Phẫu thuật điều trị vỡ vách liên thất sau nhồi máu cơ tim Nguồn: Daniele Ronco, Matteo Matteucci, Mariusz Kowalewski, et al.. Hiệu đính: BS Bùi Hữu Minh Trí TẦM QUAN TRỌNG: Vỡ vách l
Trang 1Phẫu thuật điều trị vỡ vách liên thất
sau nhồi máu cơ tim
Nguồn: Daniele Ronco, Matteo Matteucci, Mariusz Kowalewski, et al Surgical Treatment of
Postinfarction Ventricular Septal Rupture JAMA Network Open 2021;4(10):e2128309
doi:10.1001/jamanetworkopen.2021.28309
Người dịch: BS Trần Văn Của Hiệu đính: BS Bùi Hữu Minh Trí
TẦM QUAN TRỌNG:
Vỡ vách liên thất (Ventricular septal rupture- VSR) là một biến chứng cơ học hiếm gặp nhưng đe dọa tính mạng trong nhồi máu cơ tim cấp, liên quan đến tỷ
lệ tử vong cao mặc dù được điều trị cấp cứu kịp thời Phẫu thuật được xem là điều trị chuẩn; tuy nhiên, chỉ có một loạt nghiên cứu đơn trung tâm hoặc nghiên cứu sổ bộ quốc gia nhỏ là có sẵn trong y văn, trong khi đó các nghiên cứu quốc
tế đa trung tâm ít được thực hiện, vì vậy bằng chứng về chủ đề này vẫn còn đang hạn chế
MỤC TIÊU:
Đánh giá các đặc điểm lâm sàng và kết cục sớm ở bệnh nhân được phẫu thuật VSR sau nhồi máu cơ tim và xác định các yếu tố đôc lập liên quan đến tử vong
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU:
Nghiên cứu CAUTION (The Mechanical Complications of Acute Myocardial Infarction: an International Multicenter Cohort ) là một nghiên cứu đoàn hệ đa trung tâm đa quốc gia bao gồm những bệnh nhân được điều trị phẫu thuật cho biến chứng cơ học của nhồi máu cơ tim cấp Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 1 năm 2001 đến tháng 12 năm 2019 tại 26 trung tâm khác nhau trên toàn thế giới trong số 475 bệnh nhân được phẫu thuật VSR sau nhồi máu cơ tim
PHƠI NHIỄM:
Phẫu thuật VSR sau nhồi máu cơ tim là một kỹ thuật độc lập; đơn độc hoặc kết hợp với các phẫu thuật khác (ví dụ: bắc cầu động mạch vành)
KẾT CỤC CHÍNH VÀ ĐO LƯỜNG:
Kết cục chính là tử vong sớm; kết cục phụ là biến chứng sau phẫu thuật
KẾT QUẢ:
Trang 2Trong số 475 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu, 290 (61.1%) nam, tuổi trung bình (SD) là 68.5 (10.1) tuổi Sốc tim gặp ở 213 bệnh nhân (44.8%) Phẫu thuật cấp cứu hoặc cứu vãn được thực hiện ở 212 bệnh nhân (44.6%) Tỷ lệ tử vong sớm 40.4% (192 bệnh nhân) và tỷ lệ này không được cải thiện trong gần 20 năm được xem xét cho nghiên cứu (tử vong trung bình năm [IQR] 41.7% [32.6%-50%]) Hội chứng cung lượng tim thấp và suy đa cơ quan là nguyên nhân thông thường dẫn đến tử vong (Hội chứng cung lượng tim thấp, 70[36.5%]; suy đa cơ quan, 53[27.6%]) VSR tái phát diễn ra ở 59 bệnh nhân (12.4%) nhưng không liên quan đến tỷ lệ tử vong Sốc tim (sống còn: 95 [33.6%]; tử vong 118 [61.5%]; p< 0.001) và phẫu thuật sớm (thời gian để phẫu thuật ≥ 7 ngày, sống còn:105 [57.4%]; tử vong 47 [35.1%]; p<0.001) có liên quan đến sống còn thấp hơn Ở phân tích đa biến số, lớn tuổi ( [OR], 1.05; 95% CI, 1.02-1.08; P= 0.001), ngưng tim sau phẫu thuật (OR, 2.71; 95% CI, 1.18-6.27; P= 0.02) và tái thông mạch máu qua da (OR, 1.63; 95% CI, 1.003-2.65; P= 0.048) và đặt bóng đối xung động mạch chủ sau mổ (IABP) (OR, 2.98; 95% CI, 1.46-6.09; P=0.003) và trao đổi oxy qua màng ngoài cơ thể (ECMO) ( OR, 3.19; 95% CI, 1.3-7.38; P=0.01) liên quan độc lập đến tỷ lệ tử vong
KẾT LUẬN VÀ BÀN LUẬN:
Trong nghiên cứu, phẫu thuật sửa chữa VSR sau nhồi máu cơ tim có liên quan đến nguy cơ tử vong sớm cao; Tỷ lệ này không thay đổi trong suốt 2 thập kỷ gần đây Trì hoãn phẫu thuật có vẻ có liên quan đến tăng khả năng sống còn Tuổi, ngưng tim sau phẫu thuật, tái thông mạch máu qua da, sử dụng IABP sau phẫu thuật và ECMO có thể liên quan độc lập đến tỷ lệ tử vong sớm Các nghiên cứu tiền cứu sâu hơn đề cập đến xử trí bệnh nhân trước phẫu thuật và sau phẫu thuật là cần thiết để hy vọng cải thiện kết quả chưa được tối ưu hiện tại