mạng 4.0, khi con người đang tiến những bước dài trên con đường phát triển, hướng đến xã hội tri thức, xã hội mở thì nhiều “nguy cơ” lớn đặt ra cho toàn xã hội, trong đó sự xuống cấp về
Trang 1VẬN DỤNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO
CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
TS Lê Thị Hạnh*
TÓM TẮT
Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm và đã trở thành một phần trong đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam Với triết lý từ bi, hỷ xả, cứu khổ, cứu nạn…, Phật giáo đã dễ dàng đi vào lòng người, hướng con người đến lối sống vị tha, bình đẳng, khoan dung Triết lý Phật giáo phù hợp với tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống của con người Việt Nam và đã có những đóng góp tích cực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Văn kiện Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh: “Tôn trọng và phát huy những giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp của các tôn giáo” 1 Vì vậy, việc vận dụng tư tưởng vào việc giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên các trường đại học hiện nay là rất cần thiết.
1 MỞ ĐẦU
Ngày nay, trong xu thế hội nhập quốc tế và phát triển cuộc cách
* Phó trưởng khoa Lý luận chính trị, Trường Đại học Tài chính – Quản trị kinh doanh.
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, H., 2011, tr 81.
Trang 2mạng 4.0, khi con người đang tiến những bước dài trên con đường phát triển, hướng đến xã hội tri thức, xã hội mở thì nhiều “nguy cơ” lớn đặt ra cho toàn xã hội, trong đó sự xuống cấp về đạo đức, lối sống đang trở thành một vấn nạn toàn cầu, đặc biệt, tình trạng đó lại diễn ra nhiều nhất trong thế hệ trẻ, học sinh, sinh viên – những chủ nhân tương lai của xã hội Sinh viên các trường đại học ở Việt Nam là một trong những quốc gia đang cần gióng lên hồi chuông báo động về đạo đức, lối sống Đứng trước yêu cầu phát triển bền vững của đất nước, giáo dục đại học cần thiết phải xây dựng một phương pháp giáo dục đạo đức mới, phù hợp với thời đại trên cơ sở
kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc cho các
em sinh viên hiện nay
2 NỘI DUNG
2.1 Giáo dục đại học và giáo dục đạo đức Phật giáo
2.1.1 Giáo dục đại học
Theo định hướng phát triển giáo dục trong thời đại mới, Ủy ban khoa học, giáo dục và văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã đề xướng mục đích học tập là: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình” Hiểu một cách ngắn gọn là: Học để phát triển toàn diện, hài hòa về trí tuệ, kỹ năng, lẫn đạo đức, lối sống Giáo dục là quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người học theo hướng tích cực, nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách người học bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội đương đại Giáo dục bao gồm việc dạy và học, giáo dục là nền tảng cho việc truyền thụ, phổ biến văn hóa từ thế hệ này đến thế hệ khác Giáo dục là phương tiện để đánh thức
và nhận ra khả năng, năng lực tiềm ẩn của chính mỗi cá nhân, đánh thức trí tuệ của mỗi người Theo quan điểm của các nhà giáo dục, giáo dục thông qua 3 môi trường chính, đó là: gia đình, nhà trường
và xã hội
Trang 3Giáo dục đại học (Higher education) là giai đoạn giáo dục bậc
cao thường diễn ra ở các trường đại học, trường cao đẳng, học viện,
và viện công nghệ, bao gồm các bậc sau trung học phổ thông như cao đẳng, đại học và sau đại học Giáo dục đại học bao gồm các hình thức giáo dục diễn ra ở các cơ sở học tập bậc sau trung học, cuối khóa học thường được trao văn bằng học thuật hoặc cấp chứng chỉ Các cơ sở giáo dục đại học không chỉ bao gồm các trường đại học và viện đại học mà còn các trường chuyên nghiệp, trường sư phạm, trường cao đẳng, trường đại học công lập và tư thục hệ hai năm, và viện kỹ thuật Điều kiện nhập học căn bản đối với hầu hết các cơ sở giáo dục đại học là phải hoàn thành giáo dục trung học, và tuổi nhập học thông thường là 18 tuổi
Giáo dục đại học bao gồm các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu, thực tập (như trong các trường y khoa và nha khoa), và phụng
sự xã hội của các cơ sở giáo dục đại học Các hình thức giáo dục đại học bao gồm: giáo dục tổng quát (general education), thường
bao gồm đáng kể những yếu tố lý thuyết và trừu tượng cùng với những khía cạnh ứng dụng; giáo dục chú trọng đến các ngành khai phóng (liberal arts education), bao gồm các ngành nhân văn, khoa
học, nghệ thuật; giáo dục mang tính huấn nghệ (vocational educa-tion), kết hợp cả việc giảng dạy lý thuyết lẫn những kỹ năng thực
hành; giáo dục chuyên nghiệp (professional education), như trong
các ngành kiến trúc, kinh doanh, luật, y khoa, v.v
Ở nhiều quốc gia phát triển, có tới 50tram% dân số theo học trong các cơ sở giáo dục đại học Giáo dục đại học do đó rất quan trọng đối với kinh tế quốc gia, với tư cách là một ngành kinh tế và là nơi giáo dục và đào tạo nhân lực cho phần còn lại của nền kinh tế Những người theo học đại học thường kiếm được mức lương cao hơn và ít có khả năng bị thất nghiệp hơn so với những người có học vấn thấp hơn
Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tính đến hết năm học 2016-2017, cả nước hiện có 37 viện nghiên cứu khoa học được giao nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ, 235 trường đại học và học
Trang 4viện, bao gồm cả phân viện và các cơ sở (trong đó có 170 trường công lập) và 33 trường cao đẳng sư phạm, 2 trường trung cấp sư phạm2 Năm học 2016-2017, tỉ lệ học sinh tốt nghiệp trung học đăng
ký xét tuyển vào đại học là 74%, tỉ lệ học sinh đậu vào đại học, cao đẳng khoảng 41% Về quy mô đào tạo, tổng quy mô đào tạo tiến sĩ
là 15.112 nghiên cứu sinh, quy mô đào tạo thạc sĩ là 105.801, sinh viên đại học là 1.767.879 sinh viên, quy mô sinh viên cao đẳng sư phạm là 47.800 sinh viên3 Về số lượng giảng viên các trường đại học công lập hiện tại khoảng 55.400 người, số lượng giảng viên các trường đại học tư thục hiện tại khoảng 14.190 người4 Về ngân sách chi cho giáo dục, theo thống kê năm 2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chính phủ đã chi 248,1 nghìn tỉ đồng cho lĩnh vực giáo dục, chiếm 20% ngân sách nhà nước, trong đó chi cho đơn vị giáo dục bậc đại học chiếm 9%
Cùng với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, giáo dục đại học Việt Nam cần được đổi mới trên cơ sở vẫn giữ được những nét đặc thù của giáo dục đại học trong nước, đồng thời tiệm cận được các chuẩn chung của thế giới Việt Nam chỉ xếp thứ 70/100 về nguồn lực và 81/100 về lao động có chuyên môn cao
Rõ ràng, yêu cầu quan trọng nhất để chuẩn bị cho cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đối với bất kỳ quốc gia nào là cải thiện nguồn vốn con người để có thể đáp ứng được các yêu cầu về kiến thức, về kỹ năng liên tục thay đổi trong môi trường lao động mới
Trong bối cảnh này, hệ thống giáo dục phải tập trung vào phát triển phẩm chất và năng lực của người học thông qua việc định hướng các con đường phù hợp nhất cho các nhóm học sinh, sinh viên khác nhau để giúp họ phát huy được tiềm năng của mỗi cá nhân Điều này cần được áp dụng ở tất cả các cấp học, ở tất cả các trình độ đào tạo Đặc biệt, đối với các trường đại học: “Thành công của một trường đại học không chỉ đơn thuần là tỷ lệ sinh viên tốt
2 “Đại học cần được cấu trúc lại”, Báo Tuổi trẻ, 22/09/2015.
3 “Những con số “biết nói” về giáo dục đại học Việt Nam”, Báo điện tử VietNamNet.
4 “Ngân sách chi cho giáo dục tăng thế nào 5 năm qua?”,Báo VnExpress.
Trang 5nghiệp, là khả năng tìm kiếm việc làm của sinh viên hay là vị trí trên bảng xếp hạng quốc tế, mà còn là sự phát triển bền vững và lâu dài,
là khả năng sẵn sàng chấp nhận rủi ro, là năng lực đổi mới và sáng tạo của sinh viên.”
2.1.2 Giáo dục Phật giáo
Giáo dục Phật giáo được hiểu là dạy cho con người biết và hiểu giáo lý Phật giáo Qua đó, bồi dưỡng, phát triển con người hoàn thiện hơn về mặt trí thức và tâm thức, để trở thành những con người tốt hơn, có phẩm hạnh và có đạo đức, trở thành những người tốt, chân thật, từ bi và biết kính trọng người khác, trở thành những con người có trí tuệ, sống có lý tưởng, suy nghĩ hợp lý, thích ứng được với bối cảnh xã hội Giáo dục Phật giáo là để phát triển trí tuệ, thấu hiểu bản chất thật sự của các pháp, hiểu được những điều chân thực và
có giá trị Học Phật là đi theo con đường Đức Phật đã dạy để nhận sự chân thật, qua đó loại bỏ những quan điểm sai lầm, trái đạo đức
Từ góc độ giáo dục Phật giáo, giáo dục không chỉ là việc dạy và việc học mà còn là quá trình chuyển hóa nội tâm, cải tạo cái xấu, thay thế, bồi dưỡng và phát huy cái tốt, trang bị cho mỗi cá nhân những nhận thức chính kiến, đức tin chân chính và những phẩm chất tâm linh cao thượng để mỗi người có thể làm hành trang tư lượng cho đời sống an lạc, hạnh phúc cá nhân, gia đình, học đường
và cộng đồng xã hội Giáo dục Phật giáo nhằm trang bị và hoàn bị cho con người có thể sống an lạc và hạnh phúc, phục vụ cho tha nhân, góp phần xây dựng một quê hương đất nước giàu đẹp, một
xã hội công bằng văn minh Giáo dục Phật giáo không đào tạo con người trở thành con người nghề nghiệp mà giáo dục con người trở thành con người an lạc và hạnh phúc Con đường giáo dục của Phật giáo khá thiết thực và thực tiễn Vậy, giáo dục Phật giáo là giảng dạy
hệ thống giáo lý Phật giáo cho con người, hướng đến sự phát triển toàn diện của con người qua các mặt của đời sống, đặc biệt là tâm thức, nhằm kiến tạo một đời sống trí tuệ và hạnh phúc
Về mục tiêu giáo dục Phật giáo: Giáo dục là giáo dục con người
Vậy phải hình dung ra con người là như thế nào, bản tính ra sao
Trang 6Phật giáo chủ trương có ba tính thiện, bất thiện, vô ký, bản chất con người là duyên khởi và vô ngã Con người là một hữu thể có đặc tính như vậy Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trước khi từ giã cõi thế đã dặn bảo đệ tử hãy lấy giáo pháp mà Ngài đã trao truyền làm người hướng dẫn Ngài chính là một nhà giáo dục vĩ đại, đã dành cả cuộc đời mình đi khắp mọi nơi trao truyền chính pháp Giáo dục Phật giáo hướng đến là giúp tất cả các Tăng ni, Phật tử tại gia theo Phật là
để đạt được thanh tịnh tâm ý, để đạt đến trạng thái giải thoát, trạng thái niết bàn Đức Phật đã nêu rõ: “Cũng như nước biển chỉ có một
vị là vị mặn, này Paharada, Pháp và Luật của ta chỉ có một vị, là vị giải thoát” Hạnh phúc chỉ đến thật sự khi giải thoát đồng nghĩa với tinh thần vô ngã, tâm linh con người thoát khỏi tham, sân, si… bỏ qua tất cả phiền não và an vui trong cảnh giới niết bàn Giáo dục Phật giáo không phải là phương tiện để thực hiện địa vị và quyền thế và cũng không phải là nghề nghiệp để mưu cầu sinh sống, mà phải là cứu cánh để thực hiện chí nguyện độ sanh và để giải thoát khổ đau Đức Phật đã dạy: “Nước bốn biển trong đại dương chỉ có một “vị mặn”, cũng vậy, giáo pháp của Ta chỉ có một “vị giải thoát” Giáo dục Phật giáo chỉ rõ con người xã hội trong mối tương quan biện chứng hai chiều giữa cá nhân và xã hội, tạo thành động lực giữa
xã hội hỗ tương và phát triển Tức là nền giáo dục trong đó bao gồm
sự phát triển tâm linh, sự quan hệ huyết thống và sự quan hệ xã hội trong những chuẩn mực nhất định Giáo dục con người cá nhân là nhắm vào các đặc tính sẵn có và đánh thức những gì tiềm ẩn trong con người trỗi dậy, nhằm đưa mọi người đến chỗ giải thoát mọi khổ đau, nhưng giáo pháp của Đức Phật có phân biệt từng trường hợp, từng hoàn cảnh, tùy theo căn cơ của từng chúng sinh mà hướng dẫn từng cá nhân đi theo những con đường nhanh hay chậm, trực tiếp hay gián tiếp Giáo dục Phật giáo hướng đến giúp con người biết phát triển tâm linh cao thượng, biết nuôi dưỡng tinh thần độc lập
tự do, tự chủ và tự do sáng tạo Xây dựng con người hữu ích, hạnh phúc, có nhân cách tốt, con người chân thiện mỹ, có một đời sống trọn vẹn hạnh đức, tâm đức và tuệ đức để con người đó có thể góp phần xây dựng một nếp sống tốt đạo, đẹp đời và xây dựng một nền
Trang 7văn hóa văn minh cho nhân loại Đào tạo những con người có kiến thức sống động, những tâm tư mới lạ, sáng suốt, có tính sáng tạo, biết khơi dậy và đánh thức những hạt giống hạnh phúc và giác ngộ nơi tự thân, những con người có tấm lòng tương trợ, tương thân, tương ái, tương kính, có tình yêu nhân loại
Như vậy, giá trị của giáo dục Phật giáo là hướng đến sự phát triển toàn diện của con người qua các mặt của đời sống, đặc biệt là tâm thức, nhằm kiến tạo một đời sống trí tuệ và hạnh phúc thật sự ngay tại con người này và trong cuộc đời này, nhắm đến mục tiêu đặc biệt giúp con người có hạnh phúc đích thực, biết tu tập, chuyển hóa tham, sân, si; biết thanh lọc ác pháp tham, sân, si thành thiện pháp
vô tham, vô sân, vô si; biết chuyển hóa phiền não thành bồ đề; biết vun trồng và tưới ẩm những hạt giống chính niệm ở trong tâm thức của mỗi con người
Về phương pháp giáo dục: Giáo dục Phật giáo nhằm hoàn thiện
con người, con người là một chúng sinh có khả năng thành Phật Phật là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành Phật giáo khu-yên con người phát huy tính tự lực, tự thân, nỗ lực hoàn thiện mình trên lộ trình giải thoát Phương pháp giáo dục là lĩnh vực hoạt động của khoa học giáo dục về việc giảng dạy và học tập, tổ chức các phương tiện giáo dục, soạn thảo các chương trình giáo dục, giáo hóa và truyền bá chánh pháp, nhằm đáp ứng với mọi trình độ căn cơ của chúng sinh, với sự thật, lẽ phải, thực tế, với các nhu cầu lý luận, với các nhu cầu thời đại và hoàn cảnh xã hội
Như vậy, phương pháp giáo dục trong Phật giáo là phương pháp kinh nghiệm, phương pháp giáo dục từ kinh nghiệm thực tế Trong giai đoạn đầu tổ chức, giáo dục Phật giáo nhắm đối tượng là tu sĩ, nhưng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của dân cư thì cho đến nay, nền giáo dục Phật giáo đã mở rộng hơn, bên cạnh các hệ thống giáo dục Phật giáo được đào tạo từ cấp tiểu học, trung học, sơ cấp
và đại học Phật giáo cho các tu sĩ thì còn có các khóa tu, khóa thiền cho tất cả mọi người
Phương pháp giáo dục Phật giáo cần phải đáp ứng được mục
Trang 8đích của từng nhóm đối tượng Như đối với người bình thường các
tỳ kheo cũng ra sức giảng pháp, đem tinh thần Phật giáo để truyền đạt cho mọi người mà không cần hệ thống tổ chức đầy đủ, giáo trình và môn học nghiêm ngặt như giáo dục cho các tu sĩ
Phương pháp soạn thảo chương trình, tổ chức học tập bằng phương pháp soạn thảo chương trình và tổ chức học tập, việc giáo dục Phật giáo đã phát triển rất sâu rộng trong tất cả mọi tầng lớp
xã hội, đặc biệt là thế hệ thanh niên, học sinh, sinh viên Ngày nay, chương trình giáo dục của Phật giáo đang bước vào một thời đại mới, thời đại hòa nhập xã hội thông tin Ở đó, cái chậm chạp, thụ động, khép kín phải nhường chỗ cho cái nhạy bén, sáng tạo, cởi mở Con người phải hòa nhập vào cuộc sống, vào xã hội như một mạng lưới đan xen vào nhau và phủ trùm lên mọi ngõ ngách nhận thức Phật giáo
là tôn giáo có thiết chế mang đậm tính tương tác với xã hội
2.2 Nội dung giáo dục đạo đức của Phật giáo
Thích nghi với xã hội là cái cần thiết cho Phật giáo ngày hôm nay nói chung và nội dung trong chương trình giáo dục của Phật giáo nói riêng theo chiều hướng thích nghi, để định hướng phát triển cho mỗi một thành viên trong cộng đồng Trong đó, bộ phận giới trẻ luôn là những đối tượng mà chương trình giáo dục của Phật giáo hướng đến Chính vì vậy, việc soạn thảo chương trình giáo dục của Phật giáo phù hợp với nhiều lứa tuổi 30 người trở thành mẫu mực, đạo đức, an lạc và hạnh phúc Những giáo lý đó là nền giáo dục đặc thù của Phật giáo được Đức Phật truyền đạt cách đây đã trên 2.500 năm và đến nay vẫn còn nguyên giá trị và rất thiết thực Đức Phật dạy: “Các ngươi phải siêng năng tu tập các điều thiện mà được mạng sống lâu dài, nhan sắc thắm tươi, sống yên ổn, vui vẻ, của cải dồi dào, uy tín đầy đủ” Hồ Chí Minh đã nhận xét: “Tôn chỉ mục đích của đạo Phật nhằm xây dựng cuộc đời thuần mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui và no ấm”5 Trong quá trình tu tập và bảo vệ sự sống của muôn loài, con người phải hiểu rõ về lòng từ bi
5 Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, tập IV, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1958, tr.39.
Trang 9Thứ nhất, xây dựng các mối quan hệ bình đẳng, khoan dung, tôn
trọng lẫn nhau trong gia đình, xã hội Đức Phật Thích Ca là người đầu tiên trong lịch sử nhân loại đấu tranh cho tự do và công bằng xã hội, cho bình đẳng giữa các giai cấp và giữa con người với con người trong xã hội Tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo được đề cao Phật giáo cho rằng mọi người đều như nhau, mọi người đều bình đẳng, phải yêu thương lẫn nhau Hãy nhìn thế giới xung quanh bằng ánh mắt vị tha hơn, bao dung hơn Với tâm từ bi, với lòng yêu thương con người, Phật giáo đã phá đi hàng rào ngăn cách vô nhân đạo giữa con người với con người Phật giáo không tách rời lợi ích cá nhân
và lợi ích xã hội mà nhấn mạnh đồng thời, lợi ích cá nhân và xã hội phải đi cùng để tạo ra một sự hạnh phúc cho nhân loại Triết lý này của Phật giáo có thể bắt gặp trong năm giới, chuẩn mực nền tảng đạo đức của Phật giáo Con người nên tuân giữ năm giới để làm cho cuộc sống không bị tổn hại, không vi phạm pháp luật quốc gia, vì lợi ích cá nhân và lợi ích cho cả xã hội Phật giáo muốn đem lại cho các tín đồ của mình một triết lí sống vị tha, nhân bản Khi đã thấu suốt được chân lý này, con người sẽ vươn lên khỏi cuộc sống vị kỉ
mà sống theo tinh thần “Từ bi, hỷ, xả, vô ngã, vị tha”, có tinh thần nhân ái, yêu thương mọi người, thông cảm sâu sắc với những nỗi đau khổ của người khác như nỗi đau khổ của chính mình, tìm cách giảm nhẹ nỗi đau khổ cho họ, thành thực chia sẻ niềm vui với người khác như chính là niềm vui của mình, làm tất cả mọi việc có ích cho mọi người mà trong tâm không một chút đắn đo tính toán, không mong được báo đáp, không vị lợi, không cầu danh “Chính mệnh” trong Bát chính đạo của Phật giáo còn có nghĩa là biết làm chủ cuộc sống, không lãng phí, không bủn xỉn, biết làm phúc Biết chăm lo cuộc sống của người thân, quyến thuộc, biết tích lũy cho đời nay và chuẩn bị cho đời sau Đức Phật dạy rằng các cư sĩ sống bình thường
ở gia đình có 4 điều lạc thú: (1) được hưởng cảm giác an toàn do
có của cải và cơ sở kinh tế có được bằng phương pháp chính đáng; (2) có thể khảng khái sử dụng của cải ấy cho mình, cho người nhà
và cho bạn hữu, đồng thời dùng nó đề làm nhiều việc từ thiện; (3) không bị khổ sở vì nợ nần; (4) có thể sống cuộc đời thanh tịnh,
Trang 10không lỗi lầm Đạo Phật đã chỉ dẫn cho con người cần đào luyện một số đức tính của một tình thương chân chính với những tình cảm trong sáng tốt đẹp và đầy tình người: không thể giẫm đạp lên hạnh phúc của người khác để xây dựng hạnh phúc cho riêng mình, phải sống một cách chân chính, bằng chính sức lực và mồ hôi của mình, và, cuộc sống đầy rẫy đau khổ, không nên gây thêm đau khổ cho người khác mà phải đến với mọi người với hạnh “bố thí”, với tình thương yêu, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau vượt qua những khó khăn đầy rẫy trong cuộc sống
Thứ hai, giáo dục đạo đức môi trường là nhằm giúp con người
hiểu rõ được môi trường, tham gia cải thiện môi trường Môi trường tốt thì con người khỏe mạnh, phát triển tốt, môi trường xấu thì con người bị đối mặt với bệnh tật, thiên tai… Giáo dục môi trường là giáo dục ý thức thức tỉnh con người phải có trách nhiệm tự bảo
vệ môi trường, bảo vệ môi trường tức là bảo vệ chính mình Môi trường là nơi cho mọi loài sinh sống và tồn tại, trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển như hiện nay, dưới sự tác động của rất nhiều khí thải công nghiệp, nạn chặt phá rừng… môi trường đã bị biến đổi, bị tổn hại rất nghiêm trọng Vì thế, giáo dục Phật giáo cũng hướng con người đến việc bảo vệ môi trường làm cho cuộc sống muôn loài được bình yên Đức Phật khuyên con người nên thực hành giáo lý Tứ vô lượng tâm (từ, bi, hỷ, xả) vào trong đời sống hàng ngày Tu tập lòng từ để đối trị lòng sân, tu tập lòng từ bi để không hại người hại vật, tu tập lòng hỷ để trừ diệt lòng ganh ghét
và tu tập hạnh xả để đoạn diệt hận thù Từ và bi là tâm thương yêu tất cả chúng sinh muôn loài như loài thủy tộc, chim bay, thú chạy, côn trùng, cỏ cây, rừng núi, sông ngòi, biển… Hỷ và xả là tâm vui vẻ
và vô chấp Cái tâm bình đẳng, đồng nhất, hài hòa với thiên nhiên
Từ, bi, hỷ, xả là nguồn năng lượng vô biên, nó giúp con người có thể xây dựng được môi trường tốt đẹp, an bình và hạnh phúc giữa người với người, giữa người với thiên nhiên Chúng ta đến với môi trường thiên nhiên như con ong đến với hoa, chỉ hút nhụy rồi đi chứ không làm tổn thương hương sắc của hoa Kinh Pháp cú kệ số
49 ghi: “Như ong đến với hoa Không hại sắc và hương Che chở hoa,