MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài: Tại Việt Nam, băng tần 800/850MHz được quy định trong dải tần số 869MHz, dải tần này rất ít đơn vị sử dụng chỉ các hệ thống chuyên dụng được phép hoạt
Trang 1HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
-
ĐỖ TRUNG GIÁP
NGHIÊN CỨU QUY HOẠCH LẠI BĂNG TẦN 800/850/900MHz CHO HỆ THỐNG THÔNG TIN DI ĐỘNG
IMT TẠI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH : KỸ THUẬT VIỄN THÔNG
MÃ SỐ: 8.52.02.08
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2022
Trang 2Luận văn được hoàn thành tại: HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Văn San
Phản biện 1: TS Ngô Đức Thiện
Phản biện 2: TS Hoàng Mạnh Kha
Luận văn sẽ được bảo vệ trước hội đồng chấm luận văn thạc sĩ tại Học viện Công nghệ
Bưu chính Viễn thông
Vào lúc: 08 giờ 00 ngày 15 Tháng 01 Năm 2022
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Thư viện của Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
Trang 3I MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài:
Tại Việt Nam, băng tần 800/850MHz được quy định trong dải tần số 869MHz, dải tần này rất ít đơn vị sử dụng (chỉ các hệ thống chuyên dụng được phép hoạt động) và chưa phân bổ cho dịch vụ thông tin di động IMT; băng tần 900MHz được quy định trong dải 880-960MHz hiện nay đang phân bổ cho các doanh nghiệp khai thác dịch vụ thông tin di động (chủ yếu là dịch vụ GSM) Với tốc độ phát triển về công nghệ di dộng và nhu cầu sử dụng công nghệ GSM ngày càng giảm, lộ trình tắt sóng GSM có thể sẽ được tiến hành sớm hơn (dự kiến năm 2023 tắt sóng GSM – theo
788-Bộ Thông tin Truyền thông) để triển khai hệ thống di động tiên tiến hơn (4G/5G) Trước làn sóng mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trên toàn thế giới, Việt Nam cũng đang dần chuyển mình trong những bước tiến mạnh mẽ cùng sự phát triển đó Các doanh nghiệp CNTT Việt Nam có những phát minh, cải tiến mạnh mẽ, đầu tư mạnh dạn vào các dịch vụ viễn thông và các công nghệ mới, tiên tiến nhất hiện
nay là bước đi tiên phong Vì vậy việc “Nghiên cứu quy hoạch lại băng tần 800/850/900MHz cho hệ thống thông tin di động IMT tại Việt Nam” trong giai
đoạn này là hoàn toàn cần thiết, phải sớm hoàn tất và ban hành
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu:
Nghiên cứu quy hoạch luôn là vấn đề gặp nhiều khó khăn, tiêu tốn thời gian Để nghiên cứu ra sản phẩm tốt học viên cần phải tham khảo nhiều nguồn tài liệu chính thống, các bài luận văn khoa học thực tế về vấn đề nghiên cứu Trong rất nhiều các bài luận văn khoa học, tôi có tham khảo các tài liệu:
+ Đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu định hướng, phân bổ lại các băng tần 700/800/900/1800 MHz đáp ứng phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng” mã
số ĐTĐL-CN-01/16, chủ nhiệm đề tài Đoàn Quang Hoan
+ Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu và đề xuất phương án quy hoạch lại băng tần 700MHz dành cho IMT tại Việt Nam, tác giả Bùi Minh Đức
Trang 4+ Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu đề xuất phương án phân bổ băng tần 915-925MHz
hỗ trợ triển khai mạng kết nối Internet vạn vật – IOT tại Việt Nam, tác giả Nguyễn Văn Mong
+ Báo cáo sử dụng băng tần khu vực Châu Âu: ECO REPORT 03 THE LICENSING OF “MOBILE BAND” IN CEPT
3 Mục đích nghiên cứu:
Lập các phương án phân bổ, quy hoạch lại băng tần 800/850/900MHz dành cho
hệ thống thông tin di động IMT
- Đánh giá và đề xuất những phương án quy hoạch lại băng tần 800/850/900MHz dành cho hệ thống thông tin di động IMT phù hợp với Việt Nam
- Mô phỏng và đánh giá thuật toán dựa trên tiêu chí chất lượng hình ảnh và tỷ lệ nén
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung vào nghiên cứu hệ thống thông tin di động IMT đã và đang triển khai tại Việt Nam hiện nay
Nghiên cứu quy hoạch và hiện trạng băng tần 800/850/900MHz của các khu vực trên thế giới và Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu và đánh giá tính khả thi của phương án quy hoạch băng tần 800/850/900MHz
- Tiêu chí đánh giá các phương án bao gồm :
băng tần
5 Phương pháp nghiên cứu:
Trang 5- Nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm thực tế các nước trên thế giới và đánh giá khả năng can nhiễu của băng tần 800/850/900MHz sau khi quy hoạch lại
Luận văn được cấu trúc với các chương như sau:
Chương 1: Tình hình triển khai dịch vụ thông tin di động trên băng tần 800/850/900MHz tại Việt Nam
Chương 2: Tình hình quy hoạch băng tần 800/850/900MHz trên thế giới
Chương 3: Nghiên cứu thực tế và đề xuất quy hoạch lại băng tần 800/850/900MHz cho IMT tại Việt Nam
Trang 6CHƯƠNG I: TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG TRÊN BĂNG TẦN 800/850/900MHZ TẠI VIỆT NAM
1.1 Các hệ thống thông tin di động (GSM/3G/4G/5G):
1.1.1 Mạng thông tin di động GSM (2G):
- Đây chính là thế hệ mạng di động thứ 2 với tên gọi đầy đủ là: “hệ thống thông
tin di động toàn cầu“ Mạng 2G có tên tiếng anh là Global System for Mobile
Communications hay còn gọi là GSM Mạng 2G có khả năng phủ sóng rộng khắp, làm cho những chiếc điện thoại có thể được sử dụng ở nhiều nơi trên thế giới GSM gồm nhiều các trạm thu phát sóng để những điện thoại di động có thể kết nối mạng qua việc tìm kiếm các trạm thu phát gần nhất
Về chất lượng phục vụ và an toàn bảo mật:
- Chất lượng của thoại trong GSM phải ít nhất có chất lượng như các hệ thống
di động tương tự trước đó trong điều kiện vân hành thực tế
- Hệ thống có khả năng mật mã hoá thông tin người dùng mà không ảnh hưởng
gì đến hệ thống cũng như không ảnh hưởng đến các thuê bao khác không dùng đến khả năng này
Trang 7- Kế hoạch nhận dạng dựa trên khuyến nghị của CCITT
- Kế hoạch đánh số dựa trên khuyến nghị của CCITT
- Hệ thống phải cho phép cấu trúc và tỷ lệ tính cước khác nhau khi được dùng trong các mạng khác nhau
- Trung tâm chuyển mạch và các thanh ghi định vị phải dùng hệ thống báo hiệu được tiêu chuẩn hoá quốc tế
- Chức năng bảo vệ thông tin
Một hệ thống GSM có thể được chia thành nhiều phân hệ sau đây:
- Phân hệ chuyển mạch (SS: Switching Subsystem)
- Phân hệ trạm gốc (BSS: Base Station Subsystem)
- Phân hệ khai thác (OSS: Operation Subsystem)
- Trạm di động (MS: Mobile Station)
1.1.2 Hệ thống thông tin di động 3G
- Mạng di động Thế hệ thứ 3 của chuẩn công nghệ điện thoại di động chính là mạng 3G Third-generation technology, cho phép truyền cả dữ liệu thoại như nghe gọi, nhắn tin và dữ liệu ngoài thoại như gửi mail, tải dữ liệu, hình ảnh Nhờ có mạng 3G ta
có thể truy cập Internet cho cả thuê bao cố định hay di chuyển ở các tốc độ khác nhau hầu hết các smartphone hiện nay đều hỗ trợ công nghệ 3G Hiện nay công nghệ 3G được xây dựng với 4 chuẩn chính: W-CDMA, CDMA2000, TD-CDMA, TD-SCDMA
W-CDMA: Tiêu chuẩn W-CDMA là nền tảng của chuẩn UMTS (Universal Mobile Telecommunication System), dựa trên kỹ thuật CDMA trải phổ dãy trực tiếp, trước đây gọi là UTRA FDD, được xem như là giải pháp thích hợp với các nhà khai thác dịch vụ di động (Mobile network operator) sử dụng GSM, tập trung chủ yếu ở châu Âu và một phần châu Á (trong đó có Việt Nam) UMTS được tiêu chuẩn hóa bởi
tổ chức 3GPP, cũng là tổ chức chịu trách nhiệm định nghĩa chuẩn cho GSM, GPRS và EDGE
CDMA2000: Một chuẩn 3G quan trọng là CDMA2000, là thế hệ kế tiếp của các chuẩn 2G CDMA và IS-95 Các đề xuất của CDMA2000 nằm bên ngoài khuôn khổ GSM tại Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc CDMA2000 được quản lý bởi 3GPP2, là tổ chức
Trang 8độc lập với 3GPP Có nhiều công nghệ truyền thông khác nhau được sử dụng trong CDMA2000 bao gồm 1xRTT, CDMA2000-1xEV-DO và 1xEV-DV CDMA 2000 cung cấp tốc độ dữ liêu từ 144 kbit/s tới trên 3 Mbit/s Chuẩn này đã được chấp nhận bởi ITU
TD-CDMA: Chuẩn TD-CDMA, viết tắt từ Time-division-CDMA, trước đây gọi
là UTRA TDD, là một chuẩn dựa trên kỹ thuật song công phân chia theo thời gian (Time-division duplex) Đây là một chuẩn thương mại áp dụng hỗn hợp của TDMA và CDMA nhằm cung cấp chất lượng dịch vụ tốt hơn cho truyền thông đa phương tiện trong cả truyền dữ liệu lẫn âm thanh, hình ảnh.Chuẩn TD-CDMA và W-CMDA đều là những nền tảng của UMTS, tiêu chuẩn hóa bởi 3GPP, vì vậy chúng có thể cung cấp cùng loại của các kênh khi có thể Các giao thức của UMTS là HSDPA/HSUPA cải tiến cũng được thực hiện theo chuẩn TD-CDMA
TD-SCDMA: Chuẩn được ít biết đến hơn là TD-SCDMA (Time Division Synchronous Code Division Multiple Access) đang được phát triển tại Trung Quốc bởi các công ty Datang và Siemens, nhằm mục đích như là một giải pháp thay thế cho W-CDMA Nó thường xuyên bị nhầm lẫn với chuẩn TD-CDMA Cũng giống như TD-CDMA, chuẩn này dựa trên nền tảng UMTS-TDD hoặc IMT 2000 Time-Division (IMT-TD) Tuy nhiên, nếu như TD-CDMA hình thành từ giao thức mang cũng mang tên TD-CDMA, thì TD-SCDMA phát triển dựa trên giao thức của S-CDMA
Mạng di động 3.5G: là hệ thống mạng di động truyền tải tốc độ cao HSDPA (High Speed Downlink Packet Access), phát triển từ 3G và hiện đang được 166 nhà mạng tại
75 nước đưa vào cung cấp cho người dùng Nó đuợc kết hợp từ 2 công nghệ kết nối không dây hiện đại HSPA và HSUPA, cho phép tốc độ truyền dẫn lên đến 7.2Mbp/s
1.1.3 Hệ thống thông tin di động 4G
- LTE-Advanced (Long Term Evolution-Advanced) là sự tiến hóa trong tương lai của công nghệ LTE, công nghệ dựa trên OFDMA này được chuẩn hóa bởi 3GPP trong phiên bản (Release) 8 và 9 LTE-Advanced, dự án được nghiên cứu và chuẩn hóa bởi 3GPP vào năm 2009 với các đặc tả được mong đợi hoàn thành vào quý 2 năm 2010 như là một phần của Release 10 nhằm đáp ứng hoặc vượt hơn so với những yêu cầu
Trang 9của thế hệ công nghệ vô tuyến di động thế hệ thứ 4 (4G) IMT-Advanced được thiết lập bởi ITU LTE-Advanced sẽ tương thích ngược và thuận với LTE, nghĩa là các thiết bị LTE sẽ hoạt động ở cả mạng LTE Advanced mới và các thiết bị LTE-Advanced sẽ hoạt động ở cả các mạng LTE cũ
Gần đây, ITU đã đưa ra các yêu cầu cho IMT-Advanced nhằm tạo ra định nghĩa chính thức về 4G Thuật ngữ 4G sẽ áp dụng trên các mạng tuân theo các yêu cầu của IMT-Advanced xoay quanh báo cáo ITU-R M.2134 [2] Một số yêu cầu then chốt bao gồm:
- Hỗ trợ độ rộng băng tần lên đến và bao gồm 40 MHz
- Khuyến khích hỗ trợ các độ rộng băng tần rộng hơn (chẳng hạn 100 MHz)
- Hiệu quả sử dụng phổ tần đỉnh đường xuống tối thiểu là 15 b/s/Hz (giả sử sử dụng MIMO 4x4)
- Hiệu quả sử dụng phổ tần đỉnh đường lên tối thiểu là 6,75 b/s/Hz (giả sử sử dụng MIMO 4x4)
- Tốc độ thông lượng lý thuyết là 1,5 Gb/s (trong phiên bản trước đây, 1Gb/s thường được coi là mục tiêu của hệ thống 4G)
Hiện tại chưa có công nghệ nào đáp ứng những yêu cầu này Nó đòi hỏi những công nghệ mới như là LTE-Advanced và IEEE 802.16m Một số người cố gắng dán nhãn các phiên bản hiện tại của WiMAX và LTE là 4G nhưng điều này chỉ chính xác đối với phiên bản tiến hóa của các công nghệ trên, chẳng hạn LTE-Advanced, còn LTE chỉ có thể gọi với cái tên không chính thức là 3,9G LTE sử dụng kỹ thuật đa truy nhập phân chia theo tần số trực giao OFDMA ở đường xuống Trong khi đó, ở đường lên, LTE sử dụng kỹ thuật đa truy nhập phân chia theo tần số - đơn sóng mang SC-FDMA Một số tính năng khác của LTE:
- Tốc độ số liệu đỉnh đường xuống lên đến 326Mb/s với độ rộng băng tần 20 MHz;
- Tốc độ số liệu đỉnh đường lên lên đến 86,4 Mb/s với độ rộng băng tần 20 MHz;
- Hoạt động ở cả chế độ TDD và FDD
- Độ rộng băng tần có thể lên đến 20 MHz bao gồm cả các độ rộng băng 1,4; 3; 5; 10; 15 và 20 MHz;
Trang 10- Hiệu quả sử dụng phổ tăng so với HSPA ở Release 6 khoảng 2 đến 4 lần
Độ trễ giảm với thời gian trễ vòng giữa thiết bị người sử dụng và trạm gốc là 10
ms và thời gian chuyển từ trạng thái không tích cực sang tích cực nhỏ hơn 100 ms Mạng 4G hiện đang được sử dụng phổ biến và hội tụ rất nhiều ưu điểm khiến người dùng hài lòng Dưới đây là những ưu điểm nổi bật nhất của mạng di động 4G
- Tốc độ mạng 4G đạt mức rất ấn tượng khi trong điều kiện lý tưởng, tốc độ tải của công nghệ mạng này khi di chuyển lên đến 100 Mbps và đạt xấp xỉ 1Gbps nếu đứng yên
- Công suất và hiệu suất hoạt động của mạng di động 4G cực kỳ cao khi một trạm phát 4G có thể phục vụ cùng lúc khoảng 300-400 người dùng Mạng 4G hỗ trợ các chương trình mã hóa nhanh hơn, nén được nhiều dữ liệu bit hơn so với mạng 3G
- Nhờ tốc độ truyền dữ liệu cao nên mạng 4G hỗ trợ các phần mềm chạy mượt mà hơn, người dùng được xem video chất lượng cao Full HD và 4K
1.1.4 Hệ thống thông tin di động 5G
Giống như những gì chúng ta hình dung, 5G nhanh hơn 4G Hiện tại,
mạng 5G mới được lên kế hoạch hoạt động trong dải tần số cao của băng tần không dây – nó nằm giữa 30 GHz và 300 GHz, hay còn được gọi là băng tần bước sóng milimet Đối với các thiết bị di động, 5G sẽ giúp sửa chữa rất nhiều vấn đề của 4G và các công nghệ không dây hiện tại Nó sẽ được thiết kế để hỗ trợ đồng thời nhiều người dùng và thiết bị hơn (theo thông số kỹ thuật ITU mỗi cell 5G sẽ hỗ trợ cho 1 triệu thiết
bị trên diện tích 1 km2), với tốc độ cao hơn cả 4G Việc tốc độ dữ liệu của bạn bị chậm
đi khi đang ở một sự kiện đông người sẽ chỉ còn là quá khứ
Hệ thống mạng truy cập vô tuyến 5G chủ yếu dựa vào sự tích hợp của đa công nghệ truy cập vô tuyến như: các công nghệ 2G (GPRS/EDGE); các công nghệ 3G (HSPA/UMTS); các công nghệ 4G (LTE-A/IEEE 802.16m); mạng WLAN, WiFi; truyền dẫn quang không dây;
Việc chuyến đổi từ truyền hình tương tự sang truyền hình số trên thế giới nói chung tại Việt Nam cụ thể trên băng tần 700/800MHz sẽ dẫn đến dôi dư một số băng tần và băng tần dôi dư này được gọi là băng tần lợi ích số Ở nước ta, với sự chủ động
Trang 11đi tắt đón đầu về tiếp nhận và chuyển giao công nghệ, có thể nói một số công nghệ tiên tiến như LTE hoặc LTE-A đang và sẽ sẵn sàng đáp ứng phù hợp cho sử dụng tại các băng tần này trong hiện tại và tương lai Như vậy, tại băng tần 700/800MHz ở Việt Nam, các công nghệ thông tin vô tuyến thế hệ mới như LTE, LTE-A đã sẵn sàng có thể đáp ứng cho sử dụng
1.2 Hiện trạng khai thác dịch vụ thông tin di động tại Việt Nam
1.2.1 Lịch sử hình thành các doanh nghiệp thông tin di động:
Thông tin di động Việt nam bắt đầu từ năm 1993 với nhà cung cấp dịch vụ đầu tiên là Công ty thông tin di động VMS (MobiFone) và sau đó năm 1996 là Công ty Dịch vụ viễn thông GPC- VNPT (VinaPhone) Từ năm 2003, thị trường thông tin di động bùng nổ với nhiều nhà cung cấp dịch vụ khác ra đời như Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel (2004), Sfone (2003), Công ty Viễn thông điện lực EVN Telecom (2005), Công ty cổ phần viễn thông Hà nội (Vietnamobile, 2006), Công ty Viễn thông toàn cầu (Gtel, 2009)
Hình 1 Phân bổ băng tần giữa các nhà mạng tại Việt Nam
Trang 12Dịch vụ thông tin di động được cung cấp đầu tiên trên các băng tần truyền thống GSM 900MHz, 1800MHz, sau đó tiếp tục mở rộng trên các băng tần CDMA 450MHz/ 850MHz, E-GSM 900MHz, WCDMA 2100 MHz
Băng tần 900MHz được cấp phép đầu tiên vào năm 1993 để Công ty thông tin
di động VMS (MobiFone) triển khai hệ thống GSM Đến năm 1996 Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt nam (VNPT) được cấp phép và năm 2004 Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel được cấp phép trên băng tần 900 MHz để triển khai hệ thống GSM NHư vậy băng tần 900 MHz là băng tần khởi nguồn của cả ba nhà mạng lớn nhất của Việt Nam HT-Mobile là mạng di động thứ 6 được cấp phép tại Việt Nam theo hợp đồng hợp tác kinh doanh (liên doanh - BCC) giữa Hanoi Telecom và Tập đoàn Hutchison (Hồng Kông)
Băng tần 1800MHz được cấp phép đầu tiên vào năm 2003, Công ty Thông tin
di động VMS (nay là Tổng công ty TTDĐ MobiFone) được cấp phép sử dụng 2x 13,2 MHz băng tần để triển khai hệ thống GSM
Đến năm 2004 Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt nam (VNPT) được cấp phép 2x13,4 MHz và năm 2005 Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel được cấp phép 2x 13,2 MHz trên băng tần 1800 MHz để triển khai mở rộng hệ thống GSM
Năm 2007, các nhà khai thác trên được cấp phép bổ sung thêm: Công ty Thông tin di động VMS (2x 6.8 MHz), Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt nam (2 x 6.6 MHz) và Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel (2 x 6.6 MHz) để đạt mỗi nhà khai thác có đủ 2 x 20 MHz theo quy hoạch tại Quyết định 17/2006/QĐ-BBCVT
Năm 2008, Công ty Cổ phần Viễn thông Di động Toàn cầu (GTEL Mobile) được cấp 2 x 15 MHz để để triển khai hệ thống GSM theo quy định tại Quyết định 25/2008/QĐ-BTTTT
Năm 2017, Tổng công ty Viễn thông MobiFone và VNPT đã được chính thức cấp giấy phép băng tần trên băng 900 MHz để triển khai hệ thống trên hai công nghệ GSM và WCDMA Công ty Cổ phần Viễn thông Di động Vietnamobilecũng đã được cấp giấy phép băng tần để triển khai công nghệ GSM, WCDMA và LTE/LTE-Advanced trên băng tần 900MHz Riêng Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel vẫn chỉ triển khai duy nhất công nghệ GSM trên băng tần này Đồng thời, các doanh nghiệp cung cấp thông
Trang 13tin di động nàycũng đã được chính thức cấp giấy phép băng tần trên băng 1800 MHz
để triển khai hệ thống trên hai công nghệ GSM và LTE
1.2.2 Hiện trạng khai thác dịch vụ thông tin di động tại Việt Nam:
Băng tần 900 MHz là băng tần khởi nguồn của cả ba nhà mạng lớn nhất của Việt nam Sau đó, cả ba nhà mạng này đều lần lượt được cấp thêm băng tần 1800MHz Bên cạnh đó, một số nhà mạng ra đời sau và còn hoạt động cho đến nay gồm HT-Mobile
và Công ty Cổ phần Viễn thông Di động Toàn cầu Các nhà mạng, ngoại trừ Mobile, đều triển khai công nghệ GSM trên các băng tần 900/1800MHz mà mình được cấp phép
HT-HT-Mobile bắt đầu cung cấp dịch vụ vào tháng 11 năm 2006, sử dụng công nghệ CDMA 2000-EvDO với tần số hoạt động 800 MHz Tuy nhiên do sớm nhận thấy khó khăn của việc phát triển CDMA tại Việt nam, HT-Mobile đã xin phép được chuyển đổi công nghệ từ CDMA 800MHz sang eGSM-900 MHz vào năm 2007 Để thực hiện việc chuyển đổi công nghệ, HT-Mobile đã tiến hành gửi tất cả các thuê bao hiện có của mình sang cho S-Fone, mạng di động CDMA khác dùng cùng tần số tại Việt Nam, quản lý Đến ngày 9 tháng 4 năm 2009, Hanoi Telecom đã ra mắt mạng di động mới của mình với tên Vietnamobile trên nền công nghệ E-GSM
Năm 2014, Công ty Thông tin di động VMS, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt nam và Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel đã tiến hành thử nghiệm công nghệ WCDMA/HSPA trên băng tần 900 MHz Tuy nhiên sau quá trình thử nghiệm, mạng VinaPhone và MobiFone đạt được kết quả tốt, trong khi đó mạng Viettel không đạt hiệu quả do bị can nhiễu nội mạng
Năm 2016, trên cơ sở quy định tại Thông tư 04/2015/TT-BTTTT, Công ty Thông tin di động VMS, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt nam và Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel đã tiến hành thử nghiệm công nghệ LTE trên băng tần 1800 MHz