CHƯƠNG I ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ BÀI GIẢNG HỌC PHẦN TIẾNG VIỆT Tài liệu học tập dành cho sinh viên ngành Sư phạm Tiểu học, Mầm non, Cử nhân biên, phiên dịch tiếng Anh, bậc đại học hệ[.]
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
BÀI GIẢNG HỌC PHẦN TIẾNG VIỆT
Tài liệu học tập dành cho sinh viên ngành Sư phạm Tiểu học, Mầm non,
Cử nhân biên, phiên dịch tiếng Anh, … bậc đại học hệ vừa làm vừa học
Biên soạn: Nguyễn Ngọc Chinh
(Lưu hành nội bộ)
Đà Nẵng, tháng 11 năm 2015
Trang 3Lời nói đầu
Tập bài giảng cho học phần “Tiếng Việt” là tập bài giảng bao gồm 6 phần
được giảng dạy bao gồm lý thuyết, thảo luận và thực hành trong 30 tiết (2 tín chỉ), gồm:
- Đại cương về ngôn ngữ và tiếng Việt - 2 tiết;
- Ngữ âm tiếng Việt hiện đại - 6 tiết;
- Từ vựng-ngữ nghĩa tiếng Việt hiện đại - 6 tiết;
- Ngữ pháp tiếng Việt hiện đại - 8 tiết;
- Ngữ pháp văn bản - 4 tiết;
- Phong cách học tiếng Việt - 4 tiết
Mỗi bài, ngoài phần lý thuyết, còn có phần bài tập nhằm củng cố kiến thức
đã học
Đây là tập bài giảng được tích lũy, bổ sung và điều chỉnh qua quá trình lên lớp, giảng dạy cho sinh viên ngành Sư phạm Tiểu học, Mầm non, Cử nhân biên, phiên dịch tiếng Anh, … bậc đại học các khóa 2008, 2009, 2010, 2011, 2012 hệ vừa làm vừa học tại Đại học Đà Nẵng
Trong quá trình biên tập chắc hẳn còn những thiếu sót và sẽ được hiệu chỉnh trong những lần tiếp theo
Người biên soạn
PGS.TS Nguyễn Ngọc Chinh
Trang 4PHẦN I ĐẠI CƯƠNG VỀ NGÔN NGỮ VÀ TIẾNG VIỆT
A NỘI DUNG BÀI HỌC
I Đối tượng và nhiệm vụ của ngôn ngữ học
1 Ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hệ thống các đơn vị (bao gồm các âm vị, hình vị, từ, câu)
và những quy tắc kết hợp các đơn vị này để tạo thành lời nói trong giao tiếp
Ngôn ngữ học là một khoa học về ngôn ngữ
Để nắm được đối tượng của ngôn ngữ học, cần phân biệt: ngôn ngữ, lời nói
và hoạt động của ngôn ngữ
2 Ngôn ngữ học
2.1 Đối tượng: Ngôn ngữ chính là đối tượng nghiên cứu của Ngôn ngữ học
Ngôn ngữ tồn tại ở hai trạng thái: trạng thái tĩnh và trạng thái động Ở trạng thái tĩnh, ngôn ngữ là một hệ thống bao gồm các yếu tố (các đơn vị) ngôn ngữ và các quan hệ cũng như các quy tắc kết hợp của các yếu tố đó Ở trạng thái động, ngôn ngữ được sử dụng trong hoạt động hành chức Cho nên đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ là cả hai trạng thái này
Lời nói chính là ngôn ngữ đang ở dạng hoạt động và nó cũng mang trong mình cả mặt xã hội của ngôn ngữ lẫn mặt cá nhân của lời nói Lời nói cần thiết để phát triển ngôn ngữ Nó cung cấp cho ngôn ngữ những tài liệu, những yếu tố mới
để ngôn ngữ phát triển Không có tính tự do, sáng tạo, tính đa dạng của lời nói thì ngôn ngữ không trở thành một công cụ tinh vi để diễn tả tư tưởng, tình cảm của con
người Do vậy lời nói cũng là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học
Hoạt động ngôn ngữ là hoạt động sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp và tư duy Dạy tiếng Việt ở tiểu học là dạy hoạt động ngôn ngữ tức là dạy các em cách sử dụng tiếng Việt để giao tiếp đạt hiệu quả cao nhất
Trong giao tiếp, tùy nội dung thông báo, thái độ của người nói hay mục đích nói, bằng một số đơn vị từ và một số quy tắc ngữ pháp, người ta có thể tạo ra nhiều câu nói cụ thể khác nhau Dù muốn hay không mỗi người đều phải sử dụng những đơn vị ngữ pháp và những qui tắc ngữ pháp chung của cộng đồng để tạo ra những câu nói cụ thể để người nghe hiểu được ý mình Những câu nói cụ thể được tạo ra trong mỗi hoàn cảnh nói năng như vậy được gọi là lời nói Hay nói cách
khác, lời nói chính là sản phẩm ngôn ngữ được tạo ra bởi cá nhân trong những
hoàn cảnh giao tiếp cụ thể
Trang 5- Ngôn ngữ là cơ sở để tạo lời nói
- Lời nói là biểu hiện của ngôn ngữ, là nơi tồn tại hiện thực của ngôn ngữ Tuy nhiên, không nên đồng nhất ngôn ngữ và lời nói Ngôn ngữ và lời nói khác biệt nhau:
- Ngôn ngữ mang tính xã hội còn lời nói có tính cá nhân
- Ngôn ngữ có tính trừu tượng còn lời nói là cụ thể
Lời nói mang đặc điểm cá nhân, đặc điểm địa phương, đặc điểm nghề nghiệp
Trong khi đó ngôn ngữ mang tính chung, tính xã hội, là tài sản chung của cả cộng đồng
2.2 Nhiệm vụ của ngôn ngữ học
Ngôn ngữ học có các nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Miêu tả các hoạt động ngôn ngữ, tìm ra nguồn gốc và quá trình phát triển ngôn ngữ nói chung và từng ngôn ngữ nói riêng
- Tìm những quy luật bản chất của ngôn ngữ, rút ra những quy tắc khái quát
để giải thích và sử dụng ngôn ngữ
- Ứng dụng những thành tựu nghiên cứu vào cuộc sống, đặc biệt là việc dạy
và học ngôn ngữ
Khi nghiên cứu tiếng Việt cần giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Xác định nguồn gốc, quá trình phát triển của tiếng Việt
- Miêu tả hệ thống tiếng Việt với các đơn vị và quy tắc tổ chức của nó
- Khái quát các quy tắc tiếng Việt vào giao tiếp
- Nghiên cứu ứng dụng những thành tựu nghiên cứu đạt được vào cuộc sống (dạy tiếng Việt, chữa bệnh mất ngôn ngữ, xây dựng mật mã, mã tín hiệu bưu chính
2.4 Các phân ngành và bộ môn của ngôn ngữ học
Ngôn ngữ học gồm hai phân ngành: Ngôn ngữ học đồng đại và Ngôn ngữ
học lịch đại Ngôn ngữ học đồng đại sưu tầm, miêu tả, rút ra quy luật và quy tắc tổ chức nội bộ và hoạt động của ngôn ngữ Ngôn ngữ học lịch đại nghiên cứu ngôn ngữ theo kiểu so sánh đối chiếu các yếu tố của ngôn ngữ trong quá trình phát triển
Trang 6của nó Tuy nhiên trong thực tế các nhà ngôn ngữ thường kết hợp giữa hai hướng nghiên cứu trên
Ngôn ngữ học có bốn bộ môn: Ngữ âm học, Từ vựng học, Ngữ pháp học, Phong cách học
Ngữ âm học nghiên cứu mặt âm thanh của ngôn ngữ trên cả ba mặt: âm
học, cấu âm và mặt chức năng xã hội
Từ vựng học nghiên cứu từ và các đơn vị tương đương (ngữ cố định)
Trong từ vựng học gồm các phân môn: Từ nguyên học, Ngữ nghĩa học, Từ điển
học
Ngữ pháp học nghiên cứu cách thức, quy tắc và phương diện cấu tạo từ,
câu và các đơn vị trên câu Ngữ pháp học bao gồm: Từ pháp học, Cú pháp học và ngữ pháp học
Phong cách học nghiên cứu đặc điểm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp ở các lĩnh
vực giao tiếp (phong cách) khác nhau, đồng thời nghiên cứu giá trị biểu cảm của các phương tiện ngôn ngữ trong lời nói
Tương ứng với các bộ môn trên của ngôn ngữ học, Việt ngữ học có các môn:
- Ngữ âm học tiếng Việt
- Từ vựng học tiếng Việt
- Ngữ pháp học tiếng Việt
- Phong cách học tiếng Việt
II Bản chất và chức năng ngôn ngữ
1 Bản chất xã hội của ngôn ngữ
1.1 Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội
a Ngôn ngữ không phải là hiện tượng tự nhiên
Các hoạt động tự nhiên xung quanh con người có thể phân biệt thành hai loại: các hoạt động tự nhiên và các hoạt động xã hội Các hoạt động tự nhiên trong thiên nhiên và trong vũ trụ (như mưa, nắng, lũ lụt, động đất…) có thể phát sinh, phát triển và tiêu hủy một cách tự nhiên không phụ thuộc vào sự tồn tại hay ý muốn chủ quan của con người Các hoạt động xã hội (cưới xin, tôn giáo, nghi lễ,…) có thể phát sinh, phát triển hay tiêu hủy lại phụ thuộc vào nhu cầu và ý muốn chủ quan của con người và chỉ có trong xã hội loài người
b Ngôn ngữ không phải là hiện tượng sinh vật, nó không mang tính bẩm sinh di truyền
Tất cả mọi người đều có khả năng bẩm sinh (khóc, nhìn, bò, đi,…), di
Trang 7Ngôn ngữ không phải là hiện tượng mang tính bẩm sinh, di truyền Nó là kết quả của một quá trình bắt chước, học hỏi với những người xung quanh Những đứa trẻ mà bố mẹ là người Việt nhưng chúng lớn lên ở Nga, Pháp, Mỹ thì chúng sẽ nói thứ một trong các thứ tiếng trên Muốn nói được tiếng Việt người lớn phải dạy cho chúng Những đứa trẻ vì một lý do nào đó, nếu sống cách biệt với xã hội loài người thì mãi mãi chúng không bao giờ biết ngôn ngữ nào dù chúng vẫn có khả năng bẩm sinh như ăn, thở, đi, đứng…Vì thế ngôn ngữ không phải là hiện tượng bẩm sinh, di truyền
c Ngôn ngữ không phải là một hiện tượng cá nhân
Ngôn ngữ không phải là hiện tượng cá nhân, không phải của riêng một người nào Ngôn ngữ được hình thành và phát triển trong phạm vi một cộng đồng
và phục vụ cả cộng đồng do đó ngôn ngữ mang bản sắc, phong cách của từng dân tộc Mỗi cá nhân có thể có phong cách ngôn ngữ riêng, có thể có những sáng tạo, đóng góp vào sự phát triển chung của ngôn ngữ như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh… Nhưng sự sáng tạo đó phải dựa trên cơ sở quy ước của xã hội, không thể tự mình thay đổi ngôn ngữ của xã hội, càng không thể có ngôn ngữ riêng của cá nhân
d Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội
- Nó chỉ nảy sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội loài người;
- Nó phục vụ cho toàn thể xã hội;
- Nó mang bản sắc của từng cộng đồng
1.2 Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt
Tính chất đặc trưng này được thể hiện như sau:
- Nó không thuộc về kiến trúc thượng tầng của riêng một xã hội nào Khi có một cơ sở hạ tầng nào đó bị phá vỡ, kéo theo sự sụp đỗ của kiến trúc thượng tầng tương ứng nhưng ngôn ngữ vẫn tồn tại và phát triển theo sự phát triển của xã hội
- Ngôn ngữ không mang tính chất giai cấp Các giai cấp cùng tồn tại trong một xã hội đều dùng chung một ngôn ngữ và nó phục vụ như nhau cho một giai cấp Tuy nhiên, mỗi giai cấp đều luôn có ý thức sử dụng ngôn ngữ để phục vụ cho lợi ích riêng của họ
2 Chức năng xã hội của ngôn ngữ
2.1 Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người
a Giao tiếp - các chức năng của ngôn ngữ
Con người có thể sử dụng nhiều phương tiện giao tiếp: điệu bộ, tiếng còi, tiếng trống, cờ hiệu…Giao tiếp bằng các phương tiện như vậy rất hạn chế về nội dung Phổ biến và phong phú hơn cả là giao tiếp bằng ngôn ngữ
Trang 8Giao tiếp bằng tiếng Việt có thể thực hiện bằng lời và giao tiếp bằng văn tự (chữ viết) Giao tiếp bằng ngôn ngữ có một vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày Giao tiếp có những chức năng sau:
- Chức năng thông tin (còn gọi là chức năng thông báo): Bằng phương tiện
ngôn ngữ, con người trao đổi cho những tin tức dưới dạng nhận thức, những tư tưởng có từ hiện thực
- Chức năng tạo lập các quan hệ: Con người trò chuyện với nhau không
chỉ trao đổi thông tin mà còn muốn tạo nên các quan hệ Khi trò chuyện với nhau, quan hệ giữa người với người sẽ được tạo ra Đây chính là chức năng tạo lập cộng tác giữa người với người rất cần cho sự tồn tại, phát triển của xã hội mà ngôn ngữ đảm nhận một cách lặng lẽ
- Chức năng giải trí: Con người có thể giải trí bằng nhiều cách, trong đó
giao tiếp là cách hay dùng và đỡ “tốn kém” hơn cả Sau những lúc làm việc căng thẳng chúng ta cần nói chuyện với bạn bè, người thân Qua những buổi giao tiếp như vậy, stress được giải toả
- Chức năng tự biểu hiện: Qua giao tiếp, con người tự biểu hiện mình: bộc
lộ tình cảm, sở thích, khuynh hướng, trạng thái tâm hồn, trạng thái tâm lí
Nói một cách tổng quát, giao tiếp có bốn chức năng Các chức năng này là căn cứ để xem xét đánh giá các ngôn bản, tức là các sản phẩm ngôn ngữ nói hoặc viết được hình thành trong giao tiếp
b Các nhân tố của giao tiếp
- Nhân vật trong giao tiếp: Là những người tham gia vào hoạt động giao
tiếp Các nhân vật luân phiên đảm nhận vai trò giao tiếp khác nhau: người nói (người viết), người nghe (người đọc)
Tuổi tác, quan hệ gia đình, địa vị xã hội, trình độ hiểu biết … của các nhân vật giao tiếp để lại dấu vết trong lời nói
- Hiện thực được nói đến trong giao tiếp: bao gồm những sự vật, hiện
tượng trong thực tế khách quan, những tâm trạng, những tình cảm được đưa vào ngôn bản Hiện thực được nói đến tạo nên chủ đề hay đề tài của giao tiếp
- Hoàn cảnh giao tiếp: là nơi chốn, thời gian diễn ra cuộc giao tiếp
- Ngôn ngữ được sử dụng: là ngôn ngữ được các nhân vật giao tiếp dùng tạo
thành ngôn bản Các nhân tố giao tiếp có ảnh hưởng lẫn nhau và góp phần quyết định ngôn bản cả về nội dung và hình thức
- Ngôn bản: Ngôn bản là chuỗi kết hợp các yếu tố ngôn ngữ tạo nên lời nói
của nhân vật giao tiếp Ngôn bản có có hai thành phần: hình thức và nội dung Hình
Trang 9mặt…kèm lời) để diễn đạt nội dung Nội dung của ngôn bản bao gồm tất cả những điều diễn đạt bằng hình thức
c Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội con người
Sở dĩ ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng và ưu việt nhất vì trên góc độ lịch sử và toàn diện mà xét, không một phương tiện giao tiếp nào có thể so sánh được với nó
- Những thuận lợi của giao tiếp bằng ngôn ngữ:
- Dù cho ngôn ngữ bằng lời nói có bị hạn chế về không gian và thời gian, cho dù ngoài ngôn ngữ ra, con người còn dùng nhiều phương tiện giao tiếp khác (như cử chỉ, các loại kí hiệu, các tác phẩm nghệ thuật…) nhưng ngôn ngữ vẫn chiếm vị trí không thể thay thế vì ngôn ngữ có tính chất đa dạng Điều này thoả mãn những nhu cầu giao tiếp phong phú, sinh động của con người Ngôn ngữ không có tính giai cấp, phổ biến tiện lợi, mọi thành viên trong xã hội đều sử dụng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người, vừa có khả năng diễn tả nét tinh tế, sâu kín trong tâm tư, tình cảm của con người mà không một phương tiện giao tiếp nào có thể làm được
- Tính hạn chế, phụ thuộc của các phương tiện giao tiếp khác:
So với ngôn ngữ, các phương tiện giao tiếp khác đóng vai trò là các phương tiện bổ sung cho ngôn ngữ Sở dĩ như vậy là do phạm vi sử dụng của chúng rất hạn chế Chúng không đủ sức phản ánh những hoạt động và những kết quả hoạt động tư tưởng phức tạp, sâu sắc của con người
2.2 Ngôn ngữ là phương tiện của tư duy
Chức năng thể hiện tư duy của ngôn ngữ thể hiện cả hai khía cạnh:
- Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng Không có từ, nào câu nào của ngôn ngữ lại không biểu hiện khái niệm hay tư tưởng và ngược lại không có ý nghĩ,
tư tưởng nào không tồn tại dưới dạng ngôn ngữ Ngôn ngữ là biểu hiện thực tế của
1 Từ chỗ nhận tức đầy đủ bản chất xã hội và chức năng của ngôn ngữ, Tiếng Việt
được xác định là một môn học độc lập trong nhà trường Với tư cách đó, Tiếng Việt có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những tri thức về hệ thống tiếng Việt, quy tắc hoạt động và sản phẩm của nó trong mọi hoạt động giao tiếp Mặt khác tiếng Việt là một công cụ giao tiếp và tư duy, nên môn Tiếng Việt trong nhà trường còn đảm nhận thêm một chức năng nữa mà các môn học khác không có Đó là chức
Trang 10năng trang bị cho học sinh công cụ giao tiếp: tiếp nhận và diễn đạt mọi kiến thức khoa học trong nhà trường
2 Dạy tiếng theo quan điểm giao tiếp là một trong những nguyên tắc quan trọng
của lí luận dạy tiếng hiện đại Nguyên tắc này được dựa trên việc nhận thức rõ ràng các chức năng quan trọng của ngôn ngữ trong giao tiếp xã hội Về vấn đề ngôn ngữ
đã vận hành, biến đổi như thế nào để thực hiện chức năng giao tiếp, M.R Lơvốp đã viết “Chỉ có đặt ngôn ngữ trong quá trình hoạt động, người ta mới thấy được cơ chế thực hiện của hoạt động chức năng xã hội của ngôn ngữ” Mục đích cuối cùng của dạy tiếng mẹ đẻ là giúp học sinh phát triển năng lực hoạt động lời nói bao gồm năng lực lĩnh hội lời nói (nghe, đọc) và sản sinh lời nói (nói, viết) nói cách khác giúp học sinh hình thành củng cố phát triển các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết
3 Trong dạy học tiếng Việt ở trường tiểu học, cần đặc biệt chú ý nguyên tắc rèn
luyện ngôn ngữ với rèn luyện tư duy
B HƯỚNG DẪN TỰ HỌC
I Những nội dung chính cần nắm
1 Nắm được đối tượng của ngôn ngữ học
Phân biệt ngôn ngữ và lời nói
2 Nắm được nhiệm vụ của ngôn ngữ học
3 Chứng minh ngôn ngữ không phải là hiện tượng tự nhiên, hiện tượng sinh vật, di
truyền, hiện tượng tâm lí của mỗi cá nhân bằng những ví dụ cụ thể
4 Khẳng định và chứng minh ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội, nó phục vụ xã
hội với tư cách là một phương tiện giao tiếp, thể hiện ý thức xã hội và tồn tại, phát triển gắn liền với sự tồn tại, phát triển của xã hội
5 Giải thích và chứng minh ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt
6 Hiểu rõ chức năng nghiên cứu của ngôn ngữ là đặc trưng chủ yếu của Ngôn ngữ
học đại cương Cần thấy được vai trò của ngôn ngữ trong giao tiếp, các chức năng ngôn ngữ thể hiện trong giao tiếp và vì sao ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người
7 Nắm vững ngôn ngữ là công cụ hình thành và biểu đạt sản phẩm của tư duy, là
vỏ vật chất của tư duy, đồng thời sự tác động trở lại của tư duy đối với ngôn ngữ cũng là một vấn đề quan trọng của quan điểm biện chứng khi nghiên cứu ngôn ngữ
8 Đề cao vai trò của nghiên cứu các chức năng ngôn ngữ đối với việc giảng dạy
tiếng Việt trong trường tiểu học, chẳng hạn vấn đề dạy tiếng theo quan điểm giao
Trang 11Ii Câu hỏi và bài tập
1 Phát biểu quan niệm của anh (chị) về: ngôn ngữ, lời nói, hoạt động ngôn ngữ
2 Trình bày tóm tắt các nhiệm vụ nghiên cứu của Ngôn ngữ học
3 Căn cứ vào các nhiệm vụ nghiên cứu của Ngôn ngữ học, anh (chị) hãy đề xuất
nhiệm vụ khi nghiên cứu tiếng Việt
4 Chứng minh ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội
5 Tai sao nói ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt? Cho ví dụ
6 Vì sao nói ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người? Cho ví dụ
7.Tìm trong tiếng Việt một số từ ngữ xuất hiện sau Cách mạng tháng Tám đến nay
để chứng tỏ sự xuất hiện của chúng gắn liền với sự phát triển xã hội và phục vụ xã
hội Qua đó giải thích tác dụng của chúng đối với nhận thức và tư duy
Trang 12PHẦN THỨ II NGỮ ÂM TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI
CÁC ĐƠN VỊ NGỮ ÂM
A NỘI DUNG BÀI HỌC
Hình thức âm thanh tiếng nói của ngôn ngữ bao gồm hai loại đơn vị khác
nhau về tính chất, chúng có thể được thể hiện kế tiếp nhau trong lời nói bằng những
khoảng thời gian nhất định Đó là đơn vị đoạn tính và siêu đoạn tính
Các đơn vị đoạn tính là những đơn vị được thể hiện kế tiếp nhau trong lời nói, mỗi đơn vị chiếm một khúc đoạn nhất định khi phát âm Những đơn vị ngữ âm
không thể phân cắt được gọi là đơn vị siêu đoạn tính Thuộc các đơn vị đoạn tính
là âm tiết, âm tố, âm vị Các đơn vị siêu đoạn tính bao gồm thanh điệu, trọng âm,
hiện bằng sự nối tiếp của các âm tiết Âm tiết là đơn vị phát âm nhỏ nhất
Mỗi âm tiết được phát âm bằng một đợt căng của bộ máy phát âm, phát ra một hơi, tạo thành một tiếng Phát âm một âm tiết gồm ba giai đoạn:
- Giai đoạn tăng độ cao
- Giai đoạn ở đỉnh điểm của độ căng
- Giai đoạn giảm độ căng và kết thúc
Các đợt căng của các cơ nối tiếp nhau làm thành một chuỗi âm tiết và có thể hình dung bằng một chuỗi đường cong hình sinh ( mỗi âm tiết ứng với một hình sin)
1.2 Cấu trúc âm tiết
Là mô hình cấu tạo khái quát của âm tiết Phần lớn các ngôn ngữ trên thế giới có cấu tạo âm tiết là tổ hợp nguyên âm và phụ âm Nếu kí hiệu nguyên âm là
V, phụ âm là C thì âm tiết có các dạng cấu tạo sau:
C V C V C
C C V (1) C C V C C (2)
V V C
Trang 13Dạng (2) những âm tiết có thành phần kết thúc là phụ âm
Ví dụ: Tiếng Việt: thịt - CVC
Tiếng Anh: meat - CVVC
Nếu âm tiết có kết thúc là phụ âm câm (phụ âm không phát âm) cũng được coi là
âm tiết mở (Ví dụ: ris trong từ Paris, s không được phát âm, Paris được xem âm
tiết mở)
1.3 Phân loại âm tiết
Dựa vào cách kết thúc âm tiết, có thể phân chia âm tiết thành hai loại:
- Âm tiết mở: Âm tiết kết thúc bằng nguyên âm
Ví dụ: tiếng Việt quê ngoại; tiếng Anh: me (tôi), see (thấy)
- Âm tiết khép: Âm tiết kết thúc bằng phụ âm
Ví dụ: tiếng Việt học tập; tiếng Anh: keep (giữ), meat (thịt)
2 Âm tố
Âm tố là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất, không thể phân chia ra được nữa Nếu
đọc thật chậm kéo dài a, xa, xát, ta sẽ thấy khi đọc a, lưỡi giữ nguyên vị thế từ đầu tới cuối; Khi đọc xa lưỡi có hai vị thế: thoạt đầu lưỡi nâng lên ngạc cứng, sau đó lưỡi hạ xuống thấp Khi đọc xát lưỡi có ba vị thế: hai vị thế đầu gần như đọc xa, vị
thế thứ ba lưỡi lại nâng lên chạm ngạc cứng
Mỗi vị thế là một động tác cấu âm để tạo nên một nguyên tố âm thanh tức là
âm tố, chiếm một đoạn ngắn trên ngữ tuyến
Quy ước âm tố được đặt trong kí hiệu ngoặc vuông [ ]
Ví dụ: Âm tiết nam của tiếng Việt gồm 3 âm tố [n], [a], [m]
Âm tiết of của tiếng Anh gồm 2 âm tố [o], [f ]
Khi nói đến âm tố, người ta chỉ mới đề cập đến mặt tự nhiên (âm học – cấu âm) của đơn vị ngữ âm nhỏ nhất, còn khi xem xét nó ở mặt xã hội thì người ta gọi
là âm vị Dựa theo cách thoát ra của luồng không khí qua các bộ phận phía ngoài
thanh hầu, các âm tố được phân biệt thành hai loại chính: nguyên âm và phụ âm; ngoài ra còn có loại thứ ba mang tính chất trung gian, đó là bán nguyên âm hay bán
phụ âm
a Các nguyên âm
a1 Âm tố nguyên âm có các đặc điểm âm học và cấu âm sau đây:
- Luồng hơi từ thanh hầu đi ra tự do, có âm hưởng êm ái, dễ nghe
- Chu kì chấn động của các phần tử không khí từ thanh hầu đi ra đều đặn tạo
ra tiếng thanh cho nguyên âm
- Luồng hơi đi ra yếu do bộ máy phát âm làm việc điều hòa
a2 Khi miêu tả và phân loại các nguyên âm, người ta dựa vào các tiêu chí sau: Vị
trí của lưỡi, độ mở của miệng, hình dáng của môi; khi cần thiết, còn dùng thêm tiêu
Trang 14chuẩn độ dài
- Theo chiều hướng của lưỡi: có thể phân các nguyên âm thành:
+ Các nguyên âm hàng trước: Khi lưỡi đưa ra phía trước, mặt lưỡi nâng lên
phía ngạc, ta có nguyên âm hàng trước [i, e (ê), ε ( e), ie] trong tiếng Việt
Có thể phân nguyên âm thành các hàng (dòng) nguyên âm như sau :
+ Các nguyên âm hàng giữa: Khi phát âm phần giữa của lưỡi nâng lên phía
ngạc cứng Ví dụ: Ở nguyên âm [I] trong tiếng Nga (trên chữ viết là bl) là nguyên
âm hàng giữa.(Tiếng Việt không có nguyên âm hàng giữa )
+ Các nguyên âm hàng sau: Khi phát âm, lưỡi lùi về phía sau, lưng lưỡi
nâng lên về phía ngạc ta có các nguyên âm sau.Ví dụ: Nguyên âm [i] ( i); [u] (u) [o] (ô) trong tiếng Việt
- Theo độ mở của miệng, các nguyên âm được phân thành:
+ Các nguyên âm hẹp ( lưỡi nâng cao nhất, miệng mở hẹp nhất khi phát âm )
Ví dụ: Các nguyêm âm [u] (u) ; [i ] (i) trong tiếng Việt
+ Các nguyên âm hơi hẹp
Ví dụ: các nguyên âm [e] (ê), [o] (ô) trong tiếng Việt
+ Các nguyên âm hơi rộng
Ví dụ: Các nguyên âm [ ε ] (e); [ ] (o) trong tiếng Việt
+ Các nguyên âm rộng: Các nguyên âm [a] (a), [ă] (ă) trong tiếng Việt
- Theo hình dáng của môi:
+ Nhóm nguyên âm tròn môi: khi phát âm, môi có hình dáng tròn
Ví dụ: Các nguyên âm [ u, o, uo] trong tiếng Việt
+ Nhóm nguyên âm không tròn môi: khi phát âm, môi có hình dáng dẹt
Ví dụ: Các nguyên âm [ i, e, a ] trong tiếng Việt
Ngoài ra, tiêu chuẩn độ dài (thời gian phát âm, hay trường độ) còn dùng để phân biệt một số cặp nguyên âm hoàn toàn giống nhau về ba tiêu chuẩn nói trên:
dài, ngắn: [ a / ă; ε / ε], [a , ε] nguyên âm dài (trong ma, dài), [ă , ε] là nguyên âm ngắn (anh ách trong tiếng Việt)
Mỗi tiêu chuẩn như vậy chính là một điểm cấu âm – âm học của nguyên âm
Để phân biệt các nguyên âm trong một ngôn ngữ với nhau, người ta dựa đồng thời vào các tiêu chuẩn đó Đây cũng là một nội dung miêu tả các âm vị nguyên âm của một ngôn ngữ cụ thể
Ví dụ, các nguyên âm [u, i] trong tiếng Việt được miêu tả như sau:
Nguyên âm [i]: hàng trước, độ mở hẹp, không tròn môi
* Vấn đề nguyên âm đơn và nguyên âm đôi:
Trang 15nguyên âm khi phát âm lưỡi sẽ lướt từ vị trí này sang vị trí khác, từ vị thế của nguyên âm này chuyển qua vị thế của nguyên âm khác Ví dụ: [ie, uô ] trong tiếng Việt (tiếng, truyện, muộn,…), here (trong tiếng Anh) Thực tế đó là hai nguyên âm
đi liên tiếp nhau Nhưng theo quan điểm âm vị học, hai âm này phát liền nhau và ở phạm vi một âm tiết nên chúng chỉ có giá trị một đơn vị Nếu hai nguyên âm đi liền nhau nhưng lại thuộc hai âm tiết thì được coi là hai nguyên âm đơn
b Các phụ âm
b.1 Các âm tố phụ âm có các đặc điểm cấu âm – âm học sau:
- Luồng hơi từ thanh hầu đi ra bị cản trở tại một nơi nào đó trong khoang miệng (nơi gây cản gọi là tiêu điểm cấu âm) như lưỡi, lợi, răng, môi, ngạc phối hợp với nhau tạo nên Vì thế, âm hưởng của phụ âm khó nghe, khác với âm hưởng êm
ái, dễ nghe của nguyên âm
- Chu kì dao động của các phần tử không khí từ thanh hầu đi ra không đều đặn, tạo nên tiếng ồn hoặc tiếng nổ khi phát âm
- Luồng hơi thoát ra khỏi miệng mạnh do bộ máy phát âm hoạt động không điều hòa
b.2 Miêu tả và phân loại phụ âm
Khác với nguyên âm, phụ âm được phát ra khi luồng hơi bị cản trở Sự cản
trở này do hai bộ phận cấu âm khép đường thông từ phổi ra ngoài miệng Cách cản trở và nơi cản trở luồng hơi làm thành hai tiêu chí phân loại: phương thức cấu âm
và vị trí phát âm
* Theo phương thức cấu âm: các phụ âm được phân thành: phụ âm tắc, phụ
âm xát, phụ âm rung
- Các phụ âm tắc: Không khí đi ra bị cản trở hoàn toàn, phải phá vỡ sự cản
trở ấy để thoát ra ngoài Tùy theo luồng hơi thoát ra đường miệng, đường mũi, bật mạnh hay không bật mạnh mà chia thành:
(1) Luồng hơi thoát ra bằng miệng tạo nên các phụ âm tắc: [ p, t, k(c) ]
(2) Luồng hơi thoát ra đường mũi tạo nên các phụ âm mũi: [m, n ]
(3) Luồng hơi bật mạnh ra đằng miệng tạo nên các phụ âm bật hơi: [ p, t, k(c) ]
- Phương thức xát: Luồng hơi không bị cản mà lách ra một khe hẹp do hai bộ
phận cấu âm tạo ra và cọ xát với thành khe hẹp đó mà tạo ra âm xát:[ s (s), s(x),
x (kh), h ,v, Z (d, gi), f( ph)…] trong tiếng Việt
Luồng hơi bị chặn ngay giữa miệng do đầu lưỡi hạ xuống, luồng hơi lách qua một hay hai bên lưỡi tạo nên âm bên: [ l ]
- Phương thức tắc – xát: Luồng hơi đi ra bị cản trở hoàn toàn như phương
thức tắc, rồi thoát sự cản trở ấy ở khe hẹp như phương thức xát Ví dụ:[ ts] là phụ
âm tắc - xát trong tiếng Anh (child)
Trang 16- Phương thức rung tạo nên phụ âm rung: [r] Luồng hơi làm rung động một
bộ phận cấu âm trên thanh hầu (thường là đầu lưỡi)
Ví dụ phụ âm rung [r] trong tiếng Tây Ban Nha: pe ro (chó), pe ro (nhưng)
Ngoài cách phân loại như trên (cách phân loại chính) còn có cách phân loại dựa vào đặc điểm âm học, chia phụ âm thành:
Các âm vang: Khi phát âm tiếng thanh là chính
Các âm ồn: Khi phát âm có nhiều tiếng động hơn tiếng thanh [ t, k(c), b…]
trong tiếng Việt
Trong các phụ âm ồn lại phân nhỏ thành các âm hữu thanh và vô thanh
Âm hữu thanh là những phụ âm khi phát âm dây thanh rung [d (đ), z (r) ]
trong tiếng Việt
Âm vô thanh là phụ âm khi phát âm dây thanh không rung: [ p, t, k(c)…]
trong tiếng Việt
* Căn cứ vào vị trí phát âm có thể phân phụ âm thành các loại sau:
- Các phụ âm mô : môi- môi [ m, b] trong tiếng Việt
môi – răng [ v, f (ph) ] trong tiếng Việt
- Các phụ âm đầu lưỡi:
Đầu lưỡi – răng: Đầu lưỡi áp chặt vào răng cửa của hàm trên [t, t’(th)] trong tiếng Việt Đầu lưỡi – lợi: Đầu lưỡi áp vào lợi [d(đ), n, l] trong tiếng Việt Đầu
lưỡi – ngạc: Đầu lưỡi quặt lên phía ngạc [s (s), t (tr), z (r)] trong tiếng Việt
- Các phụ âm mặt lưỡi: Mặt lưỡi được nâng lên ngạc cứng [c (ch) , (nh) ]
trong tiếng Việt
- Các phụ âm cuối lưỡi (gốc lưỡi): Gốc lưỡi được nâng lên phía ngạc mềm
([ x (kh), k (c)] trong tiếng Việt
- Các phụ âm thanh hầu (âm họng): Luồng hơi bị cản ở thanh hầu
c Bán nguyên âm (hay bán phụ âm) là những âm tố trung gian giữa nguyên âm và
phụ âm Chúng bị phát âm yếu và lướt đi so với nguyên âm (hay phụ âm tương ứng) Ví dụ: [i] (i, y) trong các âm tiết tai, tay (tiếng Việt) hoặc [u] ( u,o) trong các
âm tiết cau, cao (tiếng Việt) là những bán nguyên âm bị phát âm yếu và lướt đi so với so với nguyên âm [i], nguyên âm [u]
3 Âm vị
Khi nói đến âm tố, người ta chỉ mới đề cập đến mặt tự nhiên (các đặc điểm âm học – cấu âm) của đơn vị ngữ âm nhỏ nhất, còn khi xem xét nó ở cả mặt chức năng xã hội (thể hiện qua chức năng đối với ngôn ngữ) thì người ta gọi đơn vị đó là âm vị
a Khái niệm
Trang 17Kí hiệu âm vị dược đặt trong dấu / /
Ví dụ: / b, m, a, ê / là các âm vị trong tiếng Việt Chúng có hai chức năng sau
đây đối với tiếng Việt :
- Cấu tạo nên vỏ âm thanh của âm tiết có nghĩa trong tiếng: ba, bê, ma, mê…
- Phân biệt vỏ âm thanh của âm tiết với nhau: ba = bê = ma = mê…
b Đặc trưng khu biệt âm vị
Các âm vị phân biệt với nhau ở (một hoặc một số hoặc tất cả) các đặc điểm ngữ âm của chúng Mỗi đặc điểm ngữ âm giúp ta phân biệt các âm vị với nhau
được gọi là một nét khu biệt
Khi miêu tả và phân loại âm vị, người ta phải nêu đủ các nét khu biệt, nhờ đó
để phân biệt các âm vị với nhau
Ví dụ: Trong tiếng Việt hai âm vị / i/ và /o/ phân biệt ở tất cả các nét khu biệt: /i /: hàng trước, độ mở hẹp, không tròn môi
/o/: hàng sau, độ mở hẹp, tròn môi
Hai âm vị /a / và /ă / chỉ khác nhau một nét khu biệt:
/a /: hàng trước, độ mở rộng, không tròn môi, trường độ dài
/ă /: hàng trước, độ mở rộng, không tròn môi, trường độ ngắn
c Phân biệt âm vị và âm tố
- Âm vị là đơn vị trừu tượng thuộc bình diện ngôn ngữ đã được khái quát hóa
từ những từ những âm tố cụ thể trong lời nói hàng ngày của người sử dụng ngôn ngữ Còn âm tố là những đơn vị cụ thể, thuộc bình diện lời nói tồn tại thực tế trong thế giới khách quan
- Âm vị được khái quát từ một số âm tố, được thể hiện ra bằng các âm tố Âm
tố là sự thể hiện của âm vị trong từng trường hợp cụ thể Ví dụ:
Trong tiếng Việt, âm vị / t / là sự khái quát từ hai âm tố [t] và [t] trong hai âm
tiết ta và tu
[t] - đầu lưỡi – răng
(trong ta) - tắc- vô thanh
- không bị môi hóa (*)
==> / t /: dầu lưỡi răng, tắc – vô thanh
[ t] - đầu lưỡi – răng
(trong tu) - tắc - vô thanh
- bị môi hoá
Qua ví dụ đối chiếu trên, ta thấy: âm vị chỉ gồm những nét khu biệt, còn âm
tố thì bao gồm cả những nét khu biệt lẫn nét không khu biệt (nét có dấu * trong ví
dụ trên)
Trang 18- Âm vị thuộc hệ thống ngữ âm của một ngôn ngữ cụ thể, còn âm tố là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất chung cho mọi ngôn ngữ khác nhau Ví dụ: /k/ là âm vị của tiếng Việt nhưng chưa hẳn đó là âm vị của ngôn ngữ khác
Khi miêu tả hệ thống ngữ âm của một ngôn ngữ, một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là phải tìm cách xác định được hệ thống các âm vị có trong ngôn ngữ đó, phân loại chúng thành các hệ thống nhỏ khác nhau và xác định cách chúng kết hợp với nhau để thành âm tiết
d Cách ghi âm vị
Âm thanh ngôn ngữ gọi là ngữ âm Chữ viết là hệ thống kí hiệu bằng đường
nét để ghi lại âm thanh của ngôn ngữ trong đó chữ cái (con chữ) dùng để ghi âm vị Mỗi con chữ (đôi khi một tổ hợp con chữ) ghi một âm vị Chỉ có âm vị được phản ánh trong chữ viết chứ không phải âm tố hay biến thể của âm vị dù là biến thể kêt hợp hay tự do Chẳng hạn, trong tiếng Việt phụ âm /ŋ / (ng) đứng cuối âm tiết khi
được viết ng trong sống, sáng, khi thể hiện ngạc hoá thành nh (trong sinh, thênh,
nhanh…) Tất cả biến thể này của âm vị /ŋ / (ng) chỉ cần ghi một cách thống nhất
Về chữ viết, cần lưu ý con chữ bao giờ cũng có một tên gọi riêng gắn với âm
vị mà nó phản ánh Nhưng chữ và âm là hai phạm trù khác nhau Âm vị [b] trong tiếng Anh, Pháp, Nga được thể hiện trên mặt chữ viết căn bản giống nhau nhưng khi được phản ánh bằng chữ viết thì có tên gọi khác nhau trong mỗi hệ thống chữ
cái Trong chữ Việt có chữ bê, trong chữ Anh ta có chữ bi, trong tiếng Nga ta có chữ be
Mặt khác, con chữ phản ánh âm vị nhưng mối quan hệ giữa chúng ít khi đạt được mức lí tưởng là sự tương ứng 1:1 Một âm có khi được ghi bằng nhiều cách khác nhau tức là được phản ánh bằng nhiều âm vị (vấn đề này sẽ được đề cập kĩ ở chương sau)
2 Các đơn vị siêu đoạn tính
Theo truyền thống ngôn ngữ học, các âm vị luôn được thể hiện (qua các âm tố) nối tiếp nhau trong lời nói bằng những khoảng thời gian phát âm nhất định (tính chất này làm cho mỗi âm vị chiếm một khúc đoạn, làm cho nó thuộc vào đơn vị âm đoạn tính)
Ngoài các đơn vị đoạn tính, trong lời nói còn có các đơn vị gọi là siêu đoạn
tính bao gồm: thanh điệu, trọng âm, ngữ điệu (ba đơn vị này được gọi chung là
hiện tượng ngôn điệu)
2.1 Thanh điệu
Trong tiếng Hán, tiếng Việt, tiếng Thái…có một loại đơn vị không tồn tại độc
Trang 19điệu Thanh điệu là sự nâng cao hoặc hạ thấp giọng nói trong một âm tiết, có tác
dụng cấu tạo và khu biệt vỏ âm thanh của từ hoặc hình vị
Ví dụ: vài khác vái khác vai…
Hiện tượng thanh điệu chỉ có ở một số ngôn ngữ vùng đông Nam Á như tiếng Việt, tiếng Lào, tiếng Hán, tiếng Mường
2.2 Trọng âm
a Khái niệm
Trọng âm là hiện tượng nhấn mạnh vào một yếu tố nào đó của từ Sự nhấn mạnh làm cho yếu tố đó được phát âm mạnh hơn, dài hơn và cao hay thấp hơn
Âm tiết mang trọng âm do đó át hẳn âm tiết khác Ví dụ trong tiếng Anh
unive’rsitty âm ve’r nghe rõ hơn các âm tiết khác
Trọng âm có chức năng khu biệt trong một số ngôn ngữ, hoặc chức năng phân giới hoặc chức năng tạo đỉnh trong ngôn ngữ khác nhau
b Vị trí của trọng âm
Trọng âm có vị trí khác nhau, tùy theo từng ngôn ngữ Trong tiếng Ý, trọng
âm ở đầu từ: o’pera; trong tiếng Pháp, trọng âm ở cuối từ: opera; trong tiếng Ba Lan, trọng âm ở âm tiết áp chót: ope’ra; còn trong tiếng Anh, tiếng Nga trọng âm
có thể ở đầu, giữa hay ở cuối tùy theo từng từ
Ngữ điệu có những tác dụng khác nhau đối với phát ngôn:
+ Dùng ngữ điệu để phân đoạn lời nói thành các câu, phân đoạn câu thành các vế, các ý
+ Dùng ngữ điệu để tổ chức các bộ phận của câu nói thành một chỉnh thể, làm cho nó trở nên liền mạch
+ Dùng ngữ điệu làm phương tiện ngữ pháp để thể hiện các loại câu khác nhau
về mục đích phát ngôn (câu kể, câu hỏi, câu cầu khiến, câu cảm thán)
+ Dùng ngữ điệu để thể hiện sắc thái tình cảm khác nhau của người nói như: phẫn nộ, chế diễu, vui vẻ, yêu thương, lo lắng, chán nản, buồn phiền…
Trong tiếng Việt, ngữ điệu thường được dùng kèm với các trợ từ, thán từ, từ nghi vấn…Như vậy, nếu ngữ điệu là đặc trưng siêu đoạn tính của cả câu, trọng âm
là đặc trưng siêu đoạn tính của từ thì thanh điệu là đặc trưng siêu đoạn tính của âm tiết
Trang 20B HƯỚNG DẪN TỰ HỌC
I Những nội dung chính cần nắm
1 Nắm được bản chất các khái niệm sau:
a Những đơn vị đoạn tính: âm tiết, âm tố, âm vị
b Những đơn vị siêu đoạn tính: thanh điệu, trọng âm, ngữ điệu
2 Nắm được các tiêu chí phân loại nguyên âm và phụ âm
II.Câu hỏi và bài tàp
CÂU HỎI
1 Âm tiết là gì? Cấu trúc âm tiết có những dạng cơ bản nào? Dùng âm tiết để minh
họa cho các dạng cấu trúc âm tiết
2 Sự khác nhau giữa nguyên âm và phụ âm Nêu các tiêu chí phân loại nguyên âm
3 Chỉ ra vai trò của ngữ điệu trong những câu sau:
a Thật là văn chương tuyệt cú!
b Đem ra mà triển lãm được đấy!
Trang 21ÂM TIẾT TIẾNG VIỆT
A NỘI DUNG BÀI HỌC
1 Đặc điểm của âm tiết tiếng Việt
Âm tiết là đơn vị phát âm ngắn nhất trong lời nói Mỗi âm tiết được phát
âm bằng một đợt căng của cơ thịt của bộ máy phát âm, được người nói phát ra bằng hơi và nghe thành một tiếng
Trong tiếng Việt, âm tiết là đơn vị ngữ âm có tính âm đoạn và có vai trò rất đáng chú ý Trước hết, toàn bộ hệ thống âm vị của tiếng Việt đều được xác định qua khảo sát cấu trúc của âm tiết Thứ hai, âm tiết tiếng Việt có tính độc lập cao trong lời nói Thứ ba, hầu hết âm tiết tiếng Việt đều có nghĩa
1.1 Âm tiết tiếng Việt có tính độc lập cao
- Khi nói, người Việt phát âm các âm tiết tách bạch nhau, rõ ràng và ngắt ra thành từng khúc đoạn riêng biệt Tiếng Việt không có hiện tượng nối âm Các âm tiết không bao giờ bị biến dạng trong lời nói
Ví dụ: im ắng, không nói i mắng; các anh không nói cá canh
Khác với âm tiết trong ngôn ngữ Ấn – Âu, âm tiết tiếng Việt đều có thanh điệu và
có cấu trúc ổn định Việc vạch ranh giới giữa các âm tiết trong tiếng Việt dễ dàng hơn nhiều so với phân chia ranh giới âm tiết trong ngôn ngữ Ấn - Âu
Trong tiếng Việt, mỗi âm tiết được viết tách ra chứ không viết liền nhau như tiếng Anh, tiếng Nga…Ta không thấy có trường hợp một bộ phận của âm tiết được tách ra để kết hợp với âm tiết sau như trường hợp đọc nối ở tiếng Anh, tiếng Pháp (il est …, it….is)
Ví dụ: This is an apple
I’d like a cup of tea
Ta có thể hình dung phát ngôn tiếng Việt giống như một chuỗi hạt mà mỗi
âm tiết là một hạt độc lập
Tiếng Việt Tiếng Anh
Đây là quyển sách This is a book
Ở tiếng Việt có một vài trường hợp có hiện tượng nhập âm tiết đi liền nhau như hai mươi mốt hăm mốt, ba mươi hai băm hai Trong trường hợp này, tính cố định của âm tiết bị phá vỡ, một số yếu tố của âm tiết kết hợp với nhau, bỏ mất một số yếu tố khác Âm tiết mới này có đầy đủ đặc điểm đơn lập như tất cả các
Trang 22âm tiết khác Như vậy cách đọc nối âm của tiếng Anh, tiếng Pháp … vẫn khác hiện tượng nhập của tiếng Việt Ở tiếng Anh, tiếng Pháp hai âm tiết móc nối nhau nhưng vẫn là hai âm tiết, còn ở tiếng Việt chỉ còn một âm tiết
- Khi viết, các nhóm chữ cái ghi lại từng âm tiết tiếng Việt cũng được viết tách rời khỏi nhau, mặc dù đó có thể là các âm tiết của một từ phức
- Mỗi âm tiết tiếng Việt mang một thanh điệu nhất định (trong hệ thống 6 thanh điệu) Nhờ có thanh điệu gắn theo cách phát âm của mỗi âm tiết, mà sự thể hiện của từng âm tiết trong dòng lời nói trở nên rõ ràng hơn
1.2 Ranh giới âm tiết trùng ranh giới hình vị
Ta thường thấy trong tiếng Việt, một phát ngôn có bao nhiêu âm tiết thì có bấy nhiêu hình vị hay cách nói khác ranh giới âm tiết trùng ranh giới hình vị
Ví dụ: Khi đọc câu thơ sau, người nói phải phát âm 14 lần, người nghe nhận
ra 14 tiếng tách biệt nhau một cách dễ dàng:
Tháp Mười đẹp nhất bông sen Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ
So sánh với các ngôn ngữ Ấn – Âu như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga ta thấy số lượng âm tiết và hình vị có thể không bằng nhau và ranh giới âm tiết cũng thường cũng không trùng với ranh giới hình vị:
Tiếng Anh: (working) wor / king có 2 âm tiết, work / ing: 2 hình vị
Tiếng Nga: (студенты) сту / дент / ты có 3 âm tiết, (сту//дент /: 2
hình vị
1.3 Hầu hết các âm tiết tiếng Việt đều có nghĩa
Như trên đã nói, ranh giới âm tiết trùng với ranh giới hình vị Mỗi âm tiết là hình thức biểu đạt của một hình vị, nên đa số âm tiết tiếng Việt đều có nghĩa Nói cách khác, đối với tiếng Việt hầu như toàn bộ các âm tiết đều hoạt động như từ đơn Đây cũng là đặc điểm quan trọng của âm tiết trong tiếng Việt Trong các ngôn ngữ Châu Âu, nhiều âm tiết chỉ là đơn vị phát âm thuần túy, không có nghĩa Nếu
âm tiết bị tách ra khỏi từ thì nó trở nên vô nghĩa Còn trong tiếng Việt, tuyệt đại đa
số các âm tiết đồng thời là đơn vị mang nghĩa Vì thế, âm tiết trong tiếng Việt
không chỉ là đơn vị phát âm ngắn nhất mà còn đồng thời là hình vị dùng để cấu tạo
từ và trong rất nhiều trường hợp, bản thân âm tiết là vỏ âm thanh của từ (gọi là từ đơn tiết)
Ví dụ 1: Âm tiết “nhà” là hình vị (yếu tố cấu tạo) trong từ phức “nhà máy”,
đồng thời là từ đơn kết (dùng để cấu tạo nên câu nói, chẳng hạn câu: Ngôi nhà rất
đẹp
Trang 232 Cấu tạo của âm tiết tiếng Việt
2.1 Các thành tố cấu tạo nên âm tiết
Mỗi âm tiết tiếng Việt được làm thành bởi các âm vị và một thanh điệu nhất định Số lượng âm vị đoạn tính trong mỗi âm tiết có từ 1 đến 4 Như vậy, ở dạng đầy đủ nhất, cấu tạo của âm tiết tiếng Việt như sau:
Mô hình cấu tạo âm tiết Thanh điệu (5) Phụ âm
đầu (1)
Vần
Âm đệm (2)
Âm chính (3)
Âm cuối (4)
Mô hình cấu tạo âm tiết như trên cho ta thấy, mỗi âm tiết gồm hai bậc:
Âm tiết
Bậc I : Âm đầu Vần Thanh điệu
Bậc II: Âm đệm Âm chính Âm cuối
Bậc I: âm đầu, vần, thanh điệu
Bậc II: âm đệm, âm chính, âm cuối
Mỗi thành tố có vai trò riêng của mình đối với âm tiết:
+ Âm đầu: có vai trò mở đầu cho âm tiết và do các âm vị phụ âm đảm
nhiệm
+ Âm đệm: có vai trò trầm hóa âm sắc của âm tiết (nhờ tính chất tròn môi
của âm đệm) Âm đệm do bán nguyên âm /w/ đảm nhiệm
+ Âm chính: hạt nhân (nòng cốt), thể hiện âm sắc cơ bản của âm tiết Âm
chính do các âm vị nguyên âm đảm nhiệm
+ Âm cuối: có vai trò kết thúc âm tiết và do các phụ âm hoặc bán nguyên
Trang 24âm đệm, âm chính, âm cuối, thanh điệu.Trong đó, âm chính và thanh điệu luôn có mặt trong âm tiết, âm đầu, âm đệm, âm cuối có thể có hoặc vắng mặt trong âm tiết Bất cứ một âm tiết nào trong lời nói của người Việt cũng có cấu tạo thuộc một trong tám dạng sau đây:
1 Đ đC ctb , ví dụ: toán, quyết, quyên, tuân, hoen,…
2 Đ – C cth , ví dụ: nam, bắc, ngang, lan, trong…
3 – đ C cth , ví dụ: oai, uất, uyên, uân, uych…
4 Đ đ C - th , ví dụ: hoa, quý, huơ, huệ, qua…
5 Đ – C - th , ví dụ: ta, mẹ, ru, bế…
6 - - C cth , ví dụ: an, ít, ai, au, ao,âp, ong óc…
7 - đC -th , ví dụ: òa, uy, uê…
8 - - C - th , ví dụ : u, à, ế, ở…
* Chú thích: Đ (âm đầu), đ (âm đệm), C (âm chính), c (âm cuối), th (thanh điệu)
2.2 Phân loại âm tiết
Dựa vào sự có mặt hay vắng mặt của âm cuối và dựa vào loại âm vị xuất hiện ở vị trí âm cuối, có thể phân loại âm tiết thành các dạng sau:
- Âm tiết mở: là âm tiết không có âm cuối: nhà quê, hoa huệ, mùa mưa …
- Âm tiết nửa mở: là âm tiết có âm cuối là bán nguyên âm /i, u/: ngày mai,
3 Số lượng âm tiết
Hiện nay, tiếng Việt đang dùng 155 vần (xem Tiếng Việt lớp 1) để kết hợp với phụ âm đầu tạo ra các âm tiết
Tính trên số lượng lý thuyết, số lượng vỏ âm tiết có thể tạo ra tiếng Việt là:
21 phụ âm đầu x 155 vần x 6 thanh điệu = 19530 âm tiết
Nhưng trong thực tế phát âm, hiện nay có nhiều vỏ âm tiết chưa được dùng
do chỗ: Thứ nhất, ở loại âm tiết khép chỉ có thanh sắc hoặc thanh nặng Thứ hai,
một số phụ âm môi / m, b, v, f / không kết hợp với âm đệm
Do hầu hết các âm tiết tiếng Việt đều tự thân mang nghĩa, chúng được dùng hoặc để làm hình vị cấu gạo nên từ phức hoặc tự bản thân là vỏ âm thanh của từ đơn tiết nên từ số lượng hàng vạn âm tiết như trên, có thể tạo ra một vốn từ hết sức phong phú cho tiếng Việt chúng ta
Trang 25B HƯỚNG DẪN TỰ HỌC
I Những nội dung chính cần nắm
1 Nắm được các đặc điểm của âm tiết tiếng Việt
2 Nắm vững cơ chế cấu tạo âm tiết tiếng Việt
II Câu hỏi và bài tập
1 Tính độc lập cao của âm tiết tiếng Việt được bộc lộ như thế nào ?
2 Vẽ mô hình cấu tạo âm tiết và thuyết minh về mô hình cấu tạo âm tiết đó
3 Ứng với mỗi công thức cấu tạo âm tiết sau đây, lần lượt viết 5 âm tiết có nghĩa:
Đ đC c ; đ C c , Đ C c, Đđ C , ĐC, đ C , C c , C
4 Phân tích cấu tạo của các dãy âm tiết sau:
a à, á, ở, a, ưa, ua, ia
b uê, oa, uy, oe, uya
c uyên, uyết, oang, oan, oen, uych, oai, uân, uýt
d quý, qua, quýt, huy, huơ, huệ, huân, họa, choắt, hoen
e kiến, quyết, khuya, múa, mía, thua, muộn, dương, mưa
5 Phân loại các âm tiết trong bài thơ sau:
Trung thu trăng sáng như gương
Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng
Sau đây bác Viết mấy dòng
Gửi cho các cháu tỏ lòng nhớ thương
(Hồ Chí Minh Thư trung thu)
Trang 26HỆ THỐNG ÂM VỊ TIẾNG VIỆT
A NỘI DUNG BÀI HỌC
Trong bài này, chúng ta sẽ tìm hiểu về hệ thống ngữ âm của tiếng Việt được
thể hiện qua các đơn vị đoạn tính và các đơn vị siêu đoạn tính, cũng như tìm hiểu
về hiện tượng biến âm trong lời nói tiếng Việt
Các đơn vị đoạn tính nói đến ở đây là các âm vị được xác định trong cấu tạo
của âm tiếng Việt Đó là: âm đầu, âm đệm, âm chính và âm cuối Thanh điệu là
hiện tượng ngôn điệu gắn với việc phát âm của mỗi âm tiếng Việt và có vai trò cấu tạo, vai trò phân biệt nghĩa như các âm đoạn tính nói trên Do đó, có thể xem thanh
điệu như một loại âm vị đặc biệt: âm vị siêu đoạn tính
có chức năng mở đầu âm tiết, tạo âm sắc cho âm tiết lúc mở đầu
b Số lượng
Theo giải pháp âm vị học (được nhiều nhà nghiên cứu hiện nay chấp nhận), trong tiếng Việt hiện đại có 21 âm vị âm đầu.(những phụ âm được sử dụng và thể hiện trên chữ viết) Ngoài ra còn có thể kể thêm một số quan điểm cho rằng tiếng
Việt có 23 phụ âm Các âm tiết: oái ăm, êm ái, yếu ớt…được cho là có có phụ âm
tắc thanh hầu /?/ nhưng không được thể trên chữ viết Quan niệm này chưa phản ánh đầy đủ các hiện tượng ngữ âm tiếng Việt thể hiện trên chữ viết và sự biến đổi của ngữ âm tiếng Việt Ngoài ra, tác giả Hoàng Thị Châu còn thừa nhận âm vị /p/
là một phụ âm trong danh sách phụ âm đầu tiếng Việt Tuy nhiên việc thừa nhận /p/ như một âm vị phụ âm đầu cần được xem xét thêm vì phụ âm này chỉ xuất hiện
trong một số lượng ít những từ chỉ địa danh và tên riêng (Pắc Bó, Sa Pa, Pa Cô…) hoặc trong các từ phiên âm: Pa ri, đèn pin, pô pơ lin …
1.2 Miêu tả hệ thống âm đầu
Để miêu tả âm vị phụ âm đầu người ta thường dựa vào hai tiêu chí: phương thức cấu âm và vị trí cấu âm
* Theo phương thức cấu âm, có thể phân phụ âm đầu thành:
- Phương thức tắc: luồng hơi bị cản trở hoàn toàn sau đó mới thoát ra Tuỳ
Trang 27- Phương thức xát: Luồng hơi bị cản không hoàn toàn nên luồng không khí
phải lách qua một khe hẹp do hai bộ phận cấu âm tạo ra và cọ xát với thành của khe hẹp đó mà tạo ra âm xát
Luồng hơi qua khe hẹp ngay giữa đường thông ra miệng ta có phụ âm xát Luồng hơi bị chặn ngay ở giữa miệng do đàu lưỡi hạ xuống, luồng hơi lách qua một bên hay hai bên lưỡi tạo nên âm bên: / l /
* Theo vị trí cấu âm: Cùng một phương thức cấu âm, do chỗ cản khác nhau ,
người ta có thể chia phụ âm thành: phụ âm môi, phụ âm lưỡi, phụ âm họng Trong mỗi loại lại có thể tiếp tục phân thành những loại nhỏ hơn Ngoài hai tiêu chí trên,
có thể dựa vào tiêu chí cấu âm học, để chia phụ âm thành phụ âm hữu thanh và vô thanh
Bảng miêu tả phụ âm đầu tiếng Việt
Vị trí phát âm
Cách phát âm
Thanh hầu
Môi Răng
Đầu
Mặt Cuối
Răng Ngạc cứng
Tắc Ồn
Hữu thanh Không
Ví dụ: /s / + xát – vô thanh /s / + xát – vô thanh
+ đầu lưỡi – răng + đầu lưỡi – quặt
1.3 Sự thể hiện trên chữ viết của hệ thống âm đầu theo phiên âm quốc tế
Các âm vị phụ âm đầu tiếng Việt có hình thức kí âm quốc tế, sự thể hiện tên chữ viết như sau:
Thứ tự Âm vị Chữ viết Thứ tự Âm vị Chữ viết
Trang 28Thứ tự Âm vị Chữ viết Thứ tự Âm vị Chữ viết
* Có 17 âm vị đầu được viết bằng một cách duy nhất, trong đó:
- 11 âm vị đầu sau đây được viết bằng một chữ cái (để trong dấu ngoặc
đơn): /b/( b ), /m / (m), /n / (n), /t / (t), /d / (đ), /v/ v, /s/ (x), / s / (s), /z / (r), /l / (l)
và /h / (h)
- 6 âm vị đầu sau đây được viết bằng một nhóm hai chữ cái (để trong dấu
ngoặc đơn): /t’/ (th), /t / (tr), /f / (ph), /c / (ch), / / (nh), /x / (kh)
* Có 4 âm vị đầu có hơn một cách viết chính tả hiện nay:
- Âm đầu // có hai cách viết sau:
+ Viết bằng nhóm 3 chữ cái ngh khi âm tiết có âm chính là các nguyên âm hàng trước /i, e, ε, ie /.Ví dụ: nghi, nghề, nghé, nghiêng…
+ Viết bằng nhóm 2 chữ cái ng: khi âm tiết có âm chính là các nguyên âm
hàng sau Ví dụ: ngửi, ngủ, ngà, ngắn, ngáy, người, ngồi, ngó
- Âm đầu /z / có 2 cách viết sau:
+ Viết bằng chữ cái d Ví dụ: dẫn dắt, dãi dầu, dây dưa, dấu chấm, dân dã… + Viết bằng nhóm hai chữ cái gi.Ví dụ: giãy giụa, giặc giã, giòn giã…
- Âm đầu / /có hai cách viết sau:
+ Viết bằng chữ cái gh sau các nguyên âm hàng trước / i, e, ε, ie /
+ Viết bằng nhóm hai chữ cái g: khi kết hợp với các nguyên âm dòng sau
Ví dụ: gà, gáy, gần, gợn, gươm, gụ, guồng, gông, gọi…
- Âm đầu /k / có 3 cách viết như sau:
+ Viết bằng chữ cái k khi đứng trước các âm chính là các nguyên âm dòng
trước Ví dụ: kim, kể, kẻng, kiên…
+ Viết bằng chữ cái q khi âm tiết có âm đệm Ví dụ: quế, quẻ, quân, quan…
Trang 291.4 Một số lỗi phát âm về âm đầu ở các địa phương
- Vùng Bắc Bộ:
+ Hầu hết các địa phương phát âm /t / (tr) thành /c / (ch)
+ Một số địa phương (Hà Nam, Nam Định) phát âm / n / (n) thành /l / (l) + Một số nơi khác (Hải Dương, Hưng Yên) phát âm /l / (l) thành /n / (n)
- Vùng Nam Bộ phát âm /v/ (v) thành /z / (d, gi)
2 Âm đệm
2.1 Vị trí, số lượng
Tiếng Việt chỉ có một âm đệm (ở vị trí 2 trong mô hình cấu tạo âm tiết), đó
là bán nguyên âm /w/ Âm đệm có chức năng làm trầm hoá âm sắc của âm tiết (so với âm tiết không có âm đệm) Ví dụ: tan – tuân, lan – loan…
Trong âm tiết tan, nguyên âm /a / là âm chính, giữ vai trò hạt nhân của âm tiết và đứng ở đỉnh âm tiết trong sơ đồ phát âm Trong âm tiết tuân, /w/ là âm đệm, nó
nằm trên sườn đường cong đi lên của cấu tạo âm tiết, có chức năng làm trầm hoá
âm sắc của tuân (phát âm với động tác tròn môi)
Ví dụ: Âm vị âm đệm /w/ có các nét khu riêng biệt giống như âm vị nguyên
âm chính /u / (hàng sau, độ mở hẹp, tròn môi) nhưng được phát âm và lướt đi so với nguyên âm /u /
2.2 Sự thể hiện của âm vị âm đệm trên chữ viết
Âm vị âm đệm /w/ có hai hình thức thể hiện trên chữ viết:
- Viết là “o” khi âm đệm /w/ đứng trước các nguyên âm có độ há hơi rộng và rộng /a, ă, ε / Ví dụ: hoang, hoa, ngoằn ngoèo, loắt choắt…
- Viết là “u” khi âm đệm /w/ đứng trước các nguyên âm có độ há hơi hẹp, hẹp: (/ i / (i, y), (â), (ơ), u, e (ê)/
Đứng sau / k / (q), âm đệm đồng loạt ghi bằng con chữ u
Ví dụ: huấn, tuân, huy, thuý, huơ, thuở, thuế, huệ…
quang, quyết, qua, quyện, quê, quen, quắt…
2.3 Sự phân bố âm đệm trong tiếng Việt
Âm vị đệm không xuất hiện trong các phụ âm môi [m, n, f, v] trừ một vài
trường hợp phiên âm từ nước ngoài như xe buýt, thùng phuy, khăn voan…
Âm đệm cũng ít có mặt trong âm tiết có âm đầu là phụ âm /n, / (g, gh) Ta
chỉ gặp một vài âm tiết: gái góa, noãn bào
3 Âm chính
3.1 Vị trí, số lượng
Tiếng Việt có 16 âm vị luân phiên xuất hiện ở vị trí thứ 3 trong âm tiết, thứ hai trong vần, với vai trò hạt nhân của vần, là đỉnh của toàn âm tiết, quyết định âm sắc của cả âm tiết
Trang 30Âm chính bắt buộc phải có trong mỗi âm tiết Nguyên âm có thể đứng ba vị trí khác nhau trong cấu tạo âm tiết nhưng ở vị trí đó chúng là những âm vị riêng biệt vì chức năng của chúng khác nhau: khoai /xwai/ trong đó /w, a, i/ là 3 âm vị ở
- Nhóm nguyên âm hàng trước, không tròn môi /i, e, ie, ε /
- Nhóm nguyên âm hàng sau, tròn môi / u, uo , o, /
- Nhóm nguyên âm hàng sau, không tròn môi /a, ă, o /
- Nhóm nguyên âm rộng / a, ă /, nhóm nguyên âm hơi rộng /ε, ε /
Ngoài ra có thể còn căn cứ vào độ dài, độ ngắn và chia chúng thành:
- Nhóm nguyên âm dài và ngắn: ε / ε, a / ă…
Ví dụ: /ε/ trong anh ách là nguyên âm ngắn (ε / ε)
/ / (o) trong ong óc, oong oóc là nguyên âm ngắn, o trong có, lo là nguyên âm dài / / (ơ) nguyên âm dài trong ơn, sơn
/ / (â) là nguyên âm ngắn trong ân, sân
- Nhóm nguyên âm đôi: / ie, uô, /
Nguyên âm đôi âm vị học là một tổ hợp hai nguyên âm gắn liền nhau nhưng chỉ có giá trị một âm vị, do đó chỉ chiếm một vị trí trong mô hình cấu tạo của âm
tiết Có thể chứng minh điều này qua cách nói lái của người Việt: lươn lẹo leo
lượn, Trường Sơn trờn sương Trong cách nói lái này, cả hai yếu tố của nguyên
âm đơn cùng đổi chỗ cho một nguyên âm chứ không bị xé lẻ Khả năng kết hợp của các nguyên âm đôi giống như các nguyên âm cùng hàng với chúng Trong hiệp vần thơ, các nguyên âm đôi hiệp vần với những nguyên âm đơn cùng hàng với chúng
Ví dụ: Đau lòng kẻ ở người đi
Lệ rơi thấm đá tơ chia rũ tằm
Trang 31Mỗi âm vị chính tiếng Việt đều được miêu tả bằng cách ghi các nét khu biệt
có được từ trên hai trục (dọc và ngang) ở bảng trên:
/a/ + độ mở rộng /ă/ + độ mở rộng
+ dài + ngắn
3.3 Sự thể hiện trên chữ viết của các âm chính
/ ă/ ă
a
ăn cau / cay
uô
mua thuốc
a Trong số 16 âm vị chính, 10 âm vị sau đây được viết chính tả bằng một cách duy
nhất trong mọi trường hợp xuất hiện:
1 - /e / viết bằng chữ cái ê Ví dụ: lênh đênh, kể lể…
2 - // viết bằng chữ cái e Ví dụ: lèo tèo, leng keng…
3 - / ε / viết bằng chữ cái a (âm vị /ε/ chỉ xuất hiện trong cặp vần anh, ach)
Ví dụ: loanh quanh, đành đạch, khanh khách, lanh chanh, lạch bạch…
4 - /u / viết bằng chữ cái u Ví dụ: lúng túng, lủi thủi…
5 - /o / viết bằng chữ cái ô Ví dụ: sống động, bồi hồi…
6 - / / viết bằng chữ cái o (âm vị / / chỉ xuất hiện trong cặp vần ong, oc) Ví dụ:
ròng rọc, con ong, chong chóng…
7 - / / viết bằng chữ cái ư Ví dụ: tưng bừng, lừ đừ…
8 - / / viết bằng chữ cái ơ Ví dụ: hớn hở, tơi bời…
9 - / / viết bằng chữ cái â Ví dụ: ân cần, rầm rập…
Trang 3210 - /a / viết bằng chữ cái a Ví dụ: lả tả, đàng hoàng,…
b Sáu âm vị chính sau đây có hơn một cách viết chính tả:
Viết bằng hai chữ oo trong một số âm tiết phiên âm Châu Âu
Ví dụ: xoong, bình toong, bù loong, rơ moóc…
Viết bằng chữ o trong các trường hợp khác
Ví dụ: co ro, ò ó o, lon ton…
13 - /ă /: có 2 cách viết:
+ Viết là a khi đứng trước khi các âm cuối là bán nguyên âm
Ví dụ: đau tay, cày, cau, quan, quay…
+ Viết là ă khi đứng trước các âm cuối phụ âm
Ví dụ: ăn năn, ngăn nắp, loắt choắt, thẳng băng, đằm thắm, dằng dặc,…
14 - / / có 2 cách viết:
+ Viết là ưa trong âm tiết mở (không có âm cuối)
Ví dụ: lưa thưa, mưa…
+ Viết là ươ trong âm tiết có âm cuối
Ví dụ: thương lượng, lướt thướt, nườm nượp,
15 - /uo/ có hai cách viết:
+ Viết là ua trong âm tiết mở (không có âm cuối)
Ví dụ: rùa, mùa, múa, chùa, của,…
+ Viết là uô trong âm tiết có âm cuối
Ví dụ: chuồn chuồn, luồng, luộc, luộm thuộm…
16 - /ie / có 4 cách viết chính tả như sau:
+ Viết là ia trong âm tiết mở, không có âm đệm và không có âm cuối
Ví dụ: thia lia, chia lìa…
+ Viết là ya trong âm tiết mở, trước nó có âm đệm
Ví dụ: khuya, giấy pơ – luya…
+ Viết là iê khi không có âm đệm và sau nó là âm cuối
Ví dụ: chiền chiện, thiêm thiếp, kiến riện…
+ Viết là yê trước đó có âm đệm hoặc sau nó có âm cuối là bán nguyên âm
Ví dụ: uyên, thuyền, truyền thuyết, yêu…
Trang 334.1 Vị trí, số lượng
Ở vị trí cuối cùng của phần đoạn tính (vị trí 4) trong mô hình cấu tạo âm tiết tiếng Việt gồm có 6 âm vị phụ và 2 âm vị bán nguyên âm có thể luân phiên xuất hiện với vai trò kết thúc âm tiết Có thể dựa vào bảng sau đây để miêu tả các âm vị
- âm cuối:
Bảng phân loại phụ âm cuối
Điểm cấu âm
4.2 Miêu tả các âm vị âm cuối
- Bán âm cuối /- i/ chỉ xuất hiện sau các nguyên âm hàng sau mà không xuất
hiện sau các nguyên âm hàng trước Ví dụ: túi, tuy
- Bán âm cuối /- u/ chỉ xuất hiện sau các nguyên âm hàng trước mà không xuất hiện sau các nguyên âm hàng sau tròn môi
- Cả hai bán âm cuối /- i/ và /- u/ đều có thể xuất hiện sau các nguyên âm hàng sau không tròn môi (trừ /-u / không xuất hiện sau / / (ơ)
Nói chung các phụ âm cuối tắc và mũi phân bố khá đều đặn sau các âm chính, trừ các trường hợp: /, k/ không xuất hiện sau /i, e / và / / ơ)
4.3 Sự thể hiện trên chữ viết của các âm cuối
a Phụ âm cuối
- Bốn phụ âm cuối /p, m, n, t / chỉ có một cách ghi: p, m, n, t
- Hai phụ âm cuối /- k, - / được ghi bằng 2 cách:
Trang 34+ Phụ âm /k / được ghi bằng chữ cái ch khi xuất hiện sau các nguyên âm
Ví dụ: nhanh, khênh, xinh, tình hình, bình tĩnh…
+ Phụ âm // viết bằng chữ cái ng trong các trường hợp còn lại
Ví dụ: leng keng, tưng bừng, thương lượng, trùng trùng…
b Bán âm cuối
- Bán nguyên âm /-u / được ghi bằng chữ cái o trong eo sèo, tẻo teo, lao đao…
- Bán nguyên âm /-u / được ghi bằng ghi bằng u trong các trường hợp còn
lại: âu sầu, lêu đêu, ỉu xìu, yêu kiều…
- Bán nguyên âm /- i / ghi bằng chữ cái y khi xuất hiện sau hai nguyên âm
ngắn
/ă, /, ghi bằng i trong các trường hợp còn lại
Ví dụ: Viết bằng y trong áy náy, loay hoay, hây hây, quầy quậy…
Viết bằng i trong tơi bời, túi bụi, ai ơi, soi rọi…
4.4 Âm cuối trong phương ngữ, thổ ngữ
a Sự chuyển hóa âm cuối
Trong phương ngữ miền Nam và thổ ngữ Huế, các âm cuối /- t, - n/ chuyển
thành /- k, - /
Ví dụ: mát mác; mặt mạc, làn làng…
b Tác động của âm cuối đối với nguyên âm
- Trong phương ngữ miền Bắc, khi âm cuối /-u/ kết hợp với / (ư) , (ươ) / thì các nguyên âm chính thành /i, iê/
Ví dụ: rượu riệu, hươu hiêu
- Trong phương ngữ miền Nam, các nguyên âm đôi khi kết hợp với âm cuối, ở một số trường hợp đã mất đi yếu tố thứ hai và biến thành nguyên âm đơn
Ví dụ: kiếp kíp; cướp cứp…
Trang 355 Thanh điệu tiếng Việt
5.1 Định nghĩa
Cũng như một số ngôn ngữ khác ở Châu Á, tiếng Việt có hiện tượng thanh
điệu trong hệ thống ngữ âm Thanh điệu là sự nâng cao hay sự hạ thấp giọng nói
trong quá trình phát âm một âm tiết Thanh điệu có tác dụng cấu tạo và phân biệt vỏ âm thanh của các âm tiết mang nghĩa nên được coi là âm vị chân thực
Khác với các âm vị khác, âm vị thanh điệu không có tính chất phân đoạn như các âm vị âm đầu, âm đệm, âm chính và âm cuối và phải được thể hiện đồng thời
với các âm vị khác Vì thế thanh điệu được coi là loại âm vị đặc biệt: âm vị siêu
đoạn tính
5.2 Số lượng
Tiếng Việt hiện đại có 6 thanh điệu Trên chữ viết được ghi bằng 5 dấu và một thanh không thể hiện trên chữ viết gọi là thanh không (hay thanh ngang).Thanh không (kí hiệu (1), thanh huyền (2), thanh ngã (3), thanh hỏi (4), thanh sắc (5), thanh nặng (6)
Sự thể hiện chữ viết của các thanh điệu: thanh 1 không có kí hiệu, thanh 2: dấu huyền, thanh 3: dấu ngã (~), thanh 4: dấu hỏi (?), thanh 5: dấu sắc, thanh 6: dấu
nặng
5.3.Phân loại và miêu tả thanh điệu
a Phân loại
* Dựa vào độ cao:
- Các thanh có âm vực cao: thanh không, thanh ngã, thanh sắc
- Các thanh có âm vực thấp: thanh huyền, thanh hỏi, thanh nặng
* Theo đường nét vận động (âm điệu)
- Thanh bằng những thanh có đường nét bằng phẳng (thanh không và thanh huyền)
- Thanh trắc những thanh có đường nét không bằng phẳng (thanh ngã, hỏi, nặng)
b Miêu tả cách đặc tính ngữ âm (nét khu biệt) của các thanh điệu
Các thanh điệu của tiếng Việt phân biệt nhau ở 3 đặc điểm ngữ âm:
- Âm vực: (khu vực thể hiện độ cao ngữ âm của âm tiết)
- Âm điệu: diễn trình biến thiên độ cao ngữ âm trong quá trình phát âm một
âm tiết
- Đường nét: sự thay đổi hướng của độ cao trong khi phát âm một âm tiết Có thể thấy các đặc điểm ngữ âm của các thanh điệu tiếng Việt qua bảng mô tả sau:
Trang 36Âm điệu
Đường nét
Âm vực
Bằng phẳng Không bằng phẳng Đơn hướng Đa hướng Đơn hướng
Có thể hình dung sơ đồ biểu diễn quá trình phát âm một âm tiết (mang
thanh điệu) như sau:
5.3 Khả năng xuất hiện các thanh ở các loại hình âm tiết
a Thanh điệu trong các kiểu âm tiết
Sự phân bố thanh điệu liên quan chặt chẽ với âm cuối Ở những âm tiết có
phụ âm cuối là phụ âm tắc vô thanh /p, t , k/ chỉ có thanh nặng hoặc thanh sắc Các
thanh không dấu, huyền, ngã, hỏi không tồn tại trong các âm tiết này
Ví dụ: thắc mắc, tít tắp, học tập, sạch…
Trong các loại hình âm tiết khác (mở, nửa mở, nửa khép) xuất hiện cả 6 âm tiết
b Thanh điệu trong các vần thơ
Trong các vần thơ truyền thống của Việt Nam, thanh điệu trong hai âm tiết
hiệp vần với nhau được phân bố theo cách cùng âm điệu, cùng bằng hoặc cùng trắc
- Cùng bằng:
Bỏ thuyền, bỏ lái, bỏ dòng trong
Cô lái đò kia đi lấy chồng
Trang 37- Cùng trắc:
Sông Bến Hải bên bồi bên lở
Cầu Hiền Lương bên nhớ bên thương
(Tố Hữu)
c Thanh điệu trong từ láy
Trong các từ láy đôi của tiếng Việt, các thanh không dấu, hỏi, sắc đi với
nhau, các thanh huyền, ngã, nặng đi với nhau (huyền, ngã, nặng – sắc, hỏi,
không)
Ví dụ: vui vẻ, vẽ vời, lơ lửng, đỏ đắn, kệch cỡm, mát mẻ, sạch sẽ, bì bõm…
nghĩ ngợi, nghỉ ngơi, nhẹ nhõm, nhẹ nhàng, lơ lửng, nhỏ nhắn…
5.4 Người Việt ở vùng Bắc Bộ phát âm phân biệt rõ 6 thanh điệu trong các âm tiết
Ở Trung Bộ, có hiện tượng phát âm nhập thanh ngã vào với thanh hỏi Một số nơi ở Nghệ - Tĩnh còn có hiện tượng phát âm thanh ngã thành thanh nặng
5.5 Cách điền thanh điệu trong tiếng Việt
Trong tiếng Việt, bất cứ âm tiết nào cũng có thanh điệu Thanh điệu luôn luôn được đặt trên hoặc dưới âm chính của âm tiết Ví dụ: hoà, hoạ, huệ, quả, thuỷ, của… Trường hợp âm chính là nguyên âm đôi, dấu thanh được đặt trên hoặc dưới
chữ cái thứ nhất của nguyên âm đôi, nếu âm tiết không có âm cuối Ví dụ: kìa, mía,
múa, dừa, dựa, của…Dấu thanh được đặt trên hoặc dưới chữ cái thứ hai của
nguyên âm đôi nếu âm tiết có âm cuối.Ví dụ: quyển truyện, hướng, hường, thuốc,
thuộc…(Trong những trường hợp này, các nguyên âm đôi được xem là một âm vị,
được ghi bằng hai chữ cái)
6 Ngữ điệu tiếng Việt
Ngữ điệu tiếng Việt là biểu hiện sự chuyển động của thanh cơ bản lời nói bằng việc nâng lên hay hạ thấp giọng nói, bằng sự ngừng giọng hay ngắt giọng khi phát âm
Như vậy, ngữ điệu là biểu hiện cho đặc trưng siêu đoạn tính của cả đơn vị câu nói Trong tiếng Việt, ngữ điệu là một trong các phương tiện vật chất của ngôn ngữ được người Việt sử dụng với nhiều vai trò khác nhau
Trước hết, bằng việc ngắt giọng với những độ dài ngắn khác nhau (các chỗ ngắt giọng này tương ứng với dấu chấm, dấu phẩy hoặc dấu chấm lửng,…) Trong dòng chữ viết, ngữ điệu có tác dụng phân chia dòng lời nói thành các đoạn, các câu, các ý, các vế, các thành phần đồng chức đồng dạng bằng việc phân đoạn như thế, nội dung thông báo một mặt hiện rõ ràng, mạch lạc, khúc chiết, mặt khác có mối quan hệ chỉnh thể với nhau
Trang 38Thứ hai, ngữ điệu được dùng như một phương tiện của ngữ pháp, có tác dụng phân biệt một số loại câu khác nhau về mục đích phát ngôn Việc nâng hay hạ giọng ở đầu câu hay cuối câu giúp ta phân biệt các loại câu tường thuật (nâng giọng
ở đầu câu, hạ giọng ở cuối câu) với câu hỏi (hạ giọng ở đầu câu và nâng giọng cuối câu)
Ví dụ :
So sánh:
+ Bộ phim này rất hay (câu tường thuật)
+ Bộ phim này rất hay ? (câu hỏi)
Loại câu cầu khiến (kiểu mệnh lệnh) trong tiếng Việt có sự phối hợp giữa ngữ điệu (nâng giọng đầu câu, hạ giọng cuối câu) với các phụ từ
Ví dụ:
+ Cậu hãy ra Hà Nội ngay!
+ Anh đi đi cho tôi nhờ!
Loại câu cảm thán cũng sử dụng phối hợp giữa ngữ điệu (cao giọng cuối câu) với các hình thái từ như: à, ừ, nhỉ, nhé, với,…
Ngữ điệu giúp cho người Việt biểu hiện (kèm theo nội dung thông báo) những sắc thái cảm xúc đa dạng của mình Chẳng hạn, sự nghẹn ngào xúc động của người nói được biểu hiện bằng sự ngừng giọng giữa chừng câu nói (tương đương dấu chấm lửng giữa câu); hoặc sự chế giễu được biểu hiện bằng cách kéo dài giọng nói ra trong một đoạn hoặc một từ nào đó của câu
Nhìn chung, ngữ điệu là một hiện tượng ngôn điệu gắn với cả dòng lời nói, có nhều tác dụng Song đáng tiếc, đến nay, một mặt do những điều kiện nghiên cứu về mặt ngữ điệu chưa có nhiều tình hình này, một mặt do những điều kiện nghiên cứu trực tiếp lời nói còn hạn chế ở Việt Nam, mặt khác, do trong tiếng Việt, bên cạnh ngữ điệu còn có hai phương tiện ngữ pháp quan trọng và thường dùng hơn, đó là phương tiện trật tự từ và phương tiện hư từ
Trang 39B HƯỚNG DẪN TỰ HỌC
I Những nội dung chính cần nắm
1 Nắm được đặc điểm ngữ âm học của hệ thống âm vị tiếng Việt qua:
a Vị trí, đặc điểm, số lượng, chức năng, sự thể hiện trên chữ viết
b Quan hệ giữa:
- âm đầu với âm đệm
- âm chính, âm đệm với âm đầu
- âm chính, âm cuối với âm đầu
Phân tích sự phân bố của chúng trong cấu tạo âm tiết tiếng Việt
2.Vận dụng những kiến thức lí thuyết về hệ thống âm vị trong tiếng Việt để lí giải
những vấn đề có liên quan đến ngữ âm trong sách giáo khoa tiếng Việt ở tiểu học
II Câu hỏi và bài tập
CÂU HỎI
1 Nêu đặc điểm của hệ thống âm đầu tiếng Việt Ý kiến của anh (chị) về các giải
pháp số lượng phụ âm đầu tiếng Việt
2 Trong hệ thống phụ âm đầu tiếng Việt, đa số các nhà nghiên cứu cho rằng không
có phụ âm /p/, không có phu ậm rung /r / và các phụ âm kép Anh (chị) hiểu vấn đề này như thế nào?
3 Miêu tả các phụ âm đầu tiếng Việt Những phụ âm đầu nào không kết hợp hoặc
kết hợp hạn chế với âm đệm /w/?
4 Hãy thống kê:
- Âm vị phụ âm đầu nào được ghi bằng một chữ cái?
- Âm vị phụ âm đầu nào được ghi bằng nhóm hai, ba chữ cái ghép lại?
5 Âm đệm /w / khác với nguyên âm làm âm chính /u /, /-u / làm âm cuối ở những
điểm nào (về vị trí, chức năng)?
6 Chỉ ra quy tắc thể hiện trên chữ viết của âm đệm /w /
7 Sách giáo khoa Tiếng Việt chủ trương dạy qu gồm / k / ghép với/ w / Cách này
dựa trên cơ sở nào? Những ưu điểm của và nhược điểm của cách dạy này ?
(Ví dụ: qua: qua + an quan, quê: qu + ê quê, quyết: qu + uyêt quyết)
8 Nêu đặc điểm, chức năng, số lượng của âm chính
9 Vẽ hình thang nguyên âm và miêu tả các nguyên âm làm âm chính
10 Vì sao các tổ hợp / ie, uo, / được coi là các âm vị nguyên âm đôi? Trình bày
cách viết chính tả các nguyên âm đôi, cách điền dấu thanh ở nguyên âm đôi
11 Dựa vào bảng phân loại âm cuối, hãy nêu: đặc điểm, chức năng, số lượng của
các âm cuối
12.Chỉ ra sự thể hiện các âm cuối trên chữ viết
Trang 4013 Nếu quy âm đầu và âm cuối vào một danh sách thống nhất, nói cách khác,
không tách thành hai hệ thống âm đầu và âm cuối, có thể chấp nhận được không?
Vì sao?
14 Có người cho rằng trong tiếng Việt không có trọng âm Ý kiến của anh (chị) về
vấn đề này như thế nào?
BÀI TẬP
1 Ghi kí hiệu phiên âm quốc tế trong đoạn thơ sau:
Rễ siêng không ngại đất nghèo
Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù
Vươn mình trong gió tre ru
Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành
Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh
Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm
2 Xác định phụ âm đầu ghi kí hiệu phiên âm quốc tế trong các âm tiết sau: gì,
giêng, giấu diếm, quốc, cuốc, kĩ càng, gớm ghiếc, nghĩ ngợi, rau giền, quanh quẩn
3 Điền các chữ cái thích hợp q, c, k vào các chỗ trống sau và rút ra quy tắc chính tả
âm / k / được thể hiện trên chữ viết:
…ĩ …àng, …uanh …o, cái …uốc, …à …ê, …ua loa, …uống …uýt
…ò …è, …ót ét, ….ua loa, …on ….iến, …ĩ ….àng,
4 Xác định âm đệm trong các âm tiết sau: que củi, cong queo, thủy- thủ- thui-
thua, qua- cua, hoa huệ, nguệch ngoạc, huấn, họa hoằn, khuya khoắt, thuyền quyên
5 Xác định âm chính trong các âm tiết sau: Yêu thương điểm mười, mùa mưa,
chia lìa, guốc, khuya khoắt, quyển truyện, gớm ghiếc, thuỷ thủ, hoa huệ, qua loa, quốc, giếng nước, gì, que củi
6 Xác định âm cuối trong các âm tiết sau: mai – may – mua – mau – mào, sao –
sau - say- sai, lanh canh, yêu kiều, lưa thưa, thấp thoáng, xinh xắn, lách cách
7 Nhận xét sự phân bố thanh điệu trong các âm tiết sau:
- tít tắp, học tập, xuất sắc, lất phất, tấp nập, sạch sẽ, thắc mắc…
- vơ vẩn, vớ vẩn, vẽ vời, bì bõm, ngoan ngoãn, vò võ, sặc sỡ, lững lờ…
8 Điền thanh hỏi – ngã vào các từ láy sau: khấp khênh, khập khiêng, dễ dàng,
lạnh leo, re rúng, rai rác, run rây, sưng sờ, sừng sưng, vui ve, đo dắn, mạnh me,
sô sàng, ranh rang, gióng gia
9 Tìm 4 câu thơ mà các tiếng hiệp vần mang thanh bằng