Phân tích các nguyên tắc cơ bản của ngân sách nhà nước; chứng minh luật ngân sách nhà nước 2015 đã thể hiện được những nguyên tắc này như thế nào? MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1 1. Các nguyên tắc cơ bản của ngân sách Nhà nước 1 1.1. Nguyên tắc ngân sách nhất niên 2 1.2. Nguyên tắc ngân sách đơn nhất 3 1.3. Nguyên tắc ngân sách toàn diện 5 2. Chứng minh Luật ngân sách Nhà nước năm 2015 đã thể hiện được những nguyên tắc này như thế nào 8 KẾT LUẬN 14 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO MỞ ĐẦU Ngày 25062015, tại kì họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Ngân sách Nhà nước (thay thế luật ngân sách Nhà nước năm 2002). Luật ngân sách năm 2015 ra đời nhằm khắc phục tồn tại của Ngân sách Nhà nước năm 2002; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý ngân sách Nhà nước, tạo động lực phát triển các nguồn lực, phân bổ ngân sách tập trung, hợp lý, bảo đảm công bằng, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng của đất nước; ổn định và phát triển nền tài chính quốc gia, tăng trưởng kinh tế bền vững, thực hiện xóa đói giảm nghèo. Đáp ứng yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự điều tiết của nhà nước và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Từng bước đổi mới cơ chế quản lý ngân sách theo kết quả thực hiện các nhiệm vụ được Ngân sách Nhà nước cấp kinh phí. Trong đó các nguyên tắc của ngân sách Nhà nước đã được Luật năm 2015 thể hiện một cách cụ thể. Để có thể nghiên cứu, tìm hiểu sâu sắc hơn về vấn đề này. Sinh viên xin chọn chủ đề: “Phân tích các nguyên tắc cơ bản của ngân sách Nhà nước; chứng minh luật ngân sách Nhà nước năm 2015 đã thể hiện được những nguyên tắc này như thế nào” làm tiểu luận nghiên cứu môn học Luật tài chínhpháp luật tài chính. NỘI DUNG 1. Các nguyên tắc cơ bản của ngân sách Nhà nước Theo quan niệm cổ điển về ngân sách, thể chế ngân sách trong mỗi quốc gia được thiết lập và vận hành theo bốn nguyên tắc cơ bản : nguyên tắc ngân sách nhất niên; nguyên tắc ngân sách đơn nhất; nguyên tắc ngân sách toàn diện; nguyên tắc ngân sách thăng bằng. Hiện nay, hầu hết các nguyên tắc này vẫn được giới học giả đương thời thừa nhận như một quan điểm khoa học có tính lịch sử và đi xa hơn, họ còn luôn tìm cách củng cố, phát triển và đổi mới chúng để cho phù hợp với nền tài chính công hiện đại. 1.1. Nguyên tắc ngân sách nhất niên
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
1 Các nguyên tắc cơ bản của ngân sách Nhà nước 1
1.1 Nguyên tắc ngân sách nhất niên 2
1.2 Nguyên tắc ngân sách đơn nhất 3
1.3 Nguyên tắc ngân sách toàn diện 5
2 Chứng minh Luật ngân sách Nhà nước năm 2015 đã thể hiện được những nguyên tắc này như thế nào 8
KẾT LUẬN 14 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2MỞ ĐẦU
Ngày 25/06/2015, tại kì họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Ngân sách Nhà nước (thay thế luật ngân sách Nhà nước năm 2002) Luật ngân sách năm 2015 ra đời nhằm khắc phục tồn tại của Ngân sách Nhà nước năm 2002; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý ngân sách Nhà nước, tạo động lực phát triển các nguồn lực, phân bổ ngân sách tập trung, hợp lý, bảo đảm công bằng, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng của đất nước; ổn định và phát triển nền tài chính quốc gia, tăng trưởng kinh tế bền vững, thực hiện xóa đói giảm nghèo Đáp ứng yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, có sự điều tiết của nhà nước và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Từng bước đổi mới cơ chế quản lý ngân sách theo kết quả thực hiện các nhiệm vụ được Ngân sách Nhà nước cấp kinh phí Trong đó các nguyên tắc của ngân sách Nhà nước đã được Luật năm 2015 thể hiện một cách cụ thể
Để có thể nghiên cứu, tìm hiểu sâu sắc hơn về vấn đề này Sinh viên xin chọn
chủ đề: “Phân tích các nguyên tắc cơ bản của ngân sách Nhà nước; chứng
minh luật ngân sách Nhà nước năm 2015 đã thể hiện được những nguyên tắc này như thế nào” làm tiểu luận nghiên cứu môn học Luật tài chính/pháp luật
tài chính
NỘI DUNG
1 Các nguyên tắc cơ bản của ngân sách Nhà nước
Theo quan niệm cổ điển về ngân sách, thể chế ngân sách trong mỗi quốc gia được thiết lập và vận hành theo bốn nguyên tắc cơ bản1: nguyên tắc ngân sách nhất niên; nguyên tắc ngân sách đơn nhất; nguyên tắc ngân sách toàn diện; nguyên tắc ngân sách thăng bằng
Hiện nay, hầu hết các nguyên tắc này vẫn được giới học giả đương thời thừa nhận như một quan điểm khoa học có tính lịch sử và đi xa hơn, họ còn
1 Nghiêm Đằng, Nguyễn Thanh Bạch và Lê Công Truyền (1968), Tài chánh học và thuế pháp giản
yếu, Hội nghiên cứu hành chánh xuất bản, Sài Gòn.
Trang 3luôn tìm cách củng cố, phát triển và đổi mới chúng để cho phù hợp với nền tài chính công hiện đại
1.1 Nguyên tắc ngân sách nhất niên
Nguyên tắc nhất niên của ngân sách, ra đời đầu tiên ở nước Anh vào cuối thế kỷ 17, khi mà Quốc hội Anh ngày càng trở nên vững mạnh cùng với sự suy yếu của chế độ vương quyền Nguyên tắc này được thiết lập ở Anh xuất phát từ hai lý do cơ bản:
Một là, để cho Quốc hội Anh dễ bề kiểm soát Nhà vua trong việc thu
thuế
và chi tiêu các khoản tiền của quốc gia, Quốc hội đòi hỏi mỗi một năm Nhà vua
phải đệ trình lên một bản dự toán các khoản thu chi mình sẽ thực hiện để Quốc
hội phê chuẩn Lí do này chủ yếu mang màu sắc chính trị, vì thật ra Quốc hội làm như vậy chủ yếu là muốn củng cố nền dân chủ xã hội và nâng cao sự ảnh hưởng của mình đối với chế độ quân chủ2
Hai là, để cho việc thực hiện các khoản thu, chi được hiệu quả và giúp
cho
Quốc hội kiểm soát kịp thời đối với mọi hành vi của Nhà vua trong việc chi tiêu, tránh sự lãng phí hay bất công, Quốc hội đòi hỏi Nhà vua chỉ được phép thực hiện kế hoạch thu chi của mình trong thời hạn 1 năm, sau đó muốn thu chi tiếp thì phải được Quốc hội cho phép bằng cách phê chuẩn trong năm tiếp theo
Trên thực tế, mặc dù nguyên tắc này được hình thành sớm nhất ở nước Anh nhưng sau đó đã trở thành một nguyên tắc được thừa nhận tại các nước có nền dân chủ phát triển sớm ở châu Âu như Pháp, Đức Ngày nay, nguyên tắc này vẫn được coi là một trong những nguyên tắc căn bản của nền tài chính công hiện đại ở hầu khắp các nước trên thế giới Việc thiết lập được nguyên tắc này
2 Viện đại học mở Hà Nội (2014), Giáo trình pháp luật tài chính, Hà Nội, tr.17.
Trang 4trong chế độ tài chính công của nước Anh được xem là một thắng lợi lớn của Quốc hội Anh nói riêng và nhân dân thế giới nói chung trong cuộc tương tranh quyền lực với chế độ vương quyền Đồng thời, việc thiết lập nguyên tắc này cũng mở ra một thời kì mới cho nền tài chính công ở nhiều quốc gia khác trên thế giới - nền tài chính mang màu sắc dân chủ, trong đó nhân dân có quyền được tham gia vàoviệc quản trị nền tài chính của đất nước mình thông qua người đại diện cho mình là Quốc hội hay Nghị viện3
Xét về phương diện nội dung, nguyên tắc này có hai khía cạnh căn bản:
- Mỗi năm, Quốc hội (với tư cách là cơ quan nắm quyền lập pháp) sẽ biểu quyết ngân sách một lần theo hạn kì do luật định4
- Bản dự toán ngân sách nhà nước sau khi đã được Quốc hội quyết định chỉ có giá trị hiệu lực thi hành trong 1 năm và Chính phủ - với tư cách là cơ quan nắm quyền hành pháp cũng chỉ được phép thi hành trong năm đó5
1.2 Nguyên tắc ngân sách đơn nhất
Nguyên tắc ngân sách đơn nhất, theo cách hiểu thông thường, nghĩa là mọi khoản thu và chi tiền tệ của quốc gia trong một năm chỉ được phép trình bày trong một văn kiện duy nhất, đó là bản dự toán ngân sách nhà nước sẽ được Chính phủ trình Quốc hội quyết định để thực hiện Nguyên tắc này cũng được xây dựng đầu tiên ở các nước có nền dân chủ sớm phát triển như Anh, Pháp, Đức và ngày nay nó vẫn tiếp tục được thừa nhận ở nhiều nước trên thế giới, tuy rằng nội dung thực chất của nguyên tắc đã ít nhiều có sự thay đổi
do sự biến chuyển của nền tài chính công hiện đại mà ví dụ điển hình cho hiện tượng này là sự xuất hiện của tình trạng đa ngân sách ở một vài quốc gia trên thế giới6
3 Viện đại học mở Hà Nội (2014), Giáo trình pháp luật tài chính, Hà Nội, tr.17.
4 Viện đại học mở Hà Nội (2014), Giáo trình pháp luật tài chính, Hà Nội, tr.17.
5 Viện đại học mở Hà Nội (2014), Giáo trình pháp luật tài chính, Hà Nội, tr.17.
6 Vào năm 1933, Chính phủ Hoa Kì đã tạo ra một biệt lệ cho nguyên tắc này bằng cách áp dụng chính sách phân biệt giữa “ngân sách thường” và “ngân sách khẩn cấp” Tuy nhiên, thực chất thì đây cũng chỉ là sự phân hoá giữa các khoản chi tiêu thông thường với các khoản chi tiêu khẩn cấp của Chính phủ nhằm giúp cho Chính phủ có khả năng điều hành ngân sách tốt hơn, còn trên thực tế cả hai khoản chi tiêu này vẫn được trình bày trong một tài liệu thống nhất và duy nhất Hiện tượng này cũng xuất hiện ở Đức vào năm 1927 (Nguồn: Philip E Taylor, “Tài chánh công”, Trung tâm nghiên cứu Việt Nam phiên dịch và xuất bản năm 1963, tr.
Trang 5Theo quan niệm cổ điển, sở dĩ cần phải thiết lập nguyên tắc ngân sách đơn nhất là vì nếu các khoản thu và chi lại được trình bày trong nhiều văn bản khác nhau (hệ thống đa ngân sách) thì không những gây khó khăn cho việc thiết lập một ngân sách thăng bằng và hiệu quả, mà còn khiến cho Quốc hội (với quyền lập pháp có trong tay) cũng khó lòng kiểm soát, lựa chọn được những khoản thu, chi nào là cần thiết hay quan trọng để phê chuẩn cho phù hợp với nhu cầu và đòi hỏi của nền kinh tế - xã hội Hơn nữa, tình trạng đa ngân sách khó cho ta theo dõi kết quả thực sự của các nghiệp vụ tài chính vì
sự tản mát các kết quả ấy ở nhiều tài liệu, chứ không tập trung lại trong một tài liệu duy nhất Khi nói về vai trò của nguyên tắc ngân sách đơn nhất, tác giả Philip E Taylor đã viết: “Nhiệm vụ của ngân sách là làm cho việc kế hoạch hoá và kiểm soát công tài chính có thể thực hiện được Nếu ngân sách càng được duy nhất thì ta càng có một cái nhìn toàn diện về những thực hiện công tài trong quá khứ và các kế hoạch công tài trong tương lai và ngân sách càng làm được nhiệm vụ của nó một cách khả quan hơn”.7
Ở nước ta, pháp luật hiện hành chưa có điều luật nào ghi nhận một cách
rõ ràng, chính thức về nguyên tắc ngân sách đơn nhất và điều này khiến cho việc thực hiện nó trong thực tế có phần lỏng lẻo Sự xa rời nguyên tắc đơn nhất ở Việt Nam được thể hiện khá rõ ràng ở việc phân hoá các nguồn thu và nhiệm vụ chi để đáp ứng nhu cầu gia tăng các nhiệm vụ của Chính phủ trong thời đại mới
Các nguồn thu và nhiệm vụ chi này có xu hướng được thiết kế ở nhiều tài liệu khác nhau và thậm chí chúng còn được bổ sung, sửa đổi thường xuyên trong quá trình thực thi ngân sách nhà nước, do những biến cố bất thường về kinh tế, xã hội, quốc phòng an ninh và quản lý nhà nước Luật ngân sách nhà nước hiệnhành cho phép Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp được quyền
29) Gần đây nhất là ở Nga khi Đạo luật về ngân sách Liên bang Nga ban hành năm 1991 (Điều 25) cho phép thiết lập “ngân sách bất thường” hay “ngân sách đặc biệt” trên lãnh thổ Cộng hoà Liên bang Nga để thi hành trong tình trạng đặc biệt (Nguồn: Viện khoa học tài chính, Luật tài chính, ngân sách và kế toán công ở các nước, Hà Nội 1993, tr 148).
7 Xem: Philip E Taylor (1963), “Tài chánh công”, Trung tâm nghiên cứu Việt Nam phiên dịch và xuất bản năm, tr 29
Trang 6quyết định điều chỉnh dự toán ngân sách nhà nước các cấp trong trường hợp cần thiết, nhằm đảm bảo tính khả thi cho dự toán ngân sách nhà nước trong quá trình thực hiện Quy định này có thể được xem là một trong những ví dụ điển hình cho sự xa rời nguyên tắc ngân sách đơn nhất ở Việt Nam
1.3 Nguyên tắc ngân sách toàn diện
Cùng với hai nguyên tắc trên, nguyên tắc ngân sách toàn diện cũng đã được đề cập đến từ thế kỷ 17, 18 ở nước Anh và các nước châu Âu lục địa khác
Nguyên tắc này có thể được diễn tả bằng hai nội dung cơ bản sau đây:
- Mọi khoản thu và mọi khoản chi đều bị bắt buộc phải ghi rõ và thể hiện
rõ ràng trong bản dự toán ngân sách nhà nước hàng năm đã được Quốc hội quyết định; không được phép để ngoài dự toán ngân sách bất kì khoản thu, chi nào dù là nhỏ nhất
- Các khoản thu và các khoản chi không được phép bù trừ cho nhau mà phải thể hiện rõ ràng từng khoản thu và mỗi khoản chi trong mục lục ngân sách nhà nước được duyệt; không được phép dùng riêng một khoản thu nào cho riêng một khoản chi cụ thể nào mà mọi khoản thu đều được dùng để tài trợ cho mọi khoản chi Tất nhiên, khi áp dụng nguyên tắc này cần tính đến việc phải tuân thủ nguyên tắc “các khoản đi vay để bù đắp bội chi ngân sách không được sử dụng để chi tiêu dùng mà chỉ được sử dụng để chi cho đầu tư phát triển” Ví dụ: Một đơn vị chi phí hết 500 triệu, nhưng khoản thu là 700 triệu, Lấy 700 – 500 triệu = 200 triệu, chỉ ghị 200 triệu vào phần thu của ngân sách, như vậy là bù trù, chỉ ghi phần sai số vào phần thu của ngân sách
Với hai nội dung cơ bản nêu trên, việc thực hiện nguyên tắc ngân sách toàn diện sẽ đảm bảo cho bản dự toán ngân sách được thiết lập rõ ràng, cụ thể, minh bạch, đầy đủ và dễ kiểm soát, tránh sự gian lận hay biển thủ công quỹ trong quá trình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước hàng năm Tại Việt Nam, nguyên tắc ngân sách toàn diện cũng đã được các nhà làm luật ghi nhận một cách cụ thể trong Luật ngân sách nhà nước, với nội dung khẳng định:
Trang 7“Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ
quan có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” Bằng cách quy định như
vậy, nhà làm luật muốn rằng mọi khoản thu và chi của ngân sách nhà nước các cấp, bất luận là lớn hay nhỏ đều phải được ghi chép đầy đủ vào các tài liệu kế toán ngân sách theo chế độ kế toán hiện hành nhằm đảm bảo cho các
cơ quan hữu trách có thể dễ bề kiểm soát chúng trong quá trình thực hiện Về
lý thuyết, việc thực hiện nguyên tắc này có vẻ rất tốt cho việc quản trị tài chính công bởi lẽ nó không cho phép bất cứ khoản thu, chi nào được để ngoài ngân sách nhà nước và hơn thế nữa, giữa các khoản thu, chi của bất kỳ đơn vị
dự toán nào cũng không được phép bù trừ cho nhau
Thật vậy, triết lý cổ điển về sự thăng bằng của ngân sách nhà nước bắt đầu từ một quan niệm kế toán, theo đó tất cả các khoản chi trong tài khoản ngân sách đều phải cân bằng với tất cả các khoản thu có trong tài khoản ngân sách (nói cách khác, tổng số thu phải cân bằng với tổng số chi trong năm ngân sách) Theo quan điểm này, sự thăng bằng ngân sách gần như được đảm bảo một cách hoàn hảo vì trên thực tế tổng số thu và tổng số chi của ngân sách nhà nước bao giờ cũng được cân bằng ngay từ khi lập kế hoạch dự toán Sự so sánh giữa tổng thu và tổng chi ngân sách hàng năm để đánh giá về sự thăng bằng của ngân sách đó, dường như không được khách quan và chính xác, bởi
lẽ trong nhiều trường hợp những khoản thu có tính chất hoa lợi (ví dụ điển hình là khoản thu về thuế) lại không đủ để trang trải những khoản chi có tính chất phí tổn (ví dụ khoản chi về quốc phòng an ninh hay văn hoá xã hội và quản lý nhà nước), mặc dù xét về tổng thể thì tổng số thu và tổng số chi vẫn cân bằng Đây là một trong những lý do rất chính đáng để các nhà tài chính học đương đại đưa ra quan điểm mới về sự thăng bằng của ngân sách nhà nước, theo đó họ cho rằng sự thăng bằng ngân sách không hoàn toàn đồng nghĩa với sự cân bằng giữa tổng thu và tổng chi mà thực chất là sự cân bằng giữa tổng thu hoa lợi (trong đó chủ yếu là thuế) với tổng chi có tính chất phí
Trang 8tổn8 Từ quan điểm này có thể hiểu là, nếu tổng các khoản thu có tính chất hoa lợi lớn hơn tổng các khoản chi có tính chất phí tổn thì khi đó ngân sách nhà nước sẽ có thặng dư (bội thu ngân sách); ngược lại, nếu tổng các khoản thu có tính chất hoa lợi nhỏ hơn tổng các khoản chi có tính chất phí tổn thì ngân sách
sẽ lâm vào tình trạng thâm hụt (bội chi ngân sách) Trên thực tế, quan điểm này đã được thừa nhận ở nhiều quốc gia trên thế giới và đồng thời cũng được ghi nhận trong Luật ngân sách nhà nước hiện hành ở Việt Nam Có lẽ, ưu điểm lớn nhất của quan điểm này là nó giúp cho việc xác định một cách chính xác và thực chất về tình trạng thặng dư hay thâm hụt của ngân sách nhà nước tại một thời điểm để từ đó đánh giá mức độ thăng bằng của ngân sách nhà nước Sự thật, chúng ta sẽ không biết được gì về sự thăng bằng ngân sách, nếu chỉ đem so sánh giữa tổng các khoản thu (bao gồm các khoản thu có tính hoa lợi và các khoản thu không có tính hoa lợi) với tổng các khoản chi (bao gồm
cả những khoản chi có tính chất phí tổn và không phí tổn) Chừng nào những khoản thu có tính chất không phải hoa lợi và những khoản chi có tính chất không phải phí tổn còn được coi là yếu tố để xác định thặng dư hay thiếu hụt ngân sách thì chừng đó chúng ta vẫn chưa có được một ý niệm chính xác và đầy đủ về sự thăng bằng của ngân sách nhà nước Trong bối cảnh thế giới ngày nay, những thay đổi bất thường trong kế hoạch thu, chi của mỗi quốc gia
do sự tác động của tình hình chiến tranh, nạn khủng bố và thiên tai đang là một trở ngại lớn cho việc thực thi nguyên tắc thăng bằng ngân sách ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam
2 Chứng minh Luật ngân sách Nhà nước năm 2015 đã thể hiện được những nguyên tắc này như thế nào
Về nguyên tắc chính sách nhất niên, hiện nay nguyên tắc này vẫn còn
nguyên giá trị nhưng các học giả đương thời đã phát triển nó bằng cách đòi hỏi các nhà làm luật phải ghi rõ trong Hiến pháp như là một trong những nguyên tắc hiến định ở Việt Nam, nguyên tắc ngân sách nhất niên được ghi
8 Philip E Taylor (1963), “Tài chánh công”, Trung tâm nghiên cứu Việt Nam phiên dịch và xuất bản năm, tr 27.
Trang 9nhận tại Điều 1 Luật ngân sách nhà nước năm 2015: “luật này quy định về
lập, chấp hành, kiểm toán, quyết toán, giám sát ngân sách nhà nước; nhiệm
vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan trong lĩnh vực ngân sách nhà nước” và Điều 14, “năm ngân sách bắt đầu từ ngày
01 tháng 01 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 năm dương lịch” Hai điều luật
này quy định rằng các khoản thu và chi của ngân sách nhà nước được thực hiện trong 1 năm và năm ngân sách bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 31 tháng 12 năm dương lịch Như vậy có thể thấy nguyên tắc này đề cao vai trò làm chủ của Quốc hội – cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, việc biểu quyết và thông qua ngân sách mỗi năm của quốc hội vừa thể hiện tính công khai minh bạch trong thực hiện ngân sách Nhà nước vừa là thời gian nhìn lại một năm thực hiện ngân sách Nhà nước đánh giá tính hiệu qủa của ngân sách trong một năm, tổng kết và rút kinh nghiệm từ đó xây dựng bản dự toán ngân sách cho các năm hiệu quả, phù hợp với thực tế Ngoài ra, nguyên tắc này cho thấy sự giới hạn về thời gian thực hiện ngân sách, chính sự giới hạn trong một năm đó đòi hỏi phải cân đối giữa thu và chi như thế nào cho hợp lý và cân bằng và chính phủ chỉ thực hiện một năm nên việc gắn với trách nhiệm và quyền hạn của chính phủ vào việc thực hiện ngân sách là rất cao Thực tiễn cho thấy nguyên tắc này đã được sử dụng có hiệu quả, hàng năm các kì họp quốc hội đều thông qua bản dự toán ngân sách Nhà nước, có thể thấy nguyên tắc này đang phát huy hiệu quả
Về nguyên tắc chính sách đơn nhất, luật ngân sách Nhà nước năm 2015
cho phép những trường hợp thật sự cần thiết, Quốc hội, Hội đồng nhân dân được phép điều chỉnh dự toán ngân sách Nhà nước, địa phương trong trường hợp cần thiết Tại khoản 8 điều 19 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc
Hội: “Quyết định điều chỉnh dự toán ngân sách nhà nước trong trường hợp
cần thiết” và khoản 5 điều 30 Luật ngân sách Nhà nước năm 2015 quy định:
“Quyết định điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần
thiết” Những quy định này là ví dụ điển hình cho việc áp dụng chính sách
Trang 10đơn nhất ở Việt Nam Ví dụ: vào ngày 28 tháng 07 năm 2021 chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã kí Nghị quyết số 22/2021 về “điều chỉnh sự toán chi ngân sách Nhà nước và phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước năm 2019”
tại điều 1 của Nghị quyết này như sau: “Điều chỉnh giảm dự toán chi thường
xuyên, đồng thời tăng tương ứng dự toán chi đầu tư phát triển năm 2019 của
Bộ Tài chính số tiền 2.240.210 triệu đồng (hai triệu, hai trăm bốn mươi nghìn, hai trăm mười triệu đồng)” Điều chỉnh này được dựa trên Báo cáo số
219/BC-CP ngày 07 tháng 7 năm 2021 của Chính phủ, Báo cáo số 181/BC-KTNN ngày 08 tháng 7 năm 2021 của Kiểm toán nhà nước, Báo cáo thẩm tra
số 08/BC-UBTCNS15 ngày 21 tháng 7 năm 2021 của Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội, Báo cáo tiếp thu, giải trình số 26/BC-UBTVQH15 ngày 28 tháng 7 năm 2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và ý kiến đại biểu Quốc hội
Về nguyên tắc ngân sách toàn diện, điều này đã được thể hiện rõ ràng
trong Luật ngân sách Nhà nước năm 2015 Cụ thể tại điều 14 khoản 3 quy
định: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được
dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ của Nhà nước” Như vậy từ khái niệm trên có thể hiểu, một bản dự toán
ngân sách Nhà nước thì phải phản ánh tất cả khoản thu chi (dù là nhỏ nhất) của Nhà nước trong năm tài khóa đó Phần thu chi của bản dự toán được thiết
kế, xây dựng phù hợp với tình hình kinh tế, chính trị xã hội của năm đó một cách rất chi tiết, khoa học, khách quan và chính xác
Khoản 2 điều 8 Luật ngân sách Nhà nước năm 2015 cũng quy định:
“Các khoản thu ngân sách thực hiện theo quy định của các luật thuế và chế
độ thu theo quy định của pháp luật” Bằng các quy định như vậy, nhà làm luật
muốn rằng mọi khoản thu chi, của ngân sách Nhà nước bất luận dù lớn hay nhỏ đều phải được ghi chép đầy đủ vào các tài liệu kế toán ngân sách theo chế