1 1 Sự cần thiết của đề tài PHẦN MỞ ĐẦU Theo đánh giá của Ph Ăng ghen, Mác có hai phát minh vĩ đại nhất Một là phát minh về tiến trình lịch sử của nhân loại, hai là kinh tế học với học thuyết giá trị thặng dư Có thể nói, những cống hiến vĩ đại của C Mác được thể hiện trên nhiều phương diện, ở cả lý luận và thực tiễn Cho đến nay, lý thuyết về chủ nghĩa duy vật lịch sử ấy vẫn hoàn toàn khoa học, hoàn toàn đứng vững Mỗi hình thái kinh tế xã hội khi phát triển đều có sự kế thừa và phát triển, từ đó.
Trang 11 Sự cần thiết của đề tài
PHẦN MỞ ĐẦU
Theo đánh giá của Ph Ăng-ghen, Mác có hai phát minh vĩ đại nhất: Một là phát minh
về tiến trình lịch sử của nhân loại, hai là kinh tế học với học thuyết giá trị thặng dư Có thể nói, những cống hiến vĩ đại của C Mác được thể hiện trên nhiều phương diện, ở cả lý luận
và thực tiễn Cho đến nay, lý thuyết về chủ nghĩa duy vật lịch sử ấy vẫn hoàn toàn khoa học, hoàn toàn đứng vững Mỗi hình thái kinh tế xã hội khi phát triển đều có sự kế thừa và phát triển, từ đó đi đến kết luận về quy luật lịch sử, loài người tất yếu sẽ đi tới Chủ nghĩa xã hội, Chủ nghĩa cộng sản Từ đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiếp nhận tư tưởng ấy và chỉ ra đường hướng phát triển của Cách mạng Việt Nam là phải giành cho được độc lập dân tộc
Đó là tiền đề quan trọng để tiến tới xây dựng chủ nghĩa xã hội
Một trong những phát minh vĩ đại của Mác, đó là Mác đã phân tích, mổ xẻ bản chất kinh
tế của chế độ tư bản chủ nghĩa Nghiên cứu từ bản chất kinh tế và kể cả sự cống hiến của Chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là bản chất chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, rồi quy luật vận động trong lòng xã hội tư bản Từ đó, Mác đã phát hiện ra quy luật, học thuyết về giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản Sau này, đến thời đại đế quốc, lý thuyết về giá trị thặng
dư tiếp tục phát triển Đến nay, lý thuyết này vẫn còn nguyên giá trị
Để việc vận dụng học thuyết giá trị thặng dư của C Mác một cách khoa học, biện chứng trước hết phải nhận thức đúng khái niệm bóc lột và bóc lột giá trị thặng dư trong học thuyết Mác Từ đó, có cơ sở khoa học để luận giải những hiện tượng kinh tế của xã hội hiện nay
“Bóc lột” là một bộ phận người trong xã hội hoặc tập đoàn xã hội nào đó, chiếm đoạt không
có bồi thường thành quả lao động của một người khác hoặc của tập đoàn xã hội khác Theo
C Mác, việc bóc lột lao động đều có trong tất cả các hình thái xã hội từ trước tới nay vận động trong những mâu thuẫn giai cấp Nhưng chỉ khi nào kẻ sở hữu tư liệu sản xuất tìm ra được người công nhân tự do, với tư cách là đối tượng bóc lột, và bóc lột người công nhân
đó nhằm mục đích sản xuất ra hàng hoá để thu được giá trị tăng thêm, thì khi đó mới là bóc lột giá trị thặng dư, tư liệu sản xuất mới mang tính chất đặc biệt là tư bản Ngày nay, học thuyết giá trị thặng dư vẫn có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp xây dựng nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Việc nghiên cứu, vận dụng các quy luật kinh tế mà đặc biệt là học thuyết giá trị thặng
dư đã và đang là một hướng áp dụng có hiệu, nhằm thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa nước ta để phát triển đất nước Việt Nam hùng cường Tính tất yếu khách quan về việc vận dụng giá trị học thuyết giá trị thặng dư vào Việt Nam đã được thông qua
Trang 2trong các văn kiện Đại hội của Đảng nhưng trong một chừng mực nào đó vẫn còn tồn tại các thành kiến với các thành phần kinh tế tư nhân, tư bản coi thành phần kinh tế này là bóc lột và nhận thức này không chỉ xảy ra với một số cán bộ là Đảng viên làm công tác quản lý
mà còn xảy ra ngay trong những người trực tiếp làm kinh tế tư nhân ở nước ta Trong bối cảnh đó, việc học tập và nghiên cứu môn kinh tế chính trị mà đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư sẽ góp phần giải quyết những vướng mắc trong quá trình phát triển các thành phần kinh tế cũng như quá trình vận dụng học thuyết giá trị thặng dư đảm bảo tính khoa học, phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam
Với những lý do đó, tôi xin chọn đề tài “Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư và ý nghĩa của việc phát huy phương pháp đó trong nền kinh tế thị trường Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư và sự ảnh hưởng của hai phương pháp đó đến nền kinh tế thị trường Việt Nam
3 Phạm vi nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu về nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung của Việt Nam từ trước năm
1986 và nền kinh tế thị trường Việt Nam từ năm 1986 đến nay Từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm phát huy tác dụng và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư ở Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài là phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, xem xét các quá trình kinh tế trong mối liên hệ tác động qua lại, luôn vận động, phát triển không ngừng và gắn điều kiện lịch sử cụ thể
Nghiên cứu lí thuyết: quan điểm toàn diện của học thuyết kinh tế Mác – Lê-nin, các khái niệm và tác động của nền kinh tế thị trường
Nghiên cứu thực tiễn: nghiên cứu về nền kinh tế thị trường của Việt Nam, thông qua việc thu thập thông tin về vấn đề nghiên cứu, xử lí, phân tích các số liệu và kiểm tra trong thực tiễn
5 Giới thiệu nội dung nghiên cứu
Trang 3Tiểu luận gồm 3 chương chính:
- Chương 1: Lý luận của học thuyết kinh tế Mác - Lênin về hai phương pháp sản xuất
giá trị thặng dư
- Chương 2: Sự hoạt động của hai hương pháp sản xuất giá trị thặng dư trong nền kinh
tế Việt Nam
- Chương 3: Một số kiến nghị nhằm phát huy tác dụng tích cực và hạn chế ảnh hưởng
tiêu cực của hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tại Việt Nam
Trang 4PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CỦA HỌC THUYẾT KINH TẾ MÁC-LÊNIN VỀ HAI
PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ
1.1 Tư bản và giá trị thặng dư
1.1.1 Tư bản
Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột công nhân làm thuê Như vậy, tư bản là một sự vận động và phản ánh quan hệ bóc lột giữa nhà tư bản và người lao động Tư bản là một quan hệ xã hội Mác và Ănghen cũng là người đầu tiên xây dựng nên lý luận về giá trị thặng dư một cách hoàn chỉnh Vì vậy, lý luận về giá trị thặng dư được xem là hòn đá tảng to nhất trong toàn bộ học thuyết của Mác Qua thực tế xã hội tư bản lúc bấy giờ, Mác thấy rằng giai cấp tư bản ngày càng giàu thêm còn giai cấp vô sản thì ngày càng nghèo khổ và ông đã đi tìm hiểu nguyên nhân vì sao lại có hiện tượng này
Cuối cùng ông phát hiện rằng nếu tư bản đưa ra một lượng tiền T đưa vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá thì số tiền thu về lớn hơn số tiền ứng ra Ta gọi là:
T' (T' > T) hay T' = T + ΔT
C.Mác gọi ΔT là giá trị thặng dư Ông cũng thấy rằng mục đích của lưu thông tiền tệ với
tư cách là tư bản không phải là giá trị sư dụng mà là giá trị Mục đích của lưu thông T – H
- T' là sự lớn lên của giá tri thặng dư nên sư vận động T – H - T' là không có giới hạn Công thức này được Mác gọi là công thức chung của tư bản
Qua nghiên cứu, Mác đi đến kết luận: "Tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông mà cũng không xuất hiện ở ngoài lưu thông Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông " Đây chính là mâu thuẫn công thức chung của tư bản
1.1.2 Giá trị thặng dư
Để giải quyết mâu thuẫn trên Mác đã phát hiện ra nguồn gốc sinh ra giá trị hàng hoá
- sức lao động Quá trình sản xuất ra hàng hoá và tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân giá trị sức lao động Vậy quá trình sản xuất ra tư bản chủ nghĩa là quá trình sản xuất
ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư Phần giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, nó được tính bằng giá trị sức lao động cộng thêm giá trị thặng dư Như vậy, Giá trị thặng dư (m) là phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân tạo
Trang 5ra và bị các nhà tư bản chiếm đoạt Qua đó chúng ta thấy tư bản là giá trị đem lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột công nhân làm thuê
Để nghiên cứu yếu tố cốt lõi để tạo nên giá trị thặng dư trong quá trình sản xuất của các nhà tư bản thì C.Mác đã chia tư bản ra hai bộ phận: Tư bản bất biến (là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu sản xuất mà giá trị được bảo tồn và chuyển vào sản phẩm, tức
là giá trị không biến đổi về lượng trong quá trình sản xuất; kí hiệu là c) và Tư bản khả biến (là bộ phận tư bản biểu hiện dưới hình thức giá trị sức lao động trong quá trình sản xuất đã tăng thêm về lượng; kí hiệu là v)
Như vậy, ta thấy muốn cho tư bản khả biến hoạt động được thì phải có một tư bản bất biến đã được ứng trước với tỉ lệ tương đương Và qua sự phân chia ta rút ra tư bản khả biến tạo ra giá trị thặng dư vì nó dùng để mua sức lao động Còn tư bản bất biến có vai trò gián tiếp trong việc trong việc tạo ra giá trị thặng dư Từ đây ta có kết luận: "Giá trị của một hàng hoá của một hàng hoá bằng giá trị tư bản bất biến mà nó chứa đựng, cộng với giá trị của tư bản khả biến (Tức là giá trị thặng dư đã được sản xuất ra) Chỉ có lao động của công nhân làm thuê mới tạo ra giá trị thặng dư của nhà tư bản Tư bản đã bóc lột một phần giá trị mới do công nhân tạo ra Nó được biểu diễn một cách ngắn gọn qua quá trình: Giá trị = c + v + m
Giá trị tư liệu sản xuất chuyển vào sản phẩm: c
Giá trị sức lao động của người công nhân: v
Giá trị mới do người công nhân tạo ra: v + m
Như thế tư bản bỏ ra một lượng tư bản để tạo ra giá trị là c + v Nhưng giá trị mà nhà tư bản thu vào là c + v + m Phần m dôi ra là phần mà tư bản bóc lột của công nhân Trên đây chúng ta đã nghiên cứu nguồn gốc của giá trị thặng dư
1.1.3 Tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư
dư (m) với tư bản khả biến (v) Ta có công thức:
v
Trang 6Ý nghĩa: Tỷ suất giá trị thặng dư phản ánh chính xác trình độ bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân làm thuê
Khối lượng giá trị thặng dư (M) là số lượng giá trị thặng dư mà nhà tư bản thu được trong một thời gian sản xuất nhất định Ta có công thức:
v
trong đó V là tổng tư bản khả biến được sử dụng trong thời gian trên Ý nghĩa: Khối lượng giá trị thặng dư phản ánh quy mô bóc lột của nhà tư bản, giai cấp tư bản bóc lột toàn thể giai cấp công nhân
1.2 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
Nhà tư bản luôn tìm cách tạo ra giá trị thặng dư nhiều nhất bằng nhiều cách, bằng nhiều thủ đoạn Trong đó Mác chỉ ra hai phuơng pháp mà chủ nghĩa tư bản thường dùng
đó là Sản xuất giá trị thặng dư tương đối và Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
Trong giai đoạn phát triển đầu tiên của sản xuất tư bản chủ nghĩa, thời kì này nền kinh tế sản xuất chủ yếu là sử dụng lao động thủ công, hoặc lao động với những máy móc giản đơn ở các công trường thủ công, kỹ thuật còn thấp, tiến bộ chậm chạp thì phương pháp chủ yếu để tăng giá trị thặng dư là kéo dài ngày lao động của công nhân Đó là sự gia tăng
về mặt lượng của quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư Như vậy, phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư có được nhờ kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu trong điều kiện năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi
Giả sử ngày lao động là 8 giờ, trong đó 4 giờ là thời gian lao động tất yếu và 4 giờ
là thời gian lao động thặng dư Điều đó có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau đây:
Do đó, tỷ suất giá trị thặng dư là:
Trang 7(Thời gian lao động tất yếu) (Thời gian lao động thặng dư)
Giả sử nhà tư bản kéo dài ngày lao động thêm 2 giờ, tức là thời gian lao động thặng dư là
6 giờ, trong khi thời gian tất yếu không thay đổi, vẫn là 4 giờ Khi đó ngày lao động được chia như sau:
Do đó, tỷ suất giá trị thặng dư lúc này là:
4 Như vậy, khi kéo dài tuyệt đối ngày lao động trong điều kiện thời gian lao động tất yếu không thay đổi, thì thời gian lao động thặng dư tăng lên, nên tỷ suất giá trị thặng dư tăng lên từ 100% lên đến 150%
Với sự thèm khát giá trị thặng dư, nhà tư bản phải tìm mọi cách để kéo dài ngày lao động , thời gian lao động, nhưng thời gian lao động, ngày lao động có những giới hạn nhất định Giới hạn trên của ngày lao động do thể chất và tinh thần của người lao động quyết định Dưới chủ nghĩa tư bản mặc dù sức lao động của công nhân là hàng hoá, nhưng
nó lại tồn tại trong cơ thể sống của con người Vì vậy, ngoài thời gian người công nhân làm việc cho nhà tư bản trong xí nghiệp, người công nhân đòi hỏi còn phải có thời gian để ăn uống nghỉ ngơi nhằm tái sản xuất ra sức lao động Mặt khác, sức lao động là thứ hàng hoá đặc biệt vì vậy ngoài yếu tố vật chất người công nhân đòi hỏi còn phải có thời gian cho những nhu cầu sinh hoạt về tinh thần, vật chất, tôn giáo của mình
Việc kéo dài ngày lao động còn vấp phải sự phản kháng của giai cấp công nhân Từ
đó tất yếu dẫn đến phong trào của giai cấp vô sản đấu tranh đòi giai cấp tư sản phải rút ngắn thời gian lao động trong ngày Còn giới hạn dưới của ngày lao động không thể bằng thời gian lao động tất yếu, tức là thời gian lao động thặng dư bằng không Như vậy, về mặt kinh
tế, ngày lao động phải dài hơn thời gian lao động tất yếu, nhưng không thể vượt quá giới hạn về thể chất và tinh thần của người lao động nhưng với phương pháp bóc lột này đã đem lại hiệu quả rất cao cho các nhà tư bản
Vì vậy, giai cấp tư sản phải chuyển sang một phương pháp bóc lột mới tinh
vi hơn, đó là phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tương đối
Trang 81.3 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Để khắc phục những vấn đề mà phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối gặp phải do việc kéo dài ngày lao động bị giới hạn về thể chất và tinh thần của nguời lao động
và vấp phải cuộc đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của giai cấp công nhân thì nhà tư bản đã
áp dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối vào sản xuất
Khi sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển đến giai đoạn đại công nghiệp cơ khí, kĩ thuật đã tiến bộ làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, thì các nhà tư bản chuyển sang phương thức bóc lột dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động, bóc lột giá trị thặng dư tương đối Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động xã hội, nhờ đó tăng thời gian lao động thăng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao động vẫn như cũ Vì giá trị sức lao động được quyết định bởi các tư liệu tiêu dùng và dịch vụ để sản xuất, tái sản xuất sức lao động, nên muốn hạ thấp giá trị sức lao động thì phải giảm giá trị các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết cho người lao động Điều đó chỉ được thực hiện bằng cách tăng năng suất lao động
xã hội cho các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng và các ngành sản xuất tư liệu sản xuất để sản xuất ra các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ
Giả sử ngày lao động là 8 giờ và nó được chia thành 4 giờ là thời gian lao động tất yếu và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư Điều đó có thể biểu diễn như sau:
Do đó, tý suất giá trị thặng dư là:
Trang 9Do đó, bây giờ tỷ suất giá trị thặng dư sẽ là:
3 Như vậy, tỷ suất giá trị thặng dư đã tăng từ 100% lên 166%, đồng nghĩa với trình độ bóc lột tăng lên
Vậy làm thế nào để có thể rút ngắn được thời gian lao động tất yếu? Thời gian lao động tất yếu có quan hệ với giá trị sức lao động Muốn rút ngắn thời gian lao động tất yếu phải giảm giá trị sức lao động Muốn hạ thấp giá trị sức lao động phải giảm giá trị những
tư liệu sinh hoạt thuộc phạm vi tiêu dùng của công nhân Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng cách tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt thuộc phạm vi tiêu dùng của công nhân và tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt đó, tức là tăng năng suất lao động xã hội
Nếu trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là phương pháp chủ yếu, thì đến giai đoạn tiếp sau, khi kỹ thuật phát triển, sản xuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp chủ yếu
Sự ra đời và phát triển và sử dụng rộng rãi máy móc đã làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng Máy móc có ưu thế tuyệt đối so với các công cụ thủ công, vì công cụ thủ công là công cụ lao động do con người trực tiếp sử dụng bằng sức lao động nên bị hạn chế bởi khả năng sinh lý của con người, nhưng khi lao động bằng máy móc sẽ không gặp phải những hạn chế đó Vì thế, việc sử dụng máy móc làm năng suất lao động tăng lên rất cao, làm giảm giá trị tư liệu sinh hoạt, làm hạ thấp giá trị hàng hoá sức lao động, rút ngắn thời gian lao động tất yếu kéo dài thời gian lao động thặng dư, giúp nhà tư bản thu được nhiều giá trị thặng dư hơn Phương pháp giá trị thặng dư tương đối ngày càng được nâng cao do các cuộc cách mạng khoa học, đặc biệt cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển với tốc độ vũ bão, đem lại sự phát triển chưa từng có trong lịch sử loài người, nó khác với cuộc cách mạng khoa học là dẫn đến sự hình thành các
Trang 10nguyên lý công nghệ sản xuất mới, chứ không đơn thuần về công cụ sản xuất như cách mạng khoa học, do đó dẫn đến sự tăng trưởng cao, đưa xã hội loài người bước sang một nền văn minh mới - nền văn minh trí tuệ
Trang 11CHƯƠNG 2
SỰ HOẠT ĐỘNG CỦA HAI HƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ
THẶNG DƯ TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
2.1 Giai đoạn trước đổi mới 1986
2.1.1 Mô hình kinh tế
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ngày 30/4/1975, cả nước độc lập thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam lúc này là khôi phục, ổn định xây dựng và phát triển đất nước trong điều kiện hòa bình Tình hình đó đã đặt ra một yêu cầu là cần phải có những chủ trương, chính sách, biện pháp phù hợp với tình hình mới của đất nước để thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển Trên thực tế, các chủ trương, chính sách, biện pháp của Đảng ở một số mặt trong thời kỳ này chưa đáp ứng được những yêu cầu đặt ra, đặc biệt là những chủ trương, đường lối trong lĩnh vực kinh tế (những vấn đề liên quan đến lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất)
Đảng nhận thấy rõ những khó khăn của nền kinh tế đất nước: cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém; năng suất lao động thấp, sản xuất chưa đảm bảo nhu cầu đời sống và tích luỹ,… Đảng cũng vạch ra những nguyên nhân sâu xa của tình hình trên là nền kinh tế nước
ta là sản xuất nhỏ; công tác tổ chức và quản lý kinh tế có nhiều hạn chế,… Ở miền Bắc, Đảng chủ trương củng cố và hoàn thiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất dưới hai hình thức toàn dân và tập thể Ở miền Nam, Đảng chủ trương tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế cải tạo công nghiệp tư bản tư doanh chủ yếu bằng hình thức công tư hợp doanh; chủ trương hợp tác hoá nông nghiệp; cải tạo thủ công nghiệp bằng con đường hợp tác hoá là chủ yếu; cải tạo thương nghiệp nhỏ
Như vậy, thực chất của quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế ở miền Nam cũng như trong cả nước là nhằm xoá bỏ chế độ tư hữu và thiết lập chế
độ công hữu Mác đã từng khẳng định: “Những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của
thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, cũng như việc quá coi trọng thay đổi quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất mà không coi trọng việc giải quyết các khâu tổ chức, quản lý sản xuất và phân phối đã dẫn tới việc không tìm ra cơ chế gắn người lao động với sản xuất Tính chủ động, sáng tạo của người lao động bị giảm đi vì mọi tư liệu sản xuất chủ yếu trong
xã hội phải được sử dụng theo phương hướng và nhiệm vụ của kế hoạch nhà nước
Trang 12Tại Đại hội IV, Đảng đặc biệt quan tâm tới việc hoàn thiện hệ thống quản lý kinh tế, nhằm vào những vấn đề quan trọng nhất là tổ chức lại nền sản xuất xã hội chủ nghĩa trong phạm vi cả nước Đồng thời, Đảng chủ trương cải tiến phương thức quản lý kinh tế, lấy kế hoạch hoá làm chính Kế hoạch hoá trên cơ sở đề cao trách nhiệm và phát huy tính sáng tạo của các ngành, các địa phương và các cơ sở Trong quản lý kinh tế, Đảng cũng đã nhấn mạnh tới việc phải coi trọng quy luật giá trị; phải thực hiện chế độ hạch toán kinh tế; sử dụng tốt thị trường
Tuy nhiên, việc thực hiện công tác quản lý kinh tế còn nhiều khuyết điểm, không gắn kế hoạch với hạch toán kinh tế, do đó kế hoạch chưa thực sự xuất phát từ thực tế lao động sản xuất, thiếu tính khả thi Trong khi đó, cơ chế quản lý quan liêu bao cấp vẫn tiếp tục được duy trì đã ảnh hưởng không nhỏ đến nền sản xuất, nhất là trong việc phân phối, lưu thông Nhà nước đóng vai trò điều tiết giá cả nên đã không kích thích được sản xuất kinh doanh phát triển Cơ chế quản lý quan liêu bao cấp với đặc điểm “tách rời việc trả
theo lao động” đã làm cho chế độ phân phối mang tính bình quân, do đó không kích thích được sự nhiệt tình và khả năng tìm tòi sáng tạo của người lao động
Với những bước đi đổi mới từng phần theo những chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, những sáng kiến, sự năng động, sáng tạo của nhân dân, của các địa phương, cơ sở sản xuất kinh doanh, đã làm cho nền kinh tế Việt Nam những năm 1981 -
1985 có bước phát triển khá Sản lượng lương thực bình quân mỗi năm đạt 17 triệu tấn, sản lượng công nghiệp tăng bình quân 9,5%/năm Thu nhập quốc dân tăng bình quân hàng năm 6,4% Cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội được xây dựng đáng kể với hàng trăm công trình được cơ khí hoá và tự động hóa, và hàng nghìn công trình vừa và nhỏ, trong đó có những
cơ sở quan trọng về điện, dầu khí, xi măng, cơ khí, dệt, giao thông Về năng lực sản xuất,
đã tăng thêm 456.000 kW điện, 2,5 triệu tấn than, 2,4 triệu tấn xi măng, 33.000 tấn sợi, 58.000 tấn giấy, thêm 309.000 ha được tưới nước, 186.000 ha được tiêu úng Tuy vậy, tình hình kinh tế-xã hội và đời sống nhân dân vẫn còn nhiều khó khăn, khủng hoảng kinh tế-xã hội vẫn trầm trọng mà biểu hiện như sau:
Một là, kinh tế tăng trưởng thấp và thực chất là không phát triển Nếu tính chung từ năm
1976 đến 1985 tổng sản phẩm xã hội tăng 50,5%, bình quân hàng năm chỉ tăng ở mức 4,6%; thu nhập quốc dân tăng 38,8% bình quân hàng năm chỉ tăng 3,7%, trong khi tỷ lệ dân số tăng trung bình hàng năm 2,3%;
Hai là, không có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế vì làm không đủ ăn, thu nhập quốc dân sản xuất chỉ bằng 80 - 90% thu nhập quốc dân sử dụng;
Trang 13Ba là, siêu lạm phát hoành hành Suốt trong thời kỳ 1976-1985 chỉ số giá bán lẻ hàng hóa năm sau so năm trước luôn tăng ở mức hai con số và giao động ở mức 19-92% Năm 1986, lạm phát đạt đỉnh điểm với tốc độ tăng giá 774,7%;
Do đồng tiền mất giá, người ta quay sang lấy vàng làm bản vị, khiến giá vàng tăng vọt, còn nhanh hơn cả tăng giá hàng hoá Tuy kế hoạch cải cách giá - lương - tiền không diễn ra như kế hoạch do sự chắp vá giữa cải cách với mô hình cũ, gây ra những hậu quả nghiêm trọng trong thời gian cuối năm 1985 và năm 1986, song, chính sự khủng hoảng này
đã làm cho các cấp các ngành nhận ra rằng, đã cải cách là phải cải cách triệt để Mô hình
cũ phải bị đoạn tuyệt hoàn toàn Trên cơ sở đó, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 12 năm 1986 đã đưa ra những chủ trương cải cách, đổi mới lịch sử
2.1.2 Sự hoạt động của hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
Đất nước ta sau nhiều năm trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhưng nền kinh tế vẫn ở trong tình trạng thấp kém Thực trạng đất nước vào giữa những năm 1980 với những khó khăn mới gay gắt và phức tạp: Hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp; mất cân đối lớn trong nền kinh tế, đời sống nhân dân khó khăn, nhiều nhu cầu chính đáng tối thiểu của nhân dân về đời sống vật chất tinh thần chưa được đảm bảo… việc cải tạo kinh tế trong thời kỳ này theo hướng xóa bỏ chế độ tư hữu thiết lập chế độ tư hữu do đó sự hoạt động của hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư về cơ bản không tồn tại ở Việt Nam trong thời kỳ này do nên kinh tế tư nhân không tồn tại Để giải quyết thực trạng kinh tế – xã hội
đó đòi hỏi Đảng ta phải có những quyết sách xoay chuyển tình hình, tạo ra một bước ngoặt cho sự phát triển Trên thực tế, Đảng ta đã làm được điều đó
Tuy nhiên, sau hơn một thập kỷ nhận thấy rõ những hạn chế của cơ chế quản lý hành chính quan liêu bao cấp, nhưng phải tới Đại hội V Đảng mới có một chủ trương thực sự mang tính bước ngoặt để xác lập một cơ chế quản lý mới về kinh tế thay cho cơ chế cũ Đảng chủ trương “đổi mới chế độ quản lý và kế hoạch hoá hiện hành, xoá bỏ cơ chế quản
lý hành chính quan liêu, bao cấp, khắc phục bằng được tình trạng bảo thủ, trì trệ, vô trách nhiệm, vô kỷ luật, phát huy động lực làm chủ tập thể, nâng cao tính năng động sáng tạo,
lý này, Đảng đã đề ra được một phương hướng quản lý mới có tính khả thi, thể hiện một sự chuyển biến đúng hướng trong quan hệ sản xuất nói chung và trong việc tổ chức và quản