1. Trang chủ
  2. » Tất cả

17.1-Nghien-cuu-mot-so-dac-diem-dich-te-ung-dung-kit-CATT-chan-doan-benh-tien-mao-trung

10 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 420,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có nhiều trâu, bò mang mầm bệnh nhưng không phát bệnh, khi sức đề kháng giảm cũng là lúc bệnh tiên mao trùng phát ra có thể gây chết nhiều gia súc hoặc suy nhược, thiếu máu, mất khả năng

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Loài tiên mao trùng Trypanosoma evansi là ký sinh trùng đơn bào đường máu (Protozoa) thuộc lớp trùng roi (Flagellata) có tầm quan trọng lớn đối với ngành Thú y Bệnh Trypanosoma evansi thấy phổ biến ở các loài gia súc như: trâu, bò, dê,

ngựa, hươu, lạc đà…, bệnh gây nhiều thiệt hại về kinh tế ở các nước châu Phi, Nam

Mỹ và châu Á do những vùng này có số lượng gia súc chết hàng năm lớn và đều là

do Trypanosoma evansi gây nên (Brun R và cs., 1998 [31]).

Theo Phan Văn Chinh (2006) [1]: Bệnh tiên mao trùng xuất hiện ở nhiều vùng trên cả nước, với tỷ lệ mắc khá cao: trên trâu là 13 – 30 %, trên bò là 7 – 14 %, trong đó tỷ lệ gia súc chết trong số gia súc mắc bệnh lên tới 6,3 – 20 %

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi trâu nói riêng đã có những bước phát triển vượt bậc, trở thành ngành sản xuất quan trọng, từng bước góp phần cung cấp thực phẩm cho xã hội và có những đóng góp tích cực vào mục tiêu xóa đói giảm nghèo Chăn nuôi trâu là nguồn cung cấp thực phẩm như thịt, sữa cho con người, sức kéo và nguồn phân bón khá lớn cho sản xuất nông nghiệp

Hiện nay, nhiều bệnh do vi trùng và vi rút gây ra đã có vắc xin phòng bệnh Song hầu hết các bệnh ký sinh trùng cho đến nay vẫn chưa có vắc xin phòng bệnh nên bệnh xảy ra rất phổ biến và gây thiệt hại lớn cho chăn nuôi

Trâu, bò mắc bệnh tiên mao trùng thường gầy yếu, chậm sinh trưởng, phát triển Có nhiều trâu, bò mang mầm bệnh nhưng không phát bệnh, khi sức đề kháng giảm cũng là lúc bệnh tiên mao trùng phát ra có thể gây chết nhiều gia súc hoặc suy nhược, thiếu máu, mất khả năng lao tác, giảm phẩm chất thịt, đồng thời là cơ hội để các bệnh truyền nhiễm kế phát, gây thiệt hại lớn cho chăn nuôi

Chi Lăng là một huyện có địa hình đồi núi chiếm 80%, khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều là điều kiện thuận lợi cho ruồi, mòng (vật môi giới trung gian truyền bệnh tiên mao trùng) phát triển Sự lây lan căn bệnh phụ

Trang 2

thuộc rất nhiều vào sự phát triển của ruồi, mòng Chúng hút máu, truyền bệnh tiên mao trùng từ trâu bệnh sang trâu khỏe, làm cho bệnh phát tán và lây lan

Theo số liệu thống kê của phòng thống kê huyện Chi Lăng, tính đến thời điểm cuối năm 2014, tổng đàn trâu của huyện Chi Lăng là 15.590 con Trong thời gian qua, cũng giống như nhiều địa phương khác, công tác giống, chăm sóc nuôi dưỡng

và phòng chống dịch bệnh, đặc biệt là việc phòng trị bệnh tiên mao trùng chưa được chú trọng Hàng năm, trâu bị ốm và chết khá nhiều trong vụ Đông - Xuân, khi thời tiết giá lạnh và thức ăn trở nên khan hiếm Cơ sở hạ tầng phục vụ công tác chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn gia súc tại địa phương vẫn còn nhiều hạn chế, dẫn tới

hệ quả là bệnh tiên mao trùng trở nên phổ biến hơn, nghiêm trọng hơn và gây thiệt hại lớn hơn

Qua những phân tích ở trên về mức độ phổ biến cũng như những thiệt hại về kinh tế do bệnh tiên mao trùng gây ra trên trâu ở Việt Nam, đặc biệt là những khó

khăn trong công tác phòng và trị bệnh, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một

số đặc điểm dịch tễ, ứng dụng kit CATT chẩn đoán bệnh tiên mao trùng do Trypanosoma evansi gây ra ở trâu tại huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị”

2 Mục tiêu đề tài

- Xác định một số đặc điểm dịch tễ bệnh do T evansi gây ra ở đàn trâu tại

huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn

- Ứng dụng kit CATT chẩn đoán bệnh tiên mao trùng cho trâu tại địa phương nghiên cứu

- Lựa chọn phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng có hiệu quả, phù hợp với điều kiện chăn nuôi tại huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học có giá trị về đặc điểm dịch tễ,

phương pháp chẩn đoán bệnh do Trypanosoma evansi gây ra và biện pháp phòng

chống bệnh tiên mao trùng trên đàn trâu tại huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn

Trang 3

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng biện pháp chẩn đoán và phòng, trị bệnh tiên mao trùng, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm

và thiệt hại do tiên mao trùng gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi trâu trên địa bàn huyện Chi Lăng nói riêng và tỉnh Lạng Sơn nói chung

4 Những đóng góp mới của đề tài

- Đề tài là công trình nghiên cứu có tính hệ thống về bệnh tiên mao trùng do

loài Trypanosoma evansi gây ra trên đàn trâu tại huyện Chi Lăng

- Xây dựng được biện pháp phòng, trị bệnh tiên mao trùng có hiệu quả cao trên đàn trâu tại huyện Chi Lăng, khuyến cáo và áp dụng rộng rãi ra các nông hộ chăn nuôi trâu tại tỉnh Lạng Sơn

Trang 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

Hiện nay nhiều loài tiên mao trùng đã được phát hiện trong máu nhiều loài

động vật, trong đó thì loài đơn bào Trypanosoma evansi ký sinh và gây bệnh cho

động vật đóng vai trò quan trọng nhất

Bệnh tiên mao trùng được Blanchard (1888) phát hiện đầu tiên ở Việt Nam Sau

đó, bệnh được thấy phổ biến ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước Trâu, bò, ngựa,… mắc bệnh bị thiếu máu, suy nhược, giảm hoặc mất khả năng sinh sản và sức sản xuất, nếu mắc bệnh nặng súc vật dễ chết

1.1.1 Đặc điểm, hình thái, cấu trúc và phân loại tiên mao trùng

1.1.1.1 Đặc điểm, hình thái, cấu tạo của tiên mao trùng

Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [7], T evansi là loài đơn bào ký sinh ngoài

hồng cầu, có hình thoi, dài 18-34 μm, giữa thân có một roi bắt nguồn là thể hình roi, cách đuôi khoảng 1,5 μm Roi này chạy dọc thân tạo thành nhiều màng rung động, cuối cùng roi này lơ lửng ở phần đầu thành roi tự do dài 6 μm Nhờ có roi, màng rung động

mà T evansi chuyển động được trong máu động vật Tiêu bản máu nhuộm Giemsa,

nguyên sinh chất bắt màu xanh nhạt, nhân bắt màu hồng Tiên mao trùng ký sinh trong máu hoặc ở một số tổ chức của động vật có xương sống, được truyền từ động vật bệnh sang động vật khoẻ theo phương thức cơ giới nhờ những côn trùng hút máu họ mòng

Tabanidae, họ ruồi Stomoxydinae

Theo Verma B B và Gautam O P (1978) [106], hiện nay người ta đã đưa

ra những khái niệm để phân biệt hình thái của tiên mao trùng theo 6 dạng:

1 Trypamastigote: Tiên mao trùng có hình dạng bình thường

2 Spimastigote: Tiên mao trùng có hình thái như Crithidia

3 Chosnomastigote: Tiên mao trùng có roi chạy thẳng theo thân, không tạo

thành màng rung động, không có những nếp gấp khúc

4 Promastigote: Tiên mao trùng có hình thái giống như Leptomonas

Trang 5

5 Amastigote: Tiên mao trùng có hình thái giống như Leishmanian

6 Phaeromastigote: Tiên mao trùng có hình thái giống như Leishmania nhưng có

roi có một đoạn tự do ngoài thân

Khi rung động, roi tự do vung ra phía trước và màng rung chuyển động giúp cho tiên mao trùng di chuyển nhanh trong máu vật chủ (Phạm Sỹ Lăng, 1982) [11]

Cấu trúc cơ bản của T evansi cũng giống như cấu trúc của các loài tiên mao trùng khác thuộc họ Trypanosomatidae Cấu trúc từ ngoài vào trong được chia

thành 3 phần chính:

Vỏ: Ngoài cùng là lớp vỏ hay còn gọi là màng bao (periplast) dày 8 - 10 nm,

vỏ được chia làm 3 lớp (lớp ngoài, lớp giữa và lớp trong; lớp ngoài và lớp trong tiếp giáp với nguyên sinh chất dày hơn lớp giữa) Lớp vỏ ngoài cùng được cấu tạo từ các phân tử glycoprotein Lớp vỏ (Variant Glycoprotein Surface -VGS) có khả năng biến đổi, nhờ vậy mà kí sinh trùng có thể né tránh đáp ứng miễn dịch của vật chủ Tiếp giáp với lớp trong cùng là 9 cặp vi ống xếp song song dọc theo chiều dài của thân tiên mao trùng Chính nhờ sự sắp xếp của các cặp vi ống này nên tiên mao trùng có hình dạng suốt chỉ mảnh

Nguyên sinh chất: gồm lớp trong và lớp ngoài Trong nguyên sinh chất có chứa các nội quan: ribosome có màu thẫm xen kẽ vùng không bào màu sáng, mitochrondno, reticulum (lưới nội bào), mạng lưới Golgi và đặc biệt là kinetoplast (thể cơ động) - là nơi roi sinh ra và chứa ADN và cũng là một điểm rất riêng của tiên mao trùng Lượng kADN chiếm khoảng 10 - 20% ADN của toàn bộ cơ thể, bao gồm 2 loại cấu trúc vòng ADN đó là: vòng lớn (maxicircles) và vòng nhỏ (minicircles)

Nhân: Nhân tiên mao trùng có thể ở các vị trí khác nhau trong cơ thể tiên mao trùng, tuy nhiên khi xuất hiện trong máu thì thường thấy ở giữa hoặc phía bên trên của tiên mao trùng Chứa ADN, hình bầu dục hoặc hình trứng Ngoài nhân, về phía cuối thân còn có thể kinetoplast chứa ADN (kADN), có đường kính vào khoảng 0,7 micromet Từ kinetoplast có một roi chạy vòng quanh thân lên đầu và ra phía ngoài

cơ thể thành một roi tự do Roi của tiên mao trùng có lớp vỏ ngoài cùng giống lớp

vỏ của thân Trong roi có 9 cặp vi ống ở xung quanh và một cặp ở trung tâm, xếp song song dọc chiều dài roi (Hoare C.A 1972) [60]

Trang 6

Hình 1.1 Cấu tạo của Trypanosoma evansi

(Nguồn: Desquesnes M., 2004) [41]

A - Roi H - Phần thân chính

B - Tổ hợp cytoskeleton I - Bộ máy Golgi

C - Nhân J - Lưới nội sinh chất

D - Ty thể K - Màng rung

E - Thể cơ động kinetoplast L - Nơi tiếp xúc của roi với màng rung

F - Thể đặc M - Nơi tiếp xúc của roi với thân

G - Túi tiên mao

1.1.1.2 Phân loại tiên mao trùng ký sinh ở gia súc

Theo Levine N D và cs (1980) [70], dựa trên các nghiên cứu siêu cấu trúc của tiên mao trùng và theo Adl S M và cs (2005) [25] dựa vào đặc điểm hình thái

và sinh học phân tử, vị trí của tiên mao trùng trong hệ thống phân loại nguyên bào

(Protozoa) như sau:

Giới Protozoa

Ngành Sarcomastigophora

Lớp Zoomastigophorea

Bộ Kinetoplastida

Họ Trypanosomatidae Donein, 1901

Giống Trypanosoma Gruby, 1843

Loài Trypanosoma evansi Steel, 1885

Trang 7

Trong các loài tiên mao trùng đã được phát hiện, có 7 loài được tổ chức Thú y thế giới (OIE) thông báo là có khả năng gây bệnh cho người và động vật có vú, đó

là: Trypanosoma brucei, Trypanosoma congolense, Trypanosoma cruzi, Trypanosoma evansi, Trypanosoma gambiense, Trypanosoma siminae và Trypanosoma vivax (OIE, 2010 [86]) 1.1.1.3 Cấu trúc kháng nguyên của loài tiên mao trùng Trypanosoma evansi

Kháng nguyên của T evansi gồm hai loại: kháng nguyên ổn định (kháng

nguyên không biến đổi) và kháng nguyên biến đổi (Nguyễn Thị Kim Lan, 2008 [8])

* Kháng nguyên ổn định (kháng nguyên không biến đổi)

Trong quá trình ký sinh trong cơ thể vật chủ, phần lớn các thành phần kháng nguyên của tiên mao trùng không bị biến đổi Bằng phương pháp điện di miễn dịch huyết

thanh thỏ tối miễn dịch với T evansi, các nhà khoa học đã phát hiện tới 30 thành phần

kháng nguyên khác nhau Tất cả các loại tiên mao trùng thuộc cùng một nhóm hầu như

có cùng một loại kháng nguyên ổn định và chúng giống nhau một phần với các chủng

tiên mao trùng khác nhóm Thí dụ như T brucei thuộc giống phụ Trypanozoon, loài T congolense thuộc giống phụ Nannomonas đến 60% giống nhau, T.vivax thuộc giống phụ Duttonella có miễn dịch chéo với Trypanozoon và Nannomonas

Có ba loại kháng nguyên không biến đổi (ISG: Invariant Surface Glycoprotein)

ở màng nguyên sinh chất của tế bào Loại ISG 65, ISG 75 được phân bố trên toàn bộ

màng tế bào ước lượng số lượng khoảng 50.000 - 60.000 phân tử giống nhau Ở T evansi sống, kháng nguyên này không thể kết hợp được với kháng thể của vật chủ

Do cấu trúc không gian ba chiều và đặc tính ưa nước, các ISG này nằm chen vào phần VSG Bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang và phương pháp đánh dấu iode màng tế bào tiên mao trùng, có thể phát hiện và phân lập được các phân tử này Loại thứ ba, ISG 100 gần đây mới phát hiện Chúng có đặc tính ưa nước và không thể kết hợp được với kháng thể của vật chủ (Johanson H.C và cs., 2008)[64]

* Kháng nguyên biến đổi

Về kháng nguyên biến đổi, cần đề cập đến sự biến đổi lớp vỏ bề mặt VSG (Variant Surface Glycoprotein), những quan điểm mới về sự xuất hiện kháng nguyên biến đổi của tiên mao trùng và cơ chế di truyền của kháng nguyên biến đổi

Trang 8

Nhờ kháng thể đặc hiệu được đánh dấu mà các nhà khoa học đã phát hiện ra

sự biến đổi của lớp kháng nguyên bề mặt Lớp áo bề mặt của tiên mao trùng có thành phần là glycoprotein bao phủ toàn bộ bề mặt tế bào bằng một lớp phân tử giống nhau (mỗi tiên mao trùng có 107 phân tử) Lớp áo bề mặt này kích thích cơ thể vật chủ tạo ra kháng thể đặc hiệu với từng type kháng nguyên biến đổi VAT (Variable Antigen Type) Kháng nguyên biến đổi có tính miễn dịch cao, chiếm khoảng 10% protein của tiên mao trùng Loại kháng nguyên này kích thích tạo kháng thể đặc hiệu đối với từng loại sinh ra nó Đối với kháng nguyên biến đổi, chỉ mình nó có khả năng kích thích tạo ra miễn dịch chủ động Người ta ước lượng rằng, một con TMT có ít nhất vài trăm hoặc vài ngh n VSG, ngh a là 5 - 10% số gen của tiên mao trùng cung cấp cho kháng nguyên bề mặt này

Theo Holland W.G và cs (2001) [61], hiện tượng biến đổi kháng nguyên bề mặt của Tiên mao trùng còn thấy ở gia súc đã bị tiêm thuốc làm suy giảm miễn dịch

1.1.2 Dịch tễ học tiên mao trùng

1.1.2.1 Phân bố địa lý của bệnh

Bệnh tiên mao trùng phân bố rất rộng, từ phía Tây sang phía Đông bán cầu Phía Tây bán cầu thuộc châu Mỹ, phía Đông bán cầu trải dài từ châu Phi đến Philippine

Ở châu Phi, bệnh trải dài từ Tây sang Đông, phía Bắc qua vùng sa mạc Sahara, dọc theo bờ biển Atlantique, Địa trung hải

Bệnh tiên mao trùng xảy ra với tên gọi "bệnh Surra” ở Ả Rập Saudi, Yêmen,

Sultanate, Ả Rập thống nhất, Thổ Nh Kỳ, Israel, Syrie, Afganistan, Pakistan

Ở châu Á, bệnh xuất hiện ở Trung Á (thuộc Liên Xô cũ), Ấn Độ, Malaysia, bán đảo Đông Dương, Trung Quốc, Indonexia, Philippine

Tại châu Úc, các nhà khoa học cũng đã xác định được sự tồn tại của bệnh tiên mao trùng trên lục địa này (Reid S A., 2002 [90])

Ở châu Âu, lần đầu tiên người ta đã phát hiện được hai trường hợp nhiễm bệnh tiên mao trùng trên loài chuột có nguồn gốc từ Nam Mỹ và chó có nguồn gốc Nepal (Gutierrez C và cs., 2010 [54])

Bệnh tiên mao trùng xuất hiện ở châu Mỹ từ thế kỷ 16 do thực dân Tây Ban Nha mang những con ngựa bị bệnh tiên mao trùng từ Ả rập đến Colombia (Desquesnes M và cs., 2013 [45])

Trang 9

Ở Việt Nam, bệnh tiên mao trùng thấy ở hầu hết các vùng sinh thái khác nhau: miền núi, trung du, đồng bằng và ven biển Theo Phạm Sỹ Lăng (1982) [11], bệnh tiên mao trùng có ở tất cả các tỉnh miền Bắc (Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Ninh Bình và Hà Tây) Trâu, bò nhiễm bệnh với tỷ lệ cao và khác nhau giữa các vùng khác nhau

1.1.2.2 Vật chủ và vật môi giới truyền bệnh tiên mao trùng

* Vật chủ

Trong số các loài TMT có khả năng gây bệnh cho người và động vật có vú thì

T evansi là loài gây bệnh phổ biến nhất Chúng ký sinh ở hầu hết các loài thú nuôi và

thú hoang, thấy nhiều hơn ở trâu, bò, ngựa, lợn, hươu, nai, hổ, báo, sư tử, chó, mèo, lạc đà, voi, thỏ, chuột cống, chuột lang, chuột bạch, nhưng không ký sinh ở người

Trâu, bò đều nhiễm Trypanosoma evansi tự nhiên, nhưng bò ít mẫn cảm và thường ở thể mãn tính Lạc đà thường nhiễm T evansi ở thể cấp tính, chết khá nhiều ở

một số nước châu Phi, châu Á

Holland W G (2001) [61], đã kiểm tra và phát hiện các thú hoang châu Á

nhiễm Trypanosoma evansi tự nhiên: hươu sao ở đảo Maurice; nai Cervus ở

Indonesia; cừu hoang và hoẵng; linh dương ở Kazakistan; con tinh tinh ở đảo

Saumatra; chuột Hamster ở Ấn Độ; khỉ Maracus rheusus ở một số nước Ở Nam

Mỹ và Trung Mỹ có một số loài thú cũng bị mắc bệnh tiên mao trùng do

Trypanosoma evansi gây ra ở thể cấp tính và chết: chó rừng, khỉ ở Venezuela, nai

đuôi trắng, hươu ở Panama và Colombia

Nguyễn Quốc Doanh và cs ( 2001) [3], đã nghiên cứu bệnh tiên mao trùng trên các loài bò sát, ếch nhái ở đồng bằng sông Hồng, trong đó: các loài rắn, ba ba,

cóc, ếch, nhái cũng nhiễm T evansi với tỉ lệ là 8,03%

Ngoài những động vật bị nhễm T evansi tự nhiên, trong phòng thí nghiệm có

thể truyền bệnh tiên mao trùng cho các loại động vật nhỏ, chuột nhắt trắng, chuột cống trắng, thỏ, chuột lang, chồn, cầy hương, chó, mèo, trong đó chuột nhắt trắng,

chuột cống trắng đặc biệt mẫn cảm với T evansi (Losos G J.và cs 1972)[69]

Trang 10

* Côn trùng môi giới truyền bệnh tiên mao trùng:

Sự lây truyền tiên mao trùng từ trâu, bò ốm sang trâu, bò khoẻ là do các loài

ruồi hút máu (thuộc họ phụ Stomoxydinae) và các loài mòng hút máu (thuộc họ Tabanidae) Ruồi và mòng hút máu gia súc bị bệnh (có chứa tiên mao trùng ở vòi

hút), sau đó lại hút máu gia súc khoẻ, trong khi hút máu sẽ truyền tiên mao trùng từ vòi hút vào máu con vật khoẻ Sự lây truyền này mang tính chất cơ học (Desquesnes M., 2004) [42] Sự xuất hiện lượng lớn của ruồi, mòng trong mùa mưa nóng ẩm luôn

có liên quan đến tình hình dịch tễ bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò, lạc đà và dê

- Chu kỳ phát triển sinh học của ruồi, mòng:

Theo Luckins A G và Dwinger H (2004) [73]: ruồi, mòng nói chung và ruồi, mòng hút máu nói riêng đều có chu kỳ phát triển qua 4 giai đoạn là trứng, ấu trùng (dòi), nhộng và trưởng thành Ruồi cái trưởng thành có thể sống 1 - 2 tháng và cần hút máu vật chủ để nuôi dưỡng trứng Thông thường thì ruồi, mòng cần hút máu bốn lần trong một tuần hoặc hơn

Desquesnes M và cs (2009) [43] cho biết, giống Stomoxys có 18 loài, trong

đó phổ biến và quan trọng nhất đối với sự truyền lây bệnh tiên mao trùng là loài

Stomoxys calcitrans

Khác với các loài Tabanus spp., con cái và con đực của loài Stomoxys calcitrans ở cả hai giống đều hút máu, thời gian hoàn thành vòng đời của chúng là

15 - 28 ngày, tuổi thọ trung bình là 20 - 30 ngày

- Thành phần loài ruồi, mòng hút máu ở nước ta:

Phan Văn Chinh (2006) [1], đã tiến hành kiểm tra ruồi, mòng môi giới trung

gian truyền bệnh T evansi ở ba tỉnh Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Khánh Hoà đại

diện cho các khu vực địa lý khác nhau ở các tỉnh miền Trung, tiến hành kiểm tra từ

1998 đến 2004 thu thập được 17.600 tiêu bản mòng, ruồi thuộc 9 loài, trong đó

8 loài mòng thuộc hai giống Tabanus và Chrysops thuộc họ Tabanidae (Tabanus rubidus, Tabanus kiangsuensis, Tabanus striatus, Tabanus miser, Tabanus bruneothorax, Tabanus pseudofiventus, Chrysozona assamensis, Chrysops dispar) và 1 loài ruồi Stomoxys calcitrans rất phổ biến ở các vùng kiểm tra

Ngày đăng: 14/04/2022, 16:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w