1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nông dân vùng đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư

208 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 208
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực trạng đó, tác giả đề xuất 8 nhóm giải pháp nhằm nâng cao vai trò của giai cấp này trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc: tiếp tục cụ thể hóa chương trình, nội dung xây d

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

ĐỖ THỊ PHƯƠNG HOA

NÔNG DÂN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

HÀ NỘI - 2022

Trang 2

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

ĐỖ THỊ PHƯƠNG HOA

NÔNG DÂN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

Mã số: 9 22 90 08

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HỒ TRỌNG HOÀI

HÀ NỘI - 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,

tư liệu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy

đủ theo quy định

Tác giả

Đỗ Thị Phương Hoa

Trang 4

1.2 Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình đã tổng quan và những nội

Chương 2: GIAI CẤP NÔNG DÂN VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CÁCH

2.1 Một số vấn đề lý luận về giai cấp nông dân và cách mạng công nghiệp lần

2.2 Giai cấp nông dân Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần

Chương 3: VAI TRÒ CỦA NÔNG DÂN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ -

3.1 Khái quát về vùng đồng bằng sông Hồng và đặc điểm của nông dân

3.2 Thực trạng vai trò của nông dân vùng đồng bằng sông Hồng trong bối

3.3 Những vấn đề đặt ra đối với việc phát huy vai trò của nông dân vùng

đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư 120

Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA

NÔNG DÂN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG TRONG BỐI CẢNH

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CMCN 4.0 : Cách mạng công nghiệp lần thứ tư CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNXH : Chủ nghĩa xã hội

HTX : Hợp tác xã XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) với xu hướng phát triển dựa trên nền tảng tích hợp cao độ của hệ thống kết nối số hóa - vật lý - sinh học với sự đột phá của Internet vạn vật kết nối và Trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi căn bản, toàn diện đời sống mọi mặt của thế giới đương đại Trong bối cảnh đó, ngày

27/9/2019, Bộ Chính trị khóa XII ban hành Nghị quyết số 52 - NQ/TW “về một số chủ trương, chính sách, chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư” Nghị quyết

đã chỉ rõ: “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư mở ra nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức đối với mỗi quốc gia, tổ chức và cá nhân; đã và đang tác động ngày càng mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội đất nước” [13]

Đặc biệt, cuộc CMCN 4.0 đã và đang tác động mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực sản xuất, trong đó có nông nghiệp; tác động sâu sắc đến các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, trong đó có nông dân Nông nghiệp hiện nay đang đứng trước những áp lực to lớn

do tình hình biến đổi khí hậu phức tạp, vấn đề gia tăng dân số và do yêu cầu cao của người tiêu dùng đối với sản phẩm nông nghiệp an toàn, thân thiện với môi trường Do

đó, việc ứng dụng những thành tựu công nghệ hiện đại của cuộc CMCN 4.0 vào sản xuất nông nghiệp nhằm phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp 4.0 được coi là xu hướng tất yếu khách quan, là giải pháp hữu hiệu để giải quyết những khó khăn đặt ra Cuộc CMCN 4.0 cũng đem lại cho nông dân nhiều cơ hội thuận lợi để nâng cao vị thế, vai trò và đời sống mọi mặt nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức to lớn

Ở Việt Nam hiện nay, có khoảng 65% người dân sống ở nông thôn [5, tr.59], trong đó đại đa số là nông dân Là nhân vật trung tâm của xã hội nông thôn, nông dân chính là chủ thể của mọi quá trình kinh tế - văn hóa - xã hội diễn ra ở nông thôn Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn Những chính sách này tác động mạnh mẽ đến vị thế chủ thể của người nông dân Đặc biệt, ngày 5 tháng 8 năm

2008, tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 26/NQTW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Nghị quyết này được coi là một bước ngoặt quan trọng trong việc xác định rõ hơn vị trí trọng yếu của vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn Nghị quyết đã khẳng định:

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp

Trang 7

công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững

ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước [45, tr.123-124]

Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân chính là chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp hiện đại và xây dựng nông thôn mới

Trong số các vùng lãnh thổ trên cả nước, đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là một vùng đất rộng lớn bao gồm 11 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương (Bắc Ninh, Hà Nam, Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Quảng Ninh, Thái Bình và Vĩnh Phúc) Đây là một trong những vùng kinh tế trọng điểm của đất nước, có nhiều tiềm năng phát triển, có nhiều lợi thế về vị trí địa lý, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực chất lượng cao, có vai trò thúc đẩy, hỗ trợ các vùng khác cùng phát triển Là một trong hai vựa lúa của đất nước song ĐBSH lại là vùng đất chật, người đông, tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa phát triển nhanh chóng dẫn đến lao động trong khu vực nông nghiệp, nông thôn dôi dư, thiếu việc làm, thất nghiệp Bên cạnh đó, đời sống mọi mặt của nông dân trong vùng còn nhiều khó khăn, tình trạng phân hóa giàu nghèo, tệ nạn xã hội đang có xu hướng gia tăng ở vùng nông thôn

Trong bối cảnh CMCN 4.0, nông dân vùng ĐBSH đang từng bước nỗ lực vươn lên để làm chủ nền nông nghiệp công nghệ cao, làm chủ nông thôn mới văn minh, hiện đại Cuộc CMCN 4.0 đang tác động mạnh mẽ đến nhận thức, phương thức lao động sản xuất, đời sống chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường sống của nông dân trong vùng Cơ hội mà cuộc cách mạng công nghiệp này mang lại cho nông dân vùng ĐBSH rất to lớn nhưng thách thức mà nó đặt ra cũng không hề nhỏ Nông dân vốn là lực lượng yếu thế, dễ bị tổn thương và chịu nhiều thiệt thòi trong nền kinh tế thị trường, trong bối cảnh toàn cầu hóa và CMCN 4.0 Sự bất ổn trong đời sống của nông dân tất yếu sẽ dẫn đến sự bất ổn trong đời sống chính trị - xã hội Từ đó đặt ra yêu cầu cần phải nâng cao trình độ mọi mặt, nâng cao thu nhập và đời sống của nông dân vùng ĐBSH, tạo điều kiện nâng cao vị thế vai trò của nông dân để họ có thể đứng vững trước vòng xoáy của toàn cầu hóa và CMCN 4.0

Chính vì những lý do kể trên, tác giả đã chọn vấn đề: “Nông dân vùng đồng

Trang 8

bằng sông Hồng trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư” làm đề tài Luận

án Tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận về giai cấp nông dân và giai cấp nông dân trong bối cảnh CMCN 4.0, luận án phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện vai trò của nông dân vùng ĐBSH và đề xuất những quan điểm cơ bản và những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy

vai trò của nông dân vùng ĐBSH trong bối cảnh mới

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến nông dân vùng ĐBSH trong bối cảnh CMCN 4.0

- Xây dựng khung lý thuyết để nghiên cứu vai trò của nông dân vùng ĐBSH trong bối cảnh CMCN 4.0

- Đánh giá thực trạng thực hiện vai trò của nông dân vùng ĐBSH trong bối cảnh CMCN 4.0

- Đề xuất những quan điểm cơ bản và những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của nông dân vùng ĐBSH trong bối cảnh CMCN 4.0

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Vai trò của nông dân vùng ĐBSH trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Đề tài “Nông dân vùng đồng bằng sông Hồng trong bối

cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư” có nội dung nghiên cứu khá rộng Luận án xác định tập trung làm rõ vai trò của nông dân vùng ĐBSH trong bối cảnh CMCN 4.0, biểu hiện cụ thể:

+ Thứ nhất, nông dân là một trong những chủ thể quan trọng tham gia phát triển nông nghiệp công nghệ cao trong bối cảnh CMCN 4.0 Vai trò này thể hiện tập

trung trên ba phương diện: nông dân là lực lượng lao động trực tiếp ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp; góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung đất nông nghiệp hướng đến nền sản xuất hàng hóa quy mô lớn; là bộ phận quan trọng trong chuỗi liên kết sản xuất nông nghiệp

Trang 9

+ Thứ hai, nông dân là một trong những chủ thể quan trọng góp phần xây dựng đời sống chính trị ở nông thôn trong bối cảnh CMCN 4.0 Vai trò này thể hiện tập

trung trên ba phương diện: nông dân góp phần quan trọng trong thực hiện dân chủ cơ

sở nông thôn; tham gia giám sát hoạt động của hệ thống chính trị; tham gia giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở nông thôn

+ Thứ ba, nông dân là một trong những chủ thể tích cực tham gia xây dựng đời sống văn hóa - xã hội và bảo vệ môi trường ở nông thôn trong bối cảnh CMCN 4.0

Vai trò này thể hiện tập trung trên ba phương diện: nông dân tích cực tham gia xây dựng hạ tầng văn hóa - xã hội - môi trường nông thôn; tích cực tham gia phong trào xây dựng đời sống văn hóa - xã hội nông thôn; bảo vệ môi trường nông thôn xanh, sạch, đẹp

- Phạm vi không gian: Vùng ĐBSH gồm 11 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung

ương Luận án xác định nghiên cứu chủ yếu ở 3 tỉnh và thành phố là Hà Nội, Quảng Ninh, Hà Nam Đây là các tỉnh và thành phố nằm trong danh mục các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao quy hoạch đến năm 2020, định hướng nghiên cứu quy hoạch đến năm 2030 (Ban hành kèm theo Quyết định số 575/QĐ-TTg ngày 04 tháng 5 năm

2015 của Thủ tướng chính phủ) Đồng thời, đó cũng là các tỉnh và thành phố trong vùng đạt được nhiều thành tựu trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao và xây dựng nông thôn mới

- Phạm vi thời gian: từ sau Hội nghị Trung ương 7 khóa X ra Nghị quyết về

nông nghiệp, nông dân, nông thôn (năm 2008) đến nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Cơ sở lý luận của luận án: Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ

Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam cùng những thành tựu nghiên cứu về giai cấp nông dân trong bối cảnh CMCN 4.0

Các phương pháp nghiên cứu của luận án:

Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ

nghĩa duy vật lịch sử với các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:

- Phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp logic và lịch sử được sử dụng trong chương 1 (Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án) để phân tích cơ sở lý luận, kinh nghiệm thực tiễn về đối tượng nghiên cứu của luận án, từ đó rút

ra những giá trị tham khảo của các công trình khoa học và những “khoảng trống” mà

Trang 10

luận án cần tiếp tục nghiên cứu Phương pháp này cũng được sử dụng trong chương 2

để phân tích khung lý luận chung về giai cấp nông dân và CMCN 4.0

- Phương pháp thống kê và so sánh, diễn dịch và quy nạp, nghiên cứu thực tế nhằm làm rõ thực trạng phát huy vai trò của nông dân vùng ĐBSH trong bối cảnh CMCN 4.0 từ đó rút ra những thành tựu, hạn chế cơ bản và nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế

- Phương pháp thu thập thông tin:

+ Phương pháp phân tích văn bản: phân tích các tài liệu có sẵn liên quan đến nội

dung nghiên cứu của đề tài và các tài liệu, thông tin thu được từ khảo sát

+ Nghiên cứu thực tế: tác giả luận án đã đi nghiên cứu một số mô hình nông nghiệp công nghệ cao ở một số tỉnh, thành phố thuộc vùng ĐBSH (Hà Nội, Quảng

Ninh, Hà Nam)

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Luận án góp phần làm rõ những đặc trưng cơ bản của cuộc CMCN 4.0 và tác động toàn diện của nó đối với nông dân (tác động đến sản xuất nông nghiệp của nông dân; tác động đến nông thôn - môi trường sản xuất và môi trường sống của nông dân; tác động đến đời sống chính trị, văn hóa, xã hội của nông dân); làm rõ vai trò của nông dân trong bối cảnh CMCN 4.0

- Đánh giá thực trạng thực hiện vai trò của nông dân vùng ĐBSH trong bối cảnh CMCN 4.0 và những vấn đề đặt ra

- Góp phần đề xuất những quan điểm cơ bản và những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của nông dân vùng ĐBSH trong bối cảnh CMCN 4.0

6 Ý nghĩa của luận án

Với những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn, luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, cơ quan hoạch định chính sách về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; làm tài liệu tham khảo cho các cơ sở nghiên cứu, đào tạo liên quan đến vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong bối cảnh CMCN 4.0

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình của tác giả đã công bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được kết cấu thành 4 chương, 9 tiết

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1.1 Các công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến lý luận chung về giai cấp nông dân và cách mạng công nghiệp lần thứ tư

1.1.1.1 Các công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến giai cấp nông dân Việt Nam

Nông dân vùng ĐBSH là một bộ phận của giai cấp nông dân Việt Nam Vì vậy,

để hiểu rõ về vai trò của nông dân vùng ĐBSH trong bối cảnh CMCN 4.0 trước hết cần phải tìm hiểu các công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến vai trò của giai cấp nông dân Việt Nam nói chung

Tác giả Nguyễn Quốc Cường (2016) trong bài viết “Xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam vững mạnh trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [37] đã khẳng định: nông dân là lực lượng trọng

yếu về kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng, an ninh và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa Sau 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách lớn nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nông dân Thực tiễn đã chứng minh nông dân, nông nghiệp, nông thôn đã trở thành “trụ đỡ” của nền kinh tế của Việt Nam trong mọi điều kiện, kể cả những thời điểm khó khăn nhất Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, với yêu cầu xây dựng “mẫu hình người nông dân mới”, xây dựng giai cấp nông dân vững mạnh trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập Xuất phát từ thực trạng đó, tác giả đề xuất 8 nhóm giải pháp nhằm nâng cao vai trò của giai cấp này trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc: tiếp tục cụ thể hóa chương trình, nội dung xây dựng giai cấp nông dân gắn liền với phát triển nông nghiệp

và xây dựng nông thôn mới; tích cực đầu tư cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn; trong cơ cấu lại nông nghiệp, chú trọng rà soát, điều chỉnh quy hoạch tổng thể ngành, sản xuất theo thế mạnh của mỗi địa phương; tập trung giải quyết khó khăn, tạo sức bật cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn; tăng cường liên kết, mở rộng quy mô, phát triển kinh tế hợp tác theo chuỗi giá trị nông sản; tạo điều kiện cho nông dân tham gia bảo hiểm

xã hội, bảo hiểm y tế; nâng cao chất lượng giáo dục, dạy nghề cho nông dân; xây dựng

Trang 12

mẫu hình người nông dân mới với các tiêu chí “nhận thức mới, kiến thức mới, ý thức mới, văn hóa mới, quyết tâm mới”

Tác giả Nguyễn Thiện Nhân (2017) trong bài viết “Bảo đảm vai trò chủ thể của giai cấp nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới”

[114] đã đề cập đến những bất cập và mâu thuẫn của nông nghiệp, nông dân Việt Nam

hiện nay, bao gồm: một là, sản xuất trong cơ chế thị trường song lại không biết nhu cầu thị trường; hai là, hộ nông dân cần vay vốn nhưng lại không đủ điều kiện để vay; ba là, năng suất tăng liên tục song thu nhập của nông dân lại tăng rất chậm; bốn là, nông dân

cần liên kết với doanh nghiệp song mỗi doanh nghiệp không thể liên kết trực tiếp với

hàng vạn hộ nông dân riêng lẻ; năm là, thị trường đòi hỏi nông sản phải có chứng nhận

chất lượng và xuất xứ hàng hóa, song các cơ quan quản lý chất lượng nông sản không

thể giám sát trực tiếp hàng triệu hộ nông dân riêng lẻ; sáu là, nông dân cần ứng dụng các

tiến bộ khoa học công nghệ song các tổ chức nghiên cứu khoa học không thể hướng dẫn trực tiếp cho hàng triệu hộ nông dân Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất giải pháp cơ bản

nhằm phát triển nông nghiệp bền vững đó là thành lập các hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới Nông dân liên kết qua hợp tác xã là mô hình cơ bản nhất để giữ được đất, bảo đảm

quyền lợi, quyền làm chủ của nông dân, từ đó, làm cơ sở để liên kết sản xuất ở mức độ cao hơn, có lợi cho nông dân hơn Qua liên kết thành lập liên hiệp hợp tác xã, vị thế của nông dân trong đàm phán mua bán trên thị trường đầu vào và đầu ra được thay đổi căn bản, là tiền đề để phân phối lại giá trị gia tăng của chuỗi sản xuất nông nghiệp

Tác giả Nguyễn Linh Khiếu (2017) trong bài viết “Vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng nông thôn mới” [90] đã khẳng định: ở Việt Nam hiện nay, nông dân là

chủ thể của quá trình xây dựng nông thôn mới, biểu hiện: i) Nông dân là chủ thể nhận thức thấm nhuần chủ trương, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

về xây dựng nông thôn mới; ii) Nông dân là chủ thể thực hiện các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế nông thôn; iii) Nông dân tích cực tham gia xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn; iv) Nông dân là chủ thể của mọi hoạt động văn hóa, xã

hội, trật tự, an ninh diễn ra ở nông thôn; v) Nông dân có vai trò quan trọng góp phần xây dựng hệ thống chính trị cơ sở

Tác giả Trần Thanh Giang (2017) trong bài viết “Phát huy vai trò của giai cấp nông dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [54] bên cạnh

khẳng định những kết quả đạt được, tác giả cũng chỉ ra những hạn chế, bất cập trong phát huy vai trò của giai cấp nông dân: vai trò kinh tế của giai cấp nông dân có biểu hiện giảm sút; phần lớn nông dân chưa được đào tạo nghề, tỷ lệ thiếu việc làm còn lớn; sự phân hóa

Trang 13

giàu nghèo có xu hướng tăng lên trong xã hội nông thôn Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của giai cấp nông dân trong thời kỳ đẩy mạnh

công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) ở Việt Nam, bao gồm: một là, tiếp tục triển

khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa X “về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” với quan điểm khẳng định vai trò chủ thể của nông dân trong phát triển nông

nghiệp, nông thôn và nêu bật trách nhiệm của Nhà nước với nông dân; hai là, tiếp tục

xây dựng, hoàn thiện các chính sách bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của nông dân;

ba là, tăng cường các giải pháp hỗ trợ nông dân đẩy mạnh sản xuất trong quá trình thúc

đẩy CNH, HĐH; bốn là, đẩy mạnh dân chủ hóa nhằm tăng cường tính chủ động, sáng

tạo của giai cấp nông dân trong giai đoạn hiện nay

Tác giả Thào Xuân Sùng (2018) trong bài viết “Xây dựng mẫu hình người nông dân thế hệ mới trong quá trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới” [139] đã khẳng định giai cấp nông dân Việt Nam có vị trí, vai trò quan trọng trong

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam đang đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Vì thế, xây dựng mẫu hình người nông dân thế hệ mới là nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi sự nỗ lực của mọi cấp, mọi ngành, trong đó có vai trò chủ đạo của Hội Nông dân Việt Nam Tác giả cũng đã chỉ rõ các nội dung cơ bản về xây dựng mẫu hình người nông dân thế hệ mới, bao gồm: giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân; biết giữ gìn và phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc, hợp tác và giúp đỡ nhau; có trình độ học vấn và kiến thức khoa học - kỹ thuật tiên tiến; biết kết hợp bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa lao động cần cù và sáng tạo, trọng nghĩa tình, kiên nhẫn và kiên cường

Tác giả Bùi Thị Vân Anh (2018) trong cuốn sách “Một số yếu tố tâm lý của người nông dân ảnh hưởng tới việc chuyển đổi phương thức sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại” [1] đã chỉ ra một số yếu tố tâm lý của người nông dân ảnh hưởng đến việc

chuyển đổi phương thức sản xuất nông nghiệp Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất một số biện pháp cơ bản nhằm giảm thiểu những yếu tố tâm lý có ảnh hưởng tiêu cực và phát huy những yếu tố tâm lý có ảnh hưởng tích cực đến phương thức sản xuất nông nghiệp

hiện đại: nâng cao nhận thức của người dân, đặc biệt là ý thức trách nhiệm của người sản

xuất nông nghiệp về sản phẩm an toàn; phát huy ý thức trách nhiệm của chính quyền với người dân liên quan đến việc cung cấp thông tin về giá cả thị trường cần sát thực, thường xuyên hơn; các biện pháp giảm thiểu tâm lý sản xuất manh mún của người dân hướng tới sản xuất quy mô lớn theo hướng hoạt động; tăng cường tính chủ động, giảm thiểu tính ỷ lại của người dân

Trang 14

Các tác giả Đặng Kim Khôi và Trần Công Thắng (chủ biên) (2019) trong cuốn

sách “Bức tranh sinh kế người nông dân Việt Nam trong thời kỳ hội nhập (1990-2018)”

[91] đã nghiên cứu phân tích bức tranh sinh kế hộ nông dân Việt Nam trên phạm vi cả nước, so sánh giữa các vùng sinh thái nông nghiệp chính, so sánh thành thị và nông thôn, trong một số trường hợp có so sánh giữa Việt Nam và quốc tế Nghiên cứu tập trung phân tích trong giai đoạn 30 năm đổi mới (1986-2018) nhưng tập trung phân tích sâu hơn

ở giai đoạn 1995-2018 Đây là giai đoạn Việt Nam bắt đầu quá trình sâu rộng về hội nhập quốc tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa, tác động sâu sắc đến sinh kế

hộ nông dân Đây cũng là giai đoạn các số liệu thứ cấp liên quan đến sinh kế hộ nông dân phong phú hơn Cuốn sách dựa trên khung phân tích sinh kế được sử dụng rộng rãi nhất là của Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID 2003) để đánh giá các khía cạnh về đời sống của người nông dân Việt Nam Các tác giả đã giải thích khái niệm “hộ nông dân Việt Nam”, mô tả các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh của các hộ nông dân ở Việt Nam (hộ kinh doanh, trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp) Trên cơ sở đó, nhóm tác giả tập trung phân tích hiện trạng sinh kế của hộ nông dân Việt Nam trên các khía cạnh chính: i) Thu nhập, chi tiêu, tích lũy; ii) Đất đai và tài sản; iii) Y tế, dinh dưỡng, thể trạng, học vấn; iv) Lao động và việc làm; v) Tương tác với chính sách và chính quyền; vi) Rủi ro và cơ chế ứng phó Cuối cùng, các tác giả đã đi sâu đánh giá cơ hội và thách thức trong chiến lược phát triển sinh kế bền vững của từng nhóm hộ nông dân chính tại Việt Nam; trên cơ sở đó đưa ra các định hướng chính sách để phát triển sinh kế hộ nông dân bền vững nhằm bảo vệ quyền lợi, nâng cao đời sống mọi mặt cho người nông dân

1.1.1.2 Các công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến cách mạng công nghiệp lần thứ tư

❖ Các công trình khoa học nước ngoài

Tác giả Klaus Schwab (2018) trong cuốn sách “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” [183] đã cung cấp những kiến thức cơ bản về CMCN 4.0 bao gồm: bối cảnh ra đời,

sự thay đổi sâu sắc, mang tính hệ thống của cuộc cách mạng này Bên cạnh đó, tác giả đã

đề cấp đến các xu hướng công nghệ của CMCN 4.0 thuộc ba nhóm chính là vật chất (xe

tự hành, in 3D, robot, vật liệu mới); kỹ thuật số (internet vạn vật - IoT) và sinh học (công nghệ gen) Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra những tác động của cuộc CMCN 4.0 đối với ngành kinh tế, doanh nghiệp, xã hội, cá nhân, đối với quốc gia và toàn cầu Tác giả cũng khẳng định ba mục tiêu chính của cuốn sách là: i) nâng cao nhận thức về tính toàn diện

và tốc độ của cuộc CMCN 4.0 và tác động đa chiều của nó; ii) xác lập một khuôn khổ tư

Trang 15

duy về cuộc CMCN 4.0 để xác định những vấn đề cốt lõi và nêu bật những giải pháp khả

thi; iii) thiết lập một nền tảng có thể thúc đẩy hợp tác và quan hệ đối tác công - tư trong

Các tác giả Min Xu, Jeanne M David& Suk Hi Kim (2018) trong bài viết “The Fourth Industrial Revolution: Opportunities and Challenges” (Cuộc cách mạng công

nghiệp lần thứ tư: Cơ hội và thách thức) [194] đã khái quát đặc trưng cơ bản của cuộc CMCN 4.0 là sự hợp nhất của các công nghệ đang làm mờ ranh giới giữa các lĩnh vực vật lý, kỹ thuật số và sinh học Cuộc cách mạng này đang phát triển theo cấp số nhân chứ không phải tốc độ tuyến tính Những cơ hội mà cuộc cách mạng này đem lại là: giảm bớt khoảng cách giữa những phát minh công nghệ với thị trường; xu hướng gia tăng trí tuệ nhân tạo; các công nghệ tiên tiến sẽ tích hợp các ngành khoa học và kỹ thuật khác nhau; cải thiện chất lượng cuộc sống nhờ rôbốt; Internet vạn vật (IoT) là mạng liên kết các thiết

bị vật lý Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng chỉ ra những thách thức mà cuộc CMCN 4.0 mang lại: phá vỡ thị trường lao động, mang lại sự bất bình đẳng về thu nhập giữa lao động trình độ cao với lao động công nghệ thấp; mối đe dọa đối với an ninh mạng

❖ Các công trình khoa học trong nước

Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (2016) trong “Báo cáo tổng hợp cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư: Một số đặc trưng, tác động và hàm ý chính sách đối với Việt Nam” [130] đã chỉ ra một số đặc trưng cơ bản của cuộc CMCN 4.0: kết hợp

giữa các hệ thống ảo và thực thể; qui mô rộng hơn và tốc độ phát triển nhanh chưa có tiền lệ trong lịch sử nhân loại; tác động mạnh mẽ và toàn diện đến thế giới đương đại Bên cạnh đó, bản báo cáo cũng phân tích một số tác động của cuộc CMCN 4.0 đến phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đưa ra kiến nghị những chính sách nhằm tận dụng tốt cơ hội và vượt qua những thách thức mà cuộc cách mạng này đem lại cho nước ta: cần tăng cường nâng cao nhận thức của các cơ quan hoạch định chính sách cũng như khu vực doanh nghiệp và khu vực ngân hàng về cuộc

Trang 16

CMCN 4.0; cần có những thay đổi căn bản trong điều hành tỷ giá theo hướng linh hoạt

và mang tính thị trường hơn để giúp cải thiện năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp; cần xem xét việc đánh thuế tài sản để có thêm nguồn ngân sách dành cho an sinh xã hội; nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ, khuyến khích đổi mới sáng tạo; thực hiện chính sách công nghiệp phù hợp; thực hiện cải cách mạnh hệ thống giáo dục, đào tạo

Trong kỷ yếu hội thảo “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề đặt ra đối với phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam” [7] do Viện Hàn lâm Khoa học

và xã hội Việt Nam, Ban Kinh tế Trung ương cùng với tổ chức Liên Hợp Quốc tại Việt Nam biên soạn năm 2016, các nhà khoa học đã đưa ra quan niệm về CMCN 4.0, đi sâu phân tích, đánh giá tác động của cuộc CMCN 4.0 đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam (thời cơ và thách thức) Trong đó, nhiều bài viết quan tâm đến đến tác động của CMCN 4.0 đến lĩnh vực lao động, việc làm ở nước ta Các tác giả cho rằng thách thức lớn nhất đối với lao động, việc làm ở Việt Nam hiện nay là cơ cấu lao động lạc hậu và trình độ lao động thấp, người lao động có nhiều nguy cơ bị mất việc làm dẫn đến phá vỡ cấu trúc thị trường lao động

Tác giả Nguyễn Văn Bình (chủ biên) (2017) trong cuốn sách “Việt Nam với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư” [12] đã cho rằng: CMCN 4.0 là cuộc cách mạng

“…dựa trên nền tảng số hóa của cuộc CMCN 3.0 nhưng mang một bản chất khác Đó là việc máy móc đã bắt đầu thay thế, trợ giúp cho sức suy nghĩ, tư duy hay năng lực trí tuệ của con người Điều này sẽ tạo ra những thay đổi chưa từng có và được cho là sẽ tạo ra một bước ngoặt mới trong phát triển kinh tế - xã hội.” [12, tr.29] Tác giả cũng đã đề cập đến từng ngành nghề mũi nhọn trong nền kinh tế Việt Nam như: ngành chế biến, chế tạo, ngành công nghiệp năng lượng, ngành ngân hàng, ngành du lịch, ngành giáo dục, ngành phát triển thương mại kỹ thuật số trước cuộc cách mạng này

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2017) với cuốn sách “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư thời cơ và thách thức đối với Việt Nam” [70] Cuốn sách tập trung

vào làm rõ hơn bản chất, đặc trưng hay biểu hiện của cuộc CMCN 4.0, những tác động

có tính quyết định mà cuộc cách mạng này sẽ tạo ra Có tác giả cho rằng “công nghiệp 4.0” là nền công nghiệp của các nhà máy thông minh và của chuỗi giá trị toàn cầu trong sản xuất - dịch vụ - kinh doanh” [70, tr.28]; “Về bản chất, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là cuộc cách mạng số hóa, thông qua các công nghệ như Internet vạn vật (Iot), trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo (VR), tương tác thực tại - ảo (AR), mạng xã hội, điện toán đám mây, di động, phân tích dữ liệu lớn (SMAC)… để chuyển hóa toàn bộ thế giới thực thành thế giới số.” [70, tr.45] Từ đó, các tác giả chỉ ra một số ngành nghề chịu ảnh

Trang 17

hưởng trực tiếp bởi cuộc cách mạng này sẽ biến mất, nhưng theo đúng quy luật của xã hội loài người một số ngành nghề mới sẽ ra đời thay thế và làm mới nền kinh tế, kéo theo nhiều lao động thủ công mất đi việc làm… Là một cơ sở nghiên cứu và giảng dạy nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng, dưới góc nhìn mang tầm triết học, các tác giả đã vạch ra rất rõ “hình hài” của cuộc CMCN 4.0, và khẳng định nếu như “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và thứ hai là hai cuộc cách mạng tạo lập nền tảng kinh tế, kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản” thì “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba và thứ tư là hai cuộc cách mạng công nghiệp tạo ra tiền đề kinh tế, kỹ thuật cho hình thái kinh tế xã hội mới - chủ nghĩa cộng sản” [70, tr.146]

Tác giả Trần Thị Vân Hoa và các cộng sự (2017) trong cuốn sách “Cách mạng công nghiệp 4.0 - vấn đề đặt ra cho phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của Việt Nam” [68] đã trình bày bối cảnh ra đời, đặc điểm và bản chất của cuộc CMCN 4.0

bao gồm: sự cộng tác chặt chẽ giữa người và máy móc; quá trình sản xuất có thể được nhìn thấy từ các hình ảnh của nhà máy; nguyên tắc kiểm soát phân cấp được thực hiện triệt để; năng lực sản xuất xét về mặt thời gian sẽ được cải thiện đáng kể; mô hình dịch

vụ cấp tiến được sử dụng; khả năng tách biệt trở thành một đặc điểm độc đáo của hệ thống sản xuất linh hoạt Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng đề cập đến các xu hướng công nghệ của CMCN 4.0 bao gồm: công nghệ in 3D, internet kết nối vạn vật, dữ liệu lớn, trí thông minh nhân tạo, chuỗi khối và công nghệ sinh học Đồng thời, nội dung cuốn sách cũng đề cập đến kế hoạch hành động của một số quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới ứng phó với CMCN 4.0 và một số lưu ý đối với Việt Nam; khẳng định những cơ hội, thách thức và yêu cầu đặt ra của cuộc cách mạng này đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đã đưa ra phương hướng và các nhóm giải pháp nhằm xây dựng và phát triển năng lực đổi mới sáng tạo phù hợp để tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức của CMCN 4.0 ở Việt Nam trong thời gian tới, bao gồm: nhóm giải pháp nâng cao nhận thức; xây dựng, lựa chọn chiến lược và tầm nhìn lâu dài, phát triển quốc gia thông minh; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tăng cường năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia; xây dựng hạ tầng kỹ thuật; nhóm giải pháp về thể chế chính sách

Tác giả Nguyễn Hoàng Hà (2017) trong bài viết “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư: Thách thức và cơ hội cho phát triển” [56] đã đi sâu tìm hiểu về những đặc trưng cơ

bản của CMCN 4.0 bao gồm: 1) Những tiến bộ căn bản trong thế giới thực (vật lý) với

sự phát triển của các thiết bị tự động hóa, công nghệ in 3D, rô-bốt hiện đại và các dạng

vật liệu mới; 2) Những tiến bộ vượt bậc về thế giới số (ảo) làm tăng khả năng tương tác

với thế giới thực nhờ phát triển của internet vạn vật kết nối (IoT) và sự ra đời của các

Trang 18

cảm biến hiện đại; 3) Những đột phá về thế giới sinh vật với việc xây dựng biểu đồ gen

tiết kiệm rất nhiều nguồn lực tài chính và thời gian so với trước Bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích một số tác động chính của CMCN 4.0 đối với hoạt động sản xuất và thương mại, lĩnh vực sinh học, y học và năng lượng, lĩnh vực văn hóa, xã hội Trên cơ sở

đó, tác giả đã chỉ rõ những cơ hội và thách thức mà cuộc cách mạng này đem lại cho Việt Nam Để tận dụng được những cơ hội và đối phó với những thách thức từ cuộc CMCN 4.0 tác giả đã chỉ ra một số gợi ý chính sách bao gồm: cần xây dựng nhận thức chung trong toàn xã hội đối với những thay đổi nhanh chóng do CMCN 4.0 đem lại; đổi mới thể chế, hoàn thiện môi trường pháp lý; rà soát và đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng của nền kinh tế theo hướng đón đầu, lựa chọn và đi thẳng vào khai thác sử dụng những thành tựu công nghệ của cuộc CMCN 4.0; xây dựng và thực hiện chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực hội nhập cho doanh nghiệp Việt Nam; đổi mới lĩnh vực giáo dục, đào tạo, dạy nghề theo hướng hội nhập quốc tế; xây dựng những kịch bản nhằm thích ứng với tình hình thay đổi do cuộc cách mạng này đem lại

Tác giả Nguyễn Đắc Hưng (2018) với cuốn sách chuyên khảo “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và vấn đề đặt ra với Việt Nam” [85] cho rằng, một vấn đề quan

trọng đặt ra đối với các quốc gia, dân tộc trong bối cảnh CMCN 4.0 đó là: chất lượng nguồn nhân lực, bởi tương lai sẽ diễn ra sự chuyển dịch cơ cấu lao động Theo số liệu của Ngân hàng Anh quốc dự báo rằng “khoảng 95 triệu lao động phổ thông bị mất việc trong vòng 10 - 20 năm tới tại Mỹ và Anh, tương đương khoảng 50% lực lượng lao động tại hai nước này” [85, tr.366, 367]; tất nhiên, không chỉ có lao động phổ thông sẽ bị mất việc làm mà phân tầng xã hội sẽ ngày càng trở nên sâu sắc dẫn đến những bất bình đẳng lớn trong xã hội

Tác giả Phạm Thuyên (2020) trong cuốn sách “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” [160] đã tập

trung phân tích bản chất và tác động của CMCN 4.0, nhấn mạnh mối liên hệ giữa CMCN 4.0 với CNH, HĐH; phân tích thực trạng quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam, nhất

là từ thời kỳ đổi mới đến nay; đánh giá những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó trong quá trình thực hiện CNH, HĐH; làm rõ bối cảnh, đưa ra quan điểm, mục tiêu, mô hình, đề xuất “các kịch bản phát triển” để điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế, xác định ngành mũi nhọn và hệ thống các giải pháp tổ chức thực hiện

Tác giả Phan Xuân Dũng (2018) trong cuốn sách “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư - Cuộc cách mạng của sự hội tụ và tiết kiệm” [41] đã đi sâu nghiên cứu bối cảnh ra

đời, bản chất, xu hướng công nghệ và những công nghệ nền tảng của cuộc CMCN 4.0

Trang 19

Bên cạnh đó, tác giả đã đề cập đến chính sách của một số nước ứng phó với CMCN 4.0 (Đức, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore ) và một số ứng dụng của trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, dữ liệu lớn, internet vạn vận kết nối Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số tiếp cận và ứng dụng công nghệ của Việt Nam trong bối cảnh CMCN

4.0 Đồng thời, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm thích ứng với cuộc cách mạng này:

cần hiểu đầy đủ và đúng bản chất của CMCN 4.0 để có lộ trình và giải pháp phát triển đất nước một cách khoa học; cần đổi mới tư duy và thực hiện quy hoạch phát triển một cách đồng bộ, phải mạnh dạn có cách nhìn đột phá; phát triển nội lực Việt Nam dựa trên nền tảng trí tuệ Việt Nam; coi sự đổi mới công nghệ, đổi mới sáng tạo là linh hồn của sự tiến bộ khoa học và công nghệ, là động lực cơ bản để xây dựng đất nước; trong quá trình đổi mới phải cố gắng tiến nhanh nhưng phải vững chắc, không nóng vội; phải hình thành những sản phẩm chủ đạo mang sắc thái riêng, phải tạo nên những công nghệ mang

thương hiệu Việt, của trí tuệ Việt và cho người Việt

1.1.1.3 Các công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Cuộc CMCN 4.0 đã tác động sâu sắc tới mọi lĩnh vực, cũng như các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, trong đó có nông nghiệp, nông dân, nông thôn Cuộc cách mạng này không chỉ ảnh hưởng đến phương thức lao động sản xuất của nông dân mà còn tác động toàn diện đến nông thôn là địa bàn cư trú, môi trường sản xuất và môi trường sống

của nông dân

❖ Các công trình khoa học nước ngoài

Nhóm tác giả Matthieu De Clercq, Anshu Vats và Alvaro Biel (2018) trong bài

viết “Agriculture 4.0: the future of farming technology” (Nông nghiệp 4.0: Tương lai của

công nghệ canh tác) [193] đã khẳng định ngành nông nghiệp thế giới đang đối mặt với

nhiều thách thức như: sự gia tăng dân số dẫn đến nhu cầu về thực phẩm tăng lên; tài nguyên thiên nhiên có nguy cơ cạn kiện; biến đổi khí hậu phức tạp ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất nông nghiệp; tình trạng ô nhiễm môi trường; tình trạng nghèo đói bệnh tật Bên cạnh đó, nhóm tác giả đã khẳng định nền nông nghiệp 4.0 với các ứng dụng công nghệ hiện đại sẽ khắc phục được các thách thức nêu trên Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đã khẳng định vai trò của chính phủ đối với phát triển nông nghiệp trong bối cảnh

Trang 20

nghiệp và cơ hội khắc phục các điểm yếu về cấu trúc của hệ thống nông nghiệp hiện tại

và các giới hạn của nông nghiệp thâm canh Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra ba bước để tạo

ra sự thay đổi, bao gồm: i) Phân tích tác động của CMCN 4.0 đến hệ sinh thái nông nghiệp trên tất cả các mặt trận của nông nghiệp, các tác động đến đời sống nông thôn và nông nghiệp, và các tác động đến cấu trúc và công việc nông nghiệp; ii) Xem xét việc quản lý dữ liệu và ảnh hưởng của nó vì trong tương lai, dữ liệu sẽ là một tài nguyên và

dữ liệu cần được chuẩn hóa để dữ liệu nông nghiệp chất lượng có thể được sản xuất và quản lý liên tục; iii) Tạo điều kiện cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng hỗ trợ nông nghiệp dựa trên công nghệ hiện đại

Các tác giả Tejas G Patil, Sanjay P Shekhaw (2019) trong bài viết “Industry 4.0 implications on Agriculture Sector: An Overview” (Ý nghĩa của công nghiệp 4.0 đối với

ngành nông nghiệp: Tổng quan) [196] đã chỉ ra những ứng dụng công nghệ cơ bản của CMCN 4.0 trong lĩnh vực nông nghiệp như robot nông nghiệp, nông nghiệp chính xác, bluetooth “đèn hiệu”, GPS trong nông nghiệp, RFID trong nông nghiệp Bên cạnh đó, nhóm tác giả đã chỉ ra năm lợi ích của công nghiệp 4.0 trong lĩnh vực nông nghiệp: dữ

liệu được thu thập bởi các cảm biến nông nghiệp thông minh; kiểm soát tốt hơn các quy

trình sản xuất nông nghiệp và do đó, rủi ro sản xuất thấp hơn; quản lý chi phí và giảm

chất thải nhờ tăng cường kiểm soát sản xuất; tăng hiệu quả kinh doanh thông qua quá

trình tự động hóa; tăng số lượng và chất lượng nông sản

Nhóm các tác giả Rajesh Singh, Amit Kumar Thakur, Anita Gehlot, Ajay Kumar

Kaviti (2021) trong cuốn sách “Internet of Things for Agriculture 4.0 Impact and

Challenges” (Internet vạn vật cho nông nghiệp 4.0 Tác động và thách thức) [195] đã

cung cấp các ứng dụng và cách sử dụng đa dạng của wifi và Internet of Things (IoT) trong nông nghiệp Với việc truyền thông hỗ trợ internet ngày càng phổ biến rộng rãi, các trang trại và cơ sở sản xuất có thể tận dụng các công nghệ mới cho một loạt các trang trại hoạt động, không hạn chế như cây trồng quản lý, theo dõi nông trại, quản lý nuôi, giám sát lưu trữ…Thu thập dữ liệu từ các thiết bị này có thể được lưu trữ trong hệ thống đám mây hoặc máy chủ và người dân có thể truy cập thông qua internet hoặc điện thoại di động Cuốn sách này chỉ ra nhiều lợi ích cho nông dân từ áp dụng IoT, bao gồm toàn quyền sử dụng thông tin tốt hơn để giám sát cây trồng, tối ưu hóa việc sử dụng nước, lập kế hoạch chiến lược và phân tích hiệu quả, tiết kiệm thời gian và giảm chi phí vận hành

European Commission (Ủy ban Châu Âu) (2017) với chương trình “EU action for Smart Villages” (Hành động của EU đối với Làng thông minh) [189] đã đưa quan

Trang 21

niệm về “làng thông minh” trong bối cảnh CMCN 4.0 bao gồm: nông nghiệp chính xác, các nền tảng kỹ thuật số khác nhau (học tập điện tử, y tế điện tử, quản trị điện tử, giao thông, ẩm thực, dịch vụ xã hội, bán lẻ), nền kinh tế chia sẻ, nền kinh tế tuần hoàn giảm chất thải và tiết kiệm tài nguyên, kinh tế dựa trên sinh học, năng lượng tái tạo, du lịch nông thôn, đổi mới dịch vụ nông thôn Ủy ban Châu Âu đã đưa ra 16 hành động để thúc đẩy xây dựng các ngôi làng thông minh ở EU, tiêu biểu là Dự án thí điểm về Làng xã hội sinh thái thông minh mà trọng tâm là sự kết nối và các giải pháp kỹ thuật số; Dự án thí điểm các khu vực “Giao thông nông thôn thông minh” (SMARTA); Dự án IoF 2020 được dành riêng để đẩy nhanh việc áp dụng Internet of Things (IoT) nhằm đảm bảo đầy

đủ, thực phẩm an toàn và lành mạnh và để tăng cường khả năng cạnh tranh của các chuỗi nông nghiệp và thực phẩm ở Châu Âu; các mô hình kinh doanh cho nền kinh tế nông thôn hiện đại; Văn phòng năng lực băng rộng (BCO); Trung tâm đổi mới kỹ thuật

Food and Agriculture Organization of the United Nations (Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc) (2019) trong bản báo cáo “Digital technologies in agriculture and rural areas status” (Hiện trạng công nghệ số trong nông nghiệp và nông thôn) [191] đã khẳng định chuyển đổi số trong nông nghiệp và nông thôn là xu hướng tất yếu khách quan trong bối cảnh toàn cầu hóa và CMCN 4.0 Những điều kiện cơ bản để chuyển đổi số trong nông nghiệp, nông thôn, bao gồm: cơ sở hạ tầng và mạng công nghệ thông tin ở khu vực nông thôn; trình độ học vấn, kỹ năng số và việc làm trong các cộng đồng nông thôn; các chính sách và chương trình hỗ trợ nông nghiệp kỹ thuật số Bên cạnh đó, Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc cũng chỉ rõ những động lực cơ bản để chuyển đổi số nông nghiệp, nông thôn bao gồm: khả năng sử dụng công nghệ số của người dân nông thôn; kỹ năng số của cư dân nông thôn; doanh nghiệp nông nghiệp kỹ thuật số và sự đổi mới văn hóa Bản báo cáo cũng chỉ ra những công nghệ kỹ thuật số được ứng dụng rộng rãi vào phát triển nông nghiệp, nông thôn bao gồm: thiết bị di động và phương tiện truyền thông xã hội; nông nghiệp chính xác và công nghệ viễn thám, dữ liệu lớn, đám mây, phân tích và an ninh mạng; tích hợp và phối hợp; hệ thống thông minh (máy học

Trang 22

và Trí tuệ nhân tạo)…

❖ Các công trình khoa học trong nước

Tác giả Phạm S (2014) trong cuốn sách “Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao

là yêu cầu tất yếu để hội nhập quốc tế” [131] đã chỉ rõ tính tất yếu phát triển nông

nghiệp công nghệ cao, khái quát những mô hình nông nghiệp công nghệ cao ở một số nước, vùng lãnh thổ trên thế giới (Bỉ, Israel, Hà Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan,

Úc, Thái Lan) Tác giả cũng đã khái quát tình hình phát triển nông nghiệp công nghệ cao

ở Việt Nam (những kết quả đạt được, những hạn chế cơ bản), bài học thành công của các doanh nghiệp Tác giả đã đi sâu tìm hiểu khu công nghệ sinh học và nông nghiệp công nghệ cao Đà Lạt (Lâm Đồng) và chỉ ra những vấn đề cần quan tâm khi triển khai mô hình này ở Việt Nam, bao gồm: xác định cây trồng, vật nuôi có lợi thế của các địa phương; rà soát hiện trạng cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực phục vụ phát triển nông nghiệp công nghệ cao; xác định nguồn kinh phí đầu tư; đẩy mạnh công nghiệp chế biến gắn với thị trường; sản xuất nông sản an toàn; đa dạng hóa các loại hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao; xác định quy mô chương trình, xác định công nghệ phù hợp; xác định mức độ đầu tư hợp lý, phù hợp để có thị trường bền vững; quy hoạch khu sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; chính sách tín dụng có tính quyết định mở rộng quy mô sản xuất hàng hóa

Cũng tác giả Phạm S (2018) trong cuốn sách “Nông nghiệp thông minh 4.0 xu hướng tất yếu và cách tiếp cận của Việt Nam” [132] đã khái quát quá trình phát triển

của ngành nông nghiệp, dự báo những công nghệ cao định hình ngành nông nghiệp đến năm 2040 Tiếp theo, tác giả đã chỉ rõ vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế Việt Nam, những cơ hội và thách thức đối với ngành nông nghiệp nước ta trước yêu cầu của hội nhập quốc tế, từ đó, đề xuất những giải pháp cơ bản để nông nghiệp Việt Nam phát triển toàn diện, bền vững, hiện đại Bên cạnh đó, tác giả còn đề cập đến vấn đề sử dụng tài nguyên nông nghiệp thích ứng với tình hình biến đổi khí hậu để phát triển nông nghiệp bền vững; chỉ ra những vấn đề cần quan tâm khi xây dựng chương trình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở Việt Nam Nội dung cuốn sách cũng đề cập đến khái niệm, quá trình phát triển và các động lực chính của cuộc CMCN 4.0 Trên cơ sở đó, tác giả cũng đề cập đến quá trình phát triển nông nghiệp trên thế giới và tính tất yếu phải tiến hành nông nghiệp thông minh 4.0 Từ đó, tác giả liên hệ đến sự tiếp cận nông nghiệp thông minh 4.0 của nước ta và khuyến nghị công thức nông nghiệp thông minh 4.0 ở Việt Nam

Báo Nông thôn ngày nay - Dân Việt (2018) trong cuốn sách “Toàn cảnh nông

Trang 23

nghiệp 4.0 Việt Nam” [9] đã cung cấp cái nhìn toàn cảnh, tập hợp những ý kiến chỉ đạo,

đánh giá của các nhà lãnh đạo, nhà quản lý và các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực nông nghiệp hiện nay; đề cập đến các chính sách, cơ chế cho nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam Bên cạnh đó, cuốn sách cũng tôn vinh những nông dân mạnh dạn đi đầu ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất, cải thiện thu nhập Họ đại diện cho một thế hệ nông dân mới, dám nghĩ, dám làm, năng động, sáng tạo

Tác giả Lê Đăng Lăng và Cộng sự (2019) trong phần thứ nhất của cuốn sách

Hoạch định phát triển nông nghiệp công nghệ cao [94] đã trình bày tình hình nghiên cứu

nông nghiệp công nghệ cao trên thế giới và Việt Nam và sự ảnh hưởng của môi trường

vĩ mô đến phát triển nông nghiệp công nghệ cao Đây là cơ sở quan trọng để nghiên cứu phát triển nông nghiệp công nghệ cao của địa phương Phần thứ hai của cuốn sách đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Việt Nam; chỉ ra bức tranh nông nghiệp của Việt Nam với những mảng sáng và tối, đặc biệt là những thành tựu trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao của một số địa phương như Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đắk Nông, Long An, Tiền Giang Phần này cũng trình bày thái độ của nông dân đối với việc phát triển nông nghiệp công nghệ cao với những kỳ vọng và lo ngại, từ đó, dựa vào các

dữ liệu khảo sát các tác giả đã lý giải nguyên nhân có hiện tượng “được giá mất mùa, được mùa mất giá” với một số nông sản vào một số thời điểm cũng như gợi ý một số giải pháp khắc phục Cuối phần này, các tác giả đã phân tích thị trường tiêu thụ nông sản và gợi ý một số giải pháp cải thiện đầu ra cho một số nông sản chủ lực tại Việt Nam như cà phê, hồ tiêu,…Phần cuối của cuốn sách, các tác giả đã trình bày chiến lược phát triển nông nghiệp công nghệ cao của một địa phương, bao gồm: quan điểm, cơ sở, tầm nhìn, mục tiêu phát triển nông nghiệp công nghệ cao; kế hoạch triển khai phát triển nông nghiệp công nghệ cao với các giải pháp về vốn, chính sách hỗ trợ, công nghệ - kỹ thuật

và kết nối thị trường, xây dựng thương hiệu

1.1.2 Các công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Tác giả Trần Thị Minh Ngọc (chủ biên) (2010) trong cuốn sách “Việc làm của nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2020” [116] đã đưa ra một số vấn đề lý luận và các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm

của nông dân vùng ĐBSH trong quá trình CNH, HĐH Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đã phân tích, đánh giá những thuận lợi, khó khăn cũng những thành tựu và hạn chế trong

Trang 24

quá trình giải quyết việc làm cho nông dân vùng ĐBSH trong quá trình CNH, HĐH Từ

đó, nhóm tác giả đã đề ra một số giải pháp tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân trong vùng đến năm 2020

Tác giả Tô Văn Sông (2012) trong luận án “Nông dân vùng đồng bằng sông Hồng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn” [133] đã

làm rõ vai trò của nông dân vùng ĐBSH trong sự nghiệp CNH, HĐH: i) Nông dân đóng vai trò chủ thể trong sản xuất nông nghiệp và là lực lượng đi đầu trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế; ii) Nông dân là đối tác quan trọng của khối liên minh công, nông và các tầng lớp nhân dân lao động; iii) Nông dân là lực lượng cơ bản trong thực hiện giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh trật tự xã hội, thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở; iv) Nông dân là chủ thể trực tiếp xây dựng nông thôn mới, phát triển nông nghiệp bền vững

và xây dựng đời sống văn hóa - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái vùng Tác giả cũng nêu rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với việc phát huy vai trò của nông dân trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, đồng thời đề xuất một số phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục phát huy vai trò của nông dân vùng ĐBSH đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Tác giả Nguyễn Thị Thanh Loan (2016) trong cuốn sách “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh hội nhập quốc tế” [99]

đã tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong hội nhập kinh tế quốc tế; phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh

tế ngành nông nghiệp vùng ĐBSH trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế những năm gần đây gắn với những mối quan hệ chủ yếu, phát hiện các vấn đề đặt ra; từ đó đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp nhằm đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông

nghiệp của vùng trong bối cảnh mới của hội nhập kinh tế quốc tế Thứ nhất, nâng cao

chất lượng quy hoạch phát triển nông nghiệp, phát huy lợi thế so sánh để khai thác và sử

dụng có hiệu quả các nguồn lực Thứ hai, tập trung phát triển nông nghiệp công nghệ cao, tạo động lực cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Thứ ba, tăng cường ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ phù hợp với đặc điểm của vùng ĐBSH Thứ tư,

đa dạng hóa các hình thức tổ chức kinh tế trong khu vực nông nghiệp, nông thôn phù

hợp với cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế Thứ năm, tạo việc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trên địa bàn nông nghiệp, nông thôn Thứ sáu, tiếp tục đổi

mới, kiện toàn và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách thúc đẩy chuyển dịch cơ

cấu kinh tế nông nghiệp Thứ bảy, xây dựng cơ chế điều phối nhằm phát huy tối đa lợi

thế của từng địa phương trong vùng ĐBSH

Trang 25

Tác giả Phạm Văn Hiển (2016) trong bài viết “Giải pháp phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trong nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng” [64] đã

khẳng định đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trong nông nghiệp vừa là yêu cầu cơ bản lâu dài, vừa là giải pháp chủ yếu để thực hiện thành công

đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng giá trị gia tăng và phát triển bền vững ở nước ta nói chung, vùng ĐBSH nói riêng Từ việc đánh giá thực trạng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trong nông nghiệp ở các địa phương vùng ĐBSH hiện nay cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu, tác giả bài viết đã đề xuất một số giải pháp cơ

bản nhằm thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực này trong thời gian tới, bao gồm: nhất quán

về nhận thức đối với vấn đề phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trong nông nghiệp ở tất cả các cấp, các ngành và các địa phương trong vùng ĐBSH; xây dựng quy hoạch phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trong nông nghiệp; thực hiện tốt công tác đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trong nông nghiệp; xây dựng chính sách trọng dụng nhân tài trong nông nghiệp; quan tâm đầu tư thỏa đáng về cơ sở vật chất và tài chính cho phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trong nông nghiệp

Tác giả Khuất Thị Vâng (2017) trong bài viết “Phát huy vị thế chủ thể của nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay” [180] đã khẳng định ĐBSH là một trong những vùng kinh tế trọng điểm, trung tâm

chính trị, văn hóa của cả nước Vùng hiện nay đang là điểm nóng và điển hình của vấn

đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn ở Việt Nam Việc phát huy vị thế, vai trò của nông dân vùng ĐBSH với tư cách là chủ thể của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn có ý nghĩa quan trọng đặc biệt Tác giả cũng đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục phát huy vị thế chủ thể của nông dân vùng ĐBSH trong quá trình CNH, HĐH hiện nay: nâng cao trình độ dân trí và dân sinh, ý chí tự lực, tự cường cho nông dân; thực hiện tốt quyền dân chủ của nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích cho nông dân; phát triển nông nghiệp hàng hóa theo chuỗi giá trị, đồng thời thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội đối với nông dân; phát huy vai trò của cấp ủy đảng và Hội Nông dân các cấp

Tác giả Nguyễn Thị Thu (2017) trong bài viết “Đặc điểm của quá trình công nhân hóa nông dân vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [143] đã khẳng định công nhân hóa nông dân vùng ĐBSH có tầm quan trọng

đặc biệt, góp phần vào việc xây dựng và phát triển giai cấp công nhân, trực tiếp nâng cao chất lượng giai cấp nông dân, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của vùng Bài viết đã làm rõ những bốn đặc điểm cơ bản của quá trình

Trang 26

công nhân hóa nông dân vùng ĐBSH thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa,

bao gồm: i) Công nhân hóa nông dân vùng ĐBSH diễn ra với tốc độ nhanh, gắn liền với quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, đô thị hóa nông thôn của vùng; ii) Công nhân hóa nông

dân vùng ĐBSH diễn ra trên phạm vi rộng lớn, có quy mô dân số đông; iii) Công nhân hóa nông dân vùng ĐBSH có cơ cấu và phân bố không đều giữa các tỉnh; iv) Công nhân hóa nông dân vùng ĐBSH góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH của vùng

Tác giả Trần Xuân Hòa (2016) trong bài viết “Vấn đề phát triển nông nghiệp

công nghệ cao vùng đồng bằng sông Hồng” [69] đã khẳng định: nông nghiệp công nghệ

cao được hiểu là nền nông nghiệp được áp dụng những công nghệ mới vào sản xuất, bao gồm: công nghiệp hóa nông nghiệp, tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học và các giống cây trồng, giống vật nuôi có năng suất và chất lượng cao, đạt hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích và phát triển bền vững trên

cơ sở canh tác hữu cơ Phát triển nông nghiệp công nghệ cao sẽ tạo nền tảng quan trọng đưa nền nông nghiệp vùng ĐBSH lên một tầm cao mới Hiện nay, vùng ĐBSH đã hình thành một số khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nhưng hiệu quả đạt được chưa cao Nguyên nhân chủ yếu là do: chính quyền cơ sở chưa đủ quyết tâm; lựa chọn mô hình, sản phẩm để sản xuất chưa phù hợp; khả năng tài chính chưa đủ mạnh để thực hiện đầu tư hạ tầng và thu hút doanh nghiệp Trên cơ sở đó, tác giả đã đã đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển nông nghiệp công nghệ cao vùng ĐBSH trong bối cảnh

CMCN 4.0 Thứ nhất, tiếp tục tìm hiểu những quy định của WTO và dựa trên những

cam kết liên quan đến nông nghiệp khi gia nhập WTO, để đánh giá đúng sức cạnh tranh hiện tại và tương lai của từng mặt hàng nông sản, từ đó đưa ra các biện pháp hỗ trợ phù

hợp khi tham gia thị trường thế giới Thứ hai, đổi mới tổ chức sản xuất nông nghiệp theo

hướng đề cao vai trò của doanh nghiệp nông nghiệp, cụ thể là đưa các doanh nghiệp này

vào vị trí đứng mũi chịu sào theo mô hình sản xuất “con thuyền lớn” Thứ ba, thực hiện

sách lược “đứng trên vai người không lồ”, tận dụng khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm

của các nước đi trước đã thành công trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao Thứ

tư, Nhà nước phải cần định vai trò quan trọng từ những quyết sách đầu tư dựa trên sự

phân tích thị trường và đầu tư cho sản xuất các sản phẩm tinh hoa; tập trung nghiên cứu cặn kẽ và sâu sắc thị trường trước khi triển khai các mô hình nông nghiệp công nghệ cao; xây dựng chuỗi sản phẩm khép kín từ đồng ruộng đến thị trường dựa trên công nghệ tiếp

thị và công nghệ sản xuất cao, có sức cạnh tranh mạnh mẽ Thứ năm, xác định mũi nhọn

trong sản xuất nông nghiệp của vùng ĐSBH, trong đó, đặc biệt chú ý đến phát triển sản

Trang 27

xuất nông nghiệp thâm canh cao, công nghệ cao, nâng cao giá trị thu nhập trên diện tích

canh tác và cung cấp sản phẩm có chất lượng tốt đến tay người tiêu dùng Thứ sáu, phát

triển nông nghiệp công nghệ cao cần triển khai thực hiện trên những cánh đồng lúa quy

mô tập trung; phát triển lúa hàng hóa chất lượng cao, vùng rau, hoa công nghệ cao, xây

dựng thương hiệu cho nông sản vùng Thứ bảy, thực hiện nghiêm túc các cam kết của

WTO, nâng cao giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị nông sản và đẳng cấp của sản

phẩm Thứ tám, thu hút nguồn nhân lực trẻ có trình độ chuyên môn trong lĩnh vực nông

nghiệp công nghệ cao

Nhóm tác giả Chí Vịnh, Thái Sơn (2017) trong bài viết “Sản xuất nông nghiệp

công nghệ cao ở vùng đồng bằng sông Hồng” [181] đã khẳng định: phát triển nông

nghiệp công nghệ cao được xác định là “chìa khoá” giúp vùng ĐBSH tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại và phát triển bền vững Trong bối cảnh CMCN 4.0, mặc dù vùng ÐBSH đã và đang hình thành một số khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nhưng những mô hình có quy mô lớn, mang lại hiệu quả kinh

tế cao còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của vùng Phần lớn các

mô hình sản xuất nông nghiệp trong vùng mới chỉ phát triển theo hướng công nghệ cao, chưa phải là mô hình nông nghiệp công nghệ cao thật sự Nhiều mô hình của người dân hiện nay mới dừng lại ở việc làm nhà màng, nhà kính, hệ thống tưới nước tự động Để phát triển mô hình nông nghiệp công nghệ cao ở vùng ĐBSH cần có sự tham gia của các doanh nghiệp lớn, hội tụ những nguồn lực cần và đủ để sản xuất nông nghiệp một cách chuyên nghiệp Phải lấy doanh nghiệp làm trung tâm đổi mới sáng tạo, xây dựng và triển khai các cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học và công nghệ vào làm nông nghiệp

Nhóm tác giả Bảo Trung, Hoàng Hùng, Tuấn Ngọc và Vinh Phương (2018) trong

bài viết “Mô hình nông nghiệp công nghệ cao ở đồng bằng sông Hồng” [168] đã khẳng

định: trong bối cảnh CMCN 4.0, ở vùng ĐBSH, nhờ ứng dụng những công nghệ tiên

tiến, hiện đại trên những “bờ xôi ruộng mật” chuyên trồng lúa trước đây ở các tỉnh Hà Nam, Hải Dương, Thái Bình, Bắc Ninh… đã hình thành các cánh đồng công nghệ cao, cho ra những sản phẩm sạch, chất lượng cao, tạo thu nhập hàng tỷ đồng/ha/năm Nhóm tác giả đã khảo sát một số mô hình điển hình như: Cánh đồng nông nghiệp công nghệ cao sản xuất dưa lưới của Công ty cổ phần giống cây trồng Trung ương được đặt tại xã Nhân Khang, huyện Lý Nhân (Hà Nam); Dự án ứng dụng hệ thống tưới nước tự động theo công nghệ tiên tiến cho các vùng chuyên trồng rau màu tại một số xã tại huyện Thanh Miện (Hải Dương) với quy mô 170 ha Trên cơ sở khảo sát thực tế từ những cánh

Trang 28

đồng áp dụng công nghệ cao ở vùng ĐBSH, các tác giả khẳng định: để nhân rộng những

mô hình này, ngoài sự mạnh dạn đầu tư của doanh nghiệp, rất cần sự vào cuộc quyết liệt của Nhà nước và chính quyền các cấp trong tháo gỡ khó khăn về tích tụ đất đai và chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, nông dân

Các tác giả Nguyễn Vĩnh Thanh, Nguyễn Quang Hồng (2017) trong bài viết

“Liên kết kinh tế trong thị trường nông thôn ở đồng bằng sông Hồng” [142] đã chỉ ra các

hình thức liên kết kinh tế trong nông nghiệp bao gồm: liên kết đầu tư đầu vào và tiêu thụ nông sản cho nông dân; liên kết đầu tư đầu vào nhưng không tiêu thụ sản phẩm đầu ra; hình thức tiêu thụ nông sản không đầu tư Các chủ thể chính tham gia thị trường nông thôn gồm có: hộ gia đình nông dân, hợp tác xã nông nghiệp và các doanh nghiệp nông nghiệp Từ đó, nhóm tác giả đi vào phân tích thực trạng liên kết “ba bên” (hộ nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp) ở vùng ĐBSH qua khảo sát ba tỉnh Hải Dương, Hà Nam và Thái Bình Nhờ liên kết “ba bên” mà các hộ gia đình có vật tư nông nghiệp ổn định, kỹ thuật canh tác đảm bảo năng suất và chất lượng nông sản đáp ứng yêu cầu của thị trường

Từ đó, các doanh nghiệp nông nghiệp có nguồn cung cấp nguyên liệu cho chế biến và xuất khẩu ổn định Hợp tác xã cùng yên tâm đầu tư phát triển các dịch vụ giúp làm cầu nối hiệu quả giữa khâu sản xuất với khâu tiêu thụ Quan hệ liên kết “ba bên” sẽ đảm bảo cho nông nghiệp vùng ĐBSH phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa và thúc đẩy CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Để quan hệ liên kết “ba bên” trong kinh tế thị trường nông thôn vùng ĐBSH đạt hiệu quả cao và ngày càng bền chặt, nhóm tác giả đã đề xuất các giải pháp như: đẩy mạnh công tác tuyên truyền để người dân hiểu rõ tính bền vững, hiệu quả của các mô hình liên kết; làm tốt công tác khảo sát thị trường, thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia ký kết hợp đồng tiêu thụ nông sản để người dân yên tâm đầu tư sản xuất; chính sách thu hút, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp; cơ chế, chính sách tích tụ ruộng đất; quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa tập trung, nhằm tạo ra nông sản chất lượng cao; thường xuyên tập huấn chuyển giao tiến

bộ kỹ thuật, chú trọng công tác hướng dẫn, giám sát việc thực hiện các mô hình liên kết hiệu quả

Tác giả Bùi Thị Nga và cộng sự (2019) trong bài viết “Giải pháp thúc đẩy hiệu quả liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp trong xây dựng nông thôn mới ở đồng bằng sông Hồng” [113] đã khẳng định: trong quá trình xây dựng nông thôn mới, vùng ĐBSH đã đạt

được nhiều thành tựu quan trọng trong quá trình xây dựng nông thôn mới, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp ở vùng ĐBSH Hiệu quả của liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp trong xây dựng nông thôn mới vùng ĐBSH được

Trang 29

thể hiện qua việc cơ cấu lại hình thức tổ chức theo hướng đa dạng hóa, liên kết theo chuỗi giá trị; cơ cấu lại quy mô sản xuất theo hướng tăng cường quy mô hàng hóa; ruộng đất được tích tụ thông qua khâu đột phá là dồn điền đổi thửa và xây dựng được nhiều cánh đồng mẫu lớn để phục vụ sản xuất hàng hóa chuyên canh theo chuỗi giá trị; tạo điều kiện cơ giới hóa và ứng dụng khoa học công nghệ thuận lợi hơn, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị của sản phẩm Nhóm tác giả đã giới thiệu 3 mô hình liên kết chuỗi giá trị thành công ở vùng ĐBSH, đó là: i) Mô hình liên kết chuỗi giá trị sữa bò tươi tại huyện Lý Nhân (Hà Nam); ii) Mô hình liên kết sản xuất gạo sạch tại huyện Ý Yên (Nam Định); iii) Mô hình liên kết chuỗi giá trị thịt lợn tại huyện Chương Mỹ (Hà Nội) Trên cơ

sở đó, các tác giả đã chỉ ra một số hạn chế và nguyên nhân cản trở việc nâng cao hiệu quả liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp vùng ĐBSH, đó là: sản xuất nhỏ vẫn phổ biến, sản xuất hàng hóa chưa được chuyên môn hóa cao; vai trò của hợp tác xã trong tăng cường

và thúc liên kết chuỗi chưa thực sự hiệu quả ở nhiều nơi; việc ứng dụng khoa học công nghệ và cơ giới hóa vẫn còn hạn chế Để thúc đẩy hiệu quả liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp, nhóm tác giả đã đề xuất bốn nhóm giải pháp, bắt đầu từ xuất phát điểm của chuỗi

đó là giải pháp từ phía chính những người sản xuất, cho đến các tác nhân tham gia trong chuỗi như những cơ sở thu gom, chế biến, từ các doanh nghiệp, các hợp tác xã và ngay

cả các tác nhân có tác động đến chuỗi như các tổ chức hỗ trợ kỹ thuật, chính quyền địa phương và trung ương

Các tác giả Lê Thành Ý, Vương Xuân Nguyên (2019) trong bài viết “Nông dân đồng bằng sông Hồng với xây dựng hợp tác xã nông nghiệp” [185] đã khẳng định trong

bối cảnh hiện nay, nông dân vùng ĐBSH không còn là những hộ sản xuất tự cung, tự cấp

mà đã từng bước chuyển sang sản xuất nông sản hàng hoá Kinh tế hộ nông dân dần phá

vỡ vỏ bọc khép kín để tạo ra nhiều nông sản hàng hoá trao đổi trên thị trường, đã góp phần thúc đẩy mạnh quá trình chuyên môn hoá, phân công lao động sản xuất, cũng như khai thác sử dụng đất đai với hiệu quả cao hơn Thích ứng với trình độ phát triển của lực lượng lao động nông thôn, mô hình kinh tế tập thể và tổ chức hợp tác xã nông nghiệp ở ĐBSH đã phát triển với nhiều loại hình phong phú, chuyển biến này đã đóng góp thiết thực vào tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới trong vùng

Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đã phân tích thực trạng phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở ĐBSH, dẫn chứng những mô hình tiêu biểu như: mô hình chuyển đổi của hợp tác xã sản xuất kinh doanh dịch vụ nông nghiệp xã Bình Định (huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình); mô hình hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và kinh doanh tổng hợp Đông Tiến (xã Hải Đông, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định); mô hình hợp tác xã sản xuất và thương

Trang 30

mại thuỷ sản Xuyên Việt (xã Hồng Hưng, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương); mô hình hợp tác xã Cựu Chiến Binh Vạn Xuân Trường (xã Hiển Khánh, huyện Vụ Bản, tỉnh

Nam Định); mô hình hợp tác xã nông nghiệp hữu cơ Đồng Phú (huyện Chương Mỹ,

thành phố Hà Nội)

Tác giả Trần Thanh Quang (2019) trong luận án “Tập trung ruộng đất để phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở tỉnh Thái Bình” [126] đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của tập trung ruộng đất để phát triển nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn cấp tỉnh; đánh giá thực trạng tập trung ruộng đất để phát triển nông nghiệp công nghệ cao

ở tỉnh Thái Bình giai đoạn 2011 - 2017 và nêu rõ những vấn đề đặt ra Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất những quan điểm và giải pháp về tập trung ruộng đất để phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở tỉnh thái bình đến năm 2025

Tác giả Đặng Thanh Phương (2020) trong luận án “Giải quyết việc làm của nông dân ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hóa” [123] đã phân tích cơ sở lý luận và

thực tiễn về giải quyết việc làm của nông dân ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hóa hiện nay; đánh giá thực trạng giải quyết việc làm của nông dân ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hóa hiện nay và nêu rõ những vấn đề đặt ra Trên cơ sở đó, tác giả

đề xuất những quan điểm cơ bản, giải pháp chủ yếu và một số khuyến nghị nhằm giải quyết việc làm bền vững của nông dân ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hóa trong thời gian tới (định hướng đến năm 2025)

1.2 KHÁI QUÁT KẾT QUẢ CHỦ YẾU CỦA CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ TỔNG QUAN VÀ NHỮNG NỘI DUNG LUẬN ÁN CẦN TẬP TRUNG NGHIÊN CỨU

1.2.1 Những giá trị tham khảo từ những công trình có liên quan đến đề tài luận án

1.2.1.1 Những giá trị tham khảo từ các công trình nghiên cứu lý luận chung

về giai cấp nông dân và cách mạng công nghiệp lần thứ tư

❖ Các công trình nghiên cứu về nông dân và vai trò của giai cấp nông dân Việt Nam

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn là vấn đề vừa có tính lý luận, vừa có giá trị thực tiễn to lớn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước ta Nó thu hút đông đảo các nhà khoa học trong nước tập trung nghiên cứu và những nghiên cứu này đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần làm sáng tỏ những nội dung cơ bản sau:

- Những vấn đề lý luận về giai cấp nông dân Việt Nam, vị trí, vai trò của giai cấp nông dân trong công cuộc xây dựng CNXH; trong sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp,

Trang 31

nông thôn; trong quá trình giải quyết các vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và xây dựng nông thôn mới đã được các công trình phân tích rõ

- Các công trình đã làm rõ vị trí, tầm quan trọng và những kết quả đạt được của phát triển nông nghiệp, nông thôn; của sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn,

và vấn đề xây dựng nông thôn mới của nước ta hiện nay Bên cạnh đó, các công trình cũng chỉ ra những yếu kém, bất cập và những vấn đề tiêu cực nảy sinh trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ trên do tác động tiêu cực của xu thế toàn cầu hoá, tình trạng biến đổi khí hậu; quá trình CNH, HĐH và đô thị hoá tại Việt Nam Sự yếu kém trong trình độ

và nhận thức về sản xuất nông nghiệp của nông dân; yếu kém trong tổ chức quản lý của các cơ quan chức năng và sự thiếu hợp tác của một bộ phận không nhỏ những cá nhân, tổ chức có tham gia sản xuất nông nghiệp

- Các công trình cũng đã có những đề xuất những giải pháp cơ bản cần triển khai nhằm phát huy vai trò của giai cấp nông dân trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam hiện nay

Tùy theo góc độ, phạm vi nghiên cứu của từng tác giả mà những nội dung trên đây được nhìn nhận ở phạm vi quốc gia hoặc là một vùng, một tỉnh, một khu vực cụ thể của đất nước Dù nhìn nhận ở góc độ nào, phạm vi nào thì những kết quả trên cũng có giá trị tham khảo quan trọng để tác giả thực hiện nội dung nghiên cứu của luận án

❖ Các công trình nghiên cứu về cuộc CMCN 4.0

Các nhà khoa học trong và ngoài nước đã tập trung làm sáng tỏ bối cảnh ra đời, nội hàm khái niệm CMCN 4.0, bước đầu tìm hiểu bản chất và những đặc trưng cơ bản của cuộc cách mạng này CMCN 4.0 với xu hướng phát triển dựa trên nền tảng tích hợp cao độ của hệ thống kết nối số hóa - vật lý - sinh học với sự đột phá của Internet vạn vật

và Trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi căn bản nền sản xuất của thế giới CMCN 4.0 với đặc điểm là tận dụng một cách triệt để sức mạnh lan tỏa của số hóa và công nghệ thông tin Làn sóng công nghệ mới này đang diễn ra với tốc độ khác nhau tại các quốc gia trên thế giới, nhưng đang tạo ra tác động mạnh mẽ, ngày một gia tăng tới mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, dẫn đến việc thay đổi phương thức và lực lượng sản xuất của xã hội Bên cạnh đó, các công trình cũng đã phân tích ảnh hưởng, tác động toàn diện của cuộc CMCN 4.0 đến đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường ở tất cả

các cấp - toàn cầu, khu vực và trong phạm vi từng quốc gia

❖ Các công trình nghiên cứu về tác động của CMCN 4.0 đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam hiện nay

Các công trình khoa học chủ yếu nghiên cứu tác động của CMCN 4.0 đối với sản

Trang 32

xuất nông nghiệp (phương thức sản xuất chủ yếu của nông dân) Đối với ngành nông nghiệp, ứng dụng những thành tựu công nghệ hiện đại của cuộc CMCN 4.0 có thể giúp

giải quyết những thách thức mà ngành đang phải đối mặt: i) điều kiện sản xuất nông

nghiệp ngày càng khó khăn hơn (diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp do quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ; lực lượng lao động trong nông nghiệp có xu hướng giảm do chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tình trạng già hóa dân số; biến đổi khí hậu khiến cho việc canh tác theo lối truyền thống ngày càng khó khăn và bấp bênh…); ii) mức thu nhập của người tiêu dùng ngày càng tăng nên nhu cầu về chất lượng của nông sản ngày càng cao, chuyển từ số lượng sang chất lượng, tính đa dạng, phong phú và thân thiện với môi trường sống

Ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp đã mang lại nhiều lợi ích to lớn như: ứng phó với biến đổi khí hậu; tạo ra lượng sản phẩm lớn, giảm công sức lao động, đa dạng hóa sản phẩm giúp sản phẩm cạnh tranh tốt hơn trên thị trường, nâng cao

hiệu quả kinh tế; sản xuất nông nghiệp tập trung hóa, quy mô hóa giúp nông dân dễ dàng

tập trung mở rộng quy mô sản xuất, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với công nghiệp chế biến, việc ứng dụng khoa học và công nghệ sau thu hoạch cũng tạo

ra những giá trị mới cho nông sản, đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng đem lại nguồn thu lớn hơn rất nhiều…

1.2.1.2 Những giá trị tham khảo từ các công trình nghiên cứu liên quan đến nông dân và vai trò của nông dân vùng đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Với vị trí và tầm quan trọng của khu vực có tiềm năng và giá trị sản xuất nông nghiệp lớn nhất nước, những vấn đề liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn và phát triển nông nghiệp bền vững ở vùng ĐBSH luôn nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học, nhà quản lý trong và ngoài khu vực Kết quả nghiên cứu trong thời gian qua đã làm sáng tỏ nhiều nội dung quan trọng, cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà hoạch định chính sách cũng như những giá trị khoa học có ý nghĩa tham khảo cho các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu về các vấn đề liên quan của khu vực Những giá trị tham khảo này được thể hiện ở những nội dung sau:

- Đã khái quát rõ đặc điểm về vị trí, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội vùng đồng bằng sông Hồng Những đặc điểm này được các nhà khoa học nghiên cứu và công bố khái quát hoặc chuyên sâu tuỳ theo những góc độ hoặc mục đích nghiên cứu Những giá trị này như là tấm phông nền

Trang 33

để các nhà khoa học làm cơ sở nghiên cứu sâu hơn về các vấn đề liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong vùng

- Các công trình nghiên cứu đã làm rõ được thực trạng phát triển nông nghiệp của khu vực, những thành tựu trong nông nghiệp, nông dân, nông thôn; những thuận lợi, khó khăn, những xu hướng chung và riêng trong phát triển nông nghiệp; những vấn đề nảy sinh và cần được giải quyết trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn của khu vực Đó là các vấn đề như: biến đổi khí hậu; sản xuất và đời sống các hộ nông dân không có đất hoặc thiếu đất; sự biến đổi tâm lý nông dân khi chuyển sang kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế; vấn đề giải quyết việc làm cho nông dân và lao động nông thôn trong vùng; vấn đề chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn vùng ĐBSH; quá trình công nhân hóa nông dân thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; những vấn đề xã hội nảy sinh từ việc thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá và phát triển khu công nghiệp hiện nay; liên kết và tính

tự phát trong sản xuất nông nghiệp; thị trường và giá cả nông sản; vốn đầu tư và kết cấu

hạ tầng nông thôn phục vụ phát triển sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp

- Đề xuất được một số định hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn của khu vực Các giải pháp này khá toàn diện, tập trung ở nhiều nội dung và các vấn đề có liên quan như: tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, công tác quản lý nhà nước, liên kết trong sản xuất nông nghiệp; nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn; thông tin, tuyên truyền; quy hoạch sản xuất; chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp; giải quyết tốt vấn đề ruộng đất cho nông dân

1.2.2 Những vấn đề chưa được tiếp cận từ các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

- Đối với các công trình nghiên cứu về nông dân và vai trò của giai cấp nông dân

Các nghiên cứu của các nhà khoa học là khá đa dạng thể hiện trên tất cả các góc độ: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Tuy nhiên, ở mỗi góc độ khác nhau, các tác giả tập trung nghiên cứu một phạm vi khác nhau Do đó, chưa giải quyết hết mọi vấn đề liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn Hơn nữa, vai trò của nông dân trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư chưa có công trình chuyên biệt nào nghiên cứu

- Đối với các công trình nghiên cứu về cách mạng công nghiệp lần thứ tư: các

công trình nghiên cứu đã làm rõ đặc trưng cơ bản của CMCN 4.0, trong đó đặc biệt chú

ý phân tích ảnh hưởng của CMCN 4.0 về phương diện công nghệ, kinh tế, tài chính, tiền

Trang 34

tệ ; vì vậy, nghiên cứu tác động của của cuộc cách mạng này dưới góc độ chính trị, xã hội còn khá thiếu vắng

- Đối với các công trình nghiên cứu về tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đối với nông dân, trong đó bao gồm cả tác động đối với nông dân vùng ĐBSH:

các công trình nghiên cứu chủ yếu đi vào khai thác những tác động của cuộc CMCN 4.0 đối với sản xuất nông nghiệp (phương thức sản xuất của nông dân) Chưa có công trình chuyên sâu nào nghiên cứu về tác động toàn diện của cuộc cách mạng này đối với nông dân (tác động đến sản xuất nông nghiệp, đến đời sống chính trị, văn hóa, xã hội của nông dân và môi trường nông thôn) Cũng chưa có công trình nào nghiên cứu về vai trò của nông dân nói chung, nông dân vùng ĐBSH nói riêng trong bối cảnh CMCN 4.0

Cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về vai trò và thực

trạng phát huy vai trò của nông dân vùng ĐBSH trong bối cảnh CMCN 4.0 Vì vậy, đề tài mà luận án xác định không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố

1.2.3 Những vấn đề Luận án cần tập trung nghiên cứu

Trên cơ sở tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, Luận án tập trung nghiên cứu làm rõ những vấn đề sau:

- Làm rõ những đặc trưng cơ bản của cuộc CMCN 4.0 và tác động toàn diện của

nó đối nông dân (tác động đến sản xuất nông nghiệp của nông dân; tác động đến đời sống chính trị; đời sống văn hóa - xã hội và môi trường sống của nông dân); làm rõ vai trò của nông dân trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0

- Đánh giá thực trạng thực hiện vai trò của nông dân vùng ĐBSH trong bối cảnh CMCN 4.0 và những vấn đề đặt ra

- Đề xuất những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục phát huy vai trò của nông dân vùng ĐBSH trong bối cảnh CMCN 4.0

Tiểu kết chương 1

Với mục đích tổng quan các công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án “Nông dân vùng đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, tác giả chia thành 2 nhóm tổng quan: i) Các công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến lý luận chung về giai cấp nông dân và cách mạng công nghiệp lần thứ tư; ii) Các công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn vùng ĐBSH trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Các công trình nghiên cứu được đề cập đã làm rõ những đặc điểm cơ bản của cuộc CMCN 4.0; những tác động to lớn của nó đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội,

Trang 35

mọi giai cấp, tầng lớp trong xã hội, trong đó có giai cấp nông dân CMCN 4.0 mang đến cho nông dân rất nhiều cơ hội thuận lợi để phát triển song cũng đặt ra nhiều thách thức to lớn Để có thể trụ vững và phát triển trong bối cảnh mới, nông dân cần nỗ lực vươn lên, thích ứng, nắm bắt cơ hội, đồng thời đối phó với những thách thức mà cuộc cách mạng này đem lại

Trên cơ sở tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, tác giả đi tới kết

luận cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về nông dân vùng

ĐBSH trong bối cảnh CMCN 4.0 Vì vậy, đề tài mà luận án xác định không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố trước đó Với những kết quả nghiên cứu đã đạt được

và những góc độ chưa được tiếp cận trong nghiên cứu về nông dân, nông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSH, Luận án cần tập trung nghiên cứu làm rõ những vấn đề sau: i) Làm rõ những đặc trưng cơ bản của cuộc CMCN 4.0 và tác động toàn diện của nó đối giai cấp nông dân Việt Nam (tác động đến sản xuất nông nghiệp của nông dân; đến đời sống chính trị; đời sống văn hóa - xã hội và môi trường sống của nông dân); làm rõ vai trò của giai cấp nông dân Việt Nam trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0; ii) Đánh giá đúng thực trạng vai trò của nông dân vùng ĐBSH trong bối cảnh CMCN 4.0 và những vấn đề đặt ra; iii) Đề xuất những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục phát huy vai trò của nông dân vùng ĐBSH trong bối cảnh CMCN 4.0

Trang 36

Chương 2 GIAI CẤP NÔNG DÂN VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH

CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ -

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

2.1 QUAN NIỆM VỀ GIAI CẤP NÔNG DÂN VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ

2.1.1 Giai cấp nông dân - quan niệm và vai trò

2.1.1.1 Quan niệm về giai cấp nông dân

Khi nghiên cứu về giai cấp nông dân, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đi sâu phân tích địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp này dưới chủ nghĩa tư bản Trong tác phẩm “Vấn đề nông dân ở Pháp và ở Đức” (1894), Ph.Ăngghen đã đưa ra quan niệm về tiểu nông - bộ phận đông đảo nhất của giai cấp nông dân:

Tiểu nông mà chúng ta nói ở đây, là người sở hữu hoặc người đi thuê - và nhất là người sở hữu - một mảnh ruộng đất không lớn hơn số ruộng đất

mà họ thường có thế cày cấy cùng với gia đình họ, và cũng không bé hơn

số ruộng đất cần thiết để nuôi gia đình họ Cũng như người tiểu thủ công, người tiểu nông này là một người lao động, anh ta khác với người vô sản hiện đại ở chỗ là anh ta còn sở hữu những tư liệu lao động, như vậy anh ta

là tàn dư của một phương thức sản xuất đã lỗi thời [103, tr.719]

Kế thừa quan điểm của Mác - Ăngghen, V.I.Lênin đã khẳng định giai cấp nông dân “một mặt là người tư hữu, mặt khác lại là người lao động.” [96, tr.237] Trước hết,

họ là những người lao động sản xuất nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, sinh sống ở địa bàn nông thôn; tư liệu sản xuất quan trọng nhất của họ chính là đất đai Đồng thời, nông dân còn là những người tư hữu, song mặt tư hữu nhỏ của nông dân khác về bản chất so với tư hữu lớn của các giai cấp bóc lột khác Nông dân không dựa trên tư hữu nhỏ của mình để bóc lột các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội Giữa hai mặt: lao động và tư hữu thì mặt lao động là cơ bản, chủ yếu Với tư cách là người lao động, nông dân có nhiều mặt tích cực cần phát huy nhưng khi bị mặt trái của tư hữu chi phối cộng với lối sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, nông dân bộc lộ không ít hạn chế: tâm lý bảo thủ, trì trệ, ngại đổi mới, dễ dao động, tác phong tùy tiện, thiếu ý thức tổ chức, kỷ luật….Đó chính là lực cản lớn nhất của quá trình chuyển biến của nông dân từ nền sản xuất tiểu nông lạc hậu sang nền nông nghiệp quy mô lớn, hiện đại

Trang 37

Kế thừa quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời tổng kết thực tiễn phát triển của giai cấp nông dân trong giai đoạn hiện nay, các nhà khoa học Việt Nam đã đưa ra những quan điểm rõ ràng và cụ thể hơn về giai cấp nông dân Theo giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học của Hội đồng lý luận Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các môn khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm giai cấp nông dân được diễn đạt như sau: “Giai cấp nông dân là giai cấp của những người lao động sản xuất vật chất trong nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp… trực tiếp

sử dụng (canh tác) một tư liệu sản xuất cơ bản và đặc thù, gắn với thiên nhiên là đất, rừng, biển để sản xuất ra nông sản.” [76, tr.284]

Định nghĩa trên đã nhấn mạnh đến phương thức lao động và tư liệu sản xuất đặc thù của của giai cấp nông dân Tuy nhiên, về mặt sở hữu, định nghĩa trên đã không đề cập đến Điều này có thể hiểu rằng dù có sở hữu hay không sở hữu tư liệu sản xuất thì chỉ cần là người lao động sản xuất vật chất trong nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và trực tiếp sử dụng tư liệu sản xuất cơ bản và đặc thù, gắn với thiên nhiên là đất, rừng, sông, biển thì họ sẽ thuộc về giai cấp nông dân Họ có thể là người lao động làm thuê trên cơ sở sử dụng tư liệu sản xuất của người khác hoặc cũng có thể là người lao động làm chủ trên chính tư liệu sản xuất của mình Khi lấy lao động sản xuất làm thuộc tính cơ bản nhất đồng thời bỏ qua mặt sở hữu để phân biệt giai cấp nông dân với các giai cấp và lực lượng lao động khác, giúp xác định nội hàm giai cấp nông dân rộng hơn và phù hợp hơn với thực tiễn hiện nay Ở nhiều quốc gia trên thế giới, đa số lao động nông nghiệp là những người làm thuê Họ trực tiếp sử dụng tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của người khác Tại Việt Nam hiện nay, đội ngũ lao động nông nghiệp làm thuê xuất hiện ngày càng nhiều Do đó, nếu nhấn mạnh đến thuộc tính sở hữu thì tất cả những đối tượng này không thuộc về giai cấp nông dân Ngược lại, nhiều bộ phận có sở hữu tư liệu sản xuất trong nông nghiệp thì họ lại có những đặc điểm của một nhà tư sản nhiều hơn là đặc điểm của người nông dân

Tóm lại, trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, ở những quốc gia khác nhau và

thậm chí ở những góc nhìn khác nhau sẽ có những quan điểm khác nhau về giai cấp

nông dân Trong khuôn khổ luận án này, giai cấp nông dân được hiểu là tập đoàn những người lao động sản xuất vật chất trong nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi), lâm nghiệp, ngư nghiệp (thuỷ sản, hải sản và diêm nghiệp) trực tiếp sử dụng tư liệu sản xuất cơ bản và đặc thù, gắn với thiên nhiên là đất, rừng, sông, biển để sản xuất ra nông sản, nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội

Trang 38

2.1.1.2 Vai trò của giai cấp nông dân

Trên cơ sở nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về giai cấp nông dân, có thể khái quát vai trò cơ bản của giai cấp nông dân như sau:

Trong lĩnh vực kinh tế, nông dân là lực lượng lao động chính của ngành sản xuất nông nghiệp, tạo ra lương thực, thực phẩm nuôi sống xã hội

Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò quan trọng của ngành nông nghiệp mà nông dân là lực lượng sản xuất chính: “Công nghiệp và nông nghiệp như hai chân con người, hai chân có mạnh thì đi mới vững chắc Nông nghiệp không thể phát triển thì công nghiệp cũng không phát triển được Ngược lại, không có công nghiệp thì nông nghiệp cũng khó khăn Công nghiệp và nông nghiệp quan hệ với nhau rất khăng khít” [108, tr.469] Giai cấp nông dân đóng góp một phần quan trọng vào tăng trưởng GDP, nhất là đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm quốc gia và vào việc hình thành mô hình sản xuất mới trong nông nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại; đồng thời, góp phần không nhỏ vào hoạt động xuất khẩu nông sản, tăng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta đã khẳng định: nông dân có vai trò chủ thể trong “quá trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới.” [49, tr.166], nhằm thực hiện thành công

“mô hình nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh” [49, tr.167]

Trong lĩnh vực chính trị, giai cấp nông dân là “đồng minh tự nhiên” của giai cấp công nhân, cùng với giai cấp công nhân, đội ngũ trí thức là cơ sở chính trị - xã hội của

xã hội chủ nghĩa (XHCN), đặc biệt ở những nước mà nông dân chiếm đa số dân cư Lập trường chính trị của nông dân đóng vai trò quyết định đến thành bại của cuộc cách mạng Nhưng giai cấp nông dân chỉ phát huy được sức mạnh to lớn của mình nếu họ liên minh chặt chẽ với giai cấp công nhân tiên tiến, cách mạng, nếu được Đảng công nhân tập hợp,

giác ngộ Trong sự nghiệp xây dựng CNXH, V.I.Lênin khẳng định: giai cấp nông dân

tiếp tục đóng vai trò quan trọng và liên minh giữa công nhân với nông dân là điều kiện

Trang 39

để giai cấp công nhân có thể nâng cao sức mạnh, bảo đảm giữ vững, củng cố và phát huy vai trò của chính quyền cách mạng, từng bước xây dựng nền dân chủ XHCN

Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, giai cấp nông dân góp phần giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái nông thôn

Nông dân là chủ thể của mọi sinh hoạt văn hóa diễn ra ở nông thôn Họ góp phần quan trọng trong việc giữ gìn, phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc thông qua việc thực hiện các hương ước, quy ước cộng động, giữ gìn văn hóa làng nghề truyền thống, văn hóa lễ hội, thuần phong mỹ tục…Bên cạnh đó, nông dân còn tích cực tham gia bảo

vệ môi trường sinh thái ở nông thôn, xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn

Tóm lại, Đảng ta cũng khẳng định vị trí trọng yếu của vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn thông qua việc ban hành Nghị quyết số 26/NQTW ngày 5 tháng 8 năm

2008 Trong đó, Nghị quyết đã khẳng định:

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và

bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước [45, tr.123-124]

Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, thì giai cấp nông dân là “chủ thể”, xây dựng nông thôn mới là “căn bản”, phát triển nông nghiệp

là “then chốt”

2.1.2 Cách mạng công nghiệp lần thứ tư - quan niệm và đặc trưng

2.1.2.1 Quan niệm về cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Trước khi tìm hiểu quan niệm và đặc trưng của CMCN 4.0, chúng ta cần đi vào tìm hiểu quan niệm về “cách mạng”, “cách mạng khoa học và kỹ thuật” và “cách mạng công nghiệp”

“Cách mạng” ở đây có thể hiểu là một “quá trình thay đổi lớn và căn bản theo hướng tiến bộ trong một lĩnh vực nào đó” [121, tr.144]; là “sự thay đổi căn bản, sự nhảy vọt về chất trong quá trình phát triển của tự nhiên, xã hội hoặc nhận thức” [72, tr.326]; hay là “một chuỗi hành động nhằm xóa bỏ cái cũ để thay thế bằng cái mới tiến bộ hơn - một sự thay đổi sâu sắc, thường là xảy ra trong một thời gian tương đối ngắn” [41, tr.13] Các cuộc cách mạng đã từng diễn ra trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như: cách mạng khoa học và kỹ thuật, cách mạng khoa học và công nghệ,

Trang 40

cách mạng công nghiệp, cách mạng xã hội (cách mạng tư sản, cách mạng XHCN), cách mạng văn hóa…

Trong đó, “Cách mạng khoa học và kỹ thuật”, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, là “sự biến đổi triệt để về chất của lực lượng sản xuất, biến khoa học kỹ thuật thành nhân tố chủ đạo của sự phát triển nền sản xuất xã hội, thành lực lượng sản xuất trực tiếp, dẫn đến sự biến đổi cách mạng trong cơ sở vật chất kỹ thuật của xã hội, trong tính chất

và phân công lao động xã hội.” [72, tr.328] Trong cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại, mọi phát minh kỹ thuật đều bắt nguồn từ nghiên cứu khoa học Khoa học gắn liền với kỹ thuật, khoa học đi trước mở đường cho kỹ thuật Đến lượt mình, kỹ thuật lại

mở đường cho sản xuất phát triển Khoa học đã tham gia trực tiếp vào sản xuất, đã trở thành nguồn gốc chính của những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ Cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật trải qua hai giai đoạn phát triển Giai đoạn thứ nhất kéo dài từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất cho đến những năm 1970, thường được gọi là cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật Giai đoạn thứ hai diễn ra từ sau cuộc khủng hoảng năng lượng năm

1973 đến nay, thường được gọi là cách mạng khoa học - công nghệ Một trong những đặc điểm quan trọng nhất của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại là khoảng cách về mặt thời gian giữa phát minh khoa học, kĩ thuật, công nghệ và ứng dụng chúng trong sản xuất ngày càng được rút ngắn [60]

Cách mạng công nghiệp là kết quả trực tiếp của sự phát triển nhanh chóng khoa

học, kỹ thuật và công nghệ Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “cách mạng công nghiệp là cuộc cách mạng trong kĩ thuật sản xuất thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, thay thế lao động thủ công bằng lao động cơ giới, chuyển từ công trường thủ công sang công trường sản xuất; từ đó xuất hiện đại công nghiệp cơ khí, mở rộng phân công lao động xã hội, làm nảy sinh các ngành sản xuất mới, các thành thị và trung tâm công nghiệp mới.” [72, tr.327] Trong cách mạng công nghiệp hiện đại, những sản phẩm khoa học mới, công nghệ mới được tạo ra với tốc độ nhanh, mang tính cách mạng và được áp dụng ngay vào sản xuất, đời sống con người và xã hội, nhanh chóng tạo nên những thay đổi to tớn, những biến đổi cách mạng trong các lĩnh vực đó Nền tảng kiến thức của cách mạng công nghiệp hiện đại chính là cách mạng trong khoa học và công nghệ

Klaus Schwab - người sáng lập và là Chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới đã khái quát lịch sử phát triển của các cuộc cách mạng công nghiệp như sau: “Cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên kéo dài từ năm 1760 đến khoảng năm 1840 Với chất

Ngày đăng: 15/04/2022, 12:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Thị Vân Anh (2018), Một số yếu tố tâm lý của người nông dân ảnh hưởng tới việc chuyển đổi phương thức sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố tâm lý của người nông dân ảnh hưởng tới việc chuyển đổi phương thức sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại
Tác giả: Bùi Thị Vân Anh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2018
2. Đức Anh, Đức Yên (2021), Bỏ biên chế nhà nước về nuôi lợn, mỗi năm thu hơn 1 triệu USD, tại trang https://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/thi-truong/nong-dan-nuoi-lon-khep-kin-thu-tien-ty-725914.html, [truy cập ngày 10/4/2021] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bỏ biên chế nhà nước về nuôi lợn, mỗi năm thu hơn 1 triệu USD
Tác giả: Đức Anh, Đức Yên
Năm: 2021
5. Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương (2019), Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 0 giờ ngày 1/4/2019, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 0 giờ ngày 1/4/2019
Tác giả: Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2019
6. Ban chỉ đạo Trung ương các chương trình mục tiêu Quốc gia (2019), Tài liệu “Hội nghị tổng kết chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 vùng đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị tổng kết chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 vùng đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ
Tác giả: Ban chỉ đạo Trung ương các chương trình mục tiêu Quốc gia
Năm: 2019
7. Ban Kinh tế Trung ương (2016), Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề đặt ra đối với phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, Hội thảo quốc tế Viện Hàn Lâm khoa học xã hội Việt Nam, Tổ chức Liên hiệp quốc tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề đặt ra đối với phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam
Tác giả: Ban Kinh tế Trung ương
Năm: 2016
8. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2007), Việt Nam - WTO những cam kết liên quan đến nông dân, nông nghiệp, nông thôn và doanh nghiệp, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam - WTO những cam kết liên quan đến nông dân, nông nghiệp, nông thôn và doanh nghiệp
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
9. Báo Nông thôn ngày nay - Dân Việt (2018), Chuyên đề Toàn cảnh nông nghiệp 4.0 Việt Nam, NXB Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề Toàn cảnh nông nghiệp 4.0 Việt Nam
Tác giả: Báo Nông thôn ngày nay - Dân Việt
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2018
10. Hoàng Chí Bảo (2010), Dân chủ và dân chủ ở cơ sở nông thôn trong tiến trình đổi mới, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ và dân chủ ở cơ sở nông thôn trong tiến trình đổi mới
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2010
11. Lê Thanh Bình (2009), “Tăng cường truyền thông khuyến nông thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn Việt Nam phát triển”, Tạp chí Truyền thông đối ngoại số, tháng 1/2009, tr.28-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường truyền thông khuyến nông thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn Việt Nam phát triển”, "Tạp chí Truyền thông đối ngoại số
Tác giả: Lê Thanh Bình
Năm: 2009
12. Nguyễn Văn Bình (chủ biên) (2017), Việt Nam với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Ban Kinh tế Trung ương, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Tác giả: Nguyễn Văn Bình (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2017
15. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Cục Bảo trợ xã hội (2018), Hệ thống các chính sách trợ giúp xã hội, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống các chính sách trợ giúp xã hội
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Cục Bảo trợ xã hội
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2018
18. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2005), Báo cáo khoa học và công nghệ nông nghiệp 20 năm đổi mới, gồm 7 tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khoa học và công nghệ nông nghiệp 20 năm đổi mới
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2005
19. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (14/3/2017), Quyết định số 738/QĐ- BNN-KHCN về việc quy định tiêu chí nông nghiệp công nghệ cao và phụ lục danh mục công nghệ cao áp dụng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 738/QĐ-BNN-KHCN về việc quy định tiêu chí nông nghiệp công nghệ cao và phụ lục danh mục công nghệ cao áp dụng
20. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2018), Báo cáo Tình hình tích tụ, tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp; phương thức, mô hình thực hiện và các giải pháp, Hội nghị toàn quốc thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tình hình tích tụ, tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp; phương thức, mô hình thực hiện và các giải pháp
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2018
26. Chính phủ (17/9/2018), Nghị định số 122/2018/NĐ-CP quy định về xét tặng danh hiệu “gia đình văn hóa”; “thôn văn hóa”, “làng văn hóa”, “ấp văn hóa”, “bản văn hóa”, “tổ dân phố văn hóa” Sách, tạp chí
Tiêu đề: gia đình văn hóa”; “thôn văn hóa”, “làng văn hóa”, “ấp văn hóa”, “bản văn hóa”, “tổ dân phố văn hóa
27. Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Trung tâm Thông tin khoa học Quân sự, Bộ Quốc phòng (2016), Hiểm họa từ mặt trái của Internet, NXB Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiểm họa từ mặt trái của Internet
Tác giả: Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Trung tâm Thông tin khoa học Quân sự, Bộ Quốc phòng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia - Sự Thật
Năm: 2016
28. Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ) (8/2016), Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Tổng luận Khoa học - Công nghệ - Kinh tế năm 2018, số 8, tại trang https://vista.gov.vn/tong-luan/tong-luan-khoa-hoc-cong-nghe-kinh-te-nam-2016-7.html, [truy cập ngày 15/1/2020] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư
29. Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ) (2/2017), Các công nghệ định hình ngành nông nghiệp công nghệ cao trong tương lai, Tổng luận Khoa học - Công nghệ - Kinh tế năm 2017, số 2, tại trang https://vista.gov.vn/tong-luan/tong-luan-khoa-hoc-cong-nghe-kinh-te-nam-2017-8.html, [truy cập ngày 15/1/2020] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các công nghệ định hình ngành nông nghiệp công nghệ cao trong tương lai
30. Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ) (3/2017), Nông nghiệp công nghệ cao: xu thế tất yếu của nông nghiệp Việt Nam, Tổng luận Khoa học - Công nghệ - Kinh tế năm 2017, số 3, tại trang https://vista.gov.vn/tong-luan/tong-luan-khoa-hoc-cong-nghe-kinh-te-nam-2017-8.html, [truy cập ngày 15/1/2020] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp công nghệ cao: xu thế tất yếu của nông nghiệp Việt Nam
191. Food and Agriculture Organization of the United Nations (Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc) (2019), Digital technologies in agriculture and rural areas status report (Báo cáo thực trạng công nghệ số trong nông nghiệp và nông thôn), Retrieved from http://www.fao.org/3/ca4985en/ca4985en.pdf Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w