Ở Việt Nam trong bối cảnh đổi mới kinh tế dưới sự lãnh đạo của Đảng, vấn đềthị trường hàng hoá sức lao động và chính sách tiền lương không chỉ là tiêu thứckinh tế mà còn mang ý nghĩa chí
Trang 1NGHIỀN C U VỀỀ S C LAO Đ NG VÀ TIỀỀN L Ứ Ứ Ộ ƯƠ NG C A C.MAC VÀ Ủ
V N D NG VÀO VI T NAM HI N NAY Ậ Ụ Ệ Ệ
Nhóm 07
L p h c phầền: 2205RLCP1211 ớ ọ
Ng ườ ướ i h ng dầẫn: Gi ng viền Võ Tá Tri ả
Trang 2Hà Nam, tháng 03 năm 2022
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU 3
Chương I: Cơ sở lý thuyết 4
1 Sức lao động 4
2 Tiền lương 5
Chương II: Thực trạng sức lao động, thị trường sức lao động và tiền lương ở Việt Nam 6
1 Tình hình sức lao động VN hiện nay 6
2 Thực trạng thị trường sức lao động ở VN 7
a Thực trạng cung lao động 7
b Thực trạng cầu lao động 7
c Thực trạng xuất khẩu lao động 8
3 Thực trạng tiền lương ở VN hiện nay 9
a Chính sách tiền lương tối thiểu 9
b Những mặt đạt được 10
c Những hạn chế, bất cập 12
Chương III Một số giải pháp nâng cao giá trị sức lao động và tiền lương ở14 Việt Nam 14
1.Giải pháp nâng cao giá trị sức lao động ở Việt Nam. 14
a Nhóm giải pháp chung: 14
b Giải pháp về phát triển nguồn cung lao động: 15
c Giải pháp về phát triển nguồn cầu lao động: 15
d Giải pháp về phát triển nguồn xuất khẩu lao động. 16
2 Giải pháp nâng cao gia trị tiền lương ở Việt Nam. 17
KẾT LUẬN 20
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Nguồn lao động là tài sản quý giá và to lớn của quốc gia, là một trong nhữngđiều kiện tiên quyết thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế Ngày nay, sự thịnh vượng củacác quốc gia không còn chỉ dựa vào sự giàu có của nguồn tài nguyên thiên nhiên màđược xây dựng chủ yếu trên nền tảng văn minh trí tuệ của con người Tuy nhiên,việc đào tạo, phát triển và những chính sách đãi ngộ người lao động trên thế giớivẫn còn nhiều bất cập Do đó, việc đề ra những chính sách và giải pháp nhằm bình
ổn thị trường đặc biệt này luôn luôn có ý nghĩa thời sự cả về lý thuyết lẫn thực tiễn Tiền lương là lợi ích kinh tế thiết thân của người lao động, là phương tiện tái sảnxuất sức lao động, năng lực của lao động trong quá trình sản sinh ra các giá trị giatăng Để có một chính sách tiền lương hợp lý, kích thích năng lực sáng tạo củangười lao động, rất cần hiểu rõ căn cứ hay cơ sở của tiền lương Khi lợi ích củangười lao động được bảo đảm bằng các mức lương thỏa đáng, lợi ích của người sửdụng lao động sẽ tăng, tạo cơ sở kinh tế để tăng thu nhập và lợi ích kinh tế chongười cung ứng sức lao động, tạo ra sự gắn kết cộng đồng giữa người lao động vớingười sử dụng lao động
Lý luận về loại hàng hoá đặc biệt - sức lao động và tiền lương Chủ nghĩa Mác-Lênin đã có những luận điểm khoa học, toàn diện và biện chứng Trên cơ sở đó, tạotiền đề vững chắc cho việc lý giải và áp dụng vào thực tiễn xã hội những giải phápnhằm ổn định và phát triển thị trường của loại hàng hoá đặc biệt này cùng nhữngvấn đề liên quan đến nó
Ở Việt Nam trong bối cảnh đổi mới kinh tế dưới sự lãnh đạo của Đảng, vấn đềthị trường hàng hoá sức lao động và chính sách tiền lương không chỉ là tiêu thứckinh tế mà còn mang ý nghĩa chính trị Đặc biệt, đối với một đất nước đang trongthời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tiến tới hội nhập kinh tế quốc tế thì vấn đềnày lại càng trở nên bức thiết hơn bao giờ hết
Từ đó, xuất phát từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn nếu trên nhóm em xin chọn đề tài
“Lí luận về sức lao động và tiềng lương của C Mác và vận dụng vào Việt Nam hiệnnay” để làm sáng tỏ hơn về vấn đề này
Trang 5Chương I
Cơ sở lý thuyết
1 Sức lao động
a Khái niệm sức lao động
Sức lao động là toàn bộ những năng lực (thể lực và trí lực) tồn tại trong một conngười và được người đó sử dụng vào sản xuất Sức lao động là cái có trước còn lao
động là quá trình vận dụng sức lao động
b Khái niệm thị trường sức lao động
Thị trường sức lao động (Thị trường lao động) là một bộ phận của hệ thống thịtrường, trong đó diễn ra quá trình trao đổi giữa một bên là người lao động tự do vàmột bên là người có nhu cầu sử dụng lao động Sự trao đổi này được thoả thuận trên
cơ sở mối quan hệ lao động như tiền lương, tiền công, điều kiện làm việc thôngqua một hợp đồng làm việc bằng văn bản hay bằng miệng
c Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa
Trong bất cứ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện cơ bản của sản xuất.Nhưng không phải trong bất kỳ điều kiện nào, sức lao động cũng là hàng hoá Sứclao động chỉ có thể trở thành hàng hoá trong những điều kiện lịch sử nhất định sau:
Thứ nhất, người lao động là người tự do về thân thể của mình, có khả năng chi
phối sức lao động ấy và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa
Thứ hai, người lao động bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất, họ trở thành
người “vô sản” và để tồn tại buộc anh ta phải bán sức lao động của mình để sống
Trang 6d Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động
Giống như hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động có 2 thuộc tính: giá trị và giátrị sử dụng
Giá trị của hàng hóa sức lao động do thời gian lao động xã hội cần thiết để sảnxuất và tái sản xuất sức lao động quyết định Giá trị sức lao động quy về giá trị củatoàn bộ tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất và sản xuất ra sức lao động, để duy trìđời sống của công nhân và gia đình họ Giá trị của hàng hóa sức lao động khác vớihàng hóa thông thường ở chỗ nó bao hàm cả yếu tố tinh thần và yếu tố lịch sử củatừng nước, từng thời kỳ, phụ thuộc vào trình độ văn minh, điều kiện lịch sử hìnhthành giai cấp công nhân và điều kiện địa lý, khí hậu
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động thể hiện ở quá trình tiêu dùng sức laođộng, tức là quá trình lao động để sản xuất ra một hàng hóa, một dịch vụ nào đó Trong quá trình lao động, sức lao động tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn lượnggiá trị của bản thân nó, phần giá trị dôi ra so với giá trị sức lao động là giá trị thặng
dư Đó chính là đặc điểm riêng có của giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động
2 Tiền lương
a Khái niệm
Tiền lương là giá cả của hàng hóa sức lao động Đó là bộ phận của giá trị mới
do chính hao phí sức lao động của người lao động làm thuê tạo ra, nhưng nó lạithường được hiểu là do người mua sức lao động trả cho người lao động làm thuê
b Bản chất kinh tế của tiền công
Thứ nhất, tiền công là giá cả của hàng hóa sức lao động, chỉ đủ để tái sản xuất
sức lao động Người sử dụng lao động là chủ doanh nghiệp (nhà tư bản trong chủ
Trang 7nghĩa tư bản), cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sửdụng lao động theo hợp đồng lao động.
Thứ hai, tiền công là người trả tiền mua hàng hóa sức lao động nên người sử
dụng lao động có quyền tổ chức, quản lý quá trình làm việc của người lao động
c Các hình thức cơ bản của tiền công
Bao gồm tiền công tính theo thời gian và tiền công tính theo sản phẩm:
Tiền công tính theo thời gian: là hình thức tiền công mà số lượng của nó ít haynhiều tuỳ theo thời gian lao động của công nhân (giờ, ngày, tháng) dài hay ngắn.Tiền công tính theo sản phẩm: là hình thức tiền công mà số lượng của nó phụthuộc vào số lượng sản phẩm hay số lượng những bộ phận của sản phẩm mà côngnhân đã sản xuất ra hoặc là số lượng công việc đã hoàn thành
d Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế
Tiền công danh nghĩa: là số tiền mà người công nhân nhận được do bán sức laođộng của mình cho nhà tư bản Tiền công được sử đụng để tái sản xuất sức lao động,nên tiền công danh nghĩa phải được chuyển hóa thành tiền công thực tế
Tiền công thực tế: Tiền công thực tế là tiền công được biểu hiện bằng số lượnghàng hóa tiêu dùng và dịch vụ mà công nhân mua được bằng tiền công danh nghĩacủa mình
Trang 8Chương II
Thực trạng sức lao động, thị trường sức lao động
và tiền lương ở Việt Nam
1 Tình hình sức lao động VN hiện nay
Trong thời gian qua việc phát triển thị trường lao động nước ta đã thu được nhữngthành quả nhất định, làm cơ sở cho việc hoàn thiện quan hệ lao động, phát triển kinh
tế – xã hội Với sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, yêucầu phát triển đồng bộ các loại thị trường khác nhau đã góp phần phân bổ hợp lý,nhanh chóng, có hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế tạo điều kiện cho hànghoá sức lao động và thị trường lao động Về mặt phát triển kinh tế, Việt Nam đangchuyển từ sản xuất hàng hoá giản đơn lên sản xuất hàng hoá xã hội chủ nghĩa, trong
đó có vận dụng những thành tựu của sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa Yếu tố cơbản để phân biệt sản xuất hàng hoá TBCN với sản xuất hàng hoá theo định hướngXHCN là khả năng phát huy vai trò tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân củahàng hoá sức lao động Đây là vấn đề then chốt trong việc vận dụng lý luận hànghoá sức lao động của C.Mác để có thể xây dựng một quan hệ lao động trong nền
Trang 9kinh tế thị trường định hướng XHCN tốt đẹp hơn quan hệ lao động trong nền kinh tếthị trường TBCN.
đó, lực lượng lao động tăng nhanh hơn, góp phần làm cho nguồn cung lao động dồidào, với tỷ lệ tăng trung bình 2,6%/năm, tương đương với 1.200.000 lao động/năm.Đây là con số “mơ ước” để thúc đẩy lực lượng lao động phát triển và là nền tảngcho phát triển kinh tế trong tương lai Cụ thể, số người trong độ tuổi lao động (từ 15
- 60 tuổi) đã tăng từ 39.394.000 người năm 1999 lên tới 53.098.000 người năm
2012, trong đó lao động nam chiếm 51,4%; lao động nữ chiếm 48,6% Lao động từ
15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2012 là 52.114.000 người
b Thực trạng cầu lao động
Tuy nhiên, số người trong độ tuổi lao động đông không có nghĩa là thịtrường lao động Việt Nam đáp ứng đủ nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp Bởi
số lao động có tay nghề, có chất lượng của nước ta đang còn rất hạn chế Trong tổng
số 51,4 triệu lao động chỉ có gần 7,8 triệu người đã được đào tạo, chiếm 15,4% Sựchênh lệch về chất lượng nguồn lao động được thể hiện rõ nhất là ở khu vực nôngthôn và thành thị Ở thành thị lao động đã được đào tạo chiếm 30,9%, trong khi ởnông thôn chỉ có 9% Sự chênh lệch này là quá lớn, ảnh hưởng không nhỏ tới sự
Trang 10phát triển kinh tế chung của nước Trong khi đó, lượng lao động từ nông thôn đếnthành thị tìm việc là rất lớn Nhưng mục đích chính của những lao động này lênthành phố không phải để học nghề, học việc mà tham gia vào các công việc mangtính chất thời vụ, buôn bán hoặc làm những công việc không đòi hỏi kinh nghiệm,tay nghề Mức lương trả cho người lao động sẽ tuân thủ mức tối thiểu vùng theo quyđịnh pháp luật Mức tiền lương thấp nhất trả cho người lao động đã qua học nghề( kể cả lao động tự dạy nghề) phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu.Nguồn lao động dồi dào, tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta trong những năm gần đây liêntục tăng, nhưng các doanh nghiệp vẫn còn tình trạng thiếu lao động Nguyên nhân là
do lao động Việt Nam chỉ mới đáp ứng được nhu cầu về số lượng, chứ chưa đáp ứngđược nhu cầu về chất lượng Điều này không chỉ gây khó khăn cho các doanhnghiệp và còn khiến cho người lao động tự làm mất cơ hội việc làm cho bản thân.Đây cũng là nguyên nhân gây ra sự chênh lệch cung – cầu về lao động tại thị trườnglao động hiện nay Lao động làm việc trong các khu vực cũng có sự chênh lệch lớn:Chỉ có 4 triệu người kiếm được việc làm tại khu vực nhà nước; khu vực có vốn đầu
tư nước ngoài là 1,67 triệu người, trong khi ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước thì cótới 40 triệu người
c Thực trạng xuất khẩu lao động
Những năm gần đây, nhờ mở cửa hội nhập kinh tế thế giới, thị trường xuấtkhẩu lao động của Việt Nam đang ngày càng sôi động hơn Năm 2007, đóng gópcủa xuất khẩu lao động vào GDP là hơn 8,4 triệu USD, chiếm 14,5% GDP Con sốnày vào năm 2009 được dự đoán sẽ còn cao hơn nữa
Theo Cục quản lý lao động ngoài nước, chỉ trong vòng 6 tháng đầu năm 2007, cảnước đã có trên 81.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài Đài Loan là thị trườngtiếp nhận nhiều lao động Việt Nam nhất với 25.759 người, tiếp đó là Ma-lai-xi-a với
Trang 11gần 8.780 người, Hàn Quốc 5.275 người… Bên cạnh việc giữ vững thị trường xuấtkhẩu lao động truyền thống là các nước ở khu vực Đông Nam Á, khu vực Châu Á,Việt Nam đã đẩy mạnh hợp tác, liên kết nhằm mở rộng thị trường mới ở khu vựcTrung Đông, Châu Phi, Bắc Âu và Bắc Mỹ Đây là những thị trường có nhu cầu laođộng lớn, có chế độ đãi ngộ với lao động ngoài nước như dân bản xứ Với nhữngcông việc đòi hỏi có kỹ thuật như kỹ sư, y tá, công nhân cơ khí…thì mức lươngkhoảng từ 5.500 đến 8.500 USD/tháng Tuy nhiên, đó cũng là những thị trường khótính nên yêu cầu khắt khe về ngoại ngữ khiến phần lớn lao động phổ thông trongnước không thể đáp ứng được
3 Thực trạng tiền lương ở VN hiện nay
a Chính sách tiền lương tối thiểu
- Về mức lương tối thiểu: Mặc dù đã qua nhiều lần điều chỉnh tăng mức lương tốithiểu, nhưng cho tới nay, mức lương tối thiểu vẫn quá thấp không bảo đảm tái sảnxuất giản đơn sức lao động của bản thân người lao động Nếu so sánh chỉ số lươngtối thiểu với hệ nhu cầu cần đạt được (gồm các yếu tố: ăn, ở, mặc, đi lại, học tập,văn hóa, giao tiếp xã hội, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp),thì chỉ số này rất thấp Mức lương tối thiểu hiện nay (1,05 triệu đồng/tháng) chỉbằng 37,5% nhu cầu tối thiểu
- Thời gian và mức độ điều chỉnh tiền lương danh nghĩa Ở nước ta, trong nhữngnăm gần đây, tỷ lệ lạm phát hằng năm khá cao, vì thế, về nguyên tắc, để tiền lươngthực tế của người lao động không bị giảm cần phải điều chỉnh tăng mức lương danhnghĩa ít nhất ngang bằng với tỷ lệ lạm phát Tuy nhiên, trên thực tế, việc điều chỉnhlương chưa được thực hiện kịp thời, không theo kịp với đà tăng giá Tại hội
Trang 12thảo “Thực trạng chính sách tiền lương và hướng cải cách” do Ủy ban Các vấn đề
xã hội của Quốc hội tổ chức ngày 17-5-2012, nhiều đại biểu cho rằng, việc tănglương lâu nay mới chỉ bù đắp được mức tăng chỉ số giá cả, tức là chỉ bù vào đượclạm phát, chứ chưa đáp ứng được mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống Mứclương tối thiểu quy định trong khu vực nhà nước chỉ đáp ứng được 35% nhu cầusống tối thiểu, còn lương tối thiểu quy định cho khu vực doanh nghiệp theo từngvùng chỉ đáp ứng được khoảng 75% nhu cầu sống tối thiểu
- Hệ số phụ cấp : Tiền lương có một chức năng cực kỳ quan trọng là điều tiết quan
hệ cung - cầu về sức lao động trong nền kinh tế thị trường Hệ số phụ cấp trongchính sách tiền lương ở nước ta hiện nay mới chỉ có loại phụ cấp tham gia điều tiếtcung - cầu sức lao động theo vùng là phụ cấp khu vực, phụ cấp thu hút, phụ cấp đắt
đỏ Sự chênh lệch mức lương giữa lao động giản đơn và lao động phức tạp chưa đủ
để khuyến khích nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thậm chí còn có tình trạng
“chảy máu chất xám”
- Tỷ lệ tiền lương trong thu nhập : Tiền lương chỉ trở thành động lực mạnh mẽ thúcđẩy sự hoạt động tích cực của người lao động khi nó chiếm phần lớn trong thu nhậpcủa họ Với chính sách tiền lương hiện hành, tiền lương của cán bộ công nhân, viênchức hiện nay chỉ chiếm phần nhỏ trong tổng thu nhập của người hưởng lương(khoảng 30%- 50%), làm cho tiền lương không phản ánh đúng thang giá trị laođộng, ảnh hưởng lớn tới quan hệ tiền lương trên thực tế Hiện nay, có một tình trạng
là do tiền lương quá thấp, trong khi quỹ tiền thưởng được Nhà nước quy định,khống chế không vượt quá 50% quỹ tiền lương thực hiện nên một số đơn vị đã tìmmọi cách để tăng phần trả ngoài lương, trong đó chủ yếu là tiền thưởng cho ngườilao động từ 1 đến hơn 1 lần lương chính thức
b Những mặt đạt được
12
Trang 13Thứ nhất, quan điểm, chủ trương về cải cách chính sách tiền lương của Đảng từnăm 2003 đến nay là đúng đắn, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa Đặc biệt quan điểm coi việc trả lương đúng cho người lao động làthực hiện đầu tư cho phát triển, tạo động lực để phát triển kinh tế và nâng cao chấtlượng dịch vụ công, góp phần làm trong sạch và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạtđộng của bộ máy Nhà nước Đặc biệt, Luật Cán bộ, Công chức đã quy định côngchức có 2 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ sẽ bị cho thôi việc Thực hiệntốt việc xác định vị trí việc làm sẽ là cơ sở và căn cứ để tính toán được biên chếcông chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi và đối tượng quản lý trongtừng cơ quan, tổ chức, đơn vị Người nào không đáp ứng được các yêu cầu của vị tríviệc làm sẽ bị đưa ra khỏi công vụ Chính phủ đã xác định lộ trình thực hiện việcxây dựng hệ thống vị trí việc làm trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị, phấn đấu đếnnăm 2015, 50% cơ quan hành chính nhà nước có cơ cấu cán bộ, công chức theo vịtrí việc làm.
Thứ hai, tách dần tiền lương khu vực sản xuất kinh doanh với khu vực hành
chính nhà nước và khu vực sự nghiệp cung cấp dịch vụ công; chính sách tiền lươngvới chính sách bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công, trợ giúp xã hô ̣i Đó là bướcngoă ̣t rất quan trọng cải cách tiền lương trong điều kiện mới theo định hướng thịtrường
Thứ ba, chú ý gắn cải cách tiền lương cán bộ, công chức, viên chức với cải cách
hành chính và xây dựng nền công vụ, tinh giảm biên chế khu vực hành chính nhànước, phát triển khu vực sự nghiê ̣p cung cấp dịch vụ công theo nhu cầu phát triểncủa xã hô ̣i Một số ý kiến cho rằng cần tiếp tục cắt giảm 40% cán bộ công chức hiện
13