trên, tôi thực hiện Luận án nghiên cứu sinh chuyên

ngành Động vật học với tên đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá Măng sữa Chanos chanos (Forsskål, 1775)”

2 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát

Cung cấp luận cứ khoa học về một số đặc điểm sinh học và một số biện pháp

kỹ thuật chủ yếu trong sản xuất giống cá Măng sữa, góp phần hoàn thiện quy trình

kỹ thuật sản xuất giống, đa dạng hóa đối tượng nuôi và phát triển nguồn lợi loài cá này

3 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

- Bổ sung được các đặc điểm về hình thái, dinh dưỡng và sinh sản của cá Măng sữa trong điều kiện tự nhiên

- Hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá Măng sữa Chanos chanos (Forsskål,

1775) trong điều kiện nhân tạo

4 Nội dung nghiên cứu của luận án

4.1 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học cá Măng sữa ngoài tự nhiên

- Nghiên cứu đặc điểm hình thái cá Măng sữa

- Nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng của cá Măng sữa

- Nghiên cứu đặc điểm sinh sản của cá Măng sữa

4.2 Hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá Măng sữa

- Nghiên cứu kỹ thuật nuôi vỗ cá Măng sữa bố mẹ

Trang 17

- Nghiên cứu kỹ thuật kích thích sinh sản cá Măng sữa

- Nghiên cứu kỹ thuật ấp trứng

- Nghiên cứu kỹ thuật ương cá bột lên cá hương

- Nghiên cứu kỹ thuật ương cá hương lên cá giống

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Ý nghĩa khoa học: Luận án góp phần bổ sung những dẫn liệu về đặc điểm

sinh học của cá Măng sữa và cơ sở khoa học của các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất giống nhân tạo cá Măng sữa

Ý nghĩa thực tiễn: Xây dựng được quy trình sản xuất giống nhân tạo cá

Măng sữa dựa vào những kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học và các biện pháp

kỹ thuật sản xuất giống Kết quả luận án sẽ hỗ trợ phát triển nghề sản xuất giống cá Măng sữa, bảo tồn nguồn lợi và đa dạng hoá đối tượng nuôi biển, từ đó góp phần phát triển bền vững nghề nuôi thuỷ sản vùng ven biển

6 Điểm mới của luận án

Lần đầu tiên luận án cung cấp được những dẫn liệu cơ bản và khá đầy đủ về đặc điểm sinh học trong đó có đặc điểm sinh sản của loài cá Măng sữa ở vùng ven biển miền Trung

Xây dựng được quy trình sản giống nhân tạo cá Măng sữa để chủ động nhân giống loài cá này ở quy mô sản xuất

7 Bố cục luận án

Tổng (trang)

Phương pháp nghiên cứu 20

Kết luận và kiến nghị 2

Trang 18

Chương 1

TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Vị trí phân loại

Cá Măng sữa thuộc họ cá Măng biển Chanidae là một trong bốn họ thuộc Bộ

cá Sữa Gonorynchiformes Bộ này gồm 4 họ, 7 giống và 27 loài Trong 4 họ thuộc

bộ cá Sữa, có 3 họ là họ Chanidae, họ Gonorynchidae, mỗi họ mới phát hiện được duy nhất 1 loài sống ở biển Ấn Độ - Thái Bình Dương, họ Phractolaemidae có 1 loài chỉ phân bố ở vùng nước ngọt Châu Phi nhiệt đới (Trong khi dự đoán họ Chanidae có thể có tới 19 loài và họ Gonorynchidae có thể có 3 loài, họ Phractolaemidae có 5 loài) Họ Kneriidae có 24 loài ở Châu Phi nhiệt đới và sông Nile (Nelson, 1984) [9] Cá Măng sữa được các nhà khoa học thuộc Hội đồng Bảo tàng Anh đưa vào danh sách hóa thạch sống của thế giới, là loài duy nhất còn tồn tại cho đến hiện nay của cả họ cá Măng sữa Chanidae (Patterson Colin, 1984) [10] Năm 1775, loài cá Măng sữa lần đầu tiên được mô tả bởi Petrus Forsskal với tên

Mugil chanos; mẫu vật loại (da khô) từ Biển Đỏ hiện được đặt tại Bảo tàng Động

vật học của Trường Đại học Copenhagen - Đan Mạch (Klausewitz & Nielsen, 1965) [11] Giống Chanos được Lacepede mô tả ở cấp độ loài vào năm 1803 và đã sử

dụng tên Chanos arabicus, Kluzinger là nhà phân loại đầu tiên sử dụng tên Chanos

chanos vào năm 1871 Cuvier & Valenciennes mô tả cá Măng sữa dưới 10 tên khác

nhau, trong khi 15 tác giả khác mô tả dưới 18 tên đồng vật khác (Herre & Mendoza

1929; Schuster 1960; Crosby et al., 1982) [12] [13] [14], những tên đồng vật khác

nhau này là do sự khác biệt rõ ràng về địa lý Tuy nhiên, việc công nhận tên khoa

học của cá Măng sữa Chanos chanos được chấp nhận hiện nay là do Forsskal đặt

tên (Garcia, 1988; Bagarinao, 1991) [15] [16]

Hệ thống bậc phân loại cá Măng sữa như sau:

Ngành động vật có dây sống: Chordata

Lớp cá vây tia: Actinopterygii

Bộ Cá sữa: Gonorynchiformes

Họ Cá măng biển: Chanidae

Giống cá Măng: Chanos Lacepede, 1803

Loài cá Măng sữa: Chanos chanos (Forsskål, 1775)

Hình ảnh cá Măng sữa nghiên cứu và mô tả theo Hình 1.1

Trang 19

Hình 1.1 Cá Măng sữa Chanos chanos (Forsskål, 1775)

Tên tiếng Anh: Milkfish

Tên đồng vật: Mugil chanos, Forsskal 1775; Mulgi salmoneus Forster in Bloch and Schneider 1801; Chanos arabicus Lacepède 1803; Lutodeira indica van Hasselt 1823; Cyprinus tolo Cuvier 1829; Cyprinus pala Cuvier 1829; Leucicus

zeylonicus Bennett 1833; Chanos aldrovandi Risso in Cuvier and Valenciennes

1836; Chanos orientalis Valenciennes (ex Kuhl) in Cuvier and Valenciennes 1847;

Chanos mento Valenciennes in Cuvier and Valenciennes 1847; Chanos chloropterus Valenciennes in Cuvier and Valenciennes 1847; Chanos nuchalis

Valenciennes in Cuvier and Valenciennes 1847; Chanos lubina Valenciennes in Cuvier and Valenciennes 1847; Chanos cyprinella Valenciennes in Cuvier and Valenciennes 1847; Butirius argenteus Jerdon 1849; Lutodeira (Chanos)

mossambicus Peters 1852; Lutodeira (Chanos) elongata Peters 1859; Lutodeira (Chanos) gardineri Regan 1902 (Theo William N Eschmeyer et al., 2010) [17]

Lutodeira chanos,;

Tên thường gọi: cá Măng sữa, cá Măng biển (Thái Thanh Dương, 2007)

Tên địa phương: cá chua

1.2 Tình hình nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh sản nhân tạo và nuôi cá Măng sữa trên Thế giới

1.2.1 Một số đặc điểm sinh học cá Măng sữa

1.2.1.1 Đặc điểm hình thái

Cá Măng sữa có thân hình thoi dài, dẹt hai bên vừa phải, không có rãnh dọc bụng Cá có màu bạc ở bụng và hai bên, màu xanh ô liu hoặc xanh lam trên lưng Vây lưng, vây hậu môn và vây đuôi nhạt hoặc hơi vàng với rìa sẫm màu Vây lưng đơn có 2 tia vây cứng và và 13-17 tia mềm Vây hậu môn ngắn có 2 tia vây cứng và

Trang 20

8 - 10 tia mềm, gần với vây đuôi Vây đuôi lớn và xẻ thuỳ sâu với các vạt vảy lớn ở gốc ở cá trưởng thành Vây ngực thấp trên thân có vảy ở nách trong Vây bụng có vảy ở nách và 11 hoặc 12 tia vây Vảy hình tròn, nhỏ và mịn, 75-91 vảy trên đường bên Mô mỡ trong suốt bao phủ mắt Miệng nhỏ và không có răng Hàm dưới có củ nhỏ ở đầu, khớp với rãnh ở hàm trên Không có mảng xương hàm giữa các gốc của hàm dưới Bốn lược mang hỗ trợ mặt dưới của nắp mang Tia mang nhỏ dày và

nhiều (Bagarinao, 1994; Fischer et al., 1974) [18][19]

Đặc điểm hình thái cá Măng sữa được nghiên cứu theo quần thể cá Măng sữa

ở vùng biển Ấn Độ (SriHari et al., 2019) [20] và ở vùng biển Đông Nam Việt Nam (Nguyễn Thị Mỹ Dung và cs., 2020) [8]

1.2.1.2 Đặc điểm phân bố

Cá Măng sữa phân bố ở ở Ấn Độ Dương và xuyên Thái Bình Dương, từ Nam Phi đến Hawaii, từ California đến Galapagos, phía bắc đến Nhật Bản, phía nam đến

Úc (Briggs, 1961; Rosenblatt et al., 1972) [21][22] Cá Măng sữa thường sống ở

xung quanh các đảo và dọc theo thềm lục địa, ở độ sâu từ 1 đến 30 m Chúng cũng thường xuyên vào vùng cửa sông và sông ngòi Đông Nam Á là trung tâm phân bố

ngày nay của loài cá Măng sữa (R.Froese et al., 2015) [23] Ngoài Philippines,

Indonesia và Đài Loan, cá Măng sữa xuất hiện dọc theo bờ biển Thái Lan (Thiemmedh, 1955) [24], Việt Nam (Kuronuma & Yamashita, 1962) [25] và Miến Điện (Htin, 1969) [26] Cá Măng sữa có nhiều ở Sri Lanka, Ấn Độ và xung quanh Andaman, Nicobar, Laccadive, Maldive và Chagos - Quần đảo ở Ấn Độ Dương (Bagarinao, 1991) [16]

1.2.1.3 Môi trường và tập tính sống

Kết quả nghiên cứu ở Philippines cho thấy cá Măng sữa trưởng thành (dài toàn thân khoảng 50-150 cm) là loài cá sống ở biển khơi, nhanh nhẹn, bơi khỏe Vào mùa sinh sản, chúng thường hình thành những đàn lớn, di chuyển dọc bờ biển nơi có các bãi đá ngầm, rạn san hô (Bagarinao, 1991) [16] Cá Măng sữa đẻ trứng ở biển khơi, thuộc loại trứng trôi nổi Ở độ mặn từ 29,5 -34 ‰, thời gian trứng nở từ 20-35h tùy thuộc vào nhiệt độ nước (26-32 oC) Ấu trùng cá Măng sữa sống trôi nổi

và di chuyển dần vào vùng biển gần bờ, phát triển thành cá giống ở cỡ khoảng 20

Trang 21

mm Cá Măng sữa giống được tìm thấy trong các môi trường sống đa dạng như đầm phá san hô, đầm phá rừng gập mặn, cửa sông, bãi đầm lầy, lạch thủy triều và vũng triều có nguồn thức ăn phong phú (Buri, 1980; Kumagai & Bagarinao, 1981;

Dorairaj et al.,1984; Kumagai et al., 1985; Bagarinao, 1991) [27][28][29][30][16]

1.2.1.4 Thức ăn và tập tính ăn

a) Thức ăn của ấu trùng cá Măng sữa

Kết quả nghiên cứu ở Philipines cho thấy ấu trùng cá bắt đầu ăn sau khi mở miệng (khoảng 54 h sau khi nở) với thức ăn là động vật phù du như với kích cỡ thức

ăn tăng dần như luân trùng, copepod, artemia trong điều kiện ương nuôi nhân tạo Khi đạt hai tuần tuổi chúng có thể sử dụng thức ăn viên tổng hợp Trong điều kiện

tự nhiên, ấu trùng cá ở vùng nước ven bờ ăn chủ yếu là copepod và tảo silic (Bagarinao, 1991) [16]

b) Thức ăn của cá giống

Cá con cá Măng sữa chủ yếu ăn ở tầng đáy Thức ăn của cá khác nhau tùy theo môi trường sống và kích thước cá Cá con từ môi trường sống tự nhiên xung quanh Đảo Panay, Philipines và các nơi khác hầu hết thường ăn vi khuẩn lam, tảo silic và mùn bã hữu cơ, tảo lục và động vật không xương sống như động vật giáp xác nhỏ và giun Thành phần thức ăn của cá Măng sữa giống trong ao tương tự trong các bãi ương tự nhiên (Bagarinao, 1991) [16] Theo Lin (1968) [31] nhận thấy rằng cá ăn khoảng 65% tảo và 35% động vật vào ban ngày và 54% động vật và 46% tảo vào ban đêm, có thể là do sự thay đổi về sự sẵn có của các sinh vật theo chu kỳ ngày đêm

c) Thức ăn của cá trưởng thành

Đối với cá trưởng thành, cả thực vật và động vật phiêu sinh và sinh vật đáy đều xuất hiện trong ruột của chúng Các mẫu cá thu xung quanh đảo Panay đã được tìm thấy với số lượng lớn động vật phù du và ấu trùng và cá con họ cá trích trong ruột cá Cá Măng sữa trưởng thành cũng như cá giống, là những đối tượng ăn mồi

cơ hội với phổ thức ăn rộng Cá Măng sữa trưởng thành có thể được nuôi nhốt, sử dụng thức ăn viên thương mại hàm lượng protein 42%, cho ăn 1,5-2% trọng lượng

cơ thể hai lần mỗi ngày (Marte & Lacanilao, 1986) [32]

Trang 22

1.2.1.5 Đặc điểm tăng trưởng

Nghiên cứu tăng trưởng của cá Măng sữa giống trong tự nhiên tại đảo đảo Naburut Philipine cho biết cá có tốc độ tăng trưởng đạt 8,7; 7,6; 7,4 và 7,0 mm /tuần tương ứng với các các lô cá giống vào đầm phá lần lượt vào cuối tháng 3, giữa tháng 4, giữa tháng 5 và cuối tháng 5 Các tốc độ tăng trưởng này tương đương với

cá giống nuôi trong ao và cá giống trong tự nhiên ở các địa phương khác (Kumagai

et al., 1985) [30] Ở nghiên cứu khác, Blake & Blake (1981) [33] sử dụng dấu hiệu

trên vảy và xương nắp mang để xác định tuổi của cá Măng sữa giai đoạn cá con ở đầm phá ven biển

Ở Mexico, cá Măng sữa có chiều dài tiêu chuẩn SL=75-355 mm, mối quan

hệ giữa SL (mm) và chiều dài của vảy (Xs, mm) hoặc xương nắp mang (Xo, mm) tương ứng là: SL = 29,6 + 117,4 Xs và SL = 12,0 + 96,0 Xo (Castro-Aguirre, 1978; Warburton, 1979) [34][35]

Đối với tăng trưởng ở cá trưởng thành, Kumagai (1981, 1990) [30] [36] tìm thấy mối liên quan giữa vòng tăng trưởng ở đốt xương sống với tuổi của cá, từ đó suy

ra tốc độ tăng trưởng Cá cái tăng trưởng nhanh hơn so với cá đực Trong độ tuổi từ 4 đến 6 tuổi, cá cái tăng khoảng 7 cm/ năm, cá đực tăng 5 cm/ năm Chưa có thông tin

về tuổi thọ cá, nhưng Schuster (1960) [13] đã cho biết cá nuôi trong ao 12 tuổi có trọng lượng đạt 5-6 kg Cá sữa trưởng thành được thu thập quanh đảo Panay, Philippines (n = 527) có chiều dài chạc (FL) 60-100 cm, (trung bình, 75 cm) hoặc chiều dài toàn thân (TL) 75-120 cm (trung bình, 95 cm) và 4-14 kg BW (trung bình, 7 kg), với các hệ số điều kiện (CF) là: 14-14 (CF = BW / FL x 103) (Bagarinao, 1991; Kumagai, 1985, 1990) [16][30][36]

1.2.1.6 Đặc điểm sinh sản

a) Thành thục và sinh sản

Cá Măng sữa có giới tính riêng biệt Trứng cá thành thục theo từng giai đoạn trong buồng trứng (Tamaru, 1988) [37] Tuổi và cỡ cá thành thục khác nhau ở những vùng địa lý khác nhau và có sự khác nhau giữa cá nuôi và cá tự nhiên Ở đảo Panay, Philippines, cá nuôi trong lồng thành thục lần đầu tiên từ 3,5-5 tuổi ở cả hai giới tính, khối lượng từ 2-5 kg/con, chiều dài toàn thân từ 60-70 cm Cá trong tự

Trang 23

nhiên thành thục lần đầu tiên ở chiều dài toàn thân từ 75-85 cm, khối lượng từ 4-5 kg/con, tuổi chưa xác định cụ thể (Kuo & Nash, 1979; Lam, 1984, 1986; Lacanilao, 1980) [38][39][40][41] Ở Indonesia, cá cái trong tự nhiên thành thục lần đầu tiên khi lớn hơn 3,5 kg, hơn 6 tuổi Còn khi nuôi trong bể, cá đực thành thục lần đầu tiên

ở chiều dài 69-77 cm, khối lượng trung bình 3,8 kg, tuổi từ 8 – 9 năm Cá cái thành thục khi đạt chiều dàu 64 – 79 cm, khối lượng trung bình 3,2 kg, tuổi từ 8 – 9 năm

(Lacanilao, 1981; Marte et al., 1988) [42][43]

b) Sức sinh sản và tần suất đẻ trứng

Cá Măng sữa khi thành thục có buồng trứng chiếm khoảng 10% trọng lượng

cơ thể Cá cá có khối lượng 5 – 13 kg có thể đẻ 1-6 triệu trứng, tương đương khoảng 300.000 quả trứng/ kg Cá Măng sữa nuôi trong lồng nổi tại SEAFDEC/ AQD nhỏ hơn và sản xuất ít trứng hơn (200.000 trứng/ kg) Trong tự nhiên cá Măng sữa có thể đẻ nhiều hơn 2-3 lần trong năm (Marte, 1986; Wilfredo et al., 2007) [32][44]

1.2.2 Nghiên cứu sinh sản và sản xuất giống cá Măng sữa trên thế giới

Ở Đài Loan, thành công đầu tiên trong việc sản xuất giống cá Măng sữa khi

sử dụng kích dục tố đã được báo cáo vào năm 1979 và cho sinh sản tự nhiên thành công đầu vào năm 1983 Bước đột phá này đảm bảo nguồn cung cấp cá bột cho Đài Loan, nơi từng là nhập khẩu từ các nước khác ở Đông Nam Á Nhu cầu hàng năm đối với cá bột ở Đài Loan nhiều hơn 100 triệu con giống/năm (Liao, 2001, 2005) [45][46]

Ở Philippines, thành công trong sinh sản nhân tạo và sản xuất giống cá Măng sữa tại Trung tâm phát triển nghề cá Đông Nam Á (SEAFDEC) đã được Marte (1988) [43] tổng kết, bao gồm: (1) thành công trong kích thích sinh sản cá Măng sữa bắt từ tự nhiên hoặc cá nuôi bằng cách sử dụng gonadotropin tự nhiên hoặc nhân tạo, (2) cho sinh sản tự nhiên cá Măng sữa trong điều kiện nuôi; (3) hoàn thành vòng đời của cá Măng sữa trong điều kiện nuôi nhốt; (4) phát triển phương pháp thu thập trứng đơn giản; và (5) phát triển kỹ thuật sản xuất cá giống đại trà Marte thông báo đã sinh sản cá Măng sữa trong điều kiện nuôi với nhiều loại kích dục tố khác nhau như LHRH-a và sGnRH-A ở liều lượng 10 µg/kg cá hoặc HCG với liều 1000 IU/kg cá

Trang 24

1.2.3 Tình hình nuôi cá Măng sữa trên thế giới

Cá Măng sữa là đối tượng rộng muối, dễ nuôi, có thể nuôi được trong nhiều môi trường như trên biển, nước lợ và nước ngọt nên được nuôi khá phổ biển ở nhiều nước Đông Nam Á, tập trung chủ yếu ở Philippines, Indonesia và Đài Loan với nhiều hình thức nuôi như nuôi ao, nuôi lồng, nuôi trong đăng quầng Điển hình như Indonesia với 66% diện tích nuôi biển được thả nuôi (Suharne et al., 2017) [47] và Philippines với trên 3.200 ha (DOD, 2010) [48] Tại Đài Loan, cá Măng sữa là loài nuôi chính trong ngành sản xuất thủy sản, với sản lượng hàng năm đạt 60.000 tấn, phục vụ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu sang Mỹ và các nước Trung Đông (M.H.Yang, 2015) [49] Sản lượng nuôi cá Măng sữa toàn cầu tăng lên đáng kể từ năm 1997, đạt xấp xỉ 1,2 triệu tấn vào năm 2016 (Hình 1.2) và đạt hơn 1,3 triệu tấn năm 2018 (FAO, 2020) [4]

Hình 1.2 Sản lượng cá cá Măng sữa trên Thế giới giai đoạn 1950 – 2016

(Theo FAO FishStat)

1.3 Tình hình nghiên cứu và nuôi cá Măng sữa ở Việt Nam

1.3.1 Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh sản và ương nuôi cá Măng sữa

Về đặc điểm hình thái: Những nghiên cứu về cá Măng sữa ở Việt Nam còn khá kiêm tốn, chủ yếu mới chỉ tập trung vào nghiên cứu phân loại, hình thái

Nguyễn Thị Mỹ Dung và cs (2020) [6] đã nghiên cứu đặc điểm hình thái quần thể

cá Măng sữa Chanos chanos ở vùng biển Đông Nam Việt Nam từ Bình Định đến

Bà Rịa - Vũng Tàu Kết quả phân tích 10 tính trạng chất lượng, 25 tính trạng số lượng và tỷ lệ hình thái học, so sánh dựa trên phương pháp lập bảng và đồ thị phân

Trang 25

tán đã cho thấy quần thể cá Măng sữa ở vùng biển Đông Nam Việt Nam cùng nguồn gốc phát sinh với quần thể cá Măng sữa ở Philippines Kết quả SL/BD là 3,89 (cao hơn so với tỷ lệ tiêu chuẩn là 3,5), thể hiện cơ thể cá có cấu trúc thuôn dài điển hình cho nhóm “Kiểu hình thông thường” được nuôi phổ biến hiện nay

Nghiên cứu mùa vụ sinh sản: Theo tài liệu Động vật chí Việt Nam (tập 10) của Nguyễn Hữu Phụng [50], trong tự nhiên mùa đẻ của cá Măng sữa vào tháng 6 –

8, thời điểm tháng 8 ngư dân đi vớt cá bột về thuần hoá trong ao đầm nước lợ rồi chuyển sang nuôi ao nước ngọt Cá bột được vớt ven bờ với độ sâu 3-6m, nhiệt độ nước 28,5-32 oC; nồng độ muối 33,6-34,4 ‰; cá bột có kích thước SL = 3,2 – 7

mm Theo Sách đỏ Việt Nam (2007) [5], mùa đẻ cá Măng sữa vào tháng 4 – 7

Về nghiên cứu sinh sản nhân tạo, đã có thử nghiệm sinh sản nhân tạo ở quy

mô nhỏ Nguyễn Thị Kim Vân và cs (2009) [7] đã nghiên cứu cho sinh sản thành

công ở quy mô phòng thí nghiệm từ nguồn cá Măng sữa thu gom từ tự nhiên (2-4 kg/con), sử dụng phương pháp cho cá sinh sản tự nhiên bằng cách điều chỉnh chỉ tiêu môi trường nước nuôi vỗ Kết quả cho thấy, một số yếu tố môi trường nước trong bể nuôi nuôi vỗ cá bố mẹ: nhiệt độ nước nuôi dao động từ 28 - 31°C, độ mặn dao động từ 30 - 35ppt, pH từ 7,8 – 8,3 Ammonia tổng số dao động từ 0,005 – 0,01ppm, nitric tổng số dao động từ 0,002 – 0,008 và hàm lượng oxy hòa tan luôn cao và dao động 6 - 8ppm Tỷ lệ trứng nở trung bình đạt 62,69 ± 8,18 % Sau 23-27 ngày ương cá đạt cỡ cá hương 2-3cm và có tỷ lệ sống trung bình đạt 27,98±7,60% Sau 32-36 ngày ương từ cá hương, cá giống đạt cỡ 5-10cm và tỷ lệ sống trung bình đạt 20,17±10,76%

Năm 2015 nhóm tác giả Lê Văn Sinh và cs [51], tại Trung tâm khuyến ngư

và nghiên cứu ứng dụng Bình Định đã triển khai nghiên cứu “Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật ương nuôi cá Măng sữa giống trong bể xi măng từ nguồn cá bột vớt

từ tự nhiên" bước đầu nghiên cứu đã đánh giá được: địa điểm xuất hiện cá Măng sữa bột tại tỉnh Bình Định, cá Măng sữa bột xuất hiện ở các khu vực cửa biển Tam Quan, An Dũ và Đề Gi, trong đó xuất hiện nhiều nhất là vùng cửa Đề Gi Lượng cá Măng bột vớt được tại đầm Đề Gi năm 2004 là 952.500 con và năm 2005 là 826.000 con Hàng năm, mùa vụ xuất hiện cá măng bột ở tỉnh Bình Định từ tháng 4 – 9 (xuất hiện nhiều vào tháng 6 và tháng 7) Trong các tháng này, cứ vào những ngày trước đến sau triều cường là cá Măng sữa bột xuất hiện, mỗi tháng xuất hiện 2

Trang 26

đợt, mỗi đợt kéo dài 5 – 7 ngày Thời gian xuất hiện nhiều nhất trong ngày là 8 – 9 giờ sáng Khu vực cá măng bột xuất hiện có độ mặn 25 – 33‰, oxy hòa tan: 5 – 6 mg/l, pH: 7,5 – 8,5; nhiệt độ: 27 – 29oC Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng

và tỷ lệ sống trong quá trình ương cá Măng sữa bột lên cá Măng sữa giống: Ngưỡng

độ mặn chịu đựng của cá Măng sữa giống là 0 – 65‰ Mật độ thích hợp ương trong

bể xi măng từ giai đoạn cá bột lên cá giống là 200 con/m2 Loại thức ăn thích hợp

để ương cá Măng sữa trong giai đoạn 4 tuần đầu tiên là Artemia và thức ăn chế biến

Từ tuần thứ 5 trở đi, thức ăn chế biến là thích hợp nhất Với mật độ ương 200 con/m2, sử dụng thức ăn là Artemia và thức ăn chế biến, qua các thí nghiệm đạt

được tỷ lệ sống 97% Thực nghiệm ương cá Măng sữa giống trong bể xi măng: Sau khi xác định được mật độ ương và loại thức ăn thích hợp, tiến hành thực nghiệm ương cá Măng sữa giống trong bể xi măng từ ngày 01/7/2005 đến ngày 26/10/2005 Với số lượng cá Măng sữa bột là 30.000 con, qua 3 đợt ương, thu được 28.785 con

cá Măng sữa giống, thời gian ương trung bình 55 ngày, đạt tỷ lệ sống 96%, tỷ suất lợi nhuận 9,8% cao hơn việc ương cá Măng sữa giống trong ao đất của ngư dân (tỷ

lệ sống 60%, tỷ suất lợi nhuận 5,5%) (Tạ Thị Bình và cs., 2015) [52]

Tạ Thị Bình và cs (2015) cũng đã triển khai đề tài “Bước đầu thu thập, lưu giữ và đánh giá nguồn gen cá Măng sữa Chanos chanos khu vực ven biển Bắc

Trung Bộ" và cũng đã đạt được một số kết quả như: Đã tìm hiểu sơ bộ một số đặc

điểm sinh học cá Măng sữa Chanos chanos tại vùng ven biển Bắc Trung Bộ: Cá

Măng sữa là loài có kích thước lớn với phương trình tương quan giữa chiều dài và khối lượng thân có dạng: W =L3,18 và hệ số tương quan R = 0,8675 Kích cỡ cá cái thành thục nhỏ nhất là 57,8 cm và hệ số thành thục sinh dục (GSI) trung bình của cá Măng sữa cái theo tháng là 17,4% và của cá thể lớn nhất 28,2% Sức sinh sản tuyệt đối cao nhất là 3.119.547 trứng/cá cái và sức sinh sản tương đối cao nhất 1.915.579 trứng/kg Đây cũng là loài cá ăn thiên về thực vật; Tìm hiểu được khả năng thích nghi với điều kiện nuôi nhốt của cá Măng sữa tại Bắc Trung Bộ: Qua hai hình thức nuôi nhốt cá Măng sữa trong ao đất và trong lồng thì ương nuôi và lưu giữ cá Măng sữa trong ao đất có khả năng thích nghi cao hơn (có tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng tốt hơn so với trong nuôi lồng); Thử nghiệm một số loại thức ăn (cá tạp, thức ăn tổng hợp), nhằm lựa chọn loại thức ăn phù hợp đối với cá Măng sữa trong điều kiện

nuôi nhốt: Trong nuôi nhốt cá Măng sữa bằng cá tạp và thức ăn công nghiệp nên sử

Trang 27

dụng thức ăn công nghiệp để nuôi nhốt cá Măng sữa cho hiệu quả cao hơn (tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống) khi sử dụng thức ăn cá tạp

1.3.2 Nghiên cứu về nuôi cá Măng sữa ở Việt Nam

Mặc dù Cá Măng sữa phân bố tự nhiên ở Việt Nam nhưng đến nay nghề nuôi

cá Măng sữa chưa phát triển Cá giống được thu vớt từ tự nhiên và được nuôi ghép với tôm hoặc cua xanh với mục đích tận dụng thức ăn tự nhiên, cải tạo chất lượng nước và thu hoạch như sản phẩm phụ (Nguyễn Thị Mỹ Dung và cs 2020a) [6]

Đề tài “Nuôi ghép cá Măng sữa với tôm sú” đã báo cáo một số kết quả thực hiện thí nghiệm mô hình ở hai mật độ tôm 20 và 30 con/m2 ghép với cá Măng sữa 1 con/2m2 Kết quả thành công ở mô hình nuôi ghép tôm sú 20con/m2 và cá Măng sữa

1 con/2m2 cho năng suất tôm trong ao nuôi ghép đạt từ (5,7 – 8,4 tấn/ha) Tỷ lệ sống của tôm trong ao nuôi ghép đạt (65,0 – 98,2%) Tỷ lệ sống cá Măng trong nuôi ghép đạt khá cao (> 90%), khối lượng cá Măng sữa sau 4 – 5 tháng nuôi đạt 350 – 450g/con Kết quả đề tài cho thấy hiệu quả rõ rệt trong mô hình nuôi ghép tôm sú với cá Măng sữa và đây là một trong những giải pháp mới cho nghề nuôi tôm hiện nay giúp cải thiện môi trường nuôi, giảm sự ô nhiễm môi trường do tảo tàn và hạn chế việc sử dụng thuốc, hóa chất trong nuôi tôm, góp phần tăng hiệu quả thu nhập trên cùng 1 đơn vị diện tích Phân Viện cùng với chủ nhiệm đề tài sẽ đảm bảo việc cung cấp giống cá Măng sữa và phát triển nhân rộng mô hình (Nguyễn Thị Kim Vân, 2016) [53]

Để đánh giá hiệu quả kinh tế và kỹ thuật của nghề nuôi cá Măng sữa ở vùng

biển Đông Nam Việt Nam, Nguyễn Thị Mỹ Dung và cs (2020) [6] đã bố trí 2 thí

nghiệm nuôi cá với độ mặn và thức ăn khác nhau trong điều kiện sản xuất Kết quả nghiên cứu đã xác định được độ mặn phù hợp là 25 ‰, mật nuôi 1 con/m2 có tỉ lệ sống cao, từ 79,33 – 91,96% Cá tăng trưởng cao nhất đạt 543 g khi cho ăn thức ăn công nghiệp 42% protein với tỉ lệ 4% trọng lượng Tỉ lệ doanh thu/chi phí đạt 2,65, không cao hơn nhiều so với tỉ lệ 2,64 của thức ăn kết hợp Điều này cho thấy, hình thức nuôi sử dụng thức ăn kết hợp giữa thức ăn tự nhiên 60 ngày đầu, bổ sung thức

ăn chế biến 60 ngày sau đạt hiệu quả kinh tế cao nhất Kết quả nghiên cứu cho thấy nghề nuôi đạt hiệu quả về mặt kỹ thuật và khuyến nghị nên phát huy vì có thể gia tăng thu nhập trong giới hạn nguồn lực hộ gia đình

Trang 28

1.4 Hiện trạng nghiên cứu sinh sản nhân tạo và phát triển nuôi cá biển ở Việt Nam

Trong gần 3 thập kỷ qua, nhiều đề tài, dự án nghiên cứu khoa học công nghệ liên quan đến lĩnh vực nuôi biển ở nhiều cấp độ, từ địa phương (cấp tỉnh) đến trung ương (cấp Bộ, cấp Nhà nước) đã được các viện nghiên cứu, trường đại học triển khai Bên cạnh đó, các dự án hợp tác quốc tế với các nước có nghề nuôi biển phát triển thông qua các tổ chức tài trợ như NORAD (Na Uy), DANIDA (Đan Mạch ), ACIAR (Úc) … cũng đã hỗ trợ tích cho phát triển công nghệ nuôi cá biển ở Việt Nam Các kết quả nghiên cứu liên quan đến công nghệ sản xuất giống nhân tạo, nuôi thương phẩm các đối tượng nuôi biển, quản lý sức khỏe và môi trường nuôi đã được áp dụng vào thực tiễn sản xuất, góp phần quan trọng trong thúc đẩy nghề nuôi

cá biển phát triển (Nguyễn Quang Huy, 2018) [55]

1.4.1 Công nghệ sản xuất giống nhân tạo

Cho đến đầu những năm 2000, nguồn giống cá biển phục vụ nghề nuôi của chúng ta vẫn phụ phần lớn vào khai thác cá giống tự nhiên và nhập khẩu (Nguyễn Quang Huy, 2002) [55] Nhờ những kết quả nghiên cứu về sinh sản nhân tạo, hiện nay Việt Nam đã thành công trong sản xuất giống hơn 20 loài cá biển (Bảng 1.1)

Bảng 1.1 Danh sách các loài cá biển đã sản xuất giống nhân tạo thành công

TT Loài cá biển Tên tiếng Anh Mức độ thành công sản xuất giống nhân tạo

1 Cá Song chấm nâu/ Mú đen

Epinephelus coioides

Orange spot grouper Quy mô thương mại

2 Cá Song dẹt/cá Mú dẹt

3 Cá Song chuột /Mú chuột

Cromileptes altivelis Mouse grouper Quy mô thương mại

4 Cá Song hổ/ Song vằn, Mú cọp

5 Cá Song vua /Mú nghệ

6 Cá Song lai/cá Mú trân châu

(cá Song vua x cá Song hổ) Pearl grouper Quy mô thương mại

7 Cá Song chanh –

Trang 29

TT Loài cá biển Tên tiếng Anh Mức độ thành công sản xuất giống nhân tạo

8 Cá Song da báo/Mú sao

12 Cá Chim vây vàng/ cá Chim

vây ngắn Trachninotus falcatus Permit Quy mô thương mại

13 Cá Chim vây dài –

Trachinotus blochii Subnose pompano Quy mô thương mại

14 Cá Nhụ 4 râu

Eleutheronema tetradactylum

Fourfinger threadfin Quy mô thương mại

15 Cá Hồng vân bạc

Lutjanus argentimaculatus

Mangrovered snapper Quy mô thương mại

(Nguyễn Quang Huy, 2018)

Trang 30

Hiện nay, nguồn giống cá biển được sản xuất từ các cơ sở sản xuất giống của nhà nước và tư nhân cơ bản đã đáp ứng cơ bản đủ nhu cầu giống cá biển nuôi chủ lực, giảm hẳn sự phục thuộc vào nguồn giống khai thác tự nhiên và nhập khẩu, vốn gắn liền với các nguy cơ về suy giảm nguồn lợi cá giống trong tự nhiên và lan truyền dịch bệnh Sản lượng cá giống sản xuất phụ thuộc vào nhu cầu thị trường theo từng năm Chẳng hạn, nguồn giống cá Vược có thể đạt 60-70 triệu con/năm, cá Giò 0,3-0,5 triệu con/năm, cá Hồng mỹ 0,5-1,0 triệu con/năm, cá Chim vây ngắn và

cá Chim vây dài 2-3 triệu con/năm (Phạm Mỹ Dung và cs., 2017) [56]

Theo Nguyễn Quang Huy (2018) [54], thành công trong sản xuất giống nhân tạo cá biển ở Việt Nam đến nay liên quan đến các vấn đề khoa học công nghệ sau

đã được giải quyết, gồm: Quản lý cá bố mẹ; Ương nuôi ấu trùng; Chủ động trong công nghệ sản xuất thức ăn sống

1.4.2 Công nghệ nuôi cá biển

Song song với thành công trong sản xuất giống các đối tượng cá nuôi biển, nhiều quy trình công nghệ nuôi thương phẩm các loài cá biển trong lồng trên biển hoặc trong ao nước lợ cũng đã được nghiên cứu và áp dụng vào thực tiễn sản xuất, góp phần phát triển nghề nuôi cá biển ở nước ta trong những năm vừa qua

Các chương trình hợp tác, nghiên cứu đóng góp vào sự phát triển nghề nuôi

biển Việt Nam điển hình như “Nâng cao năng lực nghiên cứu, đào tạo và khuyến

ngư cho Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1” (1999-2007) do Chính phủ Nauy

tài trợ, trong đó pha 3 của dự án là “Nâng cao năng lực nghề nuôi cá biển Việt

Nam”, đề tài “Nghiên cứu, ứng dụng hệ thống thiết bị đồng bộ và quy trình vận

hành trang trại nuôi cá lồng vùng biển mở” - KC.07/06-10 (Như Văn Cẩn, 2010)

thiết bị nuôi cá lồng vùng biển mở và ứng dụng nuôi cá giò thương KC.07.DA07/11-15 (Chu Chí Thiết, 2016) [58] Thông qua các đề tài và dự án, công nghệ sản xuất, lắp đặt lồng nuôi cá biển chịu sóng với khung lồng bằng chất liệu nhựa dẻo polyethylene mật độ cao (HDPE) đã được chúng ta làm chủ và xây dựng thành công quy trình công nghệ và mô hình trang trại nuôi biển quy mô lớn tại Khánh Hoà

phẩm”-a) Hệ thống lồng nuôi biển quy công nghiệp

Theo Nguyễn Quang Huy (2018) [54], hệ thống lồng tròn được sản xuất bằng chất liệu nhựa chịu lực HDPE có thể tích mỗi lồng nuôi từ 1200 m3 đến 3000

Trang 31

m3, tùy thuộc vào quy mô và khả năng vận hành Các lồng được kết nối ở dạng neo giàn với mỗi neo nặng 3-4 tấn Hệ thống lồng này có khả năng chịu được bão gió cấp 12 Khả năng này đã được kiểm chứng qua cơn bão Damrey đổ bộ vào miền Trung Việt Nam năm 2017, xóa sổ hoàn toàn các lồng nuôi quy mô nhỏ Trong khi

đó hệ thống lồng nuôi công nghiệp của Viện 1 theo công nghệ Na Uy tại vịnh Văn Phong, Khánh Hòa thiệt hại không đáng kể Hệ thống lồng nuôi này cho phép triển khai nuôi ở những vùng biển xa bờ, hải đảo, nơi có độ sâu và tốc độ trao đổi nước tốt Nhờ đó có thể giảm thiểu rủi ro cho hoạt động nuôi và hạn chế được nguy cơ ô nhiễm, đồng thời tránh được xung đột với các lợi ích khác như giao thông vận tải thủy, du lịch, khu bảo tồn biển ở những vùng vịnh kín sóng gió Hiện nay kiểu lồng nhựa Na Uy cũng đã được sử dụng nuôi cá biển ở nhiều tỉnh như Quảng Ninh, Khánh Hòa, Kiên Giang, Vũng Tàu, và đã triển khai tại Quần đảo Trường Sa-Khánh Hòa Việc chủ động về công nghệ sản xuất lồng nhựa HDPE với nguồn nguyên liệu chủ yếu trong nước cũng giúp giảm lượng ngoại tệ đáng kể cho nhập khẩu loại lồng từ các nước có trình độ công nghệ cao Giá thành sản xuất lồng chỉ bằng 1/3 giá nhập khẩu

b) Mô hình trang trại nuôi cá biển quy mô công nghiệp

Mô hình này được Viện 1 xây dựng và vận hành theo công nghệ của Na Uy tại vịnh Vân Phong, Khánh Hòa Hiện nay, hàng năm có thể sản xuất được 150-200 tấn cá (cá chim, cá giò, cá hồng mỹ) với năng suất nuôi đạt từ 8-12 kg/m3 Hiệu quả kinh tế thể hiện qua tỉ suất lợi nhuận trên chi phí đầu tư cao hơn so với mô hình

nuôi nhỏ lẻ (Nguyễn Văn Giáp và cs., 2017) [59] Quy trình vận hành nuôi sử dụng

hệ thống thiết bị đồng bộ, mức độ cơ giới hóa cao Tàu vận chuyển chuyên dụng có gắn cần cẩu hỗ trợ việc vận chuyển thức ăn, thay lưới và thu hoạch cá dễ dàng Ca

nô được trang bị máy cho ăn thuận tiện cho việc quản lý lồng nuôi Cơ sở hậu cần (nhà bè nổi, nhà tập huấn, kho chứa thức ăn, dụng cụ ) đồng bộ Tác động của hoạt động nuôi đối với môi trường được giám sát định kỳ hàng tháng, sử dụng phương pháp giám sát môi trường trong quá trình nuôi (Modelling-Ongrowing-Monitoring:

MOM) do Na Uy phát triển (Hansen et al., 2001) [60] Quy trình nuôi biển quy mô

công nghiệp của Viện 1 đã đạt chứng nhận VietGap từ năm 2016

Quy trình vận hành trang trại nuôi biển quy mô công nghiệp của Viện Nghiên cứu NTTS 1 (Hình 1.3) đạt trình độ KHCN tương đương với trang trại nuôi

cá biển công nghiệp của các doanh nghiệp nước ngoài đã và đang triển khai tại nước

ta như công ty Marine Farm AS (Na Uy), Australis (Australia) Sản phẩm cá biển

Trang 32

của mô hình đạt yêu cầu về các chỉ tiêu an toàn vệ sinh thực phẩm, được thương mại hóa thông qua các kênh phân phối ở các chợ đầu mối hải sản lớn, hệ thống siêu thị và xuất khẩu sang ra thị trường quốc tế Mô hình trang trại trình diễn nuôi cá biển quy mô công nghiệp là điểm tham quan học tập của nhiều tỉnh ven biển trên cả nước và một số dự án phát triển nuôi cá biển ở khu vực Đông Nam Á Đây cũng là nơi đào tạo kỹ thuật, chuyển giao công nghệ nuôi cá biển cho người dân Các doanh nghiệp có thể tìm hiểu về công nghệ, cơ hội đầu tư, tạo tiền đề cho phát triển nuôi

cá biển quy mô công nghiệp ở nước ta Hiện nay, Viện nghiên cứu NTTS 1 đã chuyển giao thành công công nghệ nuôi cá biển quy mô công nghiệp cho doanh nghiệp Trấn Phú ở Phú Quốc, Kiên Giang (Nguyễn Quang Huy, 2018) [54]

Hình 1.3 Mô hình nuôi cá biển quy mô công nghiệp - Viện Nghiên cứu Nuôi trồng

Thủy sản 1 tại vịnh Vân Phong, Khánh Hòa (Ảnh: Nguyễn Quang Huy)

1.4.3 Những thách thức về Khoa học công nghệ đối với nghề nuôi biển

Nghề nuôi cá biển nói chung và nuôi biển quy mô công nghiệp ở Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức để phát triển bền vững như quy mô nuôi chủ yếu còn nhỏ lẻ, cơ sở hạ tầng phục vụ nuôi biển còn thiếu, thị trường còn hạn chế, chưa

có sự liên kết sản xuất theo chuỗi, quản lý quy hoạch chưa theo kịp thực tiễn sản xuất, sự tham gia của doanh nghiệp chưa nhiều, tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu Về mặt KHCN, các thách thức chủ yếu được nhận diện như sau (Nguyễn Quang Huy, 2018) [54]:

- Về giống cá biển: Để đáp ứng nhu cầu phát triển nuôi cá biển quy mô công

nghiệp trong thời gian tới, nguồn cung cấp giống nhân tạo cần có bước phát triển

Trang 33

tương xứng về sản lượng Đây là mắt xích quan trọng đầu tiên Hiện nay ước tính nguồn giống cá biển sản xuất trong nước ước tính mới chỉ đáp ứng khoảng 70 % Bên cạnh đó, sản xuất giống cá biển có chất lượng cao, đảm bảo an toàn sinh học, giá thành sản xuất cạnh tranh cũng là thách thức không nhỏ

- Thức ăn nuôi cá biển: cá tạp vẫn đang được sử dụng phổ biến ở các hộ nuôi

quy mô nhỏ, gây nguy cơ lan truyền dịch bệnh và ảnh hưởng đến nguồn lợi cá biển

do bị khai thác quá mức Thức ăn công nghiệp chủ yếu do các doanh nghiệp FDI sản xuất, giá thành còn cao, phổ biến từ 27,000 đ-34,000 đ/kg Tuy nhiên hệ số chuyển đổi thức ăn vẫn còn cao (dao động từ 2,2-3,0) Điều này ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp và tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường Ở một số loài cá như cá giò, việc sử dụng thức ăn công nghiệp ở cỡ trên 3 kg không hiệu quả bằng sử dụng cá tạp Bên cạnh đó nhiều loài nuôi mới chưa có thức ăn công nghiệp nuôi hiệu quả như cá Nhụ, cá Song lai

- Công nghệ nuôi biển quy mô công nghiệp: Công nghệ nuôi đang áp dụng

hiện nay đang chủ yếu ở giai đoạn cơ giới hóa, sử dụng các thiết bị đồng bộ để hạn chế tối đa sức lao động thủ công Tuy nhiên, trong xu thế của cuộc cách mạng 4.0, công nghệ nuôi biển công nghiệp cũng cần bắt nhịp để tối ưu hóa lợi nhuận và chi phí sản xuất

- Sản phẩm nuôi: sản phẩm hướng đến xuất khẩu nên cần được cấp các

chứng nhận như VietGAP, Global GAP tùy theo yêu cầu của thị trường Thêm vào

đó, giá thành sản phẩm đảm bảo cần đảm bảo tính cạnh tranh để dễ tiêu thụ

- Dịch bệnh và môi trường nuôi: Dịch bệnh còn thường xảy ra ở tất các giai

đoạn nuôi, gây chết hàng loạt ở cá nuôi biển chưa xác định được nguyên nhân hoặc chưa có biện pháp phòng trị bệnh hiệu quả Nguy cơ ô nhiễm môi trường ở những vùng nuôi ven biển do mật độ lồng nuôi cao đã hiện hữu

- Công nghệ xử lý, bảo quản sản phẩm sau thu hoạch và chế biến: hiện nay

đây là vẫn đề chưa được quan tâm nghiên cứu, ứng dụng đúng mức, ảnh hưởng đến chất lượng, giá trị của sản phẩm

- Đánh giá đúng sức tải của môi trường biển: đây là vấn đề cần được quan

tâm thực hiện trong thời gian tới, làm cơ sở khoa học cho việc lập quy hoạch và quản lý quy hoạch phát triển nuôi biển, hạn chế ô nhiễm môi trường

Trang 34

1.4.4 Cơ hội cho phát triển nghề nuôi cá biển Việt Nam

Mặc dù nghề nuôi cá biển Việt Nam còn đối mặt với nhiều thách thức nhưng cũng có nhiều cơ hội để phát triển Cơ hội đầu tiên là Việt Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nuôi biển nói chung và cá biển nói riêng Bên cạnh

đó, chúng ta cũng đã làm chủ những công nghệ cốt lõi cho phát triển nuôi biển như công nghệ sản xuất giống nhân tạo cho nhiều loài cá nuôi biển chủ lực và quy trình nuôi thương phẩm quy mô công nghiệp, cho phép nuôi ở những vùng biển xa bờ, nơi còn nhiều tiềm năng phát triển Hiện nay, thị trường cá biển (bao gồm cá khai thác và nuôi) đã được xuất khẩu trên 50 nước trên thế giới (Trương Đình Hòe, 2016) [61] Đây là cơ hội lớn cho cá nuôi biển của Việt Nam xuất khẩu khi tăng sản lượng nuôi Trong Quyết định số 339/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ ngày 11/3/2021 về Phê duyệt Chiến lược phát triển nuôi trồng thuỷ sản Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã định hướng rõ: Phát triển nuôi trồng thuỷ sản trên biển thành một lĩnh vực sản xuất hàng hoá, khuyến khích phát triển nuôi trồng thuỷ sản quy mô công nghiệp ở các vùng biển mở, tạo khối lượng sản phẩm lớn phục vụ phục vụ chế biến xuất khẩu và tiêu thụ nội địa

Trang 35

Chương 2

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thời gian, địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01/2017 đến tháng 12/2020

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

- Địa điểm thu mẫu: Mẫu cá Măng sữa được thu tại 07 điểm thuộc vùng biển miền Trung: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Khánh Hoà, Ninh Thuận (Hình 2.1, Bảng 2.1)

- Địa điểm phân tích mẫu: Mẫu vật sau khi thu ngoài tự nhiên được xử lí, lưu giữ và phân tích đặc điểm sinh học tại Phòng thí nghiệm cơ sở Thuỷ sản – Viện Nông nghiệp và Tài nguyên – Trường Đại học Vinh

- Địa điểm triển khai xây dựng hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá Măng sữa: Trại thực nghiệm Hải sản – Trường Đại học Vinh

Bảng 2.1 Địa điểm, thời gian thu mẫu và số lượng mẫu

Stt Địa điểm

thu mẫu Kích thước mẫu (g)

Số lượng mẫu Thời gian thu mẫu

1 Nghệ An 26,5 – 4.000 22

Từ tháng 02/2017 đến tháng 01 năm 2018

Trang 36

Hình 2.1 Bản đồ các điểm thu mẫu cá Măng sữa (Trần Thị Tuyến)

Trang 37

2.2 Vật liệu nghiên cứu

2.2.1 Mẫu vật

a) Mẫu vật dùng cho nghiên cứu đặc điểm sinh học

Mẫu cá Măng sữa dùng nghiên cứu đặc điểm sinh học được thu trực tiếp hoặc mua từ ngư dân đánh bắt ở vùng biển miền Trung tại địa điểm thuộc các tỉnh Nghệ An,

Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Khánh Hoà, Ninh Thuận (Hình 2.1)

Tổng cá Măng sữa thu ngoài tự nhiên là 462 mẫu, được thu từ tháng 02/2017 đến tháng 01/2018 Số lượng các mẫu dùng trong nghiên cứu đặc điểm sinh học được trình bày trong Bảng 2.2

Bảng 2.2 Số lượng mẫu thu tại các địa điểm và mẫu dùng trong nghiên cứu

1 Phân tích đặc điểm hình thái SL: 30,33-68,82cm

Wt: 42-3500g

64

2 Phân tích đặc điểm dinh dưỡng SL: 20,05 – 40,13cm

Wt: 12,83-47,58g 38,40 – 74,36cm Wt: 50,2 – 2332g

220

b) Mẫu cá bố mẹ

Nguồn cá bố mẹ được tuyển chọn ở các vùng biển Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Khánh Hoà, Ninh Thuận; Khối lượng từ 3.200-4.500g, đưa về nuôi thuần dưỡng và nuôi vỗ tại Trung tâm thực hành Hải sản trường Đại học Vinh Số lượng cá đưa vào nuỗi vỗ 135 cặp

c) Mẫu cá bột

Trứng thụ tinh được lấy từ đàn cá bố mẹ nuôi tại Trung tâm thực hành Hải sản – Trường Đại học Vinh Sau khi cá đẻ thu trứng, loại bỏ các trứng không được thu tinh và chuyển vào bể composite để ấp trứng, mật độ ấp trứng: 500-900 trứng/l Trong quá trình ấp đảm bảo nước sạch, được sục khí liên tục luôn duy trì oxy hoà tan ở mức 6mg/ lít Nhiệt độ trong quá trình ấp dao động từ 28–30 0C Sau khi nở

Trang 38

tiến hành loại bỏ cá yếu, định lượng và bố trí thí nghiệm

2.2.2 Hoá chất, dụng cụ, vật tư

a) Dụng cụ vật tư nghiên cứu, thí nghiệm

- Bộ giải phẫu: bộ đồ mổ, dùi, kéo các loại, panh các loại, dao

- Khay, cốc thuỷ tinh dung tích 100ml, 200ml, 500ml

- Cân điện tử, thước palme

- Đĩa petri, lam kính, lamen, pipet

- Bô can đựng mẫu

- Kính hiển vi, máy ảnh

- Xô chậu, chén sứ, ống tiêm

c) Thức ăn dùng trong nghiên cứu

Thức ăn dùng trong nghiên cứu được trình bày ở Bảng 2.3

Bảng 2.3 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn cho cá Măng sữa bố mẹ

(%)

Lipid (%)

Chất tro (%)

Xơ (%)

Trang 39

Nguồn: Sử dụng thức ăn viên công nghiệp chuyên dùng cho cá chẽm, các thông số dựa trên bao bì nhà sản xuất; Thức ăn tự chế, cá tạp (cá trích, cá nục), luân trùng, Artemia, copepoda phân tích tại Phòng thí nghiệm

cơ sở thuỷ sản, Viện Nông nghiệp và Tài nguyên – Trường Đại học Vinh Trong đó: Xác định hàm lượng protein thô (P): theo phương pháp Kjeldahl, TCVN 4331-2001; Xác định hàm lượng Lipid thô: theo phương pháp chiết phân đoạn ete, TCVN 4331-2001; Xác định độ ẩm (W) theo TCVN-4326-86: Dùng phương pháp sấy ở 105 o C Độ ẩm của nguyên liệu là lượng nước mất đi trong khi sấy.

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Sơ đồ khối nghiên cứu

Sơ đồ khối nghiên cứu của đề tài được thể hiện qua Hình 2.2

Hình 2.2 Sơ đồ khối nghiên cứu cá Măng sữa

Trang 40

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học cá Măng sữa ngoài tự nhiên

2.3.2.1 Phương pháp định loại cá Măng sữa

Định loại cá Măng sữa dựa trên phương pháp phân loại hình thái ngoài của Pravdin (1961; theo bản dịch của Phạm Thị Minh Giang, 1973) [62] Định loại cá

theo một số tài liệu Keat-Chuan et al., (2017) [63], Nguyễn Hữu Phụng (2001) [64]

2.3.2.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái

Mẫu cá thu ngoài tự nhiên bằng lưới kéo Mẫu cá được bất hoạt (phá huỷ não

cá đối với cá to, gây sốc ở nhiệt độ 0oC đối với cá nhỏ), rửa sạch, bảo quản lạnh và chuyển mẫu tại phòng thí nghiệm Chiều dài SL: 20,05 – 40,13cm; Khối lượng Wt: 12,83-47,58g; SL: 38,40 – 74,36cm; Wt: 50,2 – 2332g

Cá sử dụng trong nghiên cứu hình thái với số lượng là 64 mẫu Cá có chiều dài từ 16,3 đến 64,7 cm, khối lượng cá từ 420 đến 3500 g Chiều dài tổng, chiều dài chuẩn được đo bằng thước đo panme (cm), các chỉ tiêu về khối lượng được cân bằng cân kĩ thuật hai số lẻ (gam) Hình dạng cơ thể, hình dạng đầu, vị trí và kích thước mở miệng của các mẫu cá Măng sữa được nghiên cứu theo phương pháp của Pravdin (1961) [63] và Rainboth (1996) [65]

Các chỉ tiêu số lượng đếm được như vảy, tia vây theo Holden and Raitt (1974) [66] Các chỉ tiêu hình thái đo theo Lowe-McConnel (1971), Grant and Spain (1977) (theo Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004) [67]

Các chỉ tiêu hình thái được đo theo hướng dẫn Hình 2.3

Hình 2.3 Sơ đồ đo hình dạng cá Măng sữa Chanos chanos (Forskal, 1775)

- Số lượng tia vây lưng: D (Dorsal fin)

- Số lượng tia vây hậu môn: A (Anal fin)

Ngày đăng: 15/04/2022, 16:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. S. Malle, A.B. Tawali, M.M. Tahir & M. Bilang, Nutrient composition of milkfish (Chanos chanos, Forskal) from Pangkep, South Sulawesi, Indonesia, Mal J Nutr., 2019, 25(1): 155-162 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nutrient composition of milkfish (Chanos chanos, Forskal) from Pangkep, South Sulawesi, Indonesia
3. I.C. Liao, E.M. Leano, Milkfish aquaculture-Department of Aquaculture, Taiwan National Ocean University, 2010, 198 p Sách, tạp chí
Tiêu đề: Milkfish aquaculture-Department of Aquaculture
5. Sách đỏ, Sách Đỏ Việt Nam (Phần 1 - Động vật), Nhà xuất bản KHTN và Công nghệ, 2007, Hà Nội, tr.333-334 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách Đỏ Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản KHTN và Công nghệ
6. Nguyễn Thị Mỹ Dung, Nguyễn Phú Hòa, Đánh giá hiệu quả kinh tế kỹ thuật của nghề nuôi cá Măng sữa tại vùng biển Đông nam Việt Nam, Tạp chí Khoa học Công nghệ Thuỷ sản, 2020, số 3/2020: 22-30pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả kinh tế kỹ thuật của nghề nuôi cá Măng sữa tại vùng biển Đông nam Việt Nam
7. Nguyễn Thị Kim Vân, Đặng Tố Vân Cầm, Trần Kim Đồng, Nguyễn Hữu Thanh, Nguyễn Xuân Toản, Lâm Văn Đức, Công nghệ sinh sản nhân tạo và ương nuôi cá Măng, Tuyển tập nghề cá sông Cửu Long, 2009, trang 137-148 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ sinh sản nhân tạo và ương nuôi cá Măng
8. Nguyễn Thị Mỹ Dung, Nguyễn Phú Hòa, Phan Quỳnh Trâm, Nghiên cứu đặc điểm hình thái quần thể cá Măng sữa Chanos chanos (Forsskal, 1977) ở vùng biển Đông Nam Việt Nam, Tạp chí Khoa học & Công Nghệ Việt Nam, 2020, 62 (9): trang 53-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm hình thái quần thể cá Măng sữa Chanos chanos (Forsskal, 1977) ở vùng biển Đông Nam Việt Nam
9. J.S. Nelson, Fishes of the World (2nd ed.). John Wiley and Sons, 1984, New York, 523 pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fishes of the World
10. P. Colin, Family Chanidae and others Teleostean Fishes as Living Fossils, Springer-Verlag New York Inc., 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Family Chanidae and others Teleostean Fishes as Living Fossils
11. W. Klausewitz and J.G. Nielsen, On Forsskal's collection of fishes in the Zoological Museum of Copenhagen. Skrift. udg. Univ. Zool. Mus. Kobenhavn, 1965, 22:1-29, plates 1-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: On Forsskal's collection of fishes in the Zoological Museum of Copenhagen
12. A.W. Herre and J. Mendoza, Bangus culture in the Philippine Islands. Philipp. J. Sci., 1929, 38:451-509 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bangus culture in the Philippine Islands
13. W.H. Schuster, Synopsis of biological data on milkfish Chanos chanos (Forsskal), FAO Fish Biol. Synop, 1960, 451 pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Synopsis of biological data on milkfish Chanos chanos (Forsskal)
14. M.D. Crosby, M.C. Cremer, W.L. Shelton and J.S. Ramsey, Synopsis of biological data on milkfish. Final Report to the National Fishery Research Laboratory, U.S. Fish and Wildlife Service, Gainesville, Florida, 1982, 152 pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Synopsis of biological data on milkfish
15. L.M.B. Garcia, Fisheries biology of milkfish (Chanos chanos Forskal), Aquaculture Department, Southeast Asian Fisheries Development Center (SEAFDEC), Tigbauan, Iloilo, Philippines, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fisheries biology of milkfish (Chanos chanos
16. T.U. Bagarinao, Biology of milkfish (Chanos chanos Forsskal). Iloilo, Philippines: Aquaculture Department, Southeast Asian Fisheries Development Center, 1991, ISBN 971-8511-22-9, 104tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biology of milkfish (Chanos chanos Forsskal)
17. N. William Eschmeyer, Terry Grande, Lance Grande, A Nomenclatural Analysis of Gonorynchiform Taxa, 2010, United States of America, ISBN 978-1-57808- 374-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Nomenclatural Analysis of Gonorynchiform Taxa
18. T.U. Bagarinao, Systematics, distribution, genetics and life history of milkfsh, Chanos chanos, Environmental Biology of Fishes, 1994, 39(1), pp.23-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Systematics, distribution, genetics and life history of milkfsh, Chanos chanos
19. W. Fischer and P.J.P. Whitehead, FAO Species Identification Sheets for Fishery Purposes, Eastern Indian Ocean and Western Central Pacific, 1974, Volume 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: FAO Species Identification Sheets for Fishery Purposes
20. M. SriHari, R. N. Bhutia, A. Kathirvelpandian, R. Sharma, Karankumar K. Ramteke, G.B. Sreekanth, & Z. J. Abidi, Differentiation in morphometric traits of Chanos chanos (Forsskồl, 1775) stocks along Indian coast, Indian Journal of Geo- Marine Sciences, 2019, Vol. 48 (02): 233-238 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Differentiation in morphometric traits of Chanos chanos (Forsskồl, 1775) stocks along Indian coast
21. J.C. Briggs, The East Pacific Barrier and the distribution of marine shore fishes, Evolution, 1961, 15: 545-554 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The East Pacific Barrier and the distribution of marine shore fishes
22. R.H. Rosenblatt, J.E. McCosker, and I. Rubinoff, Indo-West Pacific fishes from the Gulf of Chiriqui, Panama, Los Angeles Nat. Hist. Mus. Contr. Sci., 1972, 234p Sách, tạp chí
Tiêu đề: Indo-West Pacific fishes from the Gulf of Chiriqui, Panama

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm