VAI TRÒ CỦA CHƯ NI VÀ NỮ PHẬT TỬ XỨ HUẾ ĐỐI VỚI ĐẠO PHÁP VÀ DÂN TỘC THÍCH NỮ TUỆ CHÂU Giới thiệu Nữ Phật tử là một trong những thành tố chính trong thất chúng đệ tử của Đức Phật Trong giáo pháp của Th[.]
Trang 1VAI TRÒ CỦA CHƯ NI VÀ NỮ PHẬT TỬ XỨ HUẾ
ĐỐI VỚI ĐẠO PHÁP VÀ DÂN TỘC
THÍCH NỮ TUỆ CHÂU
Giới thiệu
Nữ Phật tử là một trong những thành tố chính trong thất chúng đệ tử của Đức Phật Trong giáo pháp của Thế Tôn, nữ giới đã được xuất gia học đạo và thành lập Ni đoàn vào năm thứ năm sau khi Giáo đoàn Tỳ kheo được thành lập Lịch sử Phật giáo cho chúng ta thấy rằng, cả nữ Phật tử xuất gia và tại gia đều có những ưu việt riêng và đạt được các
quả vị cao quý trong lộ trình tu tâp Nếu chư Tăng có Trưởng Lão Tăng Kệ để ghi chép lại những lời dạy của chư vị Thánh Tăng, thì giáo đoàn Ni cũng đã góp phần Trưởng Lão
Ni Kệ, ghi chép lại những kinh nghiệm và những lời cảm thán của chư vị Thánh Ni Theo Trưởng Lão Ni Kệ có 73 trường hợp chứng đắc quả vị A La Hán của chư Tỳ Kheo Ni,
tuy nhiên số lượng chư Ni chứng đắc còn nhiều hơn thế Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam nói chung và Phật giáo Huế nói riêng, Nữ Phật tử luôn đóng vai trò quan trọng trong việc hướng đạo, giáo dục con cháu và thế hệ kế thừa, cũng như vai trò hộ trì Tam bảo và thực hành tâm linh Trong lịch sử Phật giáo xứ Huế, Nữ Phật tử có vai trò quan trọng trong sự hình thành vùng đất Thuận Hoá và đã có những đóng góp nổi bật trong thời kỳ Chấn hưng Phật giáo và phong trào giải phóng dân tộc Bài viết này xin trình bày vai trò của Nữ Phật tử xứ Huế qua 3 thời kỳ chính:
Nữ Phật tử đối với sự thành lập và phát triển văn hoá vùng Thuận Hoá
Nữ Phật tử Xứ Huế trong phong trào Chấn hưng Phật giáo
Chư Ni xứ Huế trong thời hiện đại
1 Nữ Phật tử đối với sự thành lập và phát triển văn hoá vùng Thuận Hoá Thời kỳ hình thành xứ Thuận Hoá
Lịch sử hình thành vùng đất Thuận Hoá gắn liền với ba tên tuổi lớn là hai vị vua nhà Trần, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông và công chúa Huyền Trân, trong đó Công chúa là người đã hi sinh những ước muốn cá nhân để đóng góp cho nền hoà bình và sự thịnh vượng của sơn hà, xã tắc Sử ghi lại rằng, Tháng Ba năm 1301, Trúc Lâm đi Chiêm Thành để quan sát Phật giáo tại đây, được Vua Chiêm Thành là Chế Mân tiếp đón chu đáo, và đã có những cuộc đàm đạo và tiếp xúc thân mật với Vua Chiêm Trong mục đích xây dựng tình hoà hữu giữa hai nước làm nền tảng cho một nền hoà bình Chiêm - Việt lâu dài, Trúc Lâm đã hứa sẽ gả công chúa Huyền Trân cho Vua Chàm Bốn năm sau đó, tức vào tháng hai năm 1305, Chế Mân sai người mang lễ vật sang cầu hôn Tháng 6 năm sau 1306, Công chúa Huyền Trân được rước về nhà chồng, Vua Chiêm Thành dâng hai châu Ô và Lý làm sính lễ Đến năm 1307, hai châu này được đổi thành hai châu Thuận và Hoá.1 Như vậy, Công chúa Huyền Trân, một Nữ Phật tử thời Trần là người trực tiếp có công đức đối với vùng đất Thuận Hoá của nước Đại Việt Để tưởng nhớ công ơn của một người có công mở mang bờ cõi, đền thờ Công Chúa Huyền Trân được thành lập tại 151
1 Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, tập 1, Tp Hồ Chí Minh: Nxb Phương Đông, 2012, tr.226
Trang 2Thiên Thai, phường An Tây, Thành phố Huế với tên gọi Trung tâm Văn hoá Huyền Trân vào năm 2006, nhân kỷ niệm 700 năm vùng đất Thuận Hoá - Phú Xuân
- Thời kỳ nhà Nguyễn
Từ khi các Chúa Nguyễn vào trấn đất Thuận Hoá và xây dựng cơ đồ nơi đây, các Chúa đã lấy Phật giáo để vỗ về dân chúng và đồng thời để cạnh tranh với Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài Ngoài các Chúa hộ đạo và là Phật tử nhiệt thành như Minh Vương Nguyễn Phúc Chu, người đã đóng góp tích cực cho sự phát triển của Phật giáo ở Đàng Trong, còn
có rất nhiều hoàng hậu và công chúa của nhà Nguyễn đã trở thành những vị ngoại hộ tích cực cho Phật giáo thời bấy giờ Cụ thể như bà Long Thành công chúa Nguyễn Phúc Ngọc
Tú (1759 - 1823) đối với Tổ đình Quốc Ân (Huế), chùa Từ Ân (Gia Định); bà Hiếu Khương Hoàng Thái Hậu đối với Tổ đình Báo Quốc (Huế) và chùa Từ Ân, chùa Thiên Trường ở Gia Định; và các Công chúa khác đối với Tổ đình Thuyền Tôn2 Long Thành Công chúa - Nguyễn Phúc Ngọc Tú là một trong những ngoại hộ có công đức lớn đối với
sự phục hưng của Thiền phái Nguyên Thiều ở đất Thuận Hoá, tên tuổi của Bà được khắc đầu trong tự phổ ghi công đức các bậc tiền bối hữu công của chùa Quốc Ân Cụ thể là vào năm Gia Long thứ 4 (1805), Công chúa đã cúng dường 300 quan tiền để xây dựng lại chùa Quốc Ân và sau đó bà còn mời các Tăng sĩ ở những nơi khác về đây để tái lập lại Tăng chúng, khơi mạch tào khê, để từ đây hương thiền lan toả khắp trời Nam Bà mất năm 1825 tại phủ riêng ở làng Dương Xuân nhưng chưa thoả nguyện ước được sống đời xuất gia Vì vậy, vua Minh Mạng đã cho xây lăng của bà theo kiểu tháp mộ Phật giáo gồm có bốn tầng và hai vòng thành chung quanh tháp Bà cũng có công đức lớn đối với chùa Từ Ân ở Gia Định, nên cả hai chùa này đều có thiết linh vị Long Thành Công chúa
để thờ Bên trong linh vị ghi: Thích Môn Hộ Giáo Hoàng Cô, thọ Bồ tát giới, Pháp danh
Tế Minh, tự Thiên Nhật chi vị.3
Ngôi già lam nổi tiếng Báo Quốc ở Huế cũng khắc công một vị Hoàng thái hậu triều Nguyễn - Hiếu Khương Hoàng hậu (1738 - 1811), Mẫu hậu của vua Gia Long Trong thời Tây Sơn, chùa Báo Quốc bị lấy làm kho chứa diêm tiêu nên dần bị tàn phá trong suốt gần ba mươi năm Vì vậy sau khi vua Gia Long thống nhất đất nước, Hiếu Khương hoàng hậu đã cúng dường tiền và ra lệnh trùng kiến Tổ đình Báo Quốc vào năm Gia Long thứ 7 (1808) Trong lần này, tất cả các công trình của chùa đều được xây mới, đặc biệt Hoàng hậu đã cho xây dựng cổng tam quan rất độc đáo vẫn còn đến ngày nay Bà cũng đã cho chú tạo nhiều tượng Phật, pháp khí và một đại hồng chung nặng
836 cân ta Hoàng hậu đã cung thỉnh Thiền sư Đạo Minh Phổ Tịnh về chùa và sắc phong Ngài làm trú trì chùa này Vào năm 1811, Hiếu Khương Hoàng hậu còn can thiệp
để nhà vua ban cho chùa 300 mẫu ruộng nước và 10 mẫu ruộng khô; lấy lại 20 mẫu đất của chùa đã bị dân chiếm dụng dưới thời Tây Sơn để nhà chùa làm tự điền.4Với sự ngoại hộ của Hoàng hậu, Hàm Long Thiên Thọ tự đã được khởi sắc và sau này trở
2 Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm, Lịch Sử Phật Giáo Xứ Huế, TP Hồ Chí Minh: Nxb Văn Hoá Sài Gòn, 2006, tr 264
3 Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm, Sđd, tr 266, 267
4 Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm, Sđd, tr 268, 269
Trang 3thành một trong những trung tâm giáo dục và đào tạo Tăng tài của miền Trung Vào năm Gia Long thứ 14 (1815), Thiền sư Phổ Tịnh đã mở một Đại giới đàn tại đây để trao truyền mạng mạch Phật pháp, để chánh pháp được trụ thế dài lâu Đến năm 1930 trường
Sơ đẳng Phật học được mở tại đây và năm 1935 trường Trung đẳng Phật học được thành lập tại nơi này đã đào tạo được rất nhiều danh Tăng, những vị lãnh đạo phong trào chấn hưng Phật giáo thế kỷ 20 Trường Trung tiểu học tư thục Bồ Đề Hàm Long nổi tiếng một thời là nơi đã giáo dưỡng bao thế hệ Tăng Ni và Phật tử xứ Huế Sơ lược qua về những việc làm của Bà cũng cho thấy rằng, Hiếu Khương Hoàng hậu là người đã
có những đóng góp lớn đối với việc phục hưng Phật Giáo sau thời Tây Sơn Bà không chỉ đóng góp trong việc trùng hưng các tự viện và cơ sở vật chất của Phật giáo mà còn
hộ trì nhằm giúp Tăng già hưng thịnh, đạo mạch được hưng long
Tổ đình Thuyền Tôn của Tổ sư Liễu Quán cũng được hai vị Công chúa cùng những Hoàng thân khác phát tâm xây dựng ngôi phương trượng vào tháng 8 năm Đinh Mão, Gia Long thứ 6 (1807) Rồi đến hai năm sau (1809), hai vị Công chúa này cùng với bổn đạo của chùa xây dựng lại chánh điện và tiền đường làm cho ngôi phạm vũ trở nên trang nghiêm, dòng thiền Liễu Quán được hưng thịnh và thịnh hành khắp miền Trung Bà Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu cũng là một trong những gương mặt nữ Phật tử tiêu biểu cho sự
ngoại hộ đối với Phật giáo dưới thời vua Gia Long Theo ghi chép của Đại Nam Nhất
Thống Chí, bà Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu đã cúng dường tiền để xây dựng lại chùa
Thiền Lâm ở ấp Bình An Chùa này bị Thái sư Bùi Đắc Tuyên của triều Tây Sơn chiếm làm nhà ở, sau đó lại bị dùng làm kho than, nên chùa bị tàn phá Sau khi xây dựng xong, Hoàng Hậu đã đem quả đại hồng chung được đúc từ thời Lê Vĩnh Thịnh (1716) về tôn trí tại chùa này5 Cũng trong thời Gia Long, Công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Duệ đã trùng tu chùa Thiên Thai Ngoại và dâng cúng các loại pháp khí, quả đại hồng chung của chùa được chú tạo năm 1813 có khắc tên Pháp danh của công chúa và vị sư trú trì chứng minh Mẫu hậu của vua Minh Mạng - Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu (1769 - 1846) cũng là một Phật tử ngoại hộ rất mạnh, bà có công trùng tu nhiều ngôi chùa như chùa Khánh Vân ở xã Lựu Bảo, huyện Hương Trà; chùa Kim Long, chùa Bảo Sơn ở xã An Ninh; chùa Phú Ốc
ở xã Phú Ốc, tất cả đều được bà cúng tiền để xây dựng lại cho khang trang Nhiều vị công chúa con các Vua nhà Nguyễn đã dùng tiền bạc, của cải để cúng dường Tam Bảo và họ
đã trùng tu rất nhiều ngôi chùa chung quanh Kinh thành làm cho tự viện ở Thuận Hoá được kiên cố và trang nghiêm
Các vị vua đầu của nhà Nguyễn đều đã ủng hộ cho sự phát triển và khởi sắc của Phật giáo trong giai đoạn này Bên cạnh đó các bậc nữ lưu trong triều đình cũng đã ngoại
hộ rất mạnh cho sự phục hưng và phát triển Phật giáo tại Thuận Hoá Tự viện của Phật giáo được phát triển và trở nên khang trang vào thời nhà Nguyễn có sự đóng góp lớn từ các vị hoàng hậu, công chúa và các vị phu nhân trong hoàng tộc Hơn nữa, nhiều vị công chúa đã phát tâm xuất gia, sống đời giải thoát, đặt nền móng cho việc hình thành Ni giới
5 Quốc Sử Quán, Đại Nam Nhất Thống Chí, q.III, Phủ Thừa Thiên, Mục chùa quán, tr.181/ Phạm Trọng Điềm và
Đào Duy Anh, Hà Nội: Nxb Khoa Học Xã Hội, 1969
Trang 4tại Thuận Hoá Công chúa Định Hoà là con gái thứ 13 của Vua Gia Long đã trùng tu chùa Đông Thuyền để làm nơi tu tập, bà xuất gia vào khoảng năm 1838, thọ giới Sa di với Hoà thượng Tánh Không và có pháp danh là Hải Châu Ni trưởng Khiết Bạch (1839 - ?), chùa Tường Vân, trước khi xuất gia bà là cung nữ dưới triều Tự Đức, năm 25 tuổi bà thế phát xuất gia với Hoà thượng Tánh Hoạt Huệ Cảnh, chùa Tường Vân và được ban cho pháp danh Hải Bình, tự Khiết Bạch Đến năm 1895, Ni trưởng được thọ giới Tỳ Kheo Ni với Hoà thượng Diệu Giác tại giới đàn Bảo Quốc6 Một vị Ni trưởng khác cũng xuất thân từ chốn cung cấm là Ni trưởng Hải Đăng Bà nguyên là thứ phi của Vua Tự Đức, sau này bà xin rời cung xuất gia với Hoà thượng Tánh Hoạt Huệ Cảnh chùa Tường Vân Năm Tự Đức thứ 8, sau khi thọ Tỳ Kheo Ni, Ni trưởng được cử về trùng tu chùa Sư Lỗ Thượng ở Phú Hồ, Phú Vang.Một vị Ni trưởng khác cũng xuất thân từ dòng dõi quý tộc và có tầm ảnh hưởng đến vua, quan, các mệnh phụ phu nhân và dân chúng thời ấy, đó là Ni trưởng Viên Thông (1813 - 1889) ở chùa Đông Thuyền7 Bà là con gái của Kiến An Vương Nguyễn Phúc Đài (hoàng tử của Vua Gia Long), được nuôi dạy kỷ lưỡng theo truyền thống hoàng gia Bà được Hoà thượng Tánh Hoạt Huệ Cảnh chùa Tường Vân thế phát xuất gia, sau đó về tu với Hoàng Cô là Công chúa Định Thành tại chùa Đông Thuyền Trong thời các Chúa Nguyễn, Nữ Phật tử có vai trò ngoại hộ cho sự hình thành và phát triển Phật giáo ở xứ Đàng Trong Những gương mặt điển hình cho giai đoạn này như
là Long Thành Công chúa (Chị cả cùng mẹ với vua Gia Long), Bà Hiếu Khương Hoàng Hậu và nhiều Công chúa, phu nhân trong Hoàng tộc Long Thành Công Chúa là người có những đóng góp đối với sự trung hưng của Phật Giáo nước nhà Thời gian Bà ở miền Nam (1779 - 1802), đã thường lui tới để học đạo với nhiều vị cao Tăng tại Nam Bộ thời
đó như các ngài Phật Ý Linh Nhạc, Tổ Tông Viên Quang, Tổ Ấn Mật Hoằng, Tiên Giác Hải Tinh…và đặc biệt là Thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt, người đã nhắc nhở bà nên lưu tâm ủng hộ chùa Quốc Ân của Tổ sư Nguyên Thiều Do đó, khi trở lại Phú Xuân, bà đã trùng tu và ủng hộ các Tổ đình thuộc môn phái của Tổ Nguyên Thiều và làm cho đạo mạch được hưng thịnh và trường lưu
2 Nữ Phật tử xứ Huế trong phong trào chấn hưng Phật giáo
- Trong tổ chức Giáo hội
Sơn môn xứ Huế được hình thành và phát triển cùng với sự nghiệp các Chúa Nguyễn ở đất phương Nam Từ đời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 - 1687), nhiều Thiền
sư Trung Hoa đã đến nước ta hoằng hoá như Thiền sư Viên Khoan, Viên Cảnh và được các Chúa lưu tâm hộ trì Nhiều đời Chúa đã phát nguyện thọ trì Bồ Tát Giới và nhiệt tình
hộ đạo như Chúa Nguyễn Phúc Chu hiệu Thiên Túng Đạo Nhân, Nguyễn Phúc Thụ, Nguyễn Phúc Khoát, nhờ vậy mà Tăng già xứ Thuận Hoá được hưng thịnh từ rất sớm Nhưng mãi cho đến những thập niên cuối thế kỷ XIX, chư Ni Thuận Hoá mới hình thành
6 Thích Trung Hậu - Thích Hải Ấn, Chư Tôn Thiền Đức Phật Giáo Thuận Hoá, Tp Hồ Chí Minh: Nxb Văn Hoá
Sài Gòn, 2010, tr 668
7 http://www.vnbet.vn/chu-ton-thien-duc-cu-si-huu-cong-phat-giao-thuan-hoa-tap-1/ni-truong-vien-thong-1813 -
Trang 51889-chua-dong-thien -hue-và trở nên lớn mạnh 1889-chua-dong-thien -hue-vào đầu thế kỷ XX Dù lịch sử của Ni giới xứ Huế được ghi lại tương đối trể, nhưng không vì thế mà chư Ni trở nên mờ nhạt trong tổ chức Tăng già Những vị Ni trưởng đặt nền móng cho Ni giới Thuận Hoá xuất thân từ hoàng tộc, được giáo dục kỷ lưỡng theo tiêu chuẩn của hoàng gia, đó cũng là thế mạnh khi họ gia nhập Tăng đoàn Nhiều vị đã trở thành danh Ni của thế kỷ XX với các vai trò nổi bật trong đoàn thể Tăng cũng như ngoài xã hội Những vị danh Ni tiêu biểu có vai trò trực tiếp hoặc gián tiếp trong buổi đầu của phong trào Chấn hưng Phật giáo có thể kể như: Ni trưởng Diên Trường, người đã sáng lập chùa Trúc Lâm và trung tu chùa Phổ Quang, đã đóng góp cho Sơn môn Thuận Hoá hai cơ sở hành đạo trong giai đoạn còn nhiều khó khăn Đặc biệt là chùa Trúc Lâm, nơi Hoà thượng Giác Tiên đã mở Phật học đường để đào tạo Tăng tài vào năm 1929 và cũng là trụ sở đầu tiên của hội An Nam Phật Học Từ nơi đây, nhiều vị Tăng tài năng xuất hiện làm “thiệu long thánh chủng” như các Ngài: Mật Khế, Mật Nguyện, Mật Hiển, Mật Thể Bác Sĩ Lê Đình Thám cũng đã theo học với Ngài Giác Tiên tại đây và trở thành đệ tử hổ trợ đắc lực cho Hoà Thượng trong việc khởi xướng phong trào Chấn hưng Phật giáo Phật giáo nước nhà Đối với Ni chúng, Ni trưởng
đã làm thầy y chỉ cho những vị Ni lúc bấy giờ được xuất gia, thọ giới như: Ni cô Chơn Hướng, Diệu Hương, Giác Huệ…8 Ni trưởng cũng đã lập một ni xá riêng tại chùa Trúc Lâm để quy tu chư ni về đây tu học Những vị Ni xuất thân từ đây là những bậc đống lương cho Ni giới Thuận Hoá trong những thập niên về sau, khi phong trào Chấn hưng đang rầm rộ khắp cả nước
Nữ cư sĩ Hoàng Thị Cúc - Đoan Huy Hoàng Thái Hậu (1890 - 1980) pháp danh Trừng Loan, mẹ Vua Bảo Đại, là một Phật tử hộ pháp đắc lực, Bà đã có nhiều đóng góp cho Phật giáo Năm 1932, Bà đã tác động Vua Bảo Đại giúp cho Phật Giáo thành lập hội
An Nam Phật Học, và chính Vua Bảo Đại nhận làm Hội trưởng danh dự của Hội Nhờ thế lực của Vua Bảo Đại, Hội An Nam Phật Học đã loại trừ được những thế lực tay sai của Pháp Năm 1951, Bà cho xây dựng chùa Khải Đoan ở Buôn Mê Thuột, là ngôi chùa Sắc
tứ đầu tiên ở vùng Tây Nguyên và là ngôi chùa Sắc tứ cuối cùng của Triều Nguyễn9 Nữ
cư sĩ không từ nan trong các Phật sự, như trùng tu chùa chiền bị hư hại, bảo trợ cho các lớp học Tăng ở Tây Thiên và Báo Quốc trong những năm 1940 - 1950 Chùa nào hay chư
vị Tôn Đức nào bị giặc Pháp bắt nạt, đe doạ đến tính mạng, Bà liền sai người can thiệp ngay, không để cho các Tăng Ni bị họ chèn ép Ví dụ như trường hợp Hoà thượng Đôn Hậu bị giặc Pháp bắt và ra lệnh ngài tự đào hầm để chúng xử bắn, nhận được tin này, Hoàng Thái Hậu liền can thiệp với chính quyền Pháp bảo họ ngưng bắn và chôn sống, kết quả là họ phải cởi trói cho Hoà thượng và đem Ngài về bệnh viện để chăm sóc Bà đã có công ngoại hộ cho sự hưng thịnh của Phật giáo Thuận Hoá và đã có nhiều đóng góp đối với Phật giáo và dân tộc
8 Thích Trung Hâu -Thích Hải Ấn, sđd, tr 671
9 Thích Trung Hậu -Thích Hải Ấn, Chư Tôn Thiền Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hoá, tập 2, tr 693,
694, 695/ xem: http://www.vnbet.vn/chu-ton-thien-duc-cu-si-huu-cong-phat-giao-thuan-hoa-tap-2/nu-cu-si-hong-thi-cuc-1890-%E2%80%93-1980-phap-danh trung-loan-3863.html
Trang 6Ni trưởng Diệu Hương là người đi tiên phong trong công tác giáo dục Ni chúng, vào năm 1932, Ni trưởng đã mượn chùa Từ Đàm để mở lớp học cho chư Ni Đến hai năm sau, khi Ni trưởng Diệu Không mua được cơ sở mới và lập nên chùa Diệu Đức, đã thỉnh
Ni trưởng về làm Toạ chủ và lớp học cho quý ni cũng được chuyển về đây, được Hoà thượng Phước Huệ đặt tên là “Diệu Đức Ni Trường”10 Ni trường này là nơi đã đào tạo được nhiều vị ni tài ba, đóng góp cho đạo pháp và dân tộc trong nhiều lĩnh vực, như quý
Ni trưởng: Thể Yến, Diệu Trí, Đàm Minh, Thể Quán, Thể Thanh, Cát Tường, Tịnh Nguyện Ni trưởng đã cống hiến gần 40 năm để chăm lo đời sống và giáo dục Ni chúng, nhờ đó mà Ni trường đã quy tụ rất đông Ni sinh từ các miền về đây tu học Phần lớn chư
Ni theo học tại Ni trường trong thời kỳ Chấn hưng Phật giáo, sau này đều trở thành những vị lãnh đạo mẫu mực cho Ni chúng tại các tỉnh thành khác trong nước
Một vị danh Ni tài hoa nữa của xứ Huế và là người đã có những đóng góp quan trọng đối với Phật giáo nước nhà trong gần trọn một thế kỷ đó là Ni trưởng Diệu Không Người là một trong những danh Ni tiêu biểu, đã có những đóng góp quan trọng trong giai đoạn Chấn hưng Phật giáo, đấu tranh chống kỳ thị Phật giáo để bảo vệ Đạo Pháp và bảo
vệ nền văn hoá dân tộc Trong những thập niên 30, 40 nhờ vào thế mạnh ngoại ngữ, khả năng ngoại giao, các mối quan hệ xã hội của gia đình quý tộc, Ni trưởng đã thuyết phục được chính quyền Bảo hộ và triều đình Huế cấp phép cho thành lập Hội An Nam Phật Học Là một thành viên trong Ban sáng lập của Hội, Ni trưởng đã có nhiều hoạt động nhằm thúc đẩy sự phát triển của Hội, cụ thể như: thành lập các Ni viện để thúc đẩy tinh thần tu học và đạo tạo các thế hệ kế thừa, tham gia thành lập các trường Phật học, cộng tác các báo, thành lập nhà in, thành lập các trường tư thục, Cô Nhi viện, và các hoạt động
xã hội khác Những hoạt động của Ni trưởng trong các lĩnh vực khác nhau đã góp phần vào những thành tựu của Hội An Nam Phật Học Hội đã có tầm ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần của người dân xứ Huế từ thành thị đến nông thôn, qua hệ thống Khuông hội, Chi hội; từ thanh thiếu nên cho đến các bô lão thông qua hệ thống gia đình Phật hoá phổ và sau này trở thành tổ chức gia Đình Phật tử
Trong lĩnh vực văn hoá - giáo dục, sự thành lập Ni trường Diệu Đức gắn liền với công hạnh của Ni trưởng Diệu Không Thao thức với sự nghiệp giáo dục và đào tạo chư
Ni, Ni trưởng đã bán tư trang, vay mượn tiền để mua đất xây dựng Ni trường Diệu Đức cho chư Ni yên tâm tu học Một Ni trường nổi tiếng khác cũng được thành lập bởi Ni trưởng là Ni Viện Diệu Quang - Nha Trang Ở miền Nam, Sư đã góp công thành lập Ni trường đầu tiên ở Sa Đéc, Ni viện Từ Nghiêm, Viện Đại học Vạn Hạnh và Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế Trong thời kỳ chấn hưng và đấu tranh để đòi tự do tôn giáo và chống lại sự đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm, Ni trưởng đã kêu gọi viện trợ để xây dựng nhiều trường Trung Tiểu Học Bồ Đề, các ký nhi viện và cô nhi viện
do các Sư cô phụ trách, Đại học Vạn Hạnh Có thể nói đây là giai đoạn mà các trường tư thục của Phật giáo được mở rộng và hoạt động mang lại hiệu quả cao trong công tác giáo dục về cả nội điển lẫn ngoại điển Tất cả hệ thống trường mầm non Lâm Tỳ Ni của cả
10 Thích Trung Hậu -Thích Hải Ấn, Sđd, tr 679
Trang 7nước đều do quý Sư cô tham gia giảng dạy và điều hành, đã góp phần đào tạo được những thế hệ nền tảng của tương lai đầy tình thương và hiểu biết Trong phong trào nữ quyền, từ khi còn là một Quận chúa, Ni trưởng đã dấn thân tích cực vào các hoạt động yêu nước và từ thiện xã hội khác nhau như: ủng hộ cụ Phan Bội Châu khi Cụ bị Pháp giam lỏng ở Huế; tham gia thành lập Hội Nữ công để tạo việc làm nhằm cải thiện đời sống của phụ nữ; khởi xướng thành lập Hội Lạc Thiện nhằm giúp đỡ dân nghèo và gia đình các nạn nhân trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh Nhờ sự tài hoa và khéo lo liệu của Ni trưởng mà ngân quỹ của Hội Lạc Thiện ngày càng dồi dào để lo việc cứu tế cho đồng bào còn đang khó khăn, Hội đã quy tụ được các Bà Chúa, các bà phu nhân của các
vị Thượng Thơ, các bà quan lớn và các bà Đầm vợ của những ông Tây quyền cao chức trọng, đặc biệt Ni trưởng đã chiếm được cảm tình của Bà Toàn Quyền để Bà ấy chấp nhận danh hiệu là hội viên danh dự của hội Lạc Thiện Nữ sử gia Đạm Phương là người hoạt động tích cực trong các hoạt động của hội, để khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần độc lập nơi phụ nữ, thoát khỏi khái niệm ăn bám chồng con Ngày thành lập hội Ni trưởng đã
có bài thơ tặng chị em như sau:
Bài thơ Tặng Hội Nữ Công
Nữ công sáng lập tại thừa thiên
Kinh tế nâng cao bước nữ quyền
Gánh vác giang sơn thân gái Việt
Duy trì nòi giống đất Rồng Tiên
Công dung tinh tấn không lười biếng
Ngôn hạnh đoan trang ấy chính chuyên
Tất cả chị em nên gắng bước
Noi gương Trưng Triệu mãi lưu truyền.11
Nhờ vào tài lãnh đạo của bà Đạm Phương và Ni trưởng, mà sản phẩm được làm ra của Hội viên được người dân tin dùng và còn xuất khẩu sang nước ngoài, nhờ đó quỹ của Hội ngày một Tăng, lấy ngân quỹ ấy để tái đầu tư sinh lợi Tịnh tài của Hội đã được dùng vào nhiều mục đích khác nhau như: giúp anh chị em hoạt động cách mạng, giúp phong trào Cường Để ở Nhật, giúp các anh chị em du học thông qua quỹ An Nam Du Học Hội.12 Trong thời kỳ Chấn hưng Phật giáo, Ni Trưởng Diệu Không đã có nhiều hoạt động
để khích lệ và sách tấn tinh thần học Phật của chị em phụ nữ thông qua các bài viết trên
Liên Hoa Văn Tập được xuất bản bởi Liên Hoa Tùng Thư do Ni Trưởng làm chủ biên
Cụ thể như, số đầu tiên của Liên Hoa VănTập xuất bản tháng Giêng năm Ất Mùi (1955)
có các bài như: Phụ Nữ Với Đức Dục (trang 8 - trang 11); Tư Cách Bà Nội Tướng (trang
12 - trang 14); hay Phật Giáo với Phụ Nữ (số 3, xuất bản tháng ba năm Ất Mùi (1955);
Chương Trình Học Tập của Nữ Phật Tử Đối Với Gia Đình (Số 8, tr 5- 7, tháng Tám năm
11 Thích Nữ Diệu Không, Hồi ký của Sư Bà Thích Nữ Diệu Không (từ 1911 -1985), phiên bản điện tử của Hồ Đắc
Duy; http://chimvie3.free.fr/61/hdds_HoiKySuBaDieuKhong_061.htm
12 Thích Nữ Diệu Không, Hồi Ký của Sư Bà Diệu Không (từ 1911 -1985), phiên bản điện tử của Hồ Đắc Duy;
http://chimvie3.free.fr/61/hdds_HoiKySuBaDieuKhong_061.htm
Trang 8Ất Mùi - 1955) Đặc biệt, Liên Hoa Văn Tập đã dành một chuyên mục cho lứa tuổi Nhi
Đồng, là chuyên mục để các bà, các mẹ và các chị học hạnh lắng nghe của ngài Quán Thế
Âm, để các em có cơ hội giải bày những thắc mắc, và ý kiến của mình, để nhịp cầu cảm thông không bị chia cắt giữa các thế hệ
Ni trưởng Thể Quán (1911 - 1982) là một trong những danh Ni xứ Huế, người đã có những đóng góp lớn trong công tác giáo dưỡng, đào tạo những thế hệ Ni chúng tiếp nối mạng mạch Phật Pháp Từ những năm 1964, Ni trưởng đã là giáo thọ của các Ni trường như Diệu Đức (Thừa Thiên), Diệu Ấn (Phan Rang), Diệu Quang (Nha Trang), và Người
đã đảm nhiệm công việc này trong mấy chục năm liên tiếp.13 Bên cạnh đó, Ni trưởng còn
là tác giả của nhiều đầu sách và các tập thơ được độc giả đón nhận nồng nhiệt, và có nhiều dịch phẩm đóng góp vào công việc giảng dạy như Kinh Diệu Pháp Liên Hoa (1968), Tỳ Kheo Ni Giới (1975), Bồ Tát Giới (1979)…Liên tục trong hơn mười năm (1954 - 1966), Ni trưởng là cộng tác viên Nguyệt san Liên Hoa Và từ năm 1966, Ni trưởng là Chủ biên của tập san giáo dục thiếu nhi Sen Hồng
Trong thời kỳ chiến tranh, Ni trưởng Thích Nữ Trí Hải là một nhân vật tiểu biểu cho nữ Phật tử xứ Huế, người đã có những đóng góp không nhỏ đối với nền giáo dục Phật giáo trong hậu bán thế kỷ 20 cũng như các chương trình an sinh xã hội trong chiến tranh và trong thời kỳ độc lập Từ năm 1968, Ni trưởng được bổ nhiệm là Thư Viện trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh và Giám đốc Trung Tâm A Sinh Xã Hội của Viện Cũng trong thời gian này, Ni trưởng đã bắt đầu tham gia giảng dạy, dịch thuật, thuyết pháp cho sinh viên, Tăng Ni Phật tử tại Viện Sau chiến tranh, khi Viện Phật Học Vạn Hạnh được thành lập, Ni trưởng tiếp tục làm Giảng sư tại Thiền Viện Vạn Hạnh rồi giảng dạy tại các trường Cao cấp Phật học và Học viện Phật giáo Việt Nam, phụ trách các lớp Kinh Trung
Bộ bằng Anh ngữ cho Tăng ni sinh các khoá III, IV, và V Năm 1996 và 1999 trường Trung Cấp Phật Học tỉnh Long An và Ni viện Thiên Phước thỉnh Ni trưởng dạy Luật Tứ Phần Tỳ Kheo Ni và Bồ Tát Giới14 Ngoài những hoạt động giáo dục, hoằng pháp, Ni trưởng còn dành nhiều thời gian để phiên dịch, biên soạn và in ấn kinh điển nhằm giúp Tăng ni, Phật tử có them tài liệu nghiên cứu học tập Theo bảng mục lục “Trí Hải Toàn Tập”, Ni trưởng có 29 đầu sách chuyển ngữ, 9 đầu sách hiệu đính, 14 tác phẩm được Ni trưởng biện soạn, sách ngoài Phật học có 12 tác phẩm Với số lượng gần 70 tác phẩm, Ni trưởng đã đóng góp tích cực vào công tác giáo dục và hoằng pháp của Phật giáo nói riêng
và kho tàng văn hoá dân tộc nói chung Còn nhiều vị danh Ni khác cũng có vai trò quan trọng trong công tác giáo dục vào thời kỳ hấn hưng Phật Giáo như: Ni trưởng Thích Nữ Viên Minh (1914 - 2014) chùa Hồng Ân, trọn một thế kỷ, Ni trưởng đã đảm nhận nhiều công việc được Giáo hội giao phó: năm 1940, Ni trưởng cùng Ni trưởng Thể Yến ra Bắc
để giảng dạy Quy Sơn Cảnh Sách và Di Đà Sớ Sao tại chùa Bồ Đề, Gia Lâm, Hà Nội; năm 1960, Ni trưởng vào Phú Yên làm Phật sự tại Cô nhi viện Tuy Hoà; năm 1963, Ni
13 Thích Trung Hậu -Thích Hải Ấn, Sđd, tr 684
14 Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam cùng Môn Đồ Pháp Quyến, Tưởng Niệm Ni Trưởng Thích Nữ Trí Hải
(1938 -2003), TP Hồ Chí Minh: NXb Tổng Hợp Thành Phố Hồ Chí Minh, 2004, tr 14 -15
Trang 9trưởng được mời làm Phó Giám viện Ni viện Diệu Quang, Nha Trang để dẫn dắt ni chúng đồng thời làm Giám đốc Ký nhi viện Phước Điền - Nha Trang; năm 1972, trở về Huế là Đặc uỷ Xã hội và dạy Quy Sơn Cảnh Sách tại Ni viện Diệu Đức, Huế
Ni trưởng Thể Quán đã cộng tác và có nhiều bài viết trong tập văn này như: Hoàng
Hậu Vi Đề với Pháp Môn Tịnh Độ (số 5, tr 10 - 13, Tháng Năm năm Ất Mùi - 1955); Một Người Nghèo Lạ (số 6, tr.12 - 17, Tháng Sáu Năm Ất Mùi - 1955), và nhiều bài thơ
của Ni trưởng được đăng trên tập văn này Ni trưởng Viên Minh đã có những bài viết
như: Vàng Ngọc Phải Chăng là Hạnh Phúc (số 6, tháng Sáu Năm Ất Mùi - 1955, tr 3- 4) Ni trưởng Cát Tường đã cộng tác với các bài viết: Đời Đáng Yêu hay Đáng Ghét (Số
6, tr.31 - 33, tháng Sáu năm Ất Mùi - 1955) Ni trưởng Minh Bổn chùa Hương Sơn là một trong những danh Ni của xứ Huế, sinh thời Ni trưởng đã đảm nhiệm và hoàn thành nhiều Phật sự do Giáo Hội giao phó, đồng thời đã khuyến hoá được rất đông tín nữ đến sinh hoạt và tu học tại chùa Hương Sơn Với Phật tử, chùa ngôi chùa Hương Sơn là điểm sinh hoạt cho nhiều đoàn Phật tử như: Tu Xà Đề, Lộc Uyển, Ni Liên Thuyền, Từ Bi Sứ Giả Hình ảnh của Ni trưởng đối với họ là một người Thầy, Người Mẹ, Người Chị thật gần gũi và khả kính15 Ni trưởng đã tiếp nối hạnh nguyện của Ni trưởng Diệu Không tham gia vào Ban chấp hành Hội Phụ nữ Việt Nam và Hội Phụ nữ tỉnh Thừa Thiên Huế
Từ quá khứ và cả ngày nay, chư Ni xứ Huế luôn là nơi nương tựa vững vàng cho hàng đệ tử tại gia, đặc biệt là chư tín nữ Xứ Huế còn được mệnh danh là chốn “Thiền kinh” không chỉ vì nơi đây đã nuôi dưỡng và sản sinh ra nhiều bậc “đống lương của Phật Giáo” mà còn vì con người nơi đây thấm nhuần tư tưởng và lối sống nhà Phật, và để Phật hoá gia đình, công đức của các bà, các mẹ, các chị là vô cùng quan trọng Ý thức sâu sắc
về sứ mệnh của mình, chư Ni xứ Huế đã thể hiện được sức mạnh của mình qua tổ chức
Ni Bộ Thừa Thiên Huế, để thông qua đó, chư Ni có cơ hội được học hỏi, trau dồi học hạnh, chia sẽ những kinh nghiệm hoằng pháp và tu học, tiếp độ Ni chúng, hướng dẫn hậu lai… Ni giới xứ Huế luôn thể hiện sự vững chãi và giúp cho những thiện tín phát tâm dõng mãnh trên đường đạo, sống đẹp giữa cõi đời
- Trong các hoạt động an sinh xã hội
Với đặc tính giàu lòng bi mẫn, dễ dàng đồng cảm trước nỗi khổ của tha nhân, Ni giới luôn đồng hành để “cho người niềm vui và giúp người bớt khổ”, nữ Phật tử và chư
Ni xứ Huế đã có những đóng góp nổi bật trong các hoạt động cứu tế chiến tranh với nhiều hoạt động khác nhau như: trở thành ý tá trong các nhà thương, mở các bệnh xá tại chùa, thành lập cô nhi viện để cưu mang những trẻ em mồ côi cha mẹ trong chiến tranh,
mở các lớp học xoá mù chữ, thành lập trường mầm non và các trường sơ học để dạy các
em về văn hoá và Phật pháp, thành lập nhà dưỡng lão để chăm lo những mãnh đời cô quạnh, tiếp tế lương thực, cứu trợ đồng bào bị thiên tai Đi đầu trong công tác này có thể
kể đến như Ni trưởng Diệu Không, Ni trưởng Hướng Đạo (1905 - 1974) chùa Diệu Viên,
Ni Trưởng Thể Quán (1911 1982) chùa Hoàng Mai, Ni Trưởng Chơn Thông (1934 -1990) chùa Diệu Viên, Ni trưởng Cát Tường chùa Hoàng Mai, Ni trưởng Trí Hải, và rất
15 Thích Trung Hậu -Thích Hải Ấn, Sđd, tr 731
Trang 10nhiều chư tôn đức Ni khác đã tham gia vào các công tác thiện nguyện một cách cần mẫn trong kháng chiến và sau khi đất nước đã độc lập.Trong đó, ngoài những tên tuổi lớn như
Ni trưởng Diệu Không, Ni trưởng Trí Hải nổi tiếng không chỉ trong nước mà còn ở hải ngoại, có nhiều Tôn Đức Ni khác cũng đã gắn bó cả đời mình để thực hành lục độ theo hạnh nguyện của chư vị Bồ tát Có thể nêu ra một số vị tiêu biểu như: Ni trưởng Thể Yến, Ni trưởng Thể Quán, Ni trưởng Cát Tường, Ni trưởng Thể Chánh, Ni trưởng Chơn Thông, Ni trưởng Diệu Tấn
Năm 1968, Ban Đại diện GHPGVN tỉnh Thừa Thiên giao cho Ni trưởng Thể Quán chức vụ “Đặc uỷ xã hội” cùng Ni trưởng Cát Tường làm Trưởng Ban cứu trợ để cứu trợ đồng bào nạn nhân chiến tranh, thiên tai bảo lụt, cùng các hoạt động cứu tế khác Với tinh thần “phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật”, Ni trưởng và Ni Trưởng Cát Tường
đã thật sự vận động được mọi tầng lớp Phật tử cùng chung tay để cùng nhau an ủi, chia sẻ những khó khăn của các nạn nhân chiến tranh, những khổ đau của đồng bào bị thiên tai,
lũ lụt Nhờ sự khéo léo và nhiệt tâm của Ni trưởng mà công tác cứu trợ của Ban Đại diện Phật Giáo tỉnh nhà đã đạt được những kết quả tốt đẹp trong suốt nhiều năm liền (1968 - 1972)16 Ni trưởng Thể Yến là một vị dành tâm huyết cho các hoạt động giáo dục, bên cạnh đó Ni trưởng đã mở Ký nhi viện Diệu Đức vào năm 1961 để nuôi dạy con em của các gia đình nghèo khó tại địa phương
Ni Trưởng Chơn Thông (1934 -1990) chùa Diệu Viên là Người có nhiều hoạt hoạt động Phật sự góp phần vào Phong trào chấn hưng Phật Giáo như: thành lập bệnh xá tại chùa Diệu Viên và đã đào tạo được một số sư cô làm việc tại bệnh viện Huế; mở trường
Sơ học Diệu Viên; lập nhà Dưỡng lão Diệu Viên; Giám đốc Cô nhi viện Tây Lộc trong thời gian 4 năm, nuôi dưỡng hơn 200 em mồ côi; năm 1980, Ban Trị sự Giáo hội Thừa Thiên Huế đề cử Ni trưởng vào thành viên của Ban Trị sự.17 Ngoài ra còn nhiều vị Ni trưởng khác đã có những hoạt động tích cực trong hoạt động từ thiện xã hội đã được
trong tác phẩm Chư Tôn Thiền Đức và Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hoá của tác
giả Thích Trung Hậu và Thích Hải Ấn
1 Chư Ni xứ Huế trong thời hiện đại
Tiếp bước tiền nhân, Chư Ni xứ Huế ngày nay đã kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp mà chư vị tiền bối đã dày công xây dựng Dấn thân vừa là phương tiện vừa
là hạnh nguyện để phụng sự và độ sanh, cũng là để tự độ; độ chúng sanh bên ngoài mà không quên độ chúng sanh bên trong, đó là chìa khoá để mở ra phương trời cao rộng, thênh thang Ngày nay, Chư Ni có nhiều cơ hội để phát huy những thế mạnh tự thân, nên vai trò cũng được thể hiện rõ trong nhiều lãnh vực, từ công việc hành chánh, giáo dục, hoằng pháp, các hoạt động văn hoá, từ thiện xã hội… Chư Ni xứ Huế ngày nay đang có mặt ở nhiều nơi trên thế giới, nên những đóng góp không chỉ giới hạn ở tầm quốc gia mà rộng hơn thế nữa, trong bài viết này chỉ xin nêu tổng quát về những đóng góp của Chư Ni tại tỉnh nhà
16 Thích Trung Hậu -Thích Hải Ấn, Sđd, tr 684
17 Thích Trung Hậu -Thích hải Ấn, Sđd, tr 692, 693, 694