1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀ BIỂU HIỆN CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Họ và tên sinh viên Nguyễn Thị Thủy Lớp tín chỉ TRI115 4 Lớp hành chính Anh 7, Khối 2, K59, QTKD Mã sinh viên 2014210144 Giảng viên hướng dẫn ThS Đinh Thị Quỳnh Hà Hà Nội, 2021 2 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 3 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ LÊN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 4 1 1 Quy luật giá trị và vai trò của quy.
Trang 11
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
- -
TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀ BIỂU HIỆN CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thị Thủy Lớp tín chỉ: TRI115.4
Lớp hành chính: Anh 7, Khối 2, K59, QTKD
Mã sinh viên: 2014210144 Giảng viên hướng dẫn: ThS Đinh Thị Quỳnh Hà
Hà Nội, 2021
Trang 22
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ LÊN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 4
1.1 Quy luật giá trị và vai trò của quy luật giá trị 4
1.2 Yêu cầu của quy luật giá trị 5
1.3 Những tác động tích cực của quy luật giá trị 6
1.4 Những tác động tiêu cực của quy luật giá trị 9
2 KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ SỰ BIỂU HIỆN CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 11
2.1 Kinh tế thị trường 11
2.1.1 Khái niệm kinh tế thị trường 11
2.1.2 Đặc điểm chính của kinh tế thị trường 11
2.2 Biểu hiện của quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường 12
2.2.1 Trong lĩnh vực sản xuất 12
2.2.2 Trong lĩnh vực lưu thông 13
2.2.3 Trong nguồn nhân lực 14
3 NHỮNG GIẢI PHÁP VẬN DỤNG CÓ HIỆU QUẢ QUY LUẬT GIÁ TRỊ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN TỚI 14
3.1 Những giải pháp của Đảng và Nhà nước ta 14
3.2 Những giải pháp đề xuất 15
KẾT LUẬN 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 33
MỞ ĐẦU
Năm 1986 là năm đánh dấu công cuộc đổi mới khi chúng ta từng bước tiến
hành chuyển dần từ kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang thực hiện cơ chế
thị trường
Đối với nền kinh tế thị trường thì quy luật giá trị là một quy luật rất quan trọng Thông qua sự điều tiết của quy luật giá trị với nền sản xuất hàng hóa đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế đất nước Như vậy việc áp dụng quy luật giá trị vào việc phát triển kinh tế quốc gia là điều tối cần thiết Hơn thế nữa, nước ta là một nước đang phát triển, đang từng bước đi vào hội nhập nền kinh tế quốc tế, vì vậy cần phải vận dụng đúng quy luật giá trị trong
phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN
Là một sinh viên trường Đại học Ngoại thương - ngôi trường tập trung đào tạo về kinh tế đối ngoại, vấn đề kinh tế Việt Nam và những cơ sở lý luận nào có thể giúp nền kinh tế phát triển mạnh mẽ luôn thu hút em Tầm quan trọng của nền kinh tế thị trường trong việc phát triển kinh tế Việt Nam đã thúc đẩy em lựa chọn đề tài này, đề tài: “Quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hóa và sự vận dụng quy luật giá trị trong xây dựng kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam”
Tiểu luận của em có thể có những sai sót Em rất mong nhận được sự góp ý và giúp đỡ của cô để hoàn thiện hơn kiến thức của mình trong thời gian tới Em xin cảm ơn!
Trang 4
4
1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ LÊN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1 Quy luật giá trị và vai trò của quy luật giá trị
Quy luật giá trị là gì?
Phát triển kinh tế thị trường là xu thế tất yếu của quá trình đổi mới nền kinh
tế Không có quốc gia nào trên thế giới có nền kinh tế phát triển lại không áp dụng quy luật kinh tế vào quốc gia đó và vận hành chúng một cách có hiệu quả nhất Và trong các quy luật kinh tế được áp dụng thì quy luật giá trị là một quy luật rất quan trọng Nó là quy luật căn bản của sản xuất và trao đổi hàng hóa Ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có sự tồn tại và phát huy tác dụng của quy luật giá trị Chính vì vậy, quy luật này có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nền kinh tế
Sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở hao phí lao động của xã hội cần thiết Trong kinh tế hàng hóa, mỗi người sản xuất tự quyết định hao phí lao động cá biệt của mình nhưng giá trị của hàng hóa không phải được quyết định bởi hao phí lao động cá biệt của từng người sản xuất hàng hóa mà bởi hao phí lao động xã hội cần thiết Vì vậy, muốn bán được hàng hóa, bù đắp được chi phí và có lãi, người sản xuất phải điều chỉnh làm cho chi phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức chi phí mà xã hội chấp nhận được
Trao đổi hàng hóa cũng phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết, có nghĩa là trao đổi theo nguyên tắc ngang giá: giá cả hàng hóa phải phù hợp với giá trị của nó
Vai trò của quy luật giá trị
Điều tiết sản xuất và trao đổi lưu thông để đảm bảo quá trình tái sản xuất phát triển không ngừng
Trang 55
Trong sản xuất hàng hóa dựa trên cơ sở chiếm hữu tư nhân TLSX thì sản xuất là công việc của mỗi người, họ đều sản xuất và cung cấp hàng hóa cho thị trường nhưng họ lại không biết được nhu cầu của thị trường về hàng hóa mà mình sản xuất Có thể sản xuất không đáp ứng được hoặc sản xuất quá nhiều dẫn đến hàng hóa bị dư thừa, quá trình tái sản xuất không tiếp tục được nữa, nền sản xuất và trao đổi sẽ bị rối loạn Nhưng trong thực tế, mọi người sản xuất đều tiến hành một cách trôi chảy, bình thường Vậy phải có một lực lượng điều tiết, lực lượng đó là vai trò quy luật giá trị, điều tiết thông qua giá cả trên thị trường
1.2 Yêu cầu của quy luật giá trị
Việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải được tiến hành dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết
Trong nền sản xuất hàng hóa: Đối với một hàng hóa phải được tiến hành dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết nhưng trong trường hợp đặc biệt tại thời điểm nhất định thì hao phí lao động xã hội
cá biệt bằng hao phí lao động xã hội cần thiết Đối với tổng hàng hóa sản xuất ra bằng tổng thời gian lao động xã hội cần thiết hoặc bằng tổng nhu cầu xã hội có khả năng thanh toán hoặc bằng tổng sức mua của đồng tiền
Trong trao đổi lưu thông: Đối với một hàng hóa thì phải trao đổi theo quy tắc ngang giá ( giá cả ngang bằng giá trị ) Trong thực tế, một hàng hóa được sản xuất ra từ nhà sản xuất đến tiêu dùng nó chịu tác động bởi nhiều nhân tố mà đặc biệt là do tác động của quan hệ cung cầu (giá cả hàng hóa có thể bằng, nhỏ hơn, lớn hơn giá trị ) Sự tách rời của giá cả và giá trị đó là biểu hiện của quy luật giá trị Còn đối với tổng hàng hóa thì tổng giá cả phải ngang bằng tổng giá trị của hàng hóa
Trang 66
Quy luật giá trị bắt buộc mọi người sản xuất và trao đổi hàng hóa phải tuân theo mệnh lệnh của giá trên thị trường Giá cả là tín hiệu báo cho người sản xuất
và trao đổi hãy đầu tư những ngành hàng mà nhu cầu sản xuất đang giảm
Chỉ thông qua sự vận động của giá trên thị trường thì mới thấy được sự hoạt động của quy luật giá trị, giá cả lên xuống một cách tự phát theo quan hệ cung cầu, đó chính là sản phẩm của cơ chế cạnh tranh
1.3 Những tác động tích cực của quy luật giá trị
Áp dụng Quy luật giá trị vào nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, chúng ta thấy được những thế mạnh của nó khi tác động vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, đó là:
Quy luật giá trị góp phần điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa:
Trong sản xuất, nếu như một mặt hàng nào đó có giả cả cao hơn giá trị, hàng hoá bán chạy và lợi cao, những người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư thêm tư liệu sản xuất và sức lao động Mặt khác, những người sản xuất hàng hoá khác cũng có thể chuyển sang sản xuất mặt hàng này, do đó, tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này tăng lên, quy mô sản xuất càng được
mở rộng Còn nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả thấp hơn giá trị, sẽ bị lỗ vốn Tình hình đó buộc người sản xuất phải thu hẹp việc sản xuất mặt hàng này hoặc chuyển sang sản xuất mặt hàng khác, làm cho tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này giảm đi ở ngành khác lại có thể tăng lên Trường hợp còn lại, mặt hàng nào đó giá cả bằng giá trị thì người sản xuất có thể tiếp tục sản xuất mặt hàng này Như vậy, quy luật giá trị đó tự động điều tiết tỷ lệ phân chia tư liệu sản xuất và sức lao động vào các ngành sản xuất khác nhau, đáp ứng nhu cầu của xã hội Tác động điều tiết lưu thông hàng hoá của quy luật giá trị thể hiện ở chỗ nó thu hút hàng hoá từ nơi có giá cả thấp đến nơi có giá cả cao, và do
đó, góp phần làm cho hàng hoá giữa các vùng có sự cân bằng nhất định
Trang 77
Quy luật giá trị kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng
năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm:
Các hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện khác nhau, do đó, có mức hao phí lao động cá biệt khác nhau, nhưng trên thị trường thì các hàng hóa đều phải được trao đổi theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết Vì vậy người sản xuất hàng hoá nào mà có mức hao phí lao động thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, thì sẽ thu được nhiều lợi và càng thấp hơn càng lãi Điều
đó kích thích những người sản xuất hàng hoá cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, cải tiến tổ chức quản lý, thực hiện tiết kiệm nhằm tăng năng suất lao động, hạ chi phí sản xuất Sự cạnh tranh quyết liệt càng làm cho quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn Nếu người sản xuất nào cũng làm như vậy thì cuối cùng
sẽ dẫn đến toàn bộ năng suất lao động xã hội không ngừng tăng lên, chi phí sản xuất xã hội không ngừng giảm xuống Trong thực tiễn, chúng ta đã cải tiến không ngừng trong các khâu thực hiện:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
Đảng ta xác định “Phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Trên thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại Các nước phát triển đã bắt đầu chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức Vì vậy, chúng ta cần phải tranh thủ ứng dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, tiếp cận kinh tế tri thức để hiện đại hóa những ngành, những khâu, những lĩnh vực có điều kiện nhảy vọt
Công nghiệp hóa là tất yếu với các nước chậm phát triển Ở nước ta, công nghiệp hóa còn nhằm xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, tăng cường sức mạnh để bảo vệ nền độc lập vì công nghiệp hóa trong điều kiện chiến lược kinh tế mở có thể đi nhanh nếu chúng ta biết tận dụng, tranh thủ được thành tựu của thế giới và sự giúp đỡ quốc tế Song chúng ta cũng gặp trở ngại do
Trang 88
“trật tự” của nền kinh thế thế giới mà các nước tư bản thiết lập không có lợi cho các nước nghèo, lạc hậu Vì thế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải bảo đảm xây dựng nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế độc lập, tự chủ
Huy động nguồn vốn và sử dụng chúng hiệu quả:
Công nghiệp hóa và hiện đại hóa đòi hỏi nguồn vốn rất lớn Trong đó, nguồn vốn trong nước được tích lũy từ nội bộ nền kinh tế quốc dân trên cơ sở hiệu quả sản xuất Nguồn vốn trong nước giữ vai trò quyết định vì đó là nhân tố bên trong đảm bảo cho xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ Và để thoát ra cái vòng luẩn quẩn: vì nghèo nên tích lũy thấp, tích lũy thấp thì tăng trưởng nền kinh tế chậm và khó thoát khỏi đói nghèo, chúng ta cần tận dụng mọi khả năng
để thu hút nguồn vốn bên ngoài Đây là nguồn vốn quan trọng vì nó không những giúp các nước lạc hậu thoát khỏi đói nghèo mà còn góp phần nâng cao trình độ quản lý và công nghệ, tạo việc làm cho người lao động Song, khi sử dụng nguồn vốn nước ngoài, chúng ta phải chấp nhận bị bóc lột, tài nguyên bị khai thác, nợ nước ngoài tăng lên…Vì vậy, cũng cần phải cân nhắc và sử dụng hợp lý nguồn vốn nước ngoài
Đào tạo nguồn nhân lực:
“Nguồn lực con người là nguồn lực của mọi nguồn lực, là tài nguyên của mọi tài nguyên” Trong "Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội", Đảng ta đó chỉ rõ: Phương hướng lớn của chính sách xã hội Phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về nghĩa
vụ và quyền lợi công dân kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội Phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa không thể không xuất phát từ tinh thần nhân văn sâu sắc, không thể không phát triển con người Việt Nam toàn diện
để lấy đó làm động lực xây dựng xã hội ta thành một xã hội "công bằng, nhân ái", "tốt đẹp và toàn diện" để bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, đặc biệt
Trang 99
là đối với thế hệ trẻ, nhất thiết phải từng bước hiện đại hoá đất nước và đời sống
xã hội và chúng ta "tăng trưởng nguồn lực con người khi quá hiện đại hoá các ngành giáo dục, văn hoá, văn nghệ, bảo vệ sức khỏe, dân số và kế hoạch hóa gia đình gắn liền với việc kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống và bản sắc dân tộc" chỉ có trên cơ sở đó khi phát triển nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường chúng ta mới có thể tránh được nguy cơ tha hoá, không xa rời những giá trị truyền thống, không đánh mất bản sắc dân tộc, đánh mất bản thân mình trở thành cái bóng của người khác
Mở rộng và nâng cao hiệu quả Kinh tế đối ngoại:
Sau thời kỳ khá dài vì đóng cửa, hiện nay, mở cửa nền kinh tế là nhu cầu cấp bách đối với nền kinh tế nước ta Trong mở cửa hội nhập, phải đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là hướng ưu tiên và là trọng điểm nhằm thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa Việt Nam gia nhập WTO là dấu mốc quan trọng trong nền kinh tế thị trường của nước ta, đẩy việc sản xuất và kinh doanh lên một tầm cao mới mà chính những người trong cuộc cần phải năng động và linh hoạt lên rất nhiều Tuy nhiên, chúng ta luôn phải tự nhắc nhở chính mình lời kêu gọi của Chính phủ: “Hòa nhập nhưng không hòa tan”
1.4 Những tác động tiêu cực của quy luật giá trị
Sự phân hóa xã hội giữa giàu – nghèo:
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, chênh lệch giàu, nghèo không lớn do việc phân phối mang tính bình quân bao cấp hiện vật Khi chuyển sang
cơ chế thị trường, kinh tế có điều kiện tăng trưởng, đồng thời cũng tất yếu dẫn đến chênh lệch giàu nghèo gia tăng Việt Nam tiến hành đổi mới, chấp nhận cơ chế thị trường, thì cũng không thể duy trì cơ chế phân phối bao cấp hiện vật mang tính bình quân và do đó cũng không tránh khỏi việc gia tăng chênh lệch giàu, nghèo
Một đại bộ phận nhân dân vẫn còn sống trong điều kiện khó khăn chi phí sinh hoạt – tiêu dùng còn hạn chế trong khi có không ít người “vung tay” để chi
Trang 1010
trả cho cuộc sống “cao cấp” Tuy nhiên, kinh tế thị trường mà Việt Nam lựa chọn là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Định hướng này đòi hỏi phải kiềm chế sự gia tăng bất hợp lý của chênh lệch giàu, nghèo
Vấn nạn ô nhiễm môi trường:
Việt Nam vẫn còn thiếu những chính sách và quy định bảo vệ môi trường nghiêm ngặt và do đang thu hút mạnh các nguồn vốn đầu tư để phát triển nên dễ mắc vào "cạm bẫy": trở thành nơi tiếp nhận nhiều ngành công nghiệp "bẩn" Ví như, ngành cán thép làm tốn nhiều tài nguyên như đất, nước, năng lượng nguy hại đến môi trường Trong khi lĩnh vực này lại không mang lại giá trị gia tăng cao, chuyển giao công nghệ hiện đại, môi trường làm việc gây nhiều độc hại cho người lao động Tương tự như vậy, vừa qua các nhà máy sản xuất xi măng cũng
ồ ạt ra đời, dư thừa lớn, sử dụng lãng phí nguồn tài nguyên đá vôi, trong khi đá vôi là phễu lọc cho nguồn nước ngầm
Và việc các công ty như VEDAN, MIWON vi phạm nghiêm trọng những quy định bảo vệ môi trường, gây hậu quả nghiêm trọng, là tiếng chuông thức tỉnh cho cộng đồng phải quan tâm đến môi trường
Cạn kiệt tài nguyên:
Với một lãnh thổ trải dài lên nhiều cao độ và vĩ tuyến, tạo hóa đã ban cho dân tộc Việt Nam một hệ sinh thái đa dạng và nhiều kho tàng tích sinh học hiếm quý Chiến tranh đã hủy hoại đất nước và đày đọa nhiều thế hệ; ngày nay, để phát triển kinh tế trong hòa bình, lâm sản, khoáng sản và thủy sản đã bị khai thác kiệt quệ và nạn ô nhiễm đã lan tràn ra không khí, sông hồ, kinh rạch và đất đai Môi sinh bị đặt dưới áp lực nặng nề của dân số gia tăng và chính sách khai thác tài nguyên ráo riết để xuất cảng trong tình trạng quản lý thiếu kỹ thuật và thẩm quyền
Khai thác đã lấn lên rừng già để làm thân lấy gỗ, xuống vùng ngập mặn phá tràm lấy chỗ nuôi tôm, lên cao xẻ núi lấy đá, đào sâu tìm giếng, khai mỏ, hút dầu, và hàng ngày hàng triệu mét khối nước thải và chất thải đang chảy thẳng