- Văn hóa là tất cả những gì do con người sáng tạo ra trong quá trình tồn tại lịch sử của cộng đồng dân tộc.. + MT tự nhiên bao gồm các thành phần tự nhiên như nước, sinh vật, khí hậu, đ
Trang 1khoa tiếng anh (Trường Đại học Mở Hà Nội)
OMoARcPSD|12612758
Nội dung ôn tập: Cơ sở văn hóa Việt
Nam
Câu 1: Văn hóa là gì?
- Văn hóa là tất cả những gì do con người sáng tạo ra trong quá trình tồn tại lịch sử của cộng đồng dân tộc.
- Văn hóa là tất cả mọi thứ không phải do tự nhiên tạo ra.
- Văn hóa là 1 cách lựa chọn, đồng thời nó là kết quả của chính sự lựa chọn đó.
Câu 2: Hình thái và mô hình văn hóa ?
- Hình thái văn hóa : hình thức thể hiện của văn hóa cho thấy cái riêng, cái
khác biệt trong tính hệ thống của văn hóa
- Phân loại: 2 loại hình văn hóa:
mang tính trọng tình
cách gọn gàng nhanh chóng, thuận tiện, mang tính chất trọng động
*Đặc trưng VH gốc nông nghiệp so sánh với VH gốc du
mục: - Đặc trưng gốc (khí hậu, nghề chính):
+Loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt là nói đến văn hóa phương Đông gồm Châu Á và Châu Phi, điều kiện khí hậu nắng nóng, mưa ẩm nhiều, có những con sông lớn, những vùng đồng bằng trù phú, phì nhiêu thích hợp cho nghề trồng trọt phát triển
+Loại hình văn hóa gốc chăn nuôi du mục là loại hình văn hóa gốc hình thành
ở phương Tây, khu vực tây-bắc bao gồm toàn bộ châu Âu, do điều kiện khí hậu lạnh khô, địa hình chủ yếu là thảo nguyên, xứ sở của những đồng cỏ,
không thích hợp cho thực vật sinh trưởng mà thích hợp chăn nuôi vì vậy nghề truyền thống của cư dân phương Tây cổ xưa là chăn nuôi
- Cách ứng xử với môi trường tự nhiên:
+Do nghề trồng trọt buộc con người phải sống định cư để chờ cây cối lớn lên, phải lo tạo dựng cuộc sống lâu dài, không thích di chuyển, thích ổn định => trọng tĩnh, hướng nội Phụ thuộc vào thiên nhiên nên cư dân rất tôn trọng và sùng bái thiên nhiên, ước mong sống hòa hợp với thiên nhiên
+Phương Tây do loại hình chăn nuôi gia súc đòi hỏi phải sống du cư, nay đây mai đó lối sống thích di chuyển => trọng động, hướng ngoại, phát triển VH
Trang 2-Lối nhận thức, tư duy:
+Người Việt thiên về lối tư duy tổng hợp và biện chứng (trọng quan hệ);
chủ quan, cảm tính và kinh nghiệm
+VH gốc DM thiên về tư duy phân tích và siêu hình (trọng yếu tố); khách quan, lý tính và thực nghiệm => dẫn đến khoa học phương Tây phát triển, thói quen tôn trọng pháp luật vì vậy mà hình thành rất sớm ở phương tây => dẫn đến lối sống thực dụng, thiên về vật chất
-Tổ chức cộng đồng:
+Con người NN ưa sống theo nguyên tắc trọng tình nghĩa, trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ, vai trò của người phụ nữ được đề cao Lối sống linh hoạt và dân chủ, trọng tập thể, tính cộng đồng cao => Mặt trái là thói tùy tiện biểu hiện ở tật co giãn giờ giấc (giờ cao su), sự thiếu tôn trọng pháp luật, tính tổ chức kém,
+Do cuộc sống du cư nên cần đến sức mạnh để bảo vệ dân cư trong bộ tộc chống lại sự xâm chiếm của các bộ tộc khác nên người đàn ông có vai trò quan trọng => tư tưởng trọng sức mạnh, trọng tài, trọng võ, trọng nam giới Nguyên tắc và quân chủ, trọng cá nhân => hình thành lối sống thích ganh đua, cạnh tranh, máy móc, áp đặt, thiếu bình đẳng
-Ứng xử với môi trường xã hội :
+Nông nghiệp: dung hợp trong tiếp nhận: mềm dẻo, hiếu hòa trong đối phó +Du mục: độc đoán trong tiếp nhận, cứng rắn, hiếu thắng trong đối phó
Câu 3: Cấu trúc và các thành tố của văn hóa ?
Cấu trúc văn hóa (3phan)
- Văn hóa sản xuất
- Văn hóa vũ trang
- Văn hóa sinh hoạt
Các thành tố của văn hóa:
- Văn hóa vật chất: ăn ở, ăn uống, ăn mặc, ăn ngủ, ăn làm, đi lại , ăn chơi, cưới xin, sinh đẻ, ma chay,…
- Văn hóa tinh thần: thế giới quan, giá trị, tín ngưỡng, tập tục, nghệ thuật, ngôn ngữ
Trang 3
-Câu 4: Văn hóa và môi trường sống của người Việt/Kinh?
4 Văn hóa và môi trường sống của người Việt / Kinh.
- Môi trường sống là không gian sống, cung cấp tất cả nguồn tài nguyên thiên
nhiên, là nơi chứa đựng các phế thải do chính con người tạo ra trong hoạt động sản xuất và sinh hoạt, môi trường sống có trong lành thì con người mới đảm bảo
có sức khỏe
+ MT tự nhiên bao gồm các thành phần tự nhiên như nước, sinh vật, khí hậu,
địa hình, đất trồng, địa chất… Là môi trường giúp con người có nhiều điều kiện
để phát triển và tồn tại lâu dài như không khí để con người hít thở, đất để xây dựng nhà cửa, chăn nuôi, trồng trọt…c pháp luật, thể chế, môi trường xã hội là định hướng các hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, từ đó
có thể hình thành một sức mạnh đoàn kết, tập thể, góp phần thúc đẩy sự phát triển để con người trở nên tốt và có ích cho xã hội hơn
Dân tộc Kinh hay có tên gọi khác là người Việt, sinh sống dọc suốt chiều dài
đất nước Việt Nam Người Kinh cư trú khắp các tỉnh thành, nhưng hầu hết tập trung sống ở vùng đồng bằng và thành thị với nhiệt độ tương đối cao và ẩm, nền khí hậu chịu ảnh hưởng từ lục địa Trung Hoa chuyển qua và mang tính chất khí hậu lục địa, có khí hậu cận nhiệt đới ẩm với 2 mùa rõ rệt hè, đông
Người Kinh có dân số lớn nhất trong tất cả 54 các dân tộc trong nước với số dân hơn 73 triệu người
Vị trí địa lý: Dân tộc Kinh chủ yếu cư trú ở các vùng đồng bằng ven các con sông lớn (như sông Hồng, sông Thái Bình và rất nhiều các dòng sông lớn trên
khắp cả nước Đặc điểm vùng người Kinh cư trú là đóng bằng và châu thổ các dòng sông, với hai vựa thóc lớn nhất nước là: đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng sông Cửu Long)
Điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa.
Trong quá trình hình thành dân tộc Kinh (Việt), trong một thời gian dài, lại cư trú trong phạm vi rộng, cho nên chịu sự tác động của nhiều yếu tố văn hóa khác nhau và do đó dẫn đến sự hình thành nhiều sắc thái văn hóa địa phương khác nhau Thời Lý - Trần, tên Kinh dùng để phân biệt với tên Trại trong thi cử Theo
Trang 4đó người ở kinh đô thi đỗ trạng nguyên gọi là kinh trạng nguyên, người ở vùng
xa kinh đô đỗ trạng nguyên gọi là trại trạng nguyên'
→ Nông nghiệp lúa nước đã được hình thành và phát triển ở người Việt từ rất
sớm Trải qua bao đời cày cấy, người Việt đã tổng kết kinh nghiệm làm ruộng thật sâu sắc: "Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống"
-Ẩm thực: trong các bữa ăn của người Kinh, cơm được nấu từ gạo nếp, gạo tẻ
là món ăn chính, ngoài ra còn có cháo hoặc xôi Cơm canh cua cá Các món muối (dưa muối, nộm…)
-Nhà của người Kinh thường là nhà trệt, giữa nhà thường đặt bàn thờ gia tiên Ở
mỗi vùng miền thì người Kinh lại có những kiểu xây nhà khác nhau tùy theo đặc trưng nơi sống (Kiểu nhà ba gian hai chái tiêu biểu cho kiểu nhà miền Bắc)
-Ăn mặc giản dị, dễ nhìn (Xưa kia, đàn ông thường mặc quần chân què, áo cánh
nâu đi chân đất ; ngày lễ tết mặc quần trắng, áo chùng lương đen, đội khăn xếp,
đi guốc mộc Đàn bà mặc váy đen, yếm, áo cánh nâu, khăn mỏ quạ Phụ nữ ngày lễ, hội hè mặc áo dài Mùa đông, cả nam và nữ thường mặc thêm áo kép bông Y phục phân biệt giữa các lứa tuổi chỉ ở màu sắc và cỡ áo quần; giữa kẻ giàu, người nghèo, y phục có sự phân biệt ở chất liệu vải lụa và chỉ có người giàu sang mới dùng đồ trang sức.)
Phương tiện giao thông: xích lô, thuyền bè, xe máy, ô tô….
Câu 5: Tiếp xúc và giao lưu văn hóa Việt Nam?
- Kn tiếp xúc và giao lưu văn hóa: dịch từ thuật ngữ của các nước phương Tây khái niệm Acculuration (đan xen văn hóa, hỗn dung văn hóa, giao thoa văn hóa, giao lưu và tiếp biến văn hóa) là sự gặpgỡ, trao đổi và học hỏi lẫn nhau giữa các nền văn hóa -> phát triển và tiến bộ văn hóa
- TXVGLVH Việt Nam:
+) Từ cơ tầng văn hóa Đông Nam Á (nền tảng tạo ra những yếu tố nội sinh của văn hóa VN cơ tầng văn hóa ấy được tạo từ nhiều yếu tố)
Trang 5+) Giao lưu và tiếp biến văn hóa với Trung Hoa (theo 2 trạng thái:
giao lưu cưỡng bức và giao lưu không cưỡng bức)
+) Giao lưu và tiếp biến với văn hóa Ấn Độ (có ảnh hưởng sâu đậm dù chỉ diễn ra trong tầng lớp dân chúng (đạo Phật))
+) Giao lưu và tiếp biến văn háo phương Tây (giao lưu 1 cách cưỡng bức áp đặt và tiếp nhận 1 cách tự nguyện)
+) Giao lưu và tiếp biến văn hóa trong giai đoạn hiện nay (có tính cấp thiết, nhanh chóng và đa dạng, cũng phức tạp hơn trước, cũng đòi hỏi giữ gìn bản sắc dân tộc )
Câu 6: Các đặc trưng/ bản sắc của văn hóa Việt/Kinh ?
- Nền văn hóa hình thành từ nền tảng nông nghiệp trồng lúa nước kiểu tiểu
nông
- Nền văn hóa đề cao giá trị văn hóa gia đình truyền thống
- Đậm tính cộng đồng, tự trị của văn hóa làng xã
- Nền văn hóa thấm đậm, bao trùm tinh thần yêu nước, ý thức quốc gia
– dân tộc
- Đa dân tộc, thống nhất trong đa dạng
- Thích ứng và tiếp biến hài hòa các nền văn minh nhân loại.
những đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam kết tinh thành quả lao
động, đấu tranh hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc
Câu 7: Tính cách dân tộc của người Việt/Kinh ?
- Khả năng đối phó rất linh hoạt với mọi tình thế và lối sống ứng xử mềm dẻo
- Tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng để tạo nên sức mạnh vượt qua
những khó khăn thử thách
- Giản dị chất phác, ưa đơn giản, ghét cầu kỳ xa hoa - Tấm lòng rộng mở, giàu cảm xúc lãng mạn
- Cần cù chịu thương chịu khó, giỏi chịu đựng gian khổ
- Trọng tuổi tác, trọng người già
- Tập tính hoạch toán kém, không quen lường tính xa
Trang 6- Tác phong tuỳ tiện, kỷ luật không chặt chẽ.
- Tâm lý bình quân chủ nghĩa
- Nhân ái, vị tha, rộng lượng
- Nặng tình nhẹ lý, chín bỏ làm mười
- Tâm lý sống lâu lên lão làng, đề cao chủ nghĩa kinh nghiệm
Những đặc trưng nổi trội này trong tính cách người Việt Nam có thể làm rõ hơn nữa ở một số điều cơ bản sau:
Thứ nhất, tính cách mềm dẻo, lối ứng xử linh hoạt, điều này bắt nguồn từ hoàn cảnh sống của người Việt cổ Một tấc đất có giá trị như một tấc vàng, buộc con người phải mãi đổ nhiều mồ hôi công sức, thậm chí cả tính mạng khai khẩn, gìn giữ, tận dụng để trồng cấy mọi thứ có thể trồng, đa canh, xen canh, theo thời
vụ, cấy các loại giống cây phù hợp với địa hình, khí hậu, quá trình đó tạo nên cho người Việt Nam một tính cách năng động, mềm dẻo Hơn nữa với điều kiện tự nhiên dầy đặc sông nước “văn hoá sông nước” mềm mại uyển chuyển, đồng thời cũng dữ dội bão táp “nhất thuỷ nhì hoả” đã làm cho người nông dân Việt Nam giỏi chịu đựng hơn, bền bỉ hơn cũng như quyết liệt và táo bạo hơn
Về mặt xã hội: “Sống giữa các nền văn minh lớn như Trung Quốc, Ấn Độ… các nước lớn có nền văn minh phát triển luôn tìm cách “đồng hoá văn hoá” đối với người Việt” Vì vậy ngày từ đầu, người Việt cổ muốn tồn tại, gìn giữ được
“cái tôi” của mình, dĩ nhiên là phải có thái độ ứng xử linh hoạt, không thể cứng khi cần mềm, không thể “bài” khi cần “nhập” Chấp nhận nhường để tránh tổn thất cho mình”
Thứ hai, tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng tạo nên sức mạnh Đây là phẩm chất rõ nét của người Việt Nam trong quá trình khai khẩn thiên nhiên, lập làng, lập ấp, lập trại và trong quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm để bảo
vệ thành quả lao động đó Tính cộng đồng được thể hiện trên hai mặt đó là công cộng và công ích Đây là nét vượt trội của người Việt Nam in dấu ấn trong hai tiếng trách nhiệm trước cộng đồng dòng họ - làng xã - đất nước Tính cách đoàn kết tạo nên sức mạnh cộng đồng của người Việt Nam bắt nguồn từ những đòi hỏi khách quan đó
Thứ ba, giản dị, khoan dung, nhân ái, đó là kết quả của cả một truyền thống dân tộc Tính cách này được bồi đắp bởi tính ôn hoà của cư dân trồng lúa nước Với đời sống đầy vất vả nhiều may rủi và thất bại, với thực tiễn “Ba tháng
Trang 7trông cây không bằng một ngày trông quả” khiến những người nông dân quanh năm vất vả luôn sống trong tình trạng thấp thỏm, lo âu trước những biến động của thời tiết, những tai họa của thiên nhiên có thể cướp trắng những công lao của cả cộng đồng Tâm lý “nước lụt thì lút cả làng” đã khiến con người phải đùm bọc lẫn nhau
Thứ tư, với nền tảng của “văn hoá hỗn dung”, tính cách người Việt Nam được soi sáng bởi “triết lý dung hợp” và được biểu hiện tập trung trong chữ
“Hoà” đã góp phần tạo nên sự đặc sắc trong tính cách của cha ông chúng ta Trong quá khứ, để bảo vệ quê hương, đất nước đã phải đổ biết bao công sức mồ hôi, nước mắt, xương máu mới có được, đã khiến cho người Việt Nam sớm có tinh thần độc lập, ý chí kiên cường, tự khẳng định cái tôi của dân tộc, tự tạo cho mình một vị thế độc lập, một thế đứng độc lập trong cộng đồng nhân loại Xuất phát từ điều kiện lịch sử đó, người Việt Nam đã sớm xuất hiện tinh thần tìm mọi cách để tạo nên sức mạnh cho mình Đã biết kế thừa học hỏi, thâu tóm cái hay, cái đẹp của người khác và tiếp biến, chuyển hoá cho phù hợp với bản thân mình Đồng tâm, hiệp lực trong lao động, đoàn kết trong đấu tranh chống xâm lược
GS Phan Ngọc cho rằng: Tư duy dung hoà chi phối toàn bộ văn hoá truyền thống Việt Nam Với một dân tộc được thử thách và rèn luyện, có bản lĩnh và ý chí độc lập tự cường đã tạo lập cho mình một nền văn hoá dung hợp, người Việt Nam đã tạo cho mình một biệt tài riêng, tính cách riêng độc đáo là biến cái của người khác thành cái của mình
Thứ năm, trong tính cách người Việt Nam cũng bộc lộ rất rõ những mặt hạn chế tiêu cực Ví như đức tính kiên nhẫn nếu qua đi sẽ dẫn đến nhu nhược,
an phận, cam chịu thậm chí mềm yếu, yếu hèn Người Việt Nam có hành vi đẹp là tưởng nhớ tổ tiên, anh hùng, người có công với nước… song sùng bái mọi thứ, tuyệt đối hoá quá khứ dẫn đến con người quên mất bản thân mình, trông chờ, thụ động, thậm chí là mê tín dị đoan, làm tâm thức con người u tối
Tính dung hoà là một giá trị căn bản của văn hoá Việt Nam, giúp cho nền văn hoá và con người Việt Nam trở nên sinh động, giàu có Nhưng với bản tính này cũng làm cho chúng ta dễ mắc phải sự tuỳ tiện, thoả hiệp, ba phải, cẩu thả
và vô nguyên tắc Ngoài ra, cũng cần phải kể đến những mặt yếu do hoàn cảnh khách quan và hạn chế của lịch sử đã đem lại đã để lại trong tính cách của người Việt Nam như: tác phong lề mề, chậm chạp, lãng phí thời gian, ý thức kỷ luật và pháp luật kém Tâm lý “phép vua thua lệ làng” là một cách ứng xử thường gặp của cộng đồng người Việt Nam… đều là những lực cản trong công cuộc đổi mới hôm nay
Trang 8Câu 8: Văn hóa ăn uống và văn hóa ăn mặc của người Việt/Kinh ?
a Văn hoá ẩm thực( ăn uống)
- Quan niệm về ăn và dấu ấn nông nghiệp trong cơ cấu bữa ăn
+ Việt Nam là một nước nông nghiệp, với tính thiết thực nên ăn rất quan trọng (có thực mới vực được đạo; Trời đánh còn tránh miếng ăn) Mọi hành động của người Việt đều lấy ăn làm đầu (ăn chơi, ăn mặc, ăn cắp )
+ Cơ cấu bữa ăn của người Việt bộc lộ dấu ấn của truyền thống văn hoá nông nghiệp lúa nước: đó là cơ cấu thiên về thực vật, trong đó lúa gạo đứng đầu bảng (bữa ăn gọi là bữa cơm) Sau lúa gạo đến rau quả, trong
đó đặc thù là rau muống và dưa cà, ngoài ra còn có các loại gia vị Thứ
ba là các loại thuỷ sản, sản phẩm của vùng sông nước, từ các loài thuỷ sản mà chế tạo ra một loại đồ chấm đặc biệt là nước mắm và mắm các loại (trong bữa cơm bao giờ cũng có bát nước mắm) Ở vị trí cuối cùng
là thịt (gà, vịt, trâu, bò, chó )
+ Đồ uống - hút truyền thống thì có trầu cau, thuốc lào, rượu, nước chè, vối
- Tính tổng hợp trong nghệ thuật ẩm thực của người Việt được thể hiện: +Trong cách chế biến đồ ăn: món ăn thường có đủ ngũ chất (bột, nước, khoáng, đạm, béo) đảm bảo dinh dưỡng; đủ ngũ vị (chua, cay, ngọt, mặn, đắng); đẹp hài hoà của ngũ sắc (trắng, xanh, vàng, đỏ, đen)
+ Trong cách ăn: mâm cơm của ngưòi Việt bao giờ cũng có nhiều món, tác động vào các giác quan Cái ngon của bữa ăn là sự tổng hợp của nhiều yếu tố: thức ăn, thời tiết, chỗ ngồi, người ăn cùng, không khí bữa ăn
- Tính cộng đồng và tính mực thước trong nghệ thuật ẩm thực của người Việt, thể hiện:
Trang 9+ Cùng ăn và trong lúc ăn rất thích chuyện trò (thú uống rượu cần) Trong bữa ăn cần có văn hoá cao (ăn trông nồi) Vì ăn chung nên mọi người đều phụ thuộc lẫn nhau nên phải ý tứ khi ngồi và mực thước khi ăn
+ Qua nồi cơm và chén nước mắm mà trong bữa ăn ai cũng dùng Nồi cơm là tinh hoa của đất, nước mắm là tinh hoa của nước (là cái khởi đầu
và trung tâm trong ngũ hành)
- Tính linh hoạt trong nghệ thuật ẩm thực của người Việt, thể hiện: + Trong cách ăn: có bao nhiêu món ăn và bao nhiêu người ăn là có bấy nhiêu cách tổng hợp khác nhau
+ Trong dụng cụ ăn: đó là đôi đũa - đó là sự mô phỏng động tác của con chim nhặt hạt, xuất phát từ thói quen ăn những thứ không thể nào dùng tay bốc hoặc mó tay vào, nơi có sẵn tre làm vật liệu Tập quán này đã hình thành nên triết lý: tính cặp đôi, tính tập thể
- Tính biện chứng trong nghệ thuật ẩm thực của người Việt, thể hiện ở
sự đặc biệt chú trọng đến quan hệ âm dương của thức ăn, của cơ thể và của con người với tự nhiên
+ Để tạo nên những món ăn có sự cân bằng âm dương Người Việt phân chia thức ăn theo ngũ hành: hàn (lạnh - thuỷ), nhiệt (nóng - hoả), ôn (ấm
- mộc), lương (mát - kim), bình (trung tính - thổ) Người Việt tuân thủ nghiêm ngặt luật âm dương bù trừ và chuyển hoá khi chế biến Tập quán dùng gia vị ngoài việc kích thích dịch vị còn có tác dụng điều hoà âm dương (gừng đi với bí đao, rau cải, cá )
+ Để tạo nên sự quân bình âm dương trong cơ thể, người Việt sử dụng thức ăn như những vị thuốc điều chỉnh sự mất quân bình âm dương trong
cơ thể Ví dụ: sốt cảm lạnh ăn cháo tía tô, gừng; sốt cảm nắng thì ăn cháo hành
+ Để đảm bảo quân bình âm dương giữa con người với môi trường, người Việt có thói quen ăn uống theo vùng khí hậu, theo mùa Ăn theo
Trang 10mùa là tận dụng môi trường tự nhiên phục vụ cho con người, hoà mình vào tự nhiên, tạo nên sự cân bằng giữa con người với tự nhiên
+ Tính biện chứng trong ăn uống không chỉ thể hiện ở việc ăn phải đúng mùa mà phải biết chọn đúng bộ phận có giá trị (chuối sau, cau trước); đúng trạng thái có giá trị (tôm nấu sống, bống để ươn); đúng thời điểm
có giá trị Thời điểm có giá trị là lúc thức ăn đang trong quá trình âm dương cân bằng vì vậy rất giàu chất dinh dưỡng
- Quan niệm về mặc và dấu ấn nông nghiệp trong chất liệu may mặc của người Việt + Đối với người Việt, quan trọng sau ăn là mặc Mặc không chỉ là sự ứng phó với môi trường tự nhiên mà nó còn có ý nghĩa xã hội rất quan trọng (quen sợ dạ, lạ sợ quần áo) Mặc là cái không thể thiếu được trong mục đích trang điểm, làm đẹp của con người (người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân, chân tốt về hài, tai tốt về hoa) Ăn mặc giúp cho con người khắc phục những nhược điểm về cơ thể, tuổi tác (cau già khéo bổ thì non, nạ dòng trang điểm lại giòn hơn xưa)
Mỗi dân tộc có kiểu ăn mặc và trang sức riêng, vì vậy, cái mặc trở thành biểu tượng của văn hoá dân tộc Cái riêng trong cách ăn mặc của người Việt thể hiện trong chất liệu may mặc
+ Chất liệu may mặc: có nguồn gốc từ thực vật là sản phẩm của nghề trồng trọt, cũng là những chất liệu mỏng, nhẹ, thoáng, rất phù hợp với xứ nóng Đó là tơ tằm, từ tơ tằm người Việt đã dệt ra nhiều loại khác nhau (Lụa, gấm, đũi, nái, lĩnh ) Bên cạnh đó còn có vải dệt bằng sợi tơ đay, gai, bông
- Trang phục qua các thời đại và tính linh hoạt trong cách ăn mặc: trang phục có thể chia ra làm nhiều loại; theo giới tính; theo mục đích; theo chức năng Cách thức trang phục của người Việt qua các thời đại bị chi phối bởi hai yếu tố: khí hậu và công việc sản xuất nông nghiệp