Câu 1: Phân tích nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và đề xuất các kiến nghị nhằm bảo đảm thực hiện nguyên tắc này tại các Tòa án Việt Nam 1.1. Nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tranh tụng trong tố tụng dân sự là một loại tranh tụng trong tố tụng, bao hàm cả hoạt động tranh tụng trước khi mở phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa và tranh trụng sau khi có quyết định giải quyết vụ án dân sự. Vì tố tụng dân sự là quá trình giải quyết vụ án dân sự cho nên tranh tụng trong tố tụng dân sự là tranh tụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc. Chủ thể tranh tụng trong tố tụng dân sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Căn cứ vào lợi ích, có thể chia các đương sự thành hai bên là bên khởi kiện và bên bị kiện. Bên khởi kiện là nguyên đơn dân sự còn bên bị kiện là bị đơn dân sự. Tùy từng vụ án dân sự cụ thể mà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được coi là đương sự thuộc bên khởi kiện hoặc bên bị kiện. Bên khởi kiện và bên bị kiện bình đẳng trước Tòa án trong việc đưa ra chứng cứ và thể hiện sự đánh giá của mình về các chứng cứ trong vụ án cũng như quan điểm giải quyết vụ án. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người được đương sự nhờ và được Tòa án chấp nhận tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Theo quy định tại khoản 2 Điều 63 BLTTDS, thì những người sau đây được Tòa án chấp nhận làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự: Luật sư tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật về luật sư; Trợ giúp viên pháp lý hoặc người tham gia trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý; Công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, chưa bị kết án hoặc bị kết án nhưng đã được xóa án tích, không thuộc trường hợp đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục; không phải là cán bộ, công chức trong các ngành Tòa án, Kiểm sát và công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan trong ngành Công an. Vì các bên tham gia tranh tụng trong tố tụng dân sự là những đương sự trong vụ án dân sự, trong rất nhiều trường hợp họ là những người không am hiểu nhiều về pháp luật do vậy chất lượng tranh tụng sẽ rất cao khi các bên đương sự có người bảo vệ quyền và lợi ích của mình tham gia tố tụng. Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần. Khi tham gia các phiên họp, phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm, Viện kiểm sát chỉ kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng của trong quá trình giải quyết vụ án của Tòa án, các bên đương sự và những người tham gia tố tụng khác. Như vậy, Viện kiểm sát không phải là chủ thể tranh tụng trong tố tụng dân sự mà chỉ là chủ thể thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp. Tòa án là trọng tài và có quyền áp dụng những quy định của pháp luật để phân xử tranh chấp giữa các bên đương sự trong vụ án dân sự. Nhiệm vụ của Tòa án tiếp nhận chứng cứ của vụ án do các bên dương sự cung cấp và hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ để giải quyết đúng đắn vụ án dân sự, điều khiển phiên tòa. Trên cơ sở việc xem xét, đánh giá chứng cứ, Tòa án thể hiện quyết định về từng vấn đề phải giải quyết trong phần Quyết định của bản án và công bố công khai tại phiên tòa. Bản chất của tranh luận trong tố tụng dân sự là sự thể hiện chính kiến của từng bên đương sự về việc giải quyết vụ án dân sự dựa trên những chứng cứ thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Như vậy tranh tụng là một nguyên tắc của tố tụng hình sự, tố tụng hành chính và tố tụng dân sự. Còn tranh luận tại phiên tòa chỉ là hình thức tố tụng (một giai đoạn tố tụng của phiên tòa) mà trong đó Tòa án thay mặt nhà nước xác định sự thật của vụ án trên cơ sở điều tra công khai tại phiên tòa, nghe ý kiến của các bên tham gia tố tụng để ra quyết định phán xét giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ và đúng pháp luật. Do vậy tranh tụng trong tố tụng bao gồm những nội dung sau đây: + Cung cấp chứng cứ và yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ mới bằng cách: chủ động cung cấp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thu thập được, triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá, thẩm định giá. + Đánh giá chứng cứ và thể hiện quan điểm về việc giải quyết vụ án dân sự tại phiên hòa giải do Tòa án thực hiện trước khi mở phiên tòa xét xử. + Thực hiện việc xét hỏi tại phiên tòa. Xét hỏi tại phiên tòa thực chất là cuộc điều tra chính thức, công khai tại phiên tòa để xác định sự thật khách quan của vụ án. Vì vậy, các bên tham gia tố tụng đều có quyền điều tra dưới sự điều khiển của chủ tạo phiên tòa, xem xét chứng cứ, tài liệu. Việc xét hỏi này chỉ kết thúc khi Tòa án thấy rằng thông qua xét hỏi một cách khách quan, các tình tiết liên quan đến việc giải quyết vụ án đã được làm rõ. + Phát biểu ý kiến về đánh giá chứng cứ. Qua việc điều tra chính thức, công khai tại phiên tòa, mỗi bên tham gia tố tụng đều có cách nhìn nhận, đánh giá của mình về kết qủa chứng minh. Để thực hiện chức năng tố tụng, nhiệm vụ tố tụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, các bên tham gia tố tụng phải công khai đưa ra ý kiến đánh giá của mình về sự thật khách quan của vụ án để giúp cho Tòa án cân nhắc khi ra phán quyết. Các đánh giá khác nhau, phản biện nhau của các bên tham gia tố tụng tại phiên tòa sẽ giúp cho Tòa án khách quan hơn, toàn diện hơn, thận trọng hơn khi đánh giá để ra phán quyết. + Phát biểu ý kiến về pháp luật áp dụng. Thực tiễn cho thấy rằng, do nhiều lý do khác nhau như kĩ thuật lập pháp chưa tốt, quy định của pháp luật chưa rõ ràng, thiếu cụ thể, trình độ nhận thức pháp luật chưa tốt mà pháp luật được nhận thức rất khác nhau trong hoạt động tố tụng. Vì vậy, nội dung của tranh tụng trong giai đoạn tranh luận tại phiên tòa bao gồm việc các bên tham gia tố tụng đề nghị áp dụng luật để bảo vệ quan điểm của mình trong giải quyết vụ án theo chức năng, nhiệm vụ được giao. + Đề nghị biện pháp giải quyết vụ án liên quan đến quyền và lợi ích liên quan. Mỗi bên tham gia tố tụng đều nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Vì vậy, nội dung không thể thiếu trong tranh tụng là các bên đề xuất ý kiến và lập luận trên cơ sở chứng cứ, quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích đó. Tùy theo tư cách tố tụng của mình mà phạm vi xét hỏi, tranh luận, đề xuất ý kiến của mỗi người tham gia tố tụng cũng có khác nhau như nguyên đơn dân sự đòi hỏi việc bồi thường, bị đơn dân sự bác bỏ hoặc giảm mức bồi thường… 1.2. Đề xuất các kiến nghị nhằm bảo đảm thực hiện nguyên tắc này tại các Tòa án Việt Nam
Trang 1Câu 1: Phân tích nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và đề xuất các kiến nghị nhằm bảo đảm thực hiện nguyên tắc này tại các Tòa án Việt Nam
1.1 Nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Tranh tụng trong tố tụng dân sự là một loại tranh tụng trong tố tụng, bao hàm cả hoạt động tranh tụng trước khi mở phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa và tranh trụng sau khi có quyết định giải quyết vụ án dân sự Vì tố tụng dân sự là quá trình giải quyết vụ án dân sự cho nên tranh tụng trong tố tụng dân sự là tranh tụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc
Chủ thể tranh tụng trong tố tụng dân sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Căn cứ vào lợi ích, có thể chia các đương
sự thành hai bên là bên khởi kiện và bên bị kiện
Bên khởi kiện là nguyên đơn dân sự còn bên bị kiện là bị đơn dân sự Tùy từng vụ án dân sự cụ thể mà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được coi là đương sự thuộc bên khởi kiện hoặc bên bị kiện Bên khởi kiện và bên bị kiện bình đẳng trước Tòa án trong việc đưa ra chứng cứ và thể hiện sự đánh giá của mình về các chứng cứ trong vụ án cũng như quan điểm giải quyết vụ án Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người được đương sự nhờ và được Tòa án chấp nhận tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Theo quy định tại khoản 2 Điều 63 BLTTDS, thì những người sau đây được Tòa án chấp nhận làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự: Luật sư tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật về luật sư; Trợ giúp viên pháp lý hoặc người tham gia trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý; Công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, chưa bị kết
án hoặc bị kết án nhưng đã được xóa án tích, không thuộc trường hợp đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục; không phải là cán bộ, công chức trong các ngành Tòa án, Kiểm sát và công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan trong ngành Công an Vì các bên tham gia tranh tụng trong tố tụng dân sự là những đương sự trong vụ án dân sự, trong rất nhiều trường hợp họ
là những người không am hiểu nhiều về pháp luật do vậy chất lượng tranh tụng
Trang 2sẽ rất cao khi các bên đương sự có người bảo vệ quyền và lợi ích của mình tham gia tố tụng
Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm
về thể chất, tâm thần Khi tham gia các phiên họp, phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm, Viện kiểm sát chỉ kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng của trong quá trình giải quyết vụ án của Tòa án, các bên đương sự và những người tham gia tố tụng khác Như vậy, Viện kiểm sát không phải là chủ thể tranh tụng trong tố tụng dân sự mà chỉ là chủ thể thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp
Tòa án là trọng tài và có quyền áp dụng những quy định của pháp luật để phân xử tranh chấp giữa các bên đương sự trong vụ án dân sự Nhiệm vụ của Tòa
án tiếp nhận chứng cứ của vụ án do các bên dương sự cung cấp và hỗ trợ đương
sự thu thập chứng cứ để giải quyết đúng đắn vụ án dân sự, điều khiển phiên tòa Trên cơ sở việc xem xét, đánh giá chứng cứ, Tòa án thể hiện quyết định về từng vấn đề phải giải quyết trong phần Quyết định của bản án và công bố công khai tại phiên tòa
Bản chất của tranh luận trong tố tụng dân sự là sự thể hiện chính kiến của từng bên đương sự về việc giải quyết vụ án dân sự dựa trên những chứng cứ thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Như vậy tranh tụng là một nguyên tắc của tố tụng hình sự, tố tụng hành chính và tố tụng dân sự Còn tranh luận tại phiên tòa chỉ là hình thức tố tụng (một giai đoạn tố tụng của phiên tòa)
mà trong đó Tòa án thay mặt nhà nước xác định sự thật của vụ án trên cơ sở điều tra công khai tại phiên tòa, nghe ý kiến của các bên tham gia tố tụng để ra quyết định phán xét giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ và đúng pháp luật Do vậy tranh tụng trong tố tụng bao gồm những nội dung sau đây:
+ Cung cấp chứng cứ và yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ mới bằng cách: chủ động cung cấp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ của vụ
Trang 3án mà tự mình không thể thu thập được, triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá, thẩm định giá
+ Đánh giá chứng cứ và thể hiện quan điểm về việc giải quyết vụ án dân
sự tại phiên hòa giải do Tòa án thực hiện trước khi mở phiên tòa xét xử
+ Thực hiện việc xét hỏi tại phiên tòa Xét hỏi tại phiên tòa thực chất là cuộc điều tra chính thức, công khai tại phiên tòa để xác định sự thật khách quan của vụ án Vì vậy, các bên tham gia tố tụng đều có quyền điều tra dưới sự điều khiển của chủ tạo phiên tòa, xem xét chứng cứ, tài liệu Việc xét hỏi này chỉ kết thúc khi Tòa án thấy rằng thông qua xét hỏi một cách khách quan, các tình tiết liên quan đến việc giải quyết vụ án đã được làm rõ
+ Phát biểu ý kiến về đánh giá chứng cứ Qua việc điều tra chính thức, công khai tại phiên tòa, mỗi bên tham gia tố tụng đều có cách nhìn nhận, đánh giá của mình về kết qủa chứng minh Để thực hiện chức năng tố tụng, nhiệm vụ
tố tụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, các bên tham gia tố tụng phải công khai đưa ra ý kiến đánh giá của mình về sự thật khách quan của vụ án
để giúp cho Tòa án cân nhắc khi ra phán quyết Các đánh giá khác nhau, phản biện nhau của các bên tham gia tố tụng tại phiên tòa sẽ giúp cho Tòa án khách quan hơn, toàn diện hơn, thận trọng hơn khi đánh giá để ra phán quyết
+ Phát biểu ý kiến về pháp luật áp dụng Thực tiễn cho thấy rằng, do nhiều
lý do khác nhau như kĩ thuật lập pháp chưa tốt, quy định của pháp luật chưa rõ ràng, thiếu cụ thể, trình độ nhận thức pháp luật chưa tốt mà pháp luật được nhận thức rất khác nhau trong hoạt động tố tụng Vì vậy, nội dung của tranh tụng trong giai đoạn tranh luận tại phiên tòa bao gồm việc các bên tham gia tố tụng đề nghị
áp dụng luật để bảo vệ quan điểm của mình trong giải quyết vụ án theo chức năng, nhiệm vụ được giao
+ Đề nghị biện pháp giải quyết vụ án liên quan đến quyền và lợi ích liên quan Mỗi bên tham gia tố tụng đều nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Vì vậy, nội dung không thể thiếu trong tranh tụng là các bên đề xuất ý kiến và lập luận trên cơ sở chứng cứ, quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích đó Tùy theo tư cách tố tụng của mình mà phạm vi xét hỏi, tranh luận, đề xuất ý kiến của mỗi người tham gia tố tụng cũng có khác nhau như
Trang 4nguyên đơn dân sự đòi hỏi việc bồi thường, bị đơn dân sự bác bỏ hoặc giảm mức bồi thường…
1.2 Đề xuất các kiến nghị nhằm bảo đảm thực hiện nguyên tắc này tại các Tòa án Việt Nam
Những nội dung được đề cập về lý luận và thực trạng quy định của BLTTDS hiện hành cho thấy cả về lý luận và thực trạng quy định của pháp luật
tố tụng dân sự thể hiện những bất cập sau đây:
+ Tranh tụng chưa được ghi nhận là một nguyên tắc của tố tụng dân sự Quy định tại Điều 23a BLTTDS về nguyên tắc bảo đảm quyền tranh luận trong
tố tụng dân sự mới chỉ giới hạn phạm vi tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm xét xử vụ án dân sự
+ Khái niệm tranh tụng chưa được thừa nhận theo nghĩa rộng cho nên chưa có cơ chế Tòa án ghi nhận và cho thi hành kết quả hòa giải thành các tranh chấp dân sự do Ban tư pháp và các đoàn thể chính trị cấp xã thực hiện trước khi đương sự khởi kiện vụ án yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
+ Mặc dù pháp luật có ghi nhận đương sự có quyền “yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ
đó cho mình để giao nộp cho Tòa án”; Tòa án (Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án) có quyền “yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự” nhưng vẫn chưa có cơ chế, chế tài hữu hiệu để thực hiện quyền của đương sự cũng như của Tòa án
+ Pháp luật chưa quy định: đồng thời với việc nộp chứng cứ cho Tòa án, đương sự phải thông báo cho đương sự khác có liên quan trong vụ án; Tòa án phải định kỳ thông báo cho đương sự còn lại biết kết quả của việc thu thập chứng
cứ để nghiên cứu, quyết định định đoạt vụ kiện
+ Pháp luật mới chỉ quy định việc hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử
mà chưa quy định việc tạm dừng phiên tòa để các bên đương sự hòa giải
+ Việc tranh luận tại phiên tòa chỉ được tiến hành sau khi xét hỏi đã là rõ tất cả các vấn đề phải giải quyết trong vụ án dân sự cho nên đến phần tranh luận, đương sự không còn gì để nói
Trang 5+ Với trình tự xét hỏi như quy định của BLTTDS hiện hành, thì quyền chủ động xét hỏi thuộc về Tòa án (Hội đồng xét xử) Kiểm sát viên tham gia phiên tòa để kiểm sát sự tuân theo pháp luật của Tòa án và những người tham gia tố tụng nhưng vẫn có quyền xét hỏi (BLTTDS chỉ quy định trường hợp Kiểm sát viên hỏi đương sự khi tham gia phiên tòa nhưng không quy định là không được hỏi về nội dung vụ kiện) Do vậy, không loại trừ trường hợp Thẩm phán, Hội thẩm và Kiểm sát viên đặt những câu hỏi nhằm tìm câu trả lời của đương sự phục
vụ cho việc giải quyết vụ án theo sự thiên vị của mình
+ Số vụ án dân sự có sự tham gia của Luật sư với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chiếm tỷ lệ không cao nên chất lượng tranh tụng không cao Hầu như rất ít trường hợp có người tham gia tố tụng tham
dự phiên tòa giám đốc thẩm, phiên tòa tái thẩm xét xử vụ án dân sự Nhiều trường hợp, đương sự chỉ phát biểu tranh luận “đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật” Theo chúng tôi, nguyên nhân của tình trạng này là: số lượng luật sư của nước ta còn ít lại tập chung chủ yếu ở các đô thị; phí dịch vụ thuê luật sư quá cao, Nhà nước chưa có cơ chế hữu hiệu kiểm soát sự không tương xứng giữa giá trị và chất lượng dịch vụ, giá cả dịch vụ pháp lý của luật sự
Cá biệt, có trường hợp luật sư của hai bên đương sự bắt tay nhau cùng làm tiền các thân chủ
Thiết nghĩ, để khắc phục những hạn chế nêu trên, cần thiết phải có một số giải pháp sau đây:
+ Một là, về mặt kỹ thuật lập pháp trong tương lai cần sửa đổi các điều luật theo hướng quy định các quyền năng của chủ thể gỡ tội là quyền chủ động, không bị phụ thuộc bởi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Người bị buộc tội có quyền tiếp xúc với người bào chữa không chỉ tại phiên tòa mà cả trong quá trình lấy lời khai, hỏi cung
+ Hai là, xây dựng cơ chế quy định thu thập chứng cứ trong tố tụng hình
sự phù hợp, bảo đảm sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội trong việc thu thập và cung cấp chứng cứ
+ Ba là, xây dựng hành lang pháp lý đảm bảo cho việc thực hiện tranh tụng được tiến hành thật sự dân chủ, khách quan, bình đẳng Văn hóa pháp đình cần được tôn trọng
Trang 6+ Bốn là, xây dựng cơ chế đảm bảo sự tham gia rộng rãi của người bào chữa vào quá trình giải quyết vụ án để phát huy hiệu quả tranh tụng
+ Năm là, cần thay đổi tư duy, nhận thức của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, xây dựng cơ chế bảo đảm cho mọi bản án, quyết định của Tòa
án chỉ căn cứ vào những chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa Nghiêm túc loại bỏ tình trạng “họp ba ngành”, tình trạng “án bỏ túi” vẫn còn tồn tại trong thực tế đời sống
Cuối cùng, cần phải vận dụng những quy định tiến bộ của các nước trên thế giới khi quy định quyền im lặng của người bị buộc tội Quá trình lấy lời khai hay hỏi cung bị can, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần thiết phải giải thích cho người bị buộc tội hiểu rằng họ không buộc phải đưa ra lời khai chống lại mình hoặc buộc phải nhận mình có tội
Với một số giải pháp nêu trên phần nào sẽ khắc phục được những bất cập trong quá trình áp dụng luật đồng thời tăng cường hiệu quả của việc thực thi nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử ở Việt Nam
Câu 2: Trình bày thủ tục áp dụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đối với trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện tại tòa án cấp sơ thẩm với trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện tại tòa án cấp phúc thẩm.
2.1 Thủ tục áp dụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015 đối với trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện tại tòa án cấp sơ thẩm
Việc rút yêu cẩu khởi kiện được qui định trong Bộ luật Tố tụng dân
sự 2015 (BLTTDS), nhưng ở mỗi giai đoạn khác nhau có qui định cách thức rút đơn khác nhau và hậu quả pháp lý cũng khác nhau, đó là: giai đoạn trước khi thụ lý vụ án, sau khi thụ lý vụ án, trong khi xét xử sơ thẩm.
- Giai đoạn trước khi thụ lý vụ án, được qui định tại điểm g, khoản 1 Điều
192 BLTTDS: "Người khởi kiện rút đơn khởi kiện.", thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện Như vậy, trước khi thụ lý vụ kiện mà người khởi kiện rút đơn thì được trả lại đơn và trong trường hợp này do Thẩm phán được phân công thực hiện.
Trang 7- Giai đoạn sau khi Tòa án đã thụ lý vụ án, thì việc rút đơn khởi kiện của đương sự sẽ được Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án Điểm c, khoản 1 Điều 217 BLTTDS: "Người khởi kiện rút toàn bộ đơn khởi kiện".
- Giai đoạn đang xét xử sơ thẩm thì BLTTDS qui định cụ thể hơn: "Trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét
xử đối phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đương sự đã rút ( khoản 2 Điều
244 BLTTDS).
2.2 Thủ tục áp dụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015 đối với trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện tại tòa án cấp phúc thẩm
Giai đoạn trước khi mở phiên tòa phúc thẩm hoặc tại phiên tòa phúc thẩm thì khi nguyên đơn rút đơn khởi kiện, Hội đồng xét xử phải hỏi bị đơn
và nếu "bị đơn đồng ý thì Hội đồng xét xử ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án" (điểm b, khoản 1 Điều 299 BLTTDS) Trong trường hợp này, tại khoản 2 Điều 299 BLTTDS có qui định là
"nguyên đơn có quyền khởi kiện lại vụ án" (theo thủ tục chung do BLTTDS quy định).
Như vậy, qua các trường hợp nêu trên, có thể thấy chỉ một hành vi
"rút đơn khởi kiện", nhưng ở mỗi giai đoạn khác nhau của vụ án thì BLTTDS cũng có qui định khác nhau cho từng trường hợp cụ thể.
CHÚC SỨC KHỎE THẦY CÔ VÀ TRÂN TRỌNG KÍNH CHÀO !