Phiếu đánh giá kết quả BDTX năm học 2017 2018 Võ Thị Tuyết Ngọc Trang 1 ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI TRƯỜNG TIỂU HỌC TRUNG LẬP THƯỢNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập Tự do Hạnh phúc Củ Chi,[.]
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI
TRƯỜNG TIỂU HỌC TRUNG LẬP THƯỢNG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Củ Chi, ngày 22 tháng 3 năm 2018
PHIẾU ĐÁNH GIÁ Kết quả thực hiện kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên
Năm học 2017-2018
Trình độ chuyên môn : Đại học sư phạm
Nhiệm vụ được phân công : Dạy lớp 4/3
A KIẾN THỨC BẮT BUỘC:
I Nội dung 1: 30 tiết/năm học/giáo viên
1 Thời gian bồi dưỡng:
Từ ngày 02/8/2017 đến ngày 22/9/2017
2 Hình thức bồi dưỡng:
- Chủ yếu tự học qua các tài liệu;
- Học tập trung 01 ngày và 01 buổi tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện
Củ Chi vào ngày 02, 03/8/2017
- Thảo luận chung cả trường vào ngày 04/08/2017
3 Kết quả đạt được:
3.1 Chuyên đề 1 Chỉ thị thực hiện nhiệm vụ giáo dục và đào tạo năm học 2017-2018 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (Chỉ thị số 08/CT-UBND ngày 16/8/2017):
3.1.1 Nhiệm vụ chung:
- Thực hiện có hiệu quả, tiên phong dẫn đầu cả nước về công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo gắn với nâng cao chất lượng quả nguồn nhân lực nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ chất lượng và hiệu quả giáo dục-đào tạo trên địa bàn thành phố; xác định giáo dục và đào tạo là động lực quan trọng để thành phố phát triển bền vững; phấn đấu đến năm 2030, hệ thống giáo dục - đào tạo thành phố được chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập với các nền giáo dục tiên tiến trong khu vực và trên thế giới nhưng vẫn giữ vững được định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc, trong đó tiếng Anh và trình độ công nghệ thông tin tiên phong dẫn đầu cả nước
- Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giảng dạy và học tập, hoàn thiện chương trình học theo hướng hiện đại đáp ứng chuẩn giáo dục quốc tế; phát huy tốt năng lực sáng tạo của người học, phát triển toàn diện đa trí thông minh; gắn liền với thực
Trang 2tiễn; chú trọng giáo dục lối sống, nhân cách, đạo đức, lý tưởng, ý thức khởi nghiệp
và truyền thống cách mạng, ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Bảo đảm
sự hài hòa giữa phát triển giáo dục và chất lượng giáo dục
- Xây dựng xã hội học tập, khuyến khích, tạo điều kiện công bằng và thuận lợi để mọi người dân thành phố được học tập suốt đời, tạo ra nguồn nhân lực tương lai đáp ứng yêu cấu phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội và hội nhập quốc tế của thành phố, góp phần đưa Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm giáo dục - đào tạo chất lượng cao của cả nước và khu vực Đông Nam Á
3.1.2 Nhiệm vụ cụ thể:
- Sở Giáo dục và Đào tạo:Tích cực hoàn chỉnh Dự án “Quy hoạch phát triển giáo dục và đào tạo thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030” nhằm từng bước đưa giáo dục và đào tạo Thành phố tiếp cận giáo dục tiên tiến khu vực và thế giới, đáp ứng yêu cầu hội nhập
- Các sở, ban, ngành Thành phố:Phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo làm tốt các nhiệm vụ chủ yếu đã nêu trên
- Ủy ban nhân dân các quận, huyện: Tiếp tục rà soát, điều chỉnh bổ sung quy hoạch dành quỹ đất cho giáo dục và đào tạo; Đẩy nhanh tiến độ xây dựng trường lớp theo Đề án Quy hoạch mạng lưới trường lớp; Chỉ đạo quyết liệt, phối hợp chặt chẽ với ngành giáo dục để thực hiện tốt công tác quản lý trên địa bàn theo phân cấp
3.2 Chuyên đề 2 Nhận diện những biểu hiện về suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ hiện nay:
Nghị quyết Trung ương 4 khóa II đã chỉ ra 27 biểu hiện về suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, về "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", trong đó:
3.2.1 Những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị (9 biểu hiện)
- Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mac- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
- Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ hoạ theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái
- Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mac - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
- Không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao
- Trong tự phê bình còn giấu giếm, không dám nhận khuyết điểm; khi có khuyết điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng
- Nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghỉ hưu
Trang 3- Duy ý chí, áp đặt, bảo thủ, chỉ làm theo ý mình; không chịu học tập, lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của người khác
- Tham vọng chức quyền, không chấp hành sự phân công của tổ chức; kén chọn chức danh, vị trí công tác; chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó; không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi có khó khăn Thậm chí còn tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho cá nhân một cách không lành mạnh
- Vướng vào "tư duy nhiệm kỳ", chỉ tập trung giải quyết những vấn đề ngắn hạn trước mắt, có lợi cho mình; tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích
3.2.2 Những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống (9 biểu hiện)
- Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình
- Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành
- Kê khai tài sản, thu nhập không trung thực
- Mắc bệnh "thành tích", háo danh, phô trương, che dấu khuyết điểm, thổi phồng thành tích, "đánh bóng" tên tuổi; thích được đề cao, ca ngợi; "chạy thành tích", "chạy khen thưởng", "chạy danh hiệu"
- Quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân
- Quyết định hoặc tổ chức thực hiện gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên ; đầu tư công tràn lan, hiệu quả thấp hoặc không hiệu quả; mua sắm, sử dụng tài sản công vượt quy định; chi tiêu công quỹ tuỳ tiện, vô nguyên tắc Sử dụng lãng phí nguồn nhân lực, phí phạm thời gian lao động
- Tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực
- Thao túng trong công tác cán bộ; chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội Sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình
để trục lợi
- Đánh bạc, rượu chè bê tha, mê tín dị đoan, ủng hộ hoặc tham gia các tổ chức tôn giáo bất hợp pháp Sa vào các tệ nạn xã hội, vi phạm thuần phong, mỹ tục, truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, chuẩn mực đạo đức gia đình và xã hội
3.2.3 Các biểu hiện ''tự diễn biến'', ''tự chuyển hóa'' trong nội bộ
- Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện
"đa nguyên, đa đảng"
Trang 4- Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế "tam quyền phân lập", phát triển "xã hội dân sự" Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai
- Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước
- Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân
- Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi "phi chính trị hoá" quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an
- Móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước
- Đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng
và Nhà nước; thông tin phiến diện, một chiều về tình hình quốc tế, gây bất lợi trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước
- Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học - nghệ thuật Tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng; cổ suý cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hoá, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng
- Có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan Lợi dụng vấn đề "dân chủ",
"nhân quyền", dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa dân tộc và tôn giáo, giữa các dân tộc, tôn giáo với Đảng và Nhà nước
3.3 Chuyên đề 3 Những điểm mới, đáng chú ý của Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể:
Đây là căn cứ để xây dựng dự thảo các chương trình môn học và hoạt động giáo dục
Chương trình tổng thể sẽ được tiếp tục xem xét để ban hành chính thức cùng với các chương trình môn học và hoạt động giáo dục theo kế hoạch
3.3.1 Chương trình tổng thể nêu lên 5 phẩm chất chủ yếu cần hình thành, phát triển ở học sinh là: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm
Về năng lực, chương trình hướng đến 10 năng lực cốt lõi (những năng lực mà
ai cũng cần có để sống và làm việc trong xã hội hiện đại) gồm:
Những năng lực chung được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển: Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
Trang 5Những năng lực chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học, hoạt động giáo dục nhất định: Năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất
Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình giáo dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt (năng khiếu) của học sinh
3.3.2 Hai giai đoạn giáo dục
Chương trình giáo dục phổ thông được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn giáo dục cơ bản (từ lớp 1 đến lớp 9) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (từ lớp 10 đến lớp 12)
Hệ thống môn học và hoạt động giáo dục của chương trình giáo dục phổ thông gồm các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, các môn học tự chọn
Thời gian thực học trong một năm học tương đương 35 tuần Các cơ sở giáo dục có thể tổ chức dạy học 1 buổi/ngày hoặc 2 buổi/ngày
Cơ sở giáo dục tổ chức dạy học 1 buổi/ngày và 2 buổi/ngày đều phải thực hiện nội dung giáo dục bắt buộc chung thống nhất đối với tất cả cơ sở giáo dục trong cả nước
3.3.3 Lựa chọn ngoại ngữ từ lớp 1
Ở cấp tiểu học, các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc bao gồm: Tiếng Việt; Toán; Đạo đức; Ngoại ngữ 1 (ở lớp 3, lớp 4, lớp 5); Tự nhiên và xã hội (ở lớp
1, lớp 2, lớp 3); Lịch sử và Địa lý (ở lớp 4, lớp 5); Khoa học (ở lớp 4, lớp 5); Tin học và Công nghệ (ở lớp 3, lớp 4, lớp 5); Giáo dục thể chất, Nghệ thuật, Hoạt động trải nghiệm (trong đó có nội dung giáo dục của địa phương)
Nội dung môn học Giáo dục thể chất được thiết kế thành các học phần (mô-đun), nội dung Hoạt động trải nghiệm được thiết kế thành các chủ đề Học sinh được lựa chọn học phần, chủ đề phù hợp với nguyện vọng của bản thân và khả năng
tổ chức của nhà trường
Một số môn học đã được đổi tên, một số môn gộp lại thành môn mới, một số nội dung bị bỏ khỏi chương trình (hoạt động tự học có hướng dẫn) một số nội dung được lồng vào hoạt động khác chứ không đứng riêng thành nội dung động lập (nội dung giáo dục địa phương)
3.3.4 Về thời lượng:
Tổng số tiết trong năm học ở các lớp tiểu học giảm đi so với dự thảo trước từ 62-132 tiết/năm, tùy từng lớp
Số tiết học trung bình tuần cũng giảm 2 tiết ở lớp 1, 2 (29 so với 31 tiết/tuần), giữ nguyên ở lớp 3 (31 tiết/tuần) nhưng tăng 1 tiết ở lớp 4, 5 so với dự thảo cũ (32
so với 31 tiết/tuần)
Nội dung đáng chú ý nhất ở cấp tiểu học là môn Ngoại ngữ 1 được đưa vào thành môn học tự chọn từ lớp 1
Ngoài ra, chương trình cũng quy định rõ, cấp tiểu học sẽ thực hiện dạy học 2 buổi/ngày, mỗi ngày bố trí không quá 7 tiết học Mỗi tiết học từ 35 phút đến 40 phút, giữa các tiết học có thời gian nghỉ
Cơ sở giáo dục chưa đủ điều kiện tổ chức dạy học 2 buổi/ngày thực hiện kế hoạch giáo dục theo hướng dẫn của Bộ GD-ĐT
Trang 64.1 Những nội dung vận dụng vào thực tế:
- Chỉ thị thực hiện nhiệm vụ giáo dục và đào tạo năm học 2017-2018 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (Chỉ thị số 08/CT-UBND ngày 16/8/2017)
- Nhận diện những biểu hiện về suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,
"tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ hiện nay
- Những điểm mới, đáng chú ý của Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể
4.1 Cách thức vận dụng:
- Thông qua tiết dạy, họp tổ bộ môn, dự giờ đồng nghiệp
- Tự rút kinh nghiệm, đối chiếu với bản thân trong quá trình công tác
5 Những nội dung khó và những đề xuất về cách thức tổ chức bồi dưỡng
nhằm giải quyết những nội dung khó này (ghi rõ từng nội dung, đơn vị kiến thức
khó, ý kiến đề xuất cho những nội dung khó nêu trên):
Không
6 Tự đánh giá (nêu rõ bản thân sau khi bồi dưỡng đã tiếp thu và vận dụng
được vào thực tiễn công tác được bao nhiêu % so với yêu cầu và kế hoạch)
Bản thân sau khi bồi dưỡng đã tiếp thu và vận dụng được vào thực tiễn công tác được hơn 90% so với yêu cầu và kế hoạch, tự đánh giá 9 điểm ở nội dung 1
II Nội dung 2: (30 tiết/năm học/giáo viên)
1 Thời gian bồi dưỡng:
Từ ngày 12/9/2017 đến ngày 22/11/2017
2 Hình thức bồi dưỡng:
- Chủ yếu tự học qua các tài liệu tập huấn;
- Dự lớp tập huấn do Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Củ Chi cũng như của Phó Hiệu trưởng và giáo viên cốt cán tổ chức tại trường;
- Thảo luận chung cả tổ vào các lần họp tổ
3 Kết quả đạt được:
3.1 Chuyên đề 1 Vận dụng công nghệ thông tin trong việc đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt tại lớp 4/3:
3.1.1 Luyện ngắt, nghỉ hơi đúng chỗ trong câu, đoạn, bài
Việc ngắt giọng đúng, khi đọc do lôgic, do ý nghĩa câu, đoạn thông thường khi viết được thể hiện bằng dấu câu và khi đọc được thể hiện bằng ngắt giọng (gọi
là ngắt giọng logic)
Nhưng ở lớp 4, các bài tập đọc đã nâng lên ở mức độ nhiều bài có câu dài mà không có dấu câu, khi đọc phải tự ngắt giọng logic sao cho phù hợp
Chẳng hạn: Nếu dùng vạch chéo ghi vào vị trí ngắt giọng logic ta sẽ ngắt theo
ký hiệu (/), ở vị trí dấu phẩy hoặc câu dài tự ngắt khi đọc ngắt giọng ngắn (kí hiệu bằng một vạch chéo); ở vị trí dấu chấm ngắt giọng dài hơn (//) Dấu chấm xuống dòng nghỉ dài hơn nữa (///).Đối với bài thơ, việc ngắt giọng không chỉ phụ thuộc vào dấu câu mà còn căn cứ vào tình tiết, nhịp điệu của thơ ca
Để giúp học sinh nắm bắt được cách ngắt giọng logic với các kí hiệu trên một cách nhanh chóng, tôi sử dụng CNTT dùng các hiệu ứng trong powerpoint hoặc bảng tương tác điện tử các em sẽ được quan sát và thực hành đọc trực tiếp trên màn hình rộng gây được sự chú ý, hứng thú và tự giác học tập của các em để sử dụng CNTT hiệu quả, tôi chọn phông chữ, phông nền, màu nền phù hợp, độ sáng vừa phải và cũng không quá tối, nhợt nhạt hay màu sắc quá loè loẹt sẽ rối mắt sao cho
Trang 7phông chữ nổi bật trên màu nền nhã nhặn Những kí hiệu ngắt giọng dùng hiệu ứng đổi màu và xuất hiện cùng một lúc hoặc lần lượt chỉ với một lần nhấn chuột nhưng không quá nhanh (HS sẽ khó nhận biết) hoặc quá chậm (ảnh hưởng đến thời gian)
Biện pháp thực hiện như sau: Giai đoạn đầu, giáo viên đưa ra mẫu câu, đoạn cần luyện đọc đúng, gọi một học sinh đọc, học sinh khác nhận xét, sửa cách đọc hoặc có thể đưa ra cách đọc khác rồi rút ra sự thống nhất chung Sau đó khi các em
đã quen với cách làm này có thể hỏi luôn về cách ngắt câu và nhận xét thống nhất sau đó cho vài em đọc lại
*Ví dụ 1:
Chị Nhà Trò bé nhỏ lại gầy yếu quá, / người bự những phấn/ như mới lột (Dế Mèn bênh vực kẻ yếu – Tô Hoài – TV4, tập 1)
*Ví dụ 2:
Đêm nay/ anh đứng gác ở trại.// Trăng ngàn và gió núi bao la / khiến lòng anh man mác nghĩ tới trung thu/ và nghĩ tới các em//
(Trung thu độc lập – Thép Mới – TV4, tập 1)
*Ví dụ 3:
Mang theo truyện cổ/ tôi đi Nghe trong cuộc sống/ thầm thì tiếng xưa.//
Vàng cơn nắng, trắng cơn mưa/
Con sông chảy/ có rặng dừa nghiêng soi.//
(Truyện cổ nước mình, - Lâm Thị Mỹ Dạ - TV4, tập 1)
*Ví dụ 4: trong bài “Cánh diều tuổi thơ” (Tạ Duy Anh, TV4, tập 1), tôi thiết
kế ngắt giọng lôgic qua câu văn dài như sau:
Tôi đã ngửa cổ suốt một thời mới lớn / để chờ đợi một nàng tiên áo xanh bay xuống từ trời / và bao giờ cũng hi vọng / khi tha thiết cầu xin:”Bay đi diều ơi! Bay đi!
3.1.2 Rèn đọc diễn cảm:
Đọc diễn cảm là hình thức đọc có ngữ điệu phù hợp với nội dung văn bản nhằm truyền cảm được nội dung bài đọc đến với người nghe
Đọc diễn cảm được thực hiện trên cơ sở đọc đúng, đọc lưu loát, trôi chảy rồi
sử dụng ngữ điệu khi đọc (ngắt giọng biểu cảm) Ngữ điệu đọc diễn cảm bao gồm các yếu tố sau:
- Ngắt nghỉ đúng, nhịp điệu phù hợp với nội dung, cường độ đọc (nhấn mạnh hay lướt nhẹ), âm lượng đọc (to hay nhỏ) giọng đọc (lên cao hay xuống thấp) và thay đổi sắc thái giọng đọc
- Cũng tương tự với cách ngắt giọng logic, ở phần này tôi cũng sử dụng các slide trình chiếu với những hiệu ứng đơn giản Riêng phần thể hiện cường độ đọc và các đoạn cần thể hiện sự thay đổi sắc thái biểu cảm dùng kí hiệu gạch chân, đổi màu phông chữ sau đó bằng các hiệu ứng cho xuất hiện lần lượt trên slide thay vì phải mất thời gian viết bảng bằng phấn vừa tốn công mà không mang lại hiệu quả cao
Ví dụ về một số bài đọc thực hành trên lớp:
a Ngắt nghỉ để bộc lộ được ý tứ, nội dung bài học:
- Để diễn tả được tình cảm yêu thương tha thiết của người mẹ Tà Ôi với con
và với cách mạng thể hiện qua lời ru dịu dàng, đằm thắm học sinh phải chú ý cách ngắt nhịp bài thơ như sau:
Em cu Tai/ ngủ trên lưng mẹ ơi/
Trang 8Em ngủ cho ngoan/ đừng rời lưng mẹ/
Mẹ giã gạo/ mẹ nuôi bộ đội/
Nhịp chày nghiêng,/ giấc ngủ em nghiêng/
Mồ hôi mẹ rơi,/ má em nóng hổi/
Vai mẹ gầy/ nhấp nhô làm gối/
Lưng đưa nôi/ và tim hát thành lời:/…
b Nhịp điệu thay đổi lúc chậm rãi, lúc nhanh hơn để phù hợp với nội dung bài đọc:
Ví dụ: Trong bài: Dế Mèn bênh vực kẻ yếu – Tô Hoài, ngắt đoạn như sau:
“Từ trong hốc đá, một mụ nhện cong chân nhảy ra, hai bên có hai nhện vách nhảy kèm Dáng đây là vị chúa chùm nhà Nhện Nom cũng đanh đá, nặc nô lắm Tôi quay phắt lưng, phóng càng đạp phanh phách ra oai Mụ nhện co rúm lại / rồi cứ rập đầu xuống đất như cái chày giã gạo tôi thét:
(nhịp điệu chậm rãi, căng thẳng, hồi hộp)
- Các người có của ăn, của để, bép múp béo míp mà cứ đòi mãi một tí tẹo nợ
đã mấy đời rồi Lại còn kéo bè kéo cánh / đánh đập một cô gái yếu ớt thế này Thật đáng xấu hổ/ Có phá hết vòng vây đi không.”
(nhịp điệu nhanh, mạnh mẽ, dứt khoát, đanh thép như ra lệnh)
c Cường độ đọc nhấn mạnh hay lướt nhẹ, âm lượng phát ra to hay nhỏ Chẳng hạn cũng đoạn trên nhưng khi đọc nhấn giọng ở nhiều từ gạch chân
“ Từ trong hốc đá, một mụ nhện cái cong chân nhảy ra, hai bên có hai nhện vách nhảy kèm Dáng đây là vị chúa trùm nhà nhện Nom cũng đanh đá, nặc nô lắm Tôi quay phắt lưng, phóng càng đạp phanh phách ra oai Mụ nhện co rúm lại / rồi cứ rập đầu xuống đất như cái chày giã gạo Tôi thét :
- Các người có của ăn của để, béo múp béo míp mà cứ đòi mãi một tí tẹo nợ
đã mấy đời rồi Lại còn kéo bè kéo cánh / đánh đập một cô gái yếu ớt thế này Thật đáng xấu hổ/ Có phá hết vòng vây đi không?”
(Dế Mèn bênh vực kẻ yếu – Tô Hoài – TV4, tập 1A)
d Giọng lên cao hoặc xuống thấp: Thường đọc cao giọng ở cuối câu hỏi, câu cảm Chẳng hạn:
Em cu tai ngủ trên lưng mẹ ơi! (đọc cao giọng ở từ “mẹ ơi”)
Có phá hết vòng vây đi không? (cao giọng ở: “đi không”?) (Dế Mèn bênh vực kẻ yếu – Tô Hoài – TV4, tập 1A)
Bằng cách ứng dụng CNTT với những hiệu ứng phong phú đã mang lại hiệu quả rất cao, tạo niềm say mê hứng thú giúp các em diễn cảm tốt hơn
Chẳng hạn slide rèn học sinh đọc diễn cảm trong bài Ga-vrốt ngoài chiến luỹ:
Trang 9Hay ở bài Ga-vrốt ngoài chiến luỹ để minh hoạ cho từ “chiến luỹ” là một từ
cổ rất trừu tượng, nếu chỉ giải thích chung chung bằng lời học sinh không thể hình dung được cụ thể nghĩa từ Tôi khai thác hình ảnh chiến luỹ trên Internet cóp ảnh vào slide cho học sinh quan sát, các em dễ dàng hình dung được:
+ Chiến luỹ được xây dựng kiên cố
+ Chiến luỹ được dựng tạm bằng ụ đất và rào chắn
+ Chiến luỹ được dựng tạm bằng các bao cát
Trang 103.2 Chuyên đề 2 Việc giáo dục đạo đức thông qua các sự kiện thời sự cho học sinh tại lớp 4/3:
Nguyễn Tuấn Minh - Một gương học sinh tiêu biểu Bạn Nguyễn Tuấn Minh học sinh lớp 5C – trường Tiểu học Ái Mộ A, cậu học trò nhỏ, với dáng người cao cao gầy gầy , nước da trắng trẻo và khuôn mặt thông minh, lanh lợi và hóm hỉnh, đôi mắt to tròn sáng long lanh của Minh luôn để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng thầy cô, bạn bè cùng trang lứa Năm năm học dưới mái trường Tiểu học Ái Mộ A, em đềulà cậu học trò gương mẫu, ngoan ngoãn, vượt qua một cách xuất sắc các kì thi, đạt được thành tích cao trong việc học tập cũng như
phong trào Đoàn đội phát động
Tuấn Minh lớn lên tại số nhà 37ngõ 22 phố Ngọc Lâm quận Long Biên Hà Nội Minh luôn nhận được sự chăm sóc ân cần, cách giáo dục đúng mực từ phía gia đình Người gần gũi, quan tâm đến em nhiều nhất chính là mẹ em Với vai trò là một người mẹ, một cô giáo dạy tiếng Anh, một người bạn thân mỗi khi em cần tâm sự, mẹ luôn bên cạnh, chỉ bảo em từ lời ăn tiếng nói đến phương pháp học tập đúng đắn Mẹ
em thường kể về những tháng ngày gian khó của gia đình xưa kia Ngày đó, mẹ em không có thời gian để học, vì thế bây giờ em cần tranh thủ tối đa thời gian rảnh rỗi để tập trung vào việc học Ngoài ra, người cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến niềm đam
mê tiếng Anh của em chính là bố: Bố luôn dạy em cách cư xử với mọi người Đặc biệt Bố đã dạy em những bài hát tiếng Nga, tiếng Anh khi em còn rất nhỏ tuổi Từ việc nghe những giai điệu vui tai đến việc tập phát âm tiếng nước ngoài Minh dần trở nên thích thú với bộ môn Tiếng Anh
Minh luôn nhớ lời dạy của cô giáo: "Học tiếng Anh cân chú ý: bên cạnh việc học ngữ pháp chắc chắn thì việc tập nói tiếng Anh cũng vô cùng quan trọng Học tiếng Anh không phải chỉ để vượt qua các bài thi trên những tờ giấy mà nó cần được
áp dụng vào thực tế cuộc sống Học tiếng Anh là để giao tiếp" Bên cạnh việc tập nói tiếng Anh trong những giờ luyện nói trên lớp, em thường xuyên nghe nhạc tiếng Anh
và hát theo ca sĩ Về nhà, sau những giờ học và làm bài tập các môn, em thường đứng trước gương luyện nói một mình
Bên cạnh chiếc gương trong phòng học, người luôn học cùng Minh chính là
mẹ Tuy mới học lớp 5 nhưng em đã nói tiếng Anh tương đối tốt Mỗi khi đi học về,
2 mẹ con thường giao tiếp bằng tiếng Anh để luyện từ và câu