2 Vì vậy, luận án này nghiên cứu các vấn đề về chuyển di tiêu cực của ngôn ngữ thứ nhất dưới quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận và đề xuất một số ứng dụng cho việc giảng dạy tiếng Anh t
Trang 1CỦA NGƯỜI VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Anh
Mã số: 62.22.02.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH NGÔN NGỮ ANH
Đà Nẵng, 2022
Trang 2CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Bối cảnh nghiên cứu
Việc học ngoại ngữ ở các quốc gia không nói tiếng Anh gặp nhiều khó khăn và tốn rất nhiều thời gian Ngay cả những người có năng khiếu về ngoại ngữ cũng gặp phải một
số thách thức khi học tiếng Anh ở những quốc gia này Ngoài các vấn đề về từ vựng
và ngữ pháp, Burns và Richards (2018) chỉ ra rằng học một ngoại ngữ còn bị rào cản bởi những thách thức về tri nhận Theo nhiều nghiên cứu, việc chuyển di tiêu cực những tri nhận từ ngôn ngữ mẹ đẻ được coi là một trong những lỗi phổ biến trong giảng dạy ngoại ngữ Theo các chuyên gia giảng dạy ngoại ngữ, chuyển di ngôn ngữ
mẹ đẻ lên việc học ngoại ngữ một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng cần được nghiên cứu thêm (Dulay, Burt, & Krashen, 1982; Jarvis & Pavlenko; Tyler & Evans, 2001) Một số nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã thực hiện các nghiên cứu phân tích, so sánh về giới từ tiếng Việt và tiếng Anh trong nỗ lực tìm hiểu những điểm giống và khác nhau giữa hai ngôn ngữ Gần đây, một vài nghiên cứu trong ngôn ngữ học tri nhận đã xem xét các giới từ trong tiếng Việt và/ hoặc tiếng Anh; phần lớn các nghiên cứu này chỉ tập trung vào giới từ chuyển động hoặc hướng (Trần Thị Minh Giang, & Lưu Quý Khương, 2014; Lưu Trọng Tuấn, 2011; Lý Ngọc Toàn, 2019) Khi xem xét các nghiên cứu này, có thể thấy đơn giản rằng người học tin rằng giới từ và các tiểu từ là không
có mối liên quan và kết quả là chúng thường có nhiều khả năng được sử dụng bằng cách dịch sang tiếng Anh với một từ tương đương và đôi khi là thiếu chính xác Loại chuyển di từ tiếng mẹ đẻ sang tiếng Anh như vậy ảnh hưởng lên quá trình đắc thụ ngoại ngữ thứ 2 là tiếng Anh trong thời gian dài, trong đó ngôn ngữ thứ nhất ảnh hưởng tiêu cực đến việc đạt được khả năng thông thạo tiếng Anh của người học ngoại ngữ Đối với hiện tượng chuyển di ngôn ngữ tiêu cực, ngôn ngữ học tri nhận chưa có nhiều nghiên cứu, đặc biệt là đối với giới từ thì hầu như chưa được thực hiện
1.2 Vấn đề nghiên cứu
Người học Việt Nam gặp vô vàn khó khăn khi học hoặc sử dụng các giới từ tiếng Anh Những khó khăn này có thể được tóm tắt như sau:
• Số lượng giới từ trong tiếng Việt không giống như trong tiếng Anh
• Một giới từ tiếng Anh được kết hợp với các từ khác có thể có nhiều nghĩa và một số nghĩa của chúng hoàn toàn khác với nghĩa cốt lõi của chính từ đó Ví
dụ, cụm động từ "make up" bao gồm 8 nghĩa khác nhau tùy theo ngữ cảnh của chúng;
• Có một sự khác biệt đáng kể trong cách người Việt và người Anh hiểu về giới từ
Trang 32
Vì vậy, luận án này nghiên cứu các vấn đề về chuyển di tiêu cực của ngôn ngữ thứ nhất dưới quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận và đề xuất một số ứng dụng cho việc giảng dạy tiếng Anh trong bối cảnh ở Việt Nam
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu kiểm tra đánh giá các vấn đề được đưa ra nhằm đạt được mục tiêu cụ thể sau đây:
Mục tiêu thứ nhất là xác định các yếu tố dẫn đến chuyển di tiêu cực thông qua việc sử dụng các giới từ tiếng Anh Có 8 giả thuyết đã được dặt ra để xem xét các đặc điểm ngữ nghĩa của giới từ tiếng Anh, mà người học tiếng Anh có thể sử dụng không phù hợp Từ cuộc khảo sát, các yếu tố liên quan đến sự tương đồng giữa hai ngôn ngữ đã được phân tích để đưa ra sự hiểu biết đầy đủ về chuyển di ngôn ngữ vì hiện nay hầu hết các nghiên cứu hiện có về ngữ pháp đều mang tính lý thuyết và bỏ qua vai trò của
chuyển di tri nhận trong việc dạy và học Tương tự như vậy, các yếu tố khác như Tri
nhận nghiệm thân, Tính tri nhận tương cận, môi trường học tập, khả năng tiếp thu ngôn ngữ thứ nhất, và trình độ ngoại ngữ cũng được đưa vào nghiên cứu Trong
nghiên cứu này, sai số loại 1, nhằm mục đích kiểm tra xem trắc lượng thu thập có
đúng hay không, đã được tính đến Bằng cách đặt mức alpha ở 0,05, tất cả dữ liệu được phân tích để xác định yếu tố nào liên quan đến việc chuyển di ngôn ngữ là có ý
nghĩa thống kê Ba thiết kế nghiên cứu, cụ thể được đề cập ở đây là khảo sát, thực
nghiệm và khối liệu, đã được sử dụng để có thể đưa ra kết luận chắc chắn và làm cầu
nối cho cho ngôn ngữ học và giảng dạy ngôn ngữ góp phần nhỏ đóng góp vào lĩnh vực ngôn ngữ học ứng dụng
Mục tiêu thứ hai là xác định sự lựa chọn giới từ tiếng Anh của người học Việt từ góc nhìn của chuyển di tiêu cực Một bảng câu hỏi đã được sử dụng để khám phá lược đồ sai biệt trong việc sử dụng giới từ tiếng Anh, dựa trên tỷ lệ trả lời chính xác Một số
yếu tố phi ngôn ngữ như tôn giáo, màu sắc yêu thích và vị trí địa lý của người tham
gia khảo sát cũng được đưa vào nghiên cứu để cung cấp một bức tranh hoàn chỉnh về chuyển di ngôn ngữ trong mối tương quan với văn hóa và nền tảng của ngôn ngữ thứ nhất Để đạt được mục tiêu này, kiểm định T-test và Chi-square về tính độc lập đã
được sử dụng để so sánh các biến, ví dụ: giới từ đơn và giới từ ghép và giới từ phức,
để xem sự khác biệt trong lựa chọn và sử dụng giới từ của người tham gia khảo sát Một báo cáo về sự chuyển di nền tảng và văn hóa của ngôn ngữ thứ nhất lên sự lựa chọn giới từ tiếng Anh giải thích lý do tại sao hầu hết người học Việt Nam có xu hướng sử dụng các giới từ đơn hơn là giới từ ghép hoặc giới từ phức Việc kết luận là
dựa vào các biến có giá trị p là 0,05 hoặc nhỏ hơn, được xem coi là có ý nghĩa thống
kê trong việc chứng minh hoặc bác bỏ các giả thuyết đã đặt ra
Mục tiêu thứ ba là để đánh giá xem giới tính có phải là một nguồn chuyển di tiêu cực
hay không Cả hai phương pháp định tính và định lượng đều được sử dụng để điều tra xem các giới tính khác nhau có mức độ ảnh hưởng lên chuyển di tiêu cực từ ngôn ngữ thứ nhất hay không Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích phương sai ANOVA
Trang 4để xác định xem liệu sự khác nhau giữa giá trị trung bình của các biến phụ thuộc với
nhau như nhóm nam, nữ, và không tiết lộ giới tính có khác nhau về mặt thống kê hay không Bằng cách xem xét từng phần của bảng câu hỏi, kết quả cho thấy giới tính ảnh
hưởng tiêu cực đến việc sử dụng các giới từ tiếng Anh
Sau cùng, nghiên cứu này đã xem xét sự bất thường và không nhất quán trong các nghĩa của giới từ mà hầu hết những người tham gia khảo sát có thể gặp khó khăn khi phải học các nghĩa khác nhau và không liên quan đến nhau của các giới từ Từ quan điểm chuyển di tiêu cực: lỗi giới từ cho thấy cách bối cảnh giao tiếp đã định hướng và ảnh hưởng như thế nào đến sự chuyển di của người học
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Như đã thảo luận trong Phần 1.2, Vấn đề nghiên cứu, các nghiên cứu trước đây chỉ
giới hạn trong một tập hợp con các quan điểm Ngôn ngữ học tri nhận về chuyển di của ngôn ngữ thứ nhất Nghiên cứu này sử dụng ngôn ngữ học tri nhận làm cơ sở để khảo sát các yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến việc sử dụng giới từ tiếng Anh trong hệ thống ngữ nghĩa của giới từ Một số câu hỏi mở liên quan đến mục đích nêu vẫn chưa được trả lời Chính vì thế, tác giả đã đặt ra ba câu hỏi nghiên cứu quan trọng:
1 Những yếu tố nào tác động tiêu cực đến cách người học Việt Nam sử dụng giới từ tiếng Anh dưới góc độ ngôn ngữ tri nhận?
2 Người học tiếng Anh ở Việt Nam nhận thức như thế nào về sự phân biệt giữa các giới từ đơn và giới từ phức trong tiếng Anh?
3 Có mối quan hệ nào giữa giới tính và việc sử dụng giới từ tiếng Anh của người Việt Nam học tiếng Anh không?
Luận án khai thác và làm sáng rõ cách sử dụng giới từ tiếng Anh của người học Việt Nam từ góc độ Ngôn ngữ học tri nhận bằng cách sử dụng các khảo sát tiếng Anh dựa trên ba câu hỏi nghiên cứu Để đạt được điều này, 8 giả thuyết quan trọng như sau đã được thiết lập:
Liên quan đến câu hỏi nghiên cứu thứ nhất, có 5 giả thuyết sau đã được đặt ra:
Giả thuyết 1: Các diễn thuật từ tiếng Việt không ảnh hưởng đến nghĩa giới từ mà người Việt học tiếng Anh sử dụng
Giả thuyết 2: Tri nhận nghiệm thân không đóng bất kỳ vai trò quan trọng nào về mặt chuyển di tiêu cực ảnh hưởng đến cách sử dụng của một giới từ cụ thể
Giả thuyết 3: Những người học hơn một ngoại ngữ không sử dụng giới từ tiếng Anh tốt hơn những người chỉ học tiếng Anh như một ngoại ngữ
Giả thuyết 4: Một môi trường học tập phù hợp không có tác động tiêu cực nào đến việc học giới từ tiếng Anh
Trang 54
Giả thuyết 5: Không có sự khác biệt đáng kể trong việc sử dụng giới từ Tiếng Anh giữa những người Việt học tiếng Anh ở trình độ sơ cấp, trung cấp và cao cấp dưới góc
độ chuyển di tiêu cực
Liên quan đến câu hỏi nghiên cứu thứ hai, có 2 giả thuyết sau đã được đặt ra:
Giả thuyết 6: Cách học tiếng Anh không ảnh hưởng đến việc lựa chọn giới từ tiếng Anh
Giả thuyết 7: Người Việt học tiếng Anh có xu hướng không sử dụng các giới từ đơn hơn là giới từ ghép hoặc phức
Liên quan đến câu hỏi nghiên cứu thứ ba, tác giả đưa ra giả thuyết sau:
Giả thuyết 8: Không có sự khác biệt đáng kể giữa các giới tính trong việc sử dụng giới
từ tiếng Anh dưới góc độ chuyển di tiêu cực
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Tổng quan nghiên cứu
Trong chương này, tác giả xem xét các nghiên cứu trước đây, dựa trên các chủ đề như
Đắc thụ ngôn ngữ thứ hai và Nghiên cứu tri nhận về Đắc thụ ngôn ngữ thứ hai, Nghiên cứu tri nhận về cách sử dụng giới từ tiếng Anh trong ngữ cảnh Việt Nam, Nghiên cứu tri nhận về nghĩa của giới từ, Giới từ tiếng Anh và Chuyển di ngôn ngữ
Hai chủ đề quan trọng được tập trung giải thích: Giới từ tiếng Anh và chuyển di ngôn
ngữ Nghiên cứu về giới từ tiếng Anh được xem xét theo trình tự thời gian từ quan
điểm học thuyết hành vi đến quan điểm học thuyết tri nhận Bên cạnh đó, nghiên cứu tri nhận về chuyển di tiêu cực còn được trình bày tóm lược qua 4 giai đoạn phát triển Giai đoạn đầu tiên là xác định các giải thích có thể có (viz yếu tố ảnh hưởng hoặc biến độc lập) ảnh hưởng đến quá trình đắc thụ ngôn ngữ thứ hai Trong giai đoạn này, hầu hết thời gian và công sức của các nhà nghiên cứu được dành để xác định các trường hợp chuyển ngôn ngữ, xác định phạm vi chuyển di và định lượng các tác động của chuyển di (Jarvis & Pavlenko, 2008, tr 5) Giai đoạn thứ hai mô tả hiện tượng được đề cập dưới dạng một biến độc lập hoặc phần giải thích Giai đoạn này rất quan
trọng trong nghiên cứu chuyển di vì toàn bộ nghiên cứu có mục tiêu là 'xác minh các
tác động chuyển di, xác định nguyên nhân chuyển di, xác định các hạn chế trong chuyển di, điều tra tính chọn lọc của chuyển di và hướng của các tác động chuyển di
(Jarvis & Pavlenko, 2008, tr 5).' Giai đoạn thứ ba là sự phát triển của một lý thuyết để giải thích các cơ chế, cấu trúc và quy trình liên quan đến xã hội, tình huống giao tiếp
và nhận thức thông qua khảo sát và điều tra Trong giai đoạn này, trọng tâm là phát triển lý thuyết của các mô hình và giả thuyết ảnh hưởng xuyên ngôn ngữ, cũng như tiến hành nghiên cứu thực nghiệm Giai đoạn 4 trùng lặp với giai đoạn 2 và 3 ở chỗ gia đoạn này bắt đầu trong khi các gia đoạn trước 2, 3 vẫn đang được diễn ra Các
Trang 6nghiên cứu tập trung khảo sát về sinh lý học thần kinh về cách ngôn ngữ được tạo ra
và lưu trữ trong não bộ của mỗi con người chúng ta
Mục đích của tổng quan nghiên cứu này là để xem các xu hướng nghiên cứu tri nhận
về việc sử dụng các giới từ tiếng Anh, đặc biệt là giới thiệu các nghiên cứu ở Việt Nam trong vòng 10 năm gần đây Các nghiên cứu này dựa trên tổng quan chuyên đề
về tri nhận và chuyển di ngôn ngữ Hai trăm bốn mươi ba nghiên cứu đã được trích dẫn để chứng minh tổng quan nghiên cứu trong luận án này
2.2 Khung lý thuyết về chuyển di ngôn ngữ
Tác giả đã áp dụng khung lý thuyết Jarvis (2011) và Odlin (2005) để khảo sát giả thuyết về sự tri nhận chuyển di trong đắc thụ ngôn ngữ thứ hai từ các bằng chứng thực nghiệm Dựa trên các khung này, tác giả đã phát triển khung tri nhận chuyển di liên quan đến cách sử dụng giới từ tiếng Anh của người Việt
Sự phân loại của chuyển di ngôn ngữ bao gồm sự phân biệt giữa chuyển di ngôn ngữ
và chuyển di tri nhận Loại thứ nhất chủ yếu liên quan đến các hình thức và cấu trúc
ngôn ngữ của ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích, trong khi đó, loại thứ hai đề cập đến
các hình thức chuyển di khác nhau xảy ra do các khái niệm tư duy dựa trên các hình
thức và cấu trúc đó Chuyển di ngôn ngữ nhằm mục đích giải thích 'chuyển di’ bằng
cách xem xét sự giống và khác nhau giữa các đặc tính cấu trúc của hai ngôn ngữ: ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích - loại chuyển di ngôn ngữ này diễn ra ở cấp độ từ vựng
Tuy nhiên, mục đích của chuyển di tri nhận là giải thích một cấp độ chuyển di khác
bằng cách so sánh những điểm tương đồng và khác biệt trong các phạm trù khái niệm tương ứng với cấp độ ngữ pháp và diễn ngôn của ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích
Hình 2.1 Khung nghiên cứu chuyển di tri nhận trong bối cảnh học tiếng Anh ở Việt Nam
Nghiên cứu này tập trung vào tác động của ngôn ngữ thứ nhất cản trở khả năng sử
dụng tiếng Anh của người Việt Thuật ngữ ngôn ngữ thứ nhất trong luận án này dùng
Trang 76
để chỉ tiếng Việt vì một số người học có thể đã học đồng thời nhiều hơn hai ngoại ngữ, tiếng Anh và một ngoại ngữ khác Nghiên cứu này đề cập đến những người Việt học tiếng Anh như một ngoại ngữ để điều tra sự chuyển di ngôn ngữ thứ nhất trong việc sử dụng giới từ tiếng Anh Nhiều yếu tố có thể có cả tác động lên chuyển di gồm
các yếu tố liên quan đến học tập và các yếu tố liên quan đến năng lực Tác giả đã làm
rõ các yếu tố tùy theo việc chúng thuộc về các hiệu ứng liên quan đến học tập, hoặc
liên quan đến năng lực, hoặc cả hai loại hiệu ứng Tác giả đã thông qua phân tích
khung ảnh hưởng xuyên ngôn ngữ của Jarvis để phân loại 5 nhóm yếu tố chính như sau:
- Các yếu tố ngôn ngữ và tâm lý ngôn ngữ học;
- Các yếu tố liên quan đến tri nhận, sự lôi cuốn và sự phát triển;
- Các yếu tố liên quan đến tích lũy kinh nghiệm và kiến thức ngôn ngữ;
- Các yếu tố liên quan đến môi trường học tập;
- Các yếu tố liên quan đến việc sử dụng ngôn ngữ
Các yếu tố ngôn ngữ và tâm lý ngôn ngữ học liên quan đến các đặc điểm của cả ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai như sự tương đồng xuyên ngôn ngữ, lĩnh vực sử dụng ngôn ngữ, tần suất sử dụng ngôn ngữ, sự chấp thuận và hội nhập ngôn ngữ, tính
rõ ràng và tính nguyên mẫu, và ngữ cảnh ngôn ngữ Tương tác giữa ngữ cảnh ngôn ngữ và (mức độ) chuyển di bị ảnh hưởng bởi người dùng ngôn ngữ thứ hai ở các dạng,
cấu trúc, ý nghĩa, v.v Điều này có nghĩa là các quy tắc liên quan đến các năng lực
ngôn ngữ, được điều chỉnh bởi sự đa dạng của ngữ cảnh ngôn ngữ thứ nhất gây ra, có
thể đã được chuyển di sang ngôn ngữ thứ hai
Các yếu tố liên quan đến tri nhận, sự lôi cuốn và sự phát triển ngôn ngữ liên quan trực
tiếp đến những hạn chế về nhận thức và phát triển khi có chuyển di Ví dụ, những người có mức độ trưởng thành về nhận thức và ý niệm khác nhau sẽ xử lý và lưu trữ kiến thức mới về một ngôn ngữ theo những cách khác nhau Sự trưởng thành về nhận thức ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sử dụng ngôn ngữ Sự lĩnh hội về mặt ý niệm
liên quan đến bốn yếu tố phụ: mức độ trưởng thành về nhận thức, quá trình phát triển
và phổ cập của việc tiếp thu ngôn ngữ; khả năng tri nhận về học ngôn ngữ, sự quan tâm; và sự tiếp nhận về ngôn ngữ
Các yếu tố liên quan đến tích lũy kinh nghiệm và kiến thức ngôn ngữ là các yếu tố liên
quan đến kinh nghiệm và kiến thức ngôn ngữ thứ nhất tích lũy được kết nối với kiến thức và kinh nghiệm ngôn ngữ thứ hai của người học Trong số các yếu tố này, trình
độ ngôn ngữ của người học ở cả ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai có ý nghĩa
trong việc giảm thiểu chuyển di tiêu cực Danh mục này có bốn tiểu mục sau: tuổi;
khoảng thời gian, tần suất và cường độ tiếp xúc ngôn ngữ; thời gian cư trú; và số
Trang 8lượng và thứ tự của các ngôn ngữ đã học Tất cả 4 yếu tố trong danh mục này đều có
liên quan đến trình độ ngôn ngữ của người học
Các yếu tố liên quan đến môi trường học tập được ghi nhận là tác động lên sự ảnh
hưởng xuyên ngôn ngữ, liên quan đến sự phân biệt giữa học tập chính thức và tiếp xúc
tự nhiên Sự khác biệt chủ yếu nằm ở vấn đề ghi nhớ thường trực và ghi nhớ ẩn Học tâp chính thức tập trung nhiều hơn vào ghi nhớ thường trực và giám sát có ý thức, và
do đó, khả năng chuyển di tiêu cực tăng lên Tuy nhiên, sự tiếp xúc ngôn ngữ theo
hướng tự nhiên thì ngược lại Các nghiên cứu gần đây về tiếp xúc ngôn ngữ một cách
tự nhiên tác động đến các yếu tố về năng lực ngôn ngữ hơn, còn các yếu tố học tập
liên quan đối với việc chuyển di ngôn ngữ
Các yếu tố liên quan đến việc sử dụng ngôn ngữ là tập hợp các yếu tố sau cùng ảnh
hưởng đến việc chuyển di ngôn ngữ Điều này liên quan đến 4 biến phi ngôn ngữ, đó
là các biến xã hội, tình huống, ngữ cảnh và các biến liên quan đến khả năng ngôn
ngữ Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa các biến như vậy và chuyển di ngôn ngữ
vẫn còn hạn chế (Odlin, 2005; Jarvis, 2000)
Nghiên cứu về bản chất và sự xuất hiện của chuyển di ngôn ngữ đã xác định được nhiều yếu tố Một số trong số chúng đã được ghi lại trong nghiên cứu trước đây, và một số khác tiết lộ thêm về cơ chế, điều kiện và mô hình chuyển di Như đã đề cập ở trên, những yếu tố này tương tác với việc chuyển di ngôn ngữ một cách phức tạp, thậm chí ảnh hưởng lẫn nhau Một số trong số chúng có thể gây ra cả tác động liên quan đến học tập và liên quan đến năng lực ngoại ngữ từ việc chuyển di ngôn ngữ
2.3 Tóm tắt
Các nghiên cứu tri nhận về chuyển di ngôn ngữ là những nghiên cứu bổ sung mới cho ngành ngôn ngữ học Không có nhiều nhà nghiên cứu đã thực hiện nghiên cứu về hiện tượng tri nhận chuyển di ngôn ngữ vì nó có vẻ phức tạp và khó hiểu Một số nghiên cứu tập trung vào các danh mục từ vựng là chính (Trần Thị Minh Giang, & Lưu Quý Khương, 2014; Borovsky & Elman, 2006; Netra, 2016), xử lý trật tự từ trong ngôn ngữ thứ hai (Erdocia & Laka, 2018; Lee, Lu, & Garnsey, 2013; McDonald, 2008; Cat, Klepousniotou, & Baayen, 2015), kỹ năng ngôn ngữ (Tare & Gelman, 2010; Burchinal, et al., 2000), giảng dạy ngữ pháp (Raflis & Lase, 2018; Tian, 2015; Kermer , 2016), nhưng chưa có nhiều nghiên cứu về nhóm từ vựng chức năng như giới từ và tiểu từ Một số phân tích nhận thức về giới từ đã được thực hiện, nhưng những nghiên cứu đó chủ yếu tập trung vào việc giảng dạy ngôn ngữ (Wijaya & Ong, 2018; Adamska-Sałaciak, 2008; Bùi Phú Hưng, Trương Viên, & Nguyễn Ngọc Vũ, 2018)
Đó là lý do tại sao hiện có một khoảng trống nghiên cứu liên quan đến chuyển di ngôn ngữ Nghiên cứu này nhằm khám phá các khía cạnh cụ thể liên quan đến tri nhận chuyển di tiêu cực trong cách sử dụng giới từ tiếng Anh của người Việt
Trang 98
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận án này đã thiết lập ba thiết kế nghiên cứu độc lập để khảo sát 8 giả thuyết (nêu
trong Phần 1.4.), trong đó thiết kế khảo sát (survey research design) chiếm ưu thế
trong nghiên cứu này Bảng 3.1 trình bày chi tiết từng loại thiết kế nghiên cứu được sử dụng trong luận án:
Bảng 3-1 Mô tả tóm lược về thiết kế nghiên cứu
3.1.1 Người tham gia
Số lượng người tham gia cuộc khảo sát là 2831: 1437 nữ, 1355 nam và 39 người không muốn tiết lộ giới tính Tất cả người tham gia khảo sát đến từ các vùng khác nhau trên cả nước Tất cả người đều được thông báo về mục đích nghiên cứu trước khi bắt đầu cuộc khảo sát Thông tin những người tham gia đã được đề cập trong bối cảnh nghiên cứu ở phần 3.1
3.1.2 Ngữ liệu
Tài liệu được sử dụng trong cuộc khảo sát là các bài tập từ 10 đơn vị (từ bài 13 đến bài 22) trong Phần II của cuốn sách Đại từ và Giới từ Tiếng Anh do Ed Swick biên soạn Các giới từ đã được chọn cho nghiên cứu vì chúng được xác thực và được xuất bản bởi một nhà xuất bản nổi tiếng Các chủ đề trong tài liệu bao gồm các dạng giới từ
cah8ng3 hạn như giới từ chỉ vị trí, giới từ chỉ chuyển động và phương hướng, Giới từ
chỉ thời gian và giới từ có cách sử dụng hỗn hợp và cách sử dụng chẳng hạn như Giới
từ ghép, giới từ với các từ loại khác, giới từ dạng phân từ, tiểu từ, các từ yêu cầu một giới từ cụ thể , giới từ và cụm động từ (Swick, 2011) Sự phân bố cảu ngữ liệu từ các
chương được liệt kê trong bảng câu hỏi như sau:
I 3 mục liên quan đến Giới từ chỉ vị trí;
II 5 mục liên quan đến các giới từ chuyển động hoặc hướng;
III 3 mục liên quan đến Giới từ chỉ thời gian;
Trang 10IV 3 mục liên quan đến Giới từ ghép;
V 4 mục liên quan đến giới từ kết hợp với các từ khác;
VI 3 mục liên quan đến Giới từ và Cụm động từ;
VII 4 mục liên quan đến Cụm động từ với tư cách phân từ;
VIII 5 mục liên quan đến Mô tả hình ảnh sử dụng giới từ
Có tổng cộng 25 câu hỏi trắc nghiệm và 5 câu mô tả hình ảnh được sử dụng để kiểm tra các giả thuyết 3, 5, 6, 7 và 8 Tổng điểm cho phần trắc nghiệm là 100 điểm Phần
mô tả hình ảnh được đánh giá và kiểm tra dựa trên bài viết của người tham gia Cuộc khảo sát đã thu thập kỹ lưỡng nền tảng của những người tham gia như địa điểm, khu vực, sở thích và thói quen để điều tra các yếu tố phi ngôn ngữ ảnh hưởng đến việc sử dụng giới từ tiếng Anh (xem Phụ lục 1)
3.2 Thiết kế thực nghiệm
3.2.1 Người tham gia
Những người tham gia được tuyển chọn từ sinh viên của trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở tự nguyện Có hai nhóm sinh viên: nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng Số người tham gia của mỗi nhóm là 100 sinh viên Nhóm đối chứng tham gia một khóa học 15 tiết về cách sử dụng Giới từ tiếng Anh mà không có Facebook chatbot Nhóm thứ hai tham gia 10 tiết của lớp học nhưng
có sự trợ giúp của một chatbot trên Facebook Cả hai nhóm đều được dạy bởi cùng một giáo viên Các sinh viên được chọn ngẫu nhiên xếp hạng từ thấp đến cao dựa trên điểm TOEIC của họ và được phân đều cho hai nhóm với trình độ gần như tương đương Người tham gia nhiệt tình, hăng hái tham gia làm hết bài tập của mình trong quá trình thực nghiệm
3.2.1.1 Nhóm đối chứng
Người tham gia được yêu cầu tham dự ba buổi họp trên lớp, mỗi buổi học có thời lượng 5 tiết Tất cả người tham gia nhóm đối chứng đã được dạy 10 bài học (từ bài 13 đến bài 22) của Sách Đại từ và Giới từ Tiếng Anh (Swick, 2011) Học sinh được cung cấp tài liệu và giáo viên giảng bài tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình của khóa học Sau đó, người tham gia được kiểm tra những gì họ đã học theo cách tương tự như nhóm thực nghiệm
3.2.1.2 Nhóm thực nghiệm
Bước 1: Người tham gia đã được giới thiệu về chatbot và có thời gian để làm bài kiểm
tra xếp lớp với chatbot
Trang 1110
Bước 2: Người tham gia được yêu cầu viết lại các giới từ mà họ đã mắc sai trong các
bài kiểm tra và sau đó đưa ra gợi ý về đơn vị bài học nào trong giáo trình mà họ cần học lại
Bước 3: Người tham gia trong nhóm thử nghiệm có thể chọn các chủ đề về Đại từ và
Giới từ trong Tiếng Anh để tham gia dựa trên các gợi ý về chủ đề do chatbot đề xuất
Bước 4: Người tham gia được kiểm tra và khảo sát cùng với nhóm đối chứng
3.2.2 Biến và đo lường
Nghiên cứu thực nghiệm đã xem xét mối quan hệ giữa môi trường học tập và chuyển
di ngôn ngữ Tác giả đã sử dụng phương pháp mô tả để mô tả tất cả các yếu tố ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, mối tương quan giữa các biến được khảo sát và các cuộc phỏng vấn với những người tham gia Mỗi biến có 5 giá trị hoặc kết quả có thể có trong thử nghiệm này, được xếp hạng từ 1 đến 5 điểm Những người được hỏi chỉ có thể chọn một trong những phương án mà họ tin rằng phản ánh tốt nhất hiệu suất hoặc nhận định của họ Đối với kết quả kiểm tra, tác giả đã sử dụng thang điểm 10 Dữ liệu nghiên cứu thực nghiệm sau đó được phân tích và diễn giải năng lực ngoại ngữ của những người tham gia trong hai nhóm
3.3 Thiết kế Khối liệu
3.3.1 Khối liệu từ các khóa học chuẩn bị cho VSTEP (PCVC)
Tác giả đã tập hợp một kho dữ liệu về các bài tập viết và nói tiếng Anh từ các sinh viên theo học các khóa chuẩn bị cho VSTEP (PCVC) tại Trường Đại học Ngoại ngữ
Đà Nẵng VPCC được xây dựng từ các bài tập thực hành được nộp trực tuyến, bao gồm 190 bài tập viết và tệp âm thanh nói Một ứng dụng xử lý khối liệu văn bản, Sketch Engine, đã được sử dụng để phân tích dữ liệu và kết quả được tải lên và lưu tại địa chỉ ske.li/jtl
Bảng 3.4 Tổng hơp khối liệu PCVC
Trang 123.3.2 Khối liệu British National Corpus (BNC)
Để thực hiện nghiên cứu, tác giả đã sử dụng British National Corpus (BNC) làm nguồn dữ liệu đối sánh BNC là một bộ sưu tập 100 triệu mẫu từ trong văn viết và văn nói tiếng Anh vào cuối thế kỷ XX BNC được chia thành hai phần: phần viết (90 %), bao gồm báo chí, sách học thuật, thư, bài luận, v.v và phần nói, nhỏ hơn (10 % còn lại, chẳng hạn như các cuộc trò chuyện thân mật, chương trình radio , v.v ) Hơn nữa, các chủ đề BNC về cơ bản giống hoặc gần giống với các chủ đề trong VPCC vì những chủ đề này khá thông dụng trong các khóa học giáo dục ngôn ngữ và văn học Anh Do
đó, mức độ thích hợp nếu so sánh việc sử dụng các giới từ tiếng Anh giữa hai kho ngữ liệu nói trên là rất cao BNC chứa tổng cộng 112.345.722 thông báo, 96.134.547
từ, 6.052.190 cụm từ, 1.514.906 đoạn văn và 4.054 tài liệu
3.3.3 Thu thập và xử lý văn bản
Tác giả đã tập hợp và xử lý các bài tập của sinh viên để lưu trữ trong Sketch Engine tại https://ske.li/nrn cho PCVC Đây là nơi lưu trữ và xử lý kho dữ liệu thực của tác giả Với mục đích kiểm tra các đặc điểm ngữ nghĩa được sử dụng khác nhau như thế nào trong hai kho ngữ liệu, tác giả đã so sánh việc sử dụng giới từ trong BNC với việc
sử dụng giới từ cụ thể trong kho ngữ liệu PCVC của tác giả
Hình 3.1 Một mẫu gồm 39 chỉ mục đầu tiên của giới từ ‘IN’ trong PCVC