1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam

195 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thu Hút Và Quản Lý Vốn Đầu Tư Gián Tiếp Nước Ngoài Vào Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thanh Thảo
Trường học Học viện Tài chính
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại luận án
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 195
Dung lượng 2,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những kết quả mới của luận án: 5.1. Về mặt lý luận: - Thông qua nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu khoa học trong nước và ngoài nước, luận án đã xem xét các vấn đề liên quan đến thu hút va quản lý vốn FPI, từ đó xác định được khoảng trống nghiên cứu và đề ra các câu hỏi trọng tâm cần giải quyết. - Luận án nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài: thông qua chính sách, biện pháp và các tiêu chí đánh giá. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút và quản lý dòng vốn FPI; - Luận án thông qua khảo cứu kinh nghiệm của Trung Quốc và Malaysia và rút ra bài học cho Việt nam trong thu hút và quản lý dòng vốn FPI. 5.2. Về mặt thực tiễn: + Dựa trên các nguồn số liệu sơ cấp và thứ cấp, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học để phân tích, đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống tổng thể về chính sách thu hút và quản lý vốn FPI vào Việt Nam trong giai đoạn 2007-2020; + Phân tích thực trạng thu hút FPI tại Việt nam thông qua thị trường chứng khoán, thông qua góp vốn cổ phần; Phân tích thực trạng hoạt động quản lý vốn FPI tại Việt Nam; Đánh giá chung về thu hút và quản lý dòng vốn FPI vào Việt Nam, rút ra những thành công và hạn chế cũng như nguyên nhân của hạn chế. + Luận án đề xuất hệ thống các giải pháp mới, tiên tiến về tăng cường thu hút và quản lý FPI vào Việt nam là có cơ sở khoa học thực tiễn và có tính khả thi.

Trang 1

1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận án là mới và chưa có tác giả công bố trong bất cứ công trình khoa học nào

Hà Nội, ngày 03 tháng 4 năm 2022

Tác giả luận án

Nguyễn Thanh Thảo

Trang 2

2

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

MỤC LỤC 2

DANH MỤC CÁC BẢNG 6

DANH MỤC CÁC HÌNH 7

MỞ ĐẦU 9

1 Tính cấp thiết của đề tài 9

2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu: 10

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

4 Phương pháp nghiên cứu 12

5 Đóng góp mới của luận án 12

6 Kết cấu của luận án 13

CHƯƠNG 1 14

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN 14

CHỦ ĐỀ CỦA LUẬN ÁN 14

1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 14

1.1.1 Nghiên cứu về các vấn đề lý luận liên quan đến thu hút và quản lý vốn FPI 14

1.1.2 Nghiên cứu về hoạch định chính sách thu hút và quản lý vốn FPI vào Việt Nam 18

1.1.3 Nghiên cứu về thực trạng thu hút vốn FPI vào Việt Nam 20

1.1.4 Nghiên cứu về thực trạng quản lý vốn FPI vào Việt Nam 23

1.2 Đánh giá các công trình nghiên cứu đã tổng quan 26

1.2.1 Những điểm đã thống nhất 26

1.2.2 Những khoảng trống nghiên cứu 28

1.3 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu của luận án 29

1.4 Hướng nghiên cứu chủ yếu của luận án 31

Trang 3

3

CHƯƠNG 2 32

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT VÀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI 32

2.1 Cơ sở lý luận về thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài 32

2.1.1 Các khái niệm, đăc điểm và vai trò của dòng vốn FPI 32

2.1.2 Thu hút dòng vốn FPI 40

2.1.3 Quản lý dòng vốn FPI 46

2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút và quản lý FPI 51

2.2 Kinh nghiệm thu hút và quản lý FPI của một số nước và bài học cho Việt Nam 54

2.2.1 Kinh nghiệm Trung Quốc 54

2.2.2 Kinh nghiệm Malaysia 62

2.2.3 Bài học cho Việt Nam 68

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 73

CHƯƠNG 3 74

THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 2007 ĐẾN 2020 74

3.1 Chính sách thu hút và quản lý FPI ở Việt Nam thời gian qua 74

3.1.1 Chính sách thu hút FPI tại Việt Nam 74

3.1.2 Chính sách quản lý FPI tại Việt Nam 79

3.2 Thực trạng thu hút FPI tại Việt Nam 88

3.2.1 Các giai đoạn của dòng vốn FPI vào Việt Nam từ 2007 đến 2020 88

3.2.2 Thu hút FPI trên thị trường chứng khoán 96

3.2.3 Thu hút FPI thông qua góp vốn cổ phần vào doanh nghiệp 116

3.3 Thực trạng hoạt động quản lý FPI tại Việt Nam 120

3.3.1 Phân cấp quản lý dòng vốn FPI 120

3.3.2 Thực trạng quản lý vốn FPI vào và ra khỏi Việt Nam 124

Trang 4

4

3.3.3 Kiểm tra, giám sát dòng vốn FPI trên thị trường chứng khoán: 126

3.4 Đánh giá chung về thu hút và quản lý FPI tại Việt Nam 131

3.4.1 Kết quả đạt được 131

3.4.2 Những tồn tại và hạn chế 136

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 147

CHƯƠNG 4 150

GIẢI PHÁP THU HÚT VÀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 150

4.1 Bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế 150

4.1.1 Bối cảnh quốc tế 150

4.1.2 Bối cảnh kinh tế trong nước 154

4.2 Chủ trương, quan điểm và định hướng thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam 160

4.2.1 Chủ trương của Đảng về thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam 160

4.2.2 Mục tiêu thu hút và quản lý vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 164

4.2.3 Định hướng phát triển thị trường chứng khoán và thu hút, quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài ở Việt Nam thời gian tới 168

4.3 Giải pháp tăng cường thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam 171

4.3.1 Nhóm giải pháp về thu hút vốn FPI vào Việt Nam 171

4.3.2 Nhóm giải pháp về quản lý vốn FPI vào Việt Nam 179

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 183

KẾT LUẬN CHUNG 185

Trang 5

5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BBGA Chỉ số Trái phiếu Tổng hợp Toàn cầu của

Bloomberg-Barclays CBOP Cán cân thanh toán tiền mặt

CEBR Trung tâm nghiên cứu kinh tế và thương mại

CIBM Thị trường trái phiếu liên ngân hàng Trung Quốc

CSRC Uỷ ban quản lý chứng khoán Trung Quốc

FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

FPI Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài

IPO Lần đầu tiên phát hành ra công chúng

MSS Hệ thống giám sát giao dịch chứng khoán

NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần

QFII Chương trình nhà đầu tư tổ chức nước ngoài đủ điều

kiện ROMS Hệ thống giám sát hoạt động của đồng Ringit

UBCKNN Uỷ ban chứng khoán nhà nước

UNCTAD Hội nghị liên hợp quốc về thương mại và phát triển

WGBI Chỉ số Trái phiếu Chính phủ Thế giới

Trang 6

6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Cơ chế đầu tư giành cho nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường vốn Trung Quốc 58 Bảng 3.1: Giá trị giao dịch cổ phiếu của các nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2007- 2016 100 Bảng 3.2: Giá trị giao dịch cổ phiếu của các nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam, giai đoạn 2017-2020 102 Bảng 3.3: Tỷ trọng giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư nước ngoài trên sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh năm 2017 (%) 107 Bảng 3.4: Một số công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư nước ngoài tiêu biểu tại Việt Nam 110

Trang 7

7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Các dòng vốn đầu tư vào Trung Quốc và từ Trung Quốc ra nước ngoài (tỷ USD) 59 Hình 2.2: Đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Trung Quốc 61 giai đoạn 2014 -2020 61 Hình 2.3: Mức độ vốn hoá (tỷ RM) và tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (%) trên thị trường chứng khoán Kuala Lumpur 65 Hình 2.4: Dòng vốn FPI vào thị trường cổ phiếu và trái phiếu Malaysia tính theo quý, giai đoạn 2008-2020 67 Hình 3.1: Các quyết định nới room nước ngoài và ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán Việt Nam 81 Hình 3.2: Dòng vốn FPI vào Việt Nam giai đoạn 2008-2018 (triệu USD) 94 Hình 3.3: Vốn FPI trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ tháng 1/2020 đến tháng 5/2021 95 Hình 3.4: Giá trị giao dịch trái phiếu của nhà đầu tư nước ngoài 97 giai đoạn 2016-2020 (tỷ đồng) 97 Hình 3.5: Cơ cấu các nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp (2019- 2020) 98 Hình 3.6: Số lượng tài khoản các nhà đầu tư nước ngoài, 103 giai đoạn 2004-2019 103 Hình 3.7: Quy mô giao dịch của các nhà đầu tư nước ngoài trên 2 sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội và TP Hồ CHí Minh (tỷ đồng) 105 Hình 3.8: Tỷ suất sinh lời của một số quỹ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 2009-2019 (%) 115 Hình 3.9: Hệ thống giám sát tài chính Việt Nam 121 Hình 3.10: Mô hình tổ chức quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài 122

Trang 8

8

Hình 3.11: Cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam theo quý (2012-2017) (triệu USD) 126 Hình 3.12: Hai hình thức giao dịch trái phiếu doanh nghiệp hiện nay ở Việt Nam 130 Hình 3.13: Những trở ngại khi đầu tư vào Việt Nam 138 Hình 3.14: Các yếu tố dẫn đến thất bại của giao dịch đầu tư ở Việt Nam 139

Trang 9

9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thu hút đầu tư nước ngoài là một nhiệm vụ quan trọng đối với các nước đang phát triển như Việt Nam để bổ sung sự thiếu hụt về nguồn vốn trong nước, thúc đẩy phát triển sản xuất, kích thích tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm và cải thiện đời sống của người dân Cùng với quá trình đổi mới và mở cửa nền kinh tế, thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) càng được đánh giá là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế xã hội FPI có tác động kích thích thị trường tài chính phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng quy mô và tăng cường tính minh bạch của thị trường, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước dễ dàng tiếp cận nguồn vốn mới, cải thiện chất lượng quản trị và cải thiện các mối quan hệ kinh tế quốc tế Các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài bắt đầu quan tâm đến thị trường Việt Nam sau khi Việt Nam thành lập Uỷ ban chứng khoán nhà nước năm 1996, thành lập Trung tâm giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh (2000) và ở Hà Nội (năm 2005) Sau khi Luật chứng khoán ban hành vào năm 2006, có hiệu lực vào năm 2007, FPI vào Việt Nam

có những bước chuyển động tích cực hơn, giúp thị trường chứng khoán Việt Nam minh bạch an toàn hơn, có khả năng hội nhập tốt hơn với các thị trường vốn quốc tế

và khu vực Đặc biệt vào nửa cuối năm 2017, Việt Nam chính thức cho ra đời thị trường chứng khoán phái sinh (ngày 10/8/2017), đánh dấu một kênh đầu tư sinh lời mới cho các nhà đầu tư cá nhân

Sau hơn 10 năm thu hút FPI kể từ khi Luật chứng khoán có hiệu lực, tình hình thu hút FPI đã được cải thiện rõ rệt Lợi ích dễ nhận thấy của dòng vốn FPI ở Việt Nam là nó giúp cho các doanh nghiệp trong nước có thể tiếp cận với các nguồn vốn tiết kiệm ở nước ngoài, tận dụng các nguồn vốn này để đầu tư, giảm bớt các áp lực

về vốn trong quá trình mở rộng sản xuất kinh doanh Đầu tư gián tiếp nước ngoài còn giảm chi phí vay vốn và khiến đầu tư tiếp tục tăng lên, doanh nghiệp ngày càng phát triển Tuy nhiên, dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài cũng chứa đựng nhiều rủi ro

do bản chất của dòng vốn này dễ biến động, đồng thời do việc quản lý dòng vốn này

có những đặc trưng riêng có Mặc dù được đánh giá là điểm đến hấp dẫn dòng vốn

Trang 10

10

FPI, nhưng dòng vốn này vẫn còn ở mức khá khiêm tốn so với khả năng hấp thụ vốn đầu tư của thị trường Việt Nam Triển vọng phát triển của thị trường chứng khoán trong thời gian tới là rất khả quan, nhưng để thu hút được lượng vốn lớn và có chất lượng tốt hơn từ các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài, Việt Nam có rất nhiều việc cần phải làm, đặc biệt trong việc hoàn thiện và cải thiện khung pháp lý liên quan đến FPI, tăng cường quản trị công ty, quản trị rủi ro, minh bạch hoá và công khai hoá thông tin, đồng thời phải nâng cao năng lực quản lý vốn FPI Thu hút và quản lý dòng vốn FPI vào Việt Nam thời gian qua còn gặp nhiều hạn chế, tồn tại cả về cơ chế chính sách, giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút dòng vốn FPI trên thị trường, cơ chế và giải pháp quản lý hiệu quả, tăng cường năng lực quản lý dòng vốn FPI vào Việt Nam để vừa đảm bảo tính bền vững của dòng vốn này, đảm bảo phát huy tác động tích cực của dòng vốn này vào quá trình nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp, vừa đảm bảo quản trị rủi ro do dòng vốn này mang lại Xuất phát từ vấn đề đã nêu, việc lựa chọn đề tài “Thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam” mang tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn

2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Làm rõ những lý luận cơ bản về vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, đặc điểm

và tác động của vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đối với nước tiếp nhận đầu tư

+ Làm rõ các công cụ chính sách chủ yếu trong quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, các nhân tố ảnh hưởng đến việc quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài

+ Từ cơ sở lý luận đã được nghiên cứu, đưa ra khung tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đối với các nước tiếp nhận

Trang 11

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: chính sách, thực trạng và giải pháp thu hút và quản lý vốn FPI tại Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Thời gian: nghiên cứu trong giai đoạn 2007- 2020 và kiến nghị chính sách cho giai đoạn 2021-2030

Năm 2007 là năm đánh dấu Luật chứng khoán bắt đầu có hiệu lực thi hành và

là năm đánh dấu thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu có những biến đổi về chất

và là năm có dòng vốn ngoại đổ vào thị trường chứng khoán tăng rõ rệt Năm 2021

là thời điểm khởi đầu cho Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp mới, vì vậy luận án xin phép dừng thời điểm nghiên cứu trong giai đoạn 2007-2020

+ Không gian: tập trung nghiên cứu thực trạng thu hút và quản lý vốn FPI trên thị trường chứng khoán, bao gồm thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp tại Việt Nam, có tham khảo kinh nghiệm quốc tế của Malaysia và Trung Quốc

+ Nội dung: Nghiên cứu chính sách thu hút và quản lý FPI ở Việt Nam trong giai đoạn 2007-2020; Đánh giá thực trạng thu hút FPI tại Việt Nam; Đề xuất các kiến nghị giải pháp

Trang 12

12

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận trong nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, duy vật lịch sử làm phương pháp luận trong nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của duy vật biện chứng, duy vật lịch sử có tác dụng hướng dẫn, gợi mở cách thức xem xét vấn đề, xem xét vấn đề khoa học theo quan điểm toàn diện, liên hệ phổ biến, quan hệ lịch sử

- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Luận án sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, thống kê, kết hợp sử dụng các phương pháp tổng kết thực tiễn để tìm ra những đặc điểm cụ thể của vấn đề nghiên cứu và tính quy luật của đối tượng nghiên cứu

- Phương pháp thu thập thông tin: luận án chủ yếu sử dụng thông tin thứ cấp, nghiên cứu các tài liệu liên quan đến các lý thuyết về quản lý nhà nước, vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài Kế thừa các nghiên cứu trước đó (luận án, đề tài) để tìm ra các hướng nghiên cứu của mình Các tài liệu thứ cấp chủ yếu được sử dụng là các tài liệu của IMF, OECD, WB, ADB và các tài liệu nghiên cứu trong nước trước đó liên quan đến đề tài

- Phương pháp tổng hợp và phân tích thông tin: đề tài sử dụng các công cụ thống kê, các phương pháp tổng hợp để xác định nội dung thu hút và quản lý đầu tư gián tiếp nước ngoài đối với các nước tiếp nhận

- Phương pháp so sánh: luận án tiến hành so sánh thu hút FPI của Việt Nam với một số nước trong khu vực có điều kiện phát triển kinh tế - chính trị tương đồng với Việt Nam, từ đó đưa ra những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực hiện phân tích

so sánh

5 Đóng góp mới của luận án

- Luận án sẽ góp phần làm rõ khung lý thuyết về thu hút và quản lý vốn đầu

tư gián tiếp nước ngoài, những tác động và tiêu chí đánh giá dòng vốn và quản lý dòng vốn này Từ đó làm cơ sở lý luận để phân tích, đánh giá thực trạng thu hút và quản lý FPI của Việt Nam trong thời gian qua

Trang 13

13

- Luận án sẽ tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng thu hút và quản lý vốn FPI vào Việt Nam trong giai đoạn 2007-2020, từ đó tìm hiểu những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, góp phần đề xuất các giải pháp thu hút và quản lý hiệu quả vốn FPI trong thời gian tới tại Việt Nam

6 Kết cấu của luận án

Luận án ngoài phần Mở đầu, Kết luận và tài liệu tham khảo Dự kiến nội dung chia làm 4 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến chủ đề của luận

án

Chương 2: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về thu hút và quản lý vốn FPI Chương 3: Thực trạng thu hút và quản lý vốn FPI vào Việt nam trong giai đoạn 2007-2020

Chương 4: Một số giải pháp thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam thời gian tới

Trang 14

14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN

CHỦ ĐỀ CỦA LUẬN ÁN 1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

1.1.1 Nghiên cứu về các vấn đề lý luận liên quan đến thu hút và quản lý vốn FPI

Nghiên cứu về khái niệm vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, các tổ chức quốc tế

như UNCTAD (1999), IMF (1993), các nhà khoa học trong nước và nước ngoài, Luật đầu tư của Việt Nam đã đưa ra các khái niệm có điểm giống và khác nhau về đầu tư gián tiếp nước ngoài

Nghiên cứu toàn diện về mối quan hệ liên quốc gia giữa FDI và FPI (Comprehensive Study of the Internationship between FDI & FPI), UNCTAD (1999) [19] đã thực hiện với các nhà quản lý về dòng vốn đầu tư trên thị trường mới nổi vào đầu năm 1997 với mục đích xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các nước này Nghiên cứu khẳng định kỳ vọng về khả năng tăng trưởng kinh tế là yếu

tố quan trọng nhất quyết định đến đầu tư Quy mô thị trường có ảnh hưởng quan trọng, đồng thời giá trị vốn hoá và thanh khoản cao sẽ tạo điều kiện và cơ hội đầu tư tốt hơn; ngoài ra quyết định đầu tư còn phụ thuộc vào biến động của tỷ giá và ổn định chính trị cũng có tác động không nhỏ Nghiên cứu đã chỉ ra các vấn đề liên quan đến vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài tại các thị trường mới nổi, nguyên nhân sự xuất hiện thường xuyên của các cuộc khủng hoảng tài chính; các giải pháp đưa ra tiếp cận dòng vốn dài hạn và hạn chế các dòng vốn đầu ngắn hạn là một trong các nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng; bài học rút ra cho việc ngăn ngừa khủng hoảng là phải nắm bắt được

xu hướng vận động của các dòng vốn đầu tu gián tiếp nước ngoài; theo tuỳ giai đoạn

mà các quốc gia đưa ra các chính sách và thể chế quản lý FPI phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế

Nghiên cứu của Stulz (1999), Dòng vốn đầu tư gián tiếp quốc tế và các thị trường chứng khoán (International Portfolio Flows and Securities Markets) Kết quả chỉ ra: tự do hoá tại các thị trường mới nổi là một trong những nhân tố có ảnh hưởng

Trang 15

15

quyết định đến đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài vào các thị trường nội địa và sự phát triển của các thị trường này Tự do hoá thị trường chứng khoán của một quốc gia sẽ ảnh hưởng tới quyết định của các nhà đầu tư nước ngoài đối với thị trường chứng khoán nội địa, yếu tố làm gia tăng giá trị tài sản nội địa, giảm chi phí vốn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Nghiên cứu của Parthapratim Pal (2006), Đầu tư gián tiếp nước ngoài, phát triển kinh tế và thị trường chứng khoán: nghiên cứu trường hợp Ấn Độ (Foreign Portfolio Investment, Stock Market and Economic Development: A case Study of India), khẳng định vốn FPI thực sự mang lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế, nó cung cấp thêm nguồn lực cho nền kinh tế mà không làm tăng thêm gắng nặng nợ cho đất nước; đồng thời làm tăng hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính cho nước nhận đầu tư; mặt khác FPI còn tác động tích cực tới hoạt động của thị trường vốn trong nước, tạo thêm lực đẩy cho giá chứng khoán trên thị trường nội địa, ảnh hưởng đến hệ số P/E trên thị trường

Jose Antonio Ocampo và Joseph E Stiglitz (2008), Phát triển và tự do hoá thị trường vốn (Capital Market Liberalization and Development, New York, Oxford University Press) [13] đưa ra quan điểm rằng, ở tầm vĩ mô, quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài thì khái niệm quản lý thường được coi như hoạt động kiểm soát lợi ích và phát triển bền vững của các nước liên quan Tác giả đưa ra kết luận: các biện pháp quản lý đổi với dòng vốn vào ra có thể có tác dụng, tuy nhiên các cơ quan quản

lý phải có khả năng thực hiện ngăn ngừa được các kẽ hở của luật pháp, đặc biệt là phòng chống tham nhũng và rửa tiền; kiểm soát ngoại hối và hạn chế dòng vốn vào

là giải pháp tốt nhất để chống lại sự nhạy cảm trong nước đối với dòng vốn quốc tế (điều này đã được minh chứng trong chống khủng hoảng của Trung Quốc và Ấn Độ những năm 90 của thế kỷ XX); Trong khi đó, các quy định về dự trữ bắt buộc không sinh lời và các biện pháp tương tự chỉ có sự ảnh hưởng nhất thời đến dòng vốn vào chính sách lãi suất; các biện pháp kiểm soát nên được coi là công cụ bổ trợ cho các chính sách vĩ mô khác, không nên coi nó là công cụ thay thế chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước

Trang 16

16

Về đặc điểm tác động của FPI đối với nền kinh tế, UNCTAD (1999) [19]

nghiên cứu mối quan hệ giữa dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với dòng vốn đầu

tư gián tiếp nước ngoài, những yếu tố quyết định dòng vốn đầu tư trực tiếp và dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, những chính sách có tính chất khuyến khích dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài ở các nước đang phát triển Feldstein (2000) cho rằng vốn quốc tế giúp các chủ sở hữu giảm rủi ro bằng cách đa dạng hoá hoạt động cho vay và đầu tư, giúp chủ thể tiếp cận với cách điều hành doanh nghiệp, chuẩn hoá quy tắc kinh doanh và hoàn thiện chính sách luật pháp Prasend và cộng sự (2007) cho rằng FPI làm tăng tính thanh khoản của thị trường vốn trong nước và có thể gúp thị trường phát trển hiệu quả hơn, mở rộng hoạt động đầu tư Min Zhu (2011) [14] cho rằng các nguyên tắc của việc kiểm soát dòng vốn đầu tư nước ngoài thuộc chia sẻ giữa các nền kinh tế mới nổi và các nước phát triển, các tổ chức quốc tế trong việc quản lý dòng vốn ở các nền kinh tế mới nổi Ashoka Mody, Antu Panini Murshid (2011) [1] phân tích những lợi ích từ liên kết thị trường tài chính quốc tế, mối quan

hệ giữa dòng vốn và tăng trưởng dài hạn, đánh giá lại một số lý thuyết kinh tế liên quan đến mối quan hệ giữa vốn đầu tư nước ngoài và tăng trưởng kinh tế Jean-Louis Combes, Tidiane Kinda and Patrick Plane (2011) [12] đánh giá tác động của dòng vốn và chế độ tỷ giá linh hoạt đối với tỷ giá của các nước đang phát triển, chú trọng đặc biệt đến tác động của các dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đối với tỷ giá của các nước đang phát triển

Nghiên cứu về các yếu tố quyết định FPI, Đặng Minh Tiến (2013) [92] cho

rằng, môi trường thuận lợi để thu hút FPI bao gồm cả các yếu tố trong nước và nước ngoài, cụ thể là: trình độ phát triển của nền kinh tế, tỷ giá hối đoái, ổn định kinh tế vĩ

mô, mức độ dự trữ ngoại hối, sức khoẻ ngành ngân hàng, tính thanh khoản của thị trường, lãi suất, toàn cầu hoá và khu vực hoá, tự do hoá đầu tư, các biến động trên thị trường thế giới Lê Thị Lan và cộng sự (2015) [64] cho rằng có một số biến số vĩ mô tác động đến FPI bao gồm tốc độ tăng trưởng GDP, lạm phát, tỷ giá hối đoái, lãi suất, cung tiền

Trang 17

17

Nghiên cứu về quản lý FPI ở các nước tiếp nhận, có nhiều quan điểm khác

nhau Sohnke M.Bartram and Gunter Dufey (2001) [17] cho rằng FPI mang lại nhiều rủi ro cho nước tiếp nhận, trước hết là rủi ro về tiền tệ, rủi ro về kiểm soát vốn trên thị trường chứng khoán và nhiều loại rủi ro khác Chính vì vậy, cần phải có cơ chế kiểm soát dòng vốn này, trong đó bao gồm các biện pháp về thuế, kiểm soát ngoại hối, kiểm soát thị trường vốn, cũng như các biện pháp khác mang tính luật pháp như bảo vệ quyền của cổ đông, quy định các vấn đề về công bố thông tin, kiểm soát các giao dịch trên thị trường chứng khoán… Một số nghiên cứu trong nước cũng phân tích các chính sách quản lý dòng vốn FPI Kim Văn Chính (2006) [32] cho rằng quản

lý vốn FPI bao gồm việc xây dựng và thực hiện các chiến lược thu hút FPI, ban hành khung khổ pháp lý và thể chế về FPI, chính sách về FPI, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với hoạt động FPI và giám sát hiệu quả FPI Ciara (2010) [5] cho rằng cần thiết phải quản lý dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài để góp phần ổn định tài chính, đạt mục tiêu tăng trưởng quốc gia Kiểm soát dòng vốn vào có thể thực hiện bằng các biện pháp hình thành tỷ giá ổn định, hạn chế nợ quá mức, giới hạn sở hữu nước ngoài trong một số ngành, áp thuế hạn chế vốn ngắn hạn, tăng cường tính chủ động của các chính sách tiền tệ

Đặng Minh Tiến (2013) [92] cho rằng, chính sách quản lý dòng vốn FPI bao gồm: thuế, kiểm soát ngoại hối, đánh thuế ngoại tệ, ký quỹ, điều tiết thị trường vốn, thực hiện cơ chế giám sát Nguyễn Thanh Huyền (2015) [56] cho rằng quản lý FPI bao gồm một số nội dung chính như hoàn thiện khuôn khổ luật pháp, chính sách, hoạch định chính sách phát triển về FPI, thực hiện chức năng kiểm tra giám sát FPI Hoàng Văn Quỳnh (2016) [78] cho rằng, các nội dung chủ yếu của quản lý nhà nước đối với đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán bao gồm: xây dựng

và ban hành hệ thống văn bản pháp luật về quản lý đầu tư gián tiếp nước ngoài; xây dựng kế hoạch, quy hoạch, chính sách thu hút FPI; xây dựng các biện pháp ngăn ngừa rủi do liên quan đến FPI, quản lý thống kê số liệu về thu hút vốn FPI, xây dựng các chính sách hỗ trợ hoạt động FPI như tỷ giá, quản lý ngoại hối…; giám sát xử lý vi phạm trên thị trường chứng khoán Lê Thị Thuỳ Vân, Vương Duy Lâm (2017) [102] cho rằng để đảm bảo an ninh tài chính quyền gia, các nước mới nổi thường áp dụng

Trang 18

18

các công cụ quản lý dòng FPI sau: các công cụ tiền tệ (lãi suất, tỷ giá, tỷ lệ dự trữ bắt buộc), các công cụ thuế (thuế suất ưu đãi, đánh thuế nhiều lần, áp đặt mức thuế khấu trừ thu nhập), các biện pháp hành chính (hạn chế các khoản đầu tư của các tổ chức đầu tư không cư trú, cấm các khoản đầu tư của người không cư trú, đầu tư của người

cư trú cần được ngân hàng trung ương thông qua trước, áp đặt thời hạn nắm giữ trái phiếu…) Ngoài ra, cần nâng cao sự phối hợp giữa các cơ quan chủ quản trong kiểm soát FPI, chú ý cách thức điều hành chính sách tiền tệ tỷ giá, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm trước những rủi ro trong quá trình tự do hoá tài khoản vốn…

Nhìn chung, các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước phần nào đã làm sáng

tỏ các vấn đề lý luận về thu hút và quản lý FPI Tác giả luận án sẽ kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó, hệ thống hoá các vấn đề lý luận liên quan trực tiếp đến đề tài và hình thành khung phân tích cho luận án

1.1.2 Nghiên cứu về hoạch định chính sách thu hút và quản lý vốn FPI vào Việt Nam

Chính sách đầu tư gián tiếp nước ngoài ở Việt Nam có thể tìm thấy trong các tài liệu, văn bản pháp luật của Việt Nam, điển hình là Luật đầu tư năm 2005; Luật Chứng khoán năm 2006, Quyết định số 238/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ

về tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam; Quyết định 260/2002/QĐ-BKH của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch đầu tư về việc ban hành danh mục các ngành nghề người nước ngoài được mua cổ phần trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh theo quy định của Luật khuyến khích đầu tư trong nước; Quyết định 55/2009/QĐ-TTg về tỷ lệ tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam; Luật đầu tư 2014; Luật đầu tư 2020, Luật chứng khoán 2020, Luật doanh nghiệp và các văn bản pháp lý khác Những tài liệu, văn bản mang tính pháp lý này đề cập rất rõ những ưu đãi, quy định cụ thể cho các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam

Bên cạnh các Luật, quyết định, nghị định liên quan đến thu hút và quản lý FPI vào Việt Nam, có thể tìm thấy một số nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này qua các

ấn phẩm đã xuất bản, luận án tiến sĩ và nhiều bài báo khoa học khác Hoàng Thị

Trang 19

19

Quỳnh Chi (2008) [31] đã phân tích thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật đó đối với nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam, từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý quản

lý dòng vốn FPI trên thị trường chứng khoán

Luận án của Nguyễn Thị Thuận (2009) [90] đã đề cập đến thực trạng hệ thống pháp luật điều chỉnh các hoạt động tổ chức kinh doanh chứng khoán ở Việt Nam, từ

đó đưa ra những khuyến nghị hoàn thiện khuôn khổ chính sách cho tổ chức kinh doanh chứng khoán, trong đó có các tổ chức của các nhà đầu tư nước ngoài

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Hiếu (2011), Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán Việt Nam, Luận án tiến sỹ kinh tế Luận án nghiên cứu một cách khá toàn diện về quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán trên

cả ba khía cạnh: (1) quản lý theo chức năng, (2) quản lý theo yếu tố của thị trường chứng khoán và (3) quản lý theo hoạt động nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán Kết quả nghiên cứu đã cho thấy: để xác định được liều lượng quản lý nhà nước phù hợp với từng giai đoạn cụ thể thì cần phải phân tích được một số nội dung cơ bản sau: xác định mục tiêu quản lý, tạo lập môi trường luật pháp, tổ chức bộ máy quản lý, chính sách và công cụ quản lý, thanh tra, kiểm tra, giám sát và điều hành thị trường; Đồng thời đề xuất một số giải pháp cụ thể trong xác định mục tiêu quản lý nhà nước đối với các cơ quan: Chính phủ, Bộ Tài chính, Uỷ ban chứng khoán Nhà nước; các quan điểm, nội dung về hoàn thiện Luật Chứng khoán, hoàn thiện về tổ chức bộ máy quản

lý nhà nước theo “mô hình độc lập” nhưng có sự phân cấp về chức năng nhiệm vụ giữa các cơ quan; phòng ngừa rủi ro và tăng cường thanh tra, kiểm tra giám sát thị trường chứng khoán

Đặng Minh Tiến (2013) [92] đã phân tích những quy định chung về FPI tại Việt Nam, các chính sách thu hút FPI phân theo hình thức và lĩnh vực đầu tư, các quy định về tỷ lệ sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài… thông qua các luật, quyết định, nghị định đã ban hành của chính phủ từ năm 1987 đến năm 2010 Mặc

dù tác giả chưa đưa ra những đánh giá chính sách thu hút và quản lý FPI, nhưng đã đưa ra những nhận định về việc mở rộng các quy định mang tính chất ưu đãi hơn đối

Trang 20

1.1.3 Nghiên cứu về thực trạng thu hút vốn FPI vào Việt Nam

Thu hút vốn FPI được nhiều tác giả đề cập đến qua các tạp chí khoa học và bài báo Đặng Minh Tiến (2013) cho rằng, chính sách thu hút FPI vào Việt Nam chủ yếu tập trung ở việc hình thành các khuôn khổ pháp lý, phân loại lĩnh vực và hình thức đầu tư, quy định tỷ lệ sở hữu vốn của các nhà đầu tư nước ngoài Thu hút FPI vào Việt Nam phân theo từng giai đoạn: Giai đoạn 1 (1988-1997) là giai đoạn khởi đầu với những điều kiện đầu tư vô cùng rủi ro; Giai đoạn 2 (1998-2002) là giai đoạn Việt Nam chịu tác động của khủng hoảng tài chính châu Á và các quỹ đầu tư gần như hoàn toàn rút khỏi Việt Nam; Giai đoạn 3 (2003-2007) là giai đoạn phục hồi vốn FPI vào Việt Nam nhờ các thể chế và chính sách liên quan đến thị trường chứng khoán được hình thành và dần hoàn thiện; Giai đoạn 4 (2007-2011) là giai đoạn dòng vốn FPI vào Việt Nam chững lại do khủng hoảng kinh tế toàn cầu Việc quản lý vốn FPI ở Việt Nam được thực hiện dưới nhiều hình thức: thành lập các công ty quản lý quỹ đầu tư, quy định về quản lý ngoại hối đối với việc mua bán chứng khoán của các nhà đầu tư, thực hiện các chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt, điều tiết các quy định về chuyển lợi nhuận của các nhà đầu tư nước ngoài về nước

Hoàng Văn Quỳnh (2016) [78] cho rằng FPI vào Việt Nam thời gian qua chủ yếu thông qua các quỹ đầu tư, và các hoạt động giao dịch chứng khoán Từ năm 2007 đến 2009, thu hút FPI vào Việt Nam chịu những tác động không nhỏ của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhưng từ năm 2010 đến nay có những dấu hiệu tăng trưởng mạnh do thị trường chứng khoán cải thiện và kinh tế thế giới phục hồi Dòng vốn này luôn duy trì trạng thái vào ròng, đóng góp đáng kể vào nguồn vốn dài hạn cho nền

Trang 21

21

kinh tế bên cạnh nguồn vốn FDI Thêm vào đó, so với các quốc gia khác trong khu vực, Việt Nam vẫn đang là quốc gia có mức độ thu hút vốn FPI rất thấp, chưa kể đến việc quy mô vốn FPI vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu thực tiễn đang đặt ra đối với nền kinh tế và thị trường chứng khoán Việt Nam

Ngoài các công trình nghiên cứu trên, còn có rất nhiều bài nghiên cứu đăng trên các báo chí chuyên ngành ở Việt Nam, điển hình là các trang web của Bộ tài chính, Uỷ ban chứng khoán nhà nước, Báo Sài gòn giải phóng, Thời báo kinh tế Việt Nam, Báo đầu tư, Tạp chí tài chính, Tạp chí ngân hàng… Kim Hoa (2015) [52] cho rằng mức vốn hóa thị trường chỉ vào khoảng 46 tỷ USD, tương đương 25% GDP Đây chính là minh chứng cho thấy dư địa lớn cho hoạt động đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam Một loạt các DNNN lớn của Việt Nam tham gia Hội nghị như Tập đoàn Dệt may Việt Nam, Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đều mong muốn tìm kiếm các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, tranh thủ thu hút nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài

Trong lĩnh vực mua bán và sáp nhập doanh nghiệp (M&A), bức tranh vốn đầu

tư gián tiếp cũng rất sôi động Nhóm nghiên cứu MAF (2015) [67] cho rằng năm

2014, Việt Nam có trên 300 thương vụ mua bán, sáp nhập (M&A), với giá trị lên tới 4,2 tỷ USD, tăng 15% so với năm 2013 Các thương vụ được diễn ra chủ yếu ở các công ty lớn, có quy mô và tên tuổi trên thị trường, bao gồm giữa công ty Việt Nam với nhau, doanh nghiệp nước ngoài mua doanh nghiệp trong nước Các ngân hàng là lĩnh vực có nhiều thương vụ mua bán và sáp nhập lớn nhất trong năm 2014-2015, tiếp theo là lĩnh vực bán lẻ, bất động sản Nhận định về xu hướng M&A ở Việt Nam thời gian qua, Ngọc Khanh (2018) [61] cho rằng đây không chỉ là một xu hướng đầu

tư tất yếu mà còn rất cần thiết đối với Việt Nam trong bối cảnh hiện tại Theo đó, hình thức này phù hợp với chủ trương cổ phần hoá DNNN của Chính phủ nhằm biến các tài sản đang được sử dụng kém hiệu quả sang có hiệu quả cao hơn; đối với khu vực tư nhân vốn M&A cũng sẽ trở thành lực đẩy để giúp các DN nhỏ thoát khỏi tình trạng “chậm lớn”

Trang 22

22

Một số tổ chức quốc tế cũng có những đánh giá thực trạng thu hút FPI vào Việt Nam thời gian qua UNDP (2018) [98] cho rằng dòng vốn FPI vào Việt Nam tương đối ít, có sự giao động nhiều và sụt giảm trong những năm gần đây Trong cơ cấu các nguồn vốn đầu tư vào Việt Nam năm 2015 tính theo các loại hình, FPI chiếm 0,1%; giảm so với tỷ lệ 1,3% của năm 2011 So với các nước khác trong khu vực, dòng FPI có thể có tiềm năng lớn hơn trong tương lai khi quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp và cải cách thể chế được đẩy mạnh, nhưng trong thời gian hiện tại dòng vốn này rất bấp bênh và khó có khả năng dự báo để quản lý rủi ro đến nền kinh tế vĩ mô Theo UNDP, cần thực hiện các giải pháp để thu hút và quản lý vốn FPI của Việt nam thời gian tới là: (1) đảm bảo môi trường chính sách và kinh tế vĩ mô ổn định; (2) Các thể chế mạnh và minh bạch; (3) cải thiện chất lượng thị trường chứng khoán; (4) Xây dựng thị trường cho trái phiếu doanh nghiệp

Grant Thornton (2018) [46] khi nghiên cứu về đầu tư tư nhân của Việt Nam cho rằng, Việt Nam đứng số 1 về mức độ hấp dẫn đầu tư so với các nước Đông Nam

Á khác trong năm 2017, có triển vọng kinh tế tương đối khả quan trong năm 2018, khiến triển vọng đầu tư tăng lên đáng kể, đầu tư nước ngoài (trong đó có đầu tư gián tiếp) tiếp tục gia tăng, trong đó có tới 62% số ý kiến khảo sát cho rằng sẽ mua ròng chứng khoán trong 12 tháng tới (năm 2018) Nguồn cung chủ yếu từ các giao dịch đầu tư là từ thoái vốn doanh nghiệp, doanh nghiệp tư nhân, thị trường chứng khoán niêm yết, giao dịch mua bán thứ cấp và thoái vốn các doanh nghiệp nhà nước, trong

đó thoái vốn các doanh nghiệp nhà nước được kỳ vọng sẽ đem lại kết quả mua bán

cổ phiếu, trái phiếu nhiều nhất Grant Thornton cũng đề cập đến các yếu tố dẫn đến thành công và thất bại của các giao dịch đầu tư tư nhân ở Việt nam trong năm 2017,

2018

Trong những năm gần đây, vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam tiếp tục tăng cao Dương Công Chiến (2019) [30] cho rằng dòng vốn nước ngoài vào ròng trên TTCK vẫn duy trì ở mức cao (2,75 tỷ USD năm 2018 so với 2,92 tỷ USD năm 2017), thể hiện cầu đầu tư mạnh mẽ của các NĐTNN vào Việt cuối năm 2017 và khoảng hơn 1 tỷ USD tiền mặt Hiện nay, UBCKNN đang tiến hành tháo gỡ vướng

Trang 23

23

mắc về tỷ lệ sở hữu để tăng cường thu hút dòng vốn gián tiếp nước ngoài thông qua việc xây dựng Luật Chứng khoán (sửa đổi); phát triển, đa dạng hóa và gia tăng chất lượng các sản phẩm trên TTCK; tăng cường tính công khai, minh bạch hóa trên TTCK, đảm bảo quyền bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin của nhà đầu tư ngoại; nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp và báo cáo tài chính…

1.1.4 Nghiên cứu về thực trạng quản lý vốn FPI vào Việt Nam

Nghiên cứu về thực trạng và hiệu quả quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài

ở Việt Nam được đề cập tương đối nhiều qua báo chí Việt Nam và qua các công trình nghiên cứu khoa học đăng trên các tạp chí chuyên ngành Nguyễn Văn Hiếu (2007) [49] so sánh sự khác biệt giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư gián tiếp nước ngoài, những tiềm năng và thách thức trong việc thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam, những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài Võ Trí Thành và Phạm Chí Quang (2008) [87] phân tích những nền tảng kinh tế và sự phát triển tài chính của Việt Nam thời kỳ đổi mới, thực trạng phát triển các dòng vốn đầu tư nước ngoài trong đó có vốn đầu tư gián tiếp vào Việt Nam, những phản ứng chính sách của chính phủ trong việc quản lý dòng vốn nước ngoài ở Việt Nam, một số vấn đề đặt ra về mặt chính sách Nguyễn Ngọc Cảnh (2008), Kiểm soát luồng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán

- Kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với Việt Nam, đề tài nghiên cứu khoa học cấp

bộ Đề tài đã nghiên cứu thông qua các mô hình kiểm soát của các nước phát triển ở châu Âu, châu Mỹ, Nhật Bản… từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Đề tài tập trung phân tích chỉ ra các tồn tại hạn chế của thị trường chứng khoán Việt Nam trên các khía cạnh: cấu trúc hạ tầng, khung pháp lý, nguồn nhân lực tình hình kiểm soát luồng vốn FPI, dự báo về khả năng dịch chuyển FPI vào Việt Nam khi Việt Namm hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu Đề tài chỉ ra những thách thức của Việt Nam trong kiểm soát luồng vốn FPI, đề xuất mô hình kiểm soát FPI vào Việt Nam Đồng thời đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm kiểm soát và khuyến khích nguồn FPI đổ vào thị trường chứng khoán Việt Nam trong điều kiện hội nhập Nguyễn Đông Triều (2010) [95] nghiên cứu các giai đoạn thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài

Trang 24

sự linh hoạt trong quy mô vốn đầu tư và chuyển vốn vào và ra khỏi Việt Nam Điều này cũng có thể đem lại rủi ro nếu quy mô vốn FPI vào Việt Nam lớn hơn so với thực

tế hiện nay

Nguyễn Sơn (2011) [80] cho rằng các dòng vốn FPI vào Việt Nam qua thị trường chứng khoán chủ yếu thông qua các định chế quỹ đầu tư chuyên nghiệp và các nhà đầu tư cá nhân với các cơ chế hưởng lợi rất lớn về ưu đãi thuế, giải ngân vốn,

ưu đãi lĩnh vực đầu tư Quản lý dòng vốn FPI có thể chia thành 2 lĩnh vực chính: quản

lý hoạt động đầu tư và quản lý dòng lưu chuyển vốn (quản lý ngoại hối) trong đó trách nhiệm thuộc về 3 bộ là Bộ tài chính (thông qua UBCKNN), Ngân hàng nhà nước và Bộ kế hoạch đầu tư Mỗi bộ có một chức năng khác nhau nhưng đều phải phối hợp để quản lý hiệu quả vốn FPI để trở thành cơ chế quản lý thống nhất

Nguyễn Thanh Huyền (2015) [56] cho rằng, việc quản lý vốn FPI trên thị trường chứng khoán Việt Nam được thực hiện thông qua các bước: ban hành khuôn khổ pháp lý, hoạch định chính sách, thanh gia và giám sát thị trường chứng khoán, đánh giá kết quả thực hiện quản lý vốn FPI trên thị trường chứng khoán Trong công tác thanh tra giám sát thị trường chứng khoán, Việt Nam đã ban hành nhiều quy định, quyết định liên quan đến việc kiểm tra các công ty chứng khoán, các công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư, ngân hàng lưu ký, thực hiện quy định giám sát kiểm tra nội bộ, hoàn

Trang 25

Nhờ các biện pháp, chính sách quản lý vốn FPI ngày càng hiệu quả, vốn FPI vào Việt Nam ngày càng nhiều Đậu Huy (2019) cho rằng Việt Nam đã xây dựng chiến lược và triển khai bài bản việc kêu gọi đầu tư ở các thị trường lớn nhằm đẩy mạnh thu hút FPI vào Việt Nam Trong giai đoạn 2016-7/2018, tổng FPI vào Việt Nam cao gấp 4 lần giai đoạn 2010-2014 Hệ số tín nhiệm quốc gia của Việt nam tăng lên, các thị trường tài chính của Việt Nam đang ngày càng minh bạch và tiệm cận với các thông lệ tiến bộ của thế giới

Một số tổ chức nước ngoài cũng đưa ra những đánh giá về thực trạng quản lý FPI tại Việt Nam Grant Thornton (2018) [46] thông qua cuộc khảo sát lần thứ 7 về đầu tư tư nhân ở Việt Nam đã đưa ra những nhận định về những cơ hội và thách thức đối với kinh tế Việt Nam trong ngắn hạn, cho rằng Việt Nam có mức độ tự tin ngày càng cao về triển vọng đầu tư và tiếp tục là điểm hấp dẫn đầu tư so với các nước láng giềng Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn nhiều trở ngại đầu tư trong đó có những trở ngại

về thiếu minh bạch trong quản lý đầu tư, giới hạn đầu tư nước ngoài trong việc bán

cổ phần doanh nghiệp và đối với một số công ty niêm yết Nhiều vấn đề về quản lý vốn đầu tư vẫn đang tồn tại dẫn đến những thất bại của các giao dịch vốn FPI, trong

đó có những vấn đề thuộc về khác biệt văn hoá doanh nghiệp, thuế, pháp lý, thiếu minh bạch…

Trang 26

26

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về thu hút và quản lý vốn FPI ở Việt Nam trong thời gian qua có khá nhiều, nhưng các công trình nghiên cứu này mới dừng lại ở cấp độ phân tích chính sách, thực trạng thu hút và quản lý FPI, một số khuyến nghị áp dụng trong quản lý và giám sát nguồn vốn này

1.2 Đánh giá các công trình nghiên cứu đã tổng quan

1.2.1 Những điểm đã thống nhất

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề

‘Thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam” tương đối đa

dạng, cung cấp những thông tin, tài liệu cơ bản về các khái niệm, đặc điểm, tính chất của dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, khung khổ chính sách cần thiết để quản lý dòng vốn đó một cách hiệu quả trong phát triển kinh tế ở nước tiếp nhận Vai trò và tác động của dòng vốn FPI cũng được các tác giả đi trước phân tích dưới nhiều góc

độ khác nhau: kinh tế chính trị, kinh tế phát triển, kinh tế quốc tế, tài chính quốc tế… Đây là những tài liệu quan trọng giúp tác giả luận án có cơ sở để xây dựng khung phân tích và các tiêu chí đánh giá đề tài dưới góc độ quản trị tài chính quốc tế Thông qua các công trình nghiên cứu trước đó, tác giả luận án sẽ có cơ sở để hình thành khung phân tích và các tiêu chí đánh giá việc thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam

Thứ hai, các tài liệu nghiên cứu về chính sách thu hút FPI vào Việt nam tương

đối nhiều và đa dạng Các tài liệu này chủ yếu phân tích các văn bản luật pháp, các nghị định, quyết định liên quan đến thu hút và quản lý FPI vào Việt Nam Có thể tìm thấy các tài liệu này thông qua các văn bản pháp luật chính thức của Việt Nam và các nghiên cứu phân tích của các học giả đi trước Các tài liệu này rất đa dạng, phân tích dưới nhiều góc độ khác nhau Khung phân tích chưa được hệ thống hoá, đồng thời những chính sách thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam chưa được phân tích sâu, chưa nêu lên một cách toàn diện những hạn chế về mặt chính sách cản trở đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam như thế nào Nhiệm vụ của tác giả luận án

là hệ thống hoá, logic, phân loại và đánh giá các chính sách và biện pháp thu hút FPI

Trang 27

27

vào Việt Nam theo trình tự thời gian và theo mục tiêu nghiên cứu dưới góc độ tiếp cận quản trị tài chính quốc tế

Thứ ba, các tài liệu nghiên cứu về thực trạng thu hút và quản lý vốn FPI vào

Việt Nam tương đối nhiều Có thể tìm được những số liệu, đánh giá, nhận định về thực trạng thu hút và quản lý vốn FPI vào Việt nam trong giai đoạn 2007-2017 qua các tài liệu của của Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Phát triển châu Á, Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Ủy ban chứng khoán Nhà nước, các sách báo tạp chí trong nước… về tình hình thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài của Việt Nam, tính minh bạch của chính sách trên thị trường chứng khoán, một

số chỉ số chủ yếu trên thị trường tài chính Việt Nam… Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đều có những cách nhìn nhận tương đối giống nhau

về động thái dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài ở các nước đang phát triển trong thời gian gần đây, những tác động của dòng vốn này đối với các nước đang phát triển, đồng thời cũng nêu ra những ảnh hưởng tiêu cực của dòng vốn này khi gặp những cú sốc kinh tế như khủng hoảng, bất ổn định… Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa có những đánh giá mang tính hệ thống hoá về tình hình đầu tư gián tiếp nước ngoài trong thời gian gần đây, chưa có tính cập nhật và đầy đủ về số liệu phân tích, đồng thời những tác động của dòng vốn gián tiếp đối với các nước tiếp nhận còn được phân tích rời rạc, chưa hệ thống Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước cung cấp những nội dung cụ thể về đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam, tuy nhiên số liệu nhỏ lẻ, rời rạc, số liệu của từng cơ quan cung cấp còn vênh nhau khá nhiều, không cập nhật, toàn diện; Chính vì vậy, đây là đề tài hoàn toàn mới, góp phần bổ sung những hạn chế trên đây, đồng thời cung cấp một bức tranh hoàn thiện, cập nhật về hệ thống chính sách của Việt Nam trong thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, thực trạng thu hút vốn và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian qua, những tồn tại và nguyên nhân, kiến nghị chính sách

Kế thừa các số liệu, tư liệu và các công trình nghiên cứu trước đó của các tác giả đi trước, nhiệm vụ của tác giả luận án là từ các tư liệu sẵn có sẽ hệ thống hóa, logic và thống nhất các luận cứ khoa học theo quan điểm nghiên cứu của riêng mình,

Trang 28

28

từ đó có những phát hiện mang tính mới mẻ, nghiên cứu công phu và hệ thống về vấn

đề này Hơn nữa, trong các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước sẵn có, còn thiếu vắng những công trình nghiên cứu mang tính chất tổng quát và toàn diện về thu hút và quản lý vốn FPI vào Việt nam kể từ năm 2007 đến 2020

Chính vì vậy, đề tài sẽ tiếp tục kế thừa, bổ sung các vấn đề lý luận và thực tiễn

về thu hút và quản lý FPI trong giai đoạn 2007-2020, đưa ra những phát hiện khoa học mới để luận giải các vấn đề cần nghiên cứu và đưa ra những kiến nghị hữu ích nhất trong thu hút và quản lý vốn FPI giai đoạn 2021-2030 Đề tài luận án có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

1.2.2 Những khoảng trống nghiên cứu

Còn có khá nhiều khoảng trống nghiên cứu có thể được khai thác cho luận án

Cụ thể là:

- Cách tiếp cận về khung phân tích trong các công trình nghiên cứu trước đó mang tính đa dạng, chứ không tập trung vào vấn đề thu hút và quản lý vốn FPI và quản lý vốn FPI trong khoảng thời gian dài, từ 2007 đến năm 2020 Các công trình nghiên cứu trước đó còn dàn trải, đi theo nhiều cách tiếp cận khác nhau, chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng và chuyên sâu, cần tiếp cận được luận giải và phân tích trong luận án này

- Sự phân chia về các giai đoạn thu hút vốn FPI cũng rất đa dạng, chưa cập nhật đến giai đoạn hiện nay, do vậy chưa tìm hiểu hết được xu hướng vận động của dòng vốn FPI trong giai đoạn trước 2007 và sau năm 2020 đến nay

- Chưa đánh giá một cách toàn diện, hệ thống và logic về các kênh thu hút FPI, chủ yếu qua thị trường chứng khoán, góp vốn cổ phần doanh nghiệp và qua các quỹ đầu tư chứng khoán Do vậy chưa làm rõ được kênh nào hấp dẫn vốn FPI nhất và lĩnh vực nào đang chi phối dòng vốn FPI

- Chưa đánh giá một cách tổng thể việc quản lý hoạt động FPI ở Việt Nam đang thực hiện theo cơ chế nào, cấp độ quản lý như thế nào, theo các chính sách tài chính cụ thể nào… để làm rõ hiệu quả quản lý và hạn chế những tác động tiêu cực

Trang 29

và quản lý vốn FPI trong thời gian tới

1.3 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu của luận án

1) Dòng vốn FPI vào Việt Nam trong thời gian 2007-2020 có đặc điểm như thế nào?

- Dòng vốn FPI tuy có những biến động thất thường, nhưng có xu hướng tăng lên trong cả giai đoạn 2007-2020

- Sự tăng giảm của dòng vốn FPI vào Việt Nam giai đoạn 2007-2020 phù hợp với đặc điểm của dòng vốn này, đó là có tính thanh khoản cao, dễ bị đảo ngược, có tính bất ổn lớn, phụ thuộc nhiều vào các biến động kinh tế vĩ mô và thị trường bên ngoài

2) Chính phủ Việt Nam đã quản lý dòng vốn FPI bằng cách nào và có hiệu quả không?

- Xây dựng và ban hành hệ thống văn bản pháp luật về quản lý hoạt động FPI: Công cụ chính sách, pháp luật mang tính định hướng và điều tiết quan trọng nhất cho các dòng vốn FPI Các văn bản pháp luật cần có để điều chỉnh hoạt động FPI bao gồm luật đầu tư, luật chứng khoán, pháp lệnh quản lý ngoại hối, luật doanh nghiệp

và các quy định khác

- Thực hiện các công cụ quản lý, ngăn ngừa rủi ro liên quan đến FPI: Chính sách tiền tệ, tỷ giá, dự trữ ngoại hối, thuế…

Trang 30

30

- Thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát dòng vốn FPI: Áp dụng cơ chế quản

lý, giám sát các định chế trung gian dựa trên rủi ro theo tiêu chuẩn quốc tế; Áp dụng các chuẩn mực kế toán, kiểm toán quốc tế; các hệ thống quản trị doanh nghiệp, quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ, kiểm soát nội bộ theo thông lệ quốc tế Áp dụng các hình thức kiểm soát vốn khác nhau như: các cơ chế và giám sát thận trọng, các biện pháp hành chính, các quy định về mức dự trữ bắt buộc không lãi suất đối với dòng vốn vào, đánh thuế các giao dịch…Áp dụng hệ thống thông tin để cảnh báo sớm các nguy

cơ khủng hoảng từ dòng vốn FPI, sử dụng các chế tài xử phạt các hành vi gian lận, vi phạm quy định của pháp luật liên quan đến FPI

- Các chính sách, biện pháp quản lý dòng vốn FPI vào Việt Nam giai đoạn 2007-2020 ngày càng hiệu quả hơn, đáp ứng được các mục tiêu thu hút dòng vốn này

và hạn chế các bất ổn do đặc điểm của dòng vốn này mang lại

3) Các vấn đề còn tồn tại trong thu hút FPI ở Việt Nam giai đoạn 2007-2020

là gì?

- Thu hút FPI: lượng vốn FPI tăng giảm thất thường, quy mô vốn nhỏ, thu hút phần lớn các nhà đầu tư châu Á, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực chứng khoán và chứng chỉ quỹ

- Quản lý dòng vốn FPI vào Việt Nam: Có xu hướng ngày càng quản lý tốt hơn, tạo sự minh bạch hoá hơn, có các biện pháp phòng vệ và phòng ngừa rủi ro tốt hơn Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập cần tiếp tục điều chỉnh: thống kê số liệu vốn FPI giữa các cơ quan không khớp, khó kiểm soát và đánh giá tình hình hoặc rủi ro xảy ra; còn chồng chéo; vi phạm thông tin công bố còn nhiều…

4) Việt Nam cần làm gì để có thể thu hút và quản lý vốn FPI hiệu quả hơn trong thời gian tới?

- Tiếp tục bổ sung và hoàn thiện các văn bản chính sách

- Có định hướng dài hạn trong thu hút và quản lý vốn FPI

- Cần giải quyết hiệu quả những tồn tại, hạn chế trong thu hút và quản lý dòng vốn FPI trong thời gian qua

Trang 31

31

1.4 Hướng nghiên cứu chủ yếu của luận án

- Trong phần cơ sở lý luận và thực tiễn, luận án sẽ tập trung xây dựng khung phân tích và các tiêu chí đánh giá về thu hút và quản lý vốn FPI tại các nước đang phát triển, các chính sách cần áp dụng và bài học kinh nghiệm của các nước đi trước dành cho Việt Nam

- Luận án tập trung nghiên cứu các chính sách thu hút và quản lý vốn FPI vào Việt Nam trên góc độ quản trị tài chính quốc tế, từ đó áp dụng để nghiên cứu đánh giá thực tiễn thu hút và quản lý vốn FPI vào Việt Nam trong giai đoạn 2007- 2020, tìm ra những nguyên nhân thành công, hạn chế để làm cơ sở đề xuất kiến nghị chính sách

- Kiến nghị một số biện pháp, chính sách chủ yếu trong thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt nam trong thời gian tới

Trang 32

32

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT VÀ QUẢN LÝ VỐN

ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI

2.1 Cơ sở lý luận về thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài

2.1.1 Các khái niệm, đăc điểm và vai trò của dòng vốn FPI

2.1.1.1 Các khái niệm cơ bản:

- Đầu tư gián tiếp nước ngoài

Theo định nghĩa của UNCTAD (1999), đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) là vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài sang một nước khác để mua cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản, các khoản vay ngân hàng không liên quan đến hoạt động thương mại

Theo định nghĩa của IMF (1993), đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, thông qua quỹ đầu tư chứng khoán và các định chế tài chính trung gian Nhà đầu tư không trực tiếp tham gia hoạt động quản lý đầu tư

Theo định nghĩa của WB (1993), đầu tư gián tiếp nước ngoài là hình thức đầu

tư thông qua việc mua cổ phần ở nước ngoài, trái phiếu nước ngoài, cho vay ngân hàng đối với người nước ngoài

Luật đầu tư Việt Nam trong các lần ban hành mới và sửa đổi đã đưa ra khái niệm đầu tư gián tiếp nước ngoài Mới đây nhất, trong Luật đầu tư (2014) của Việt Nam, đầu tư gián tiếp được định nghĩa là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý đầu tư

Dựa trên các quy định quốc tế về đầu tư gián tiếp nước ngoài và dựa trên định nghĩa của UNCTAD, IMF và Luật đầu tư của Việt Nam và trong phạm vi nghiên cứu

Trang 33

- Thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài

Thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài là việc tạo lập môi trường chính sách, luật pháp, biện pháp cụ thể, hấp dẫn để kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn vào các mục tiêu ưu tiên trong phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài

- Quản lý đầu tư gián tiếp nước ngoài

Quản lý nhà nước: Dưới góc độ khoa học quản lý, có thể hiểu quản lý nhà nước là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển của xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước [51]

Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là việc điều hành để thực thi quyền lực của nhà nước, là những vấn đề thuộc về thể chế, pháp luật, quy tắc để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của nhà nước Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước nghĩa

là việc phối hợp các hoạt động nhiều mặt của các cơ quan có thẩm quyền, trong đó nhà nước sử dụng nhiều phương tiện, công cụ quản lý phù hợp để quản lý các hoạt động được giao nhằm đạt được những mục tiêu đề ra

Trong phạm vi của đề tài, quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài là việc nhà nước sử dụng hệ thống phương tiện, công cụ và phương pháp quản lý phù hợp để quản lý và giám sát các hoạt động đầu tư gián tiếp nước ngoài nhằm mục đích ổn định và phát triển kinh tế xã hội

2.1.1.2 Phân biệt đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) với đầu tư trực tiếp

nước ngoài (FDI)

+ Những điểm giống nhau:

Trang 34

34

Về khái niệm: cả FPI và FDI đều đơn thuần là các hoạt động đầu tư vốn ra nước ngoài, luồng vốn được luân chuyển từ nước đầu tư sang nước tiếp nhận đầu tư FDI và FPI xuất hiện đều do nhu cầu hội nhập quốc tế,

Bên cạnh đó, FDI và FPI đều nhằm mục đích tạo lợi nhuận cho nhà đầu tư Lợi nhuận của nhà đầu tư phụ thuộc vào các kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và

tỷ lệ thuận với số vốn đầu tư Do đó, tình hình hoạt động của doanh nghiệp là mối quan tâm chung của cả hai hình thức đầu tư này

Hơn thế, FDI và FPI đều chịu sự điều chỉnh của nhiều luật lệ khác nhau Mặc

dù các hoạt động này chịu ảnh hưởng lớn từ luật pháp nước tiếp nhận đầu tư, nhưng trên thực tế hai hình thức đầu tư này vẫn bị điều chỉnh bởi các điều ước, thông lệ quốc

tế và luật của bên tham gia đầu tư Do đó, để tạo môi trường đầu tư lành mạnh, tránh những xung đột và tranh chấp không đáng có, các nước nên có sự điều chỉnh luật lệ của mình cho phù hợp với thông lệ quốc tế

+ Những điểm khác nhau:

Thứ nhất, FDI và FPI khác nhau về khái niệm FDI là hoạt động đầu tư trực

tiếp, trong đó nhà đầu tư vừa là người bỏ vốn, vừa là người trực tiếp quản lý điều hành nguồn vốn của mình, có quyền tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp Do

đó, nhà đầu tư đặc biệt quan tâm đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

vì nó liên quan trực tiếp đến lợi nhuận của họ Hay nói cách khác, quyền sở hữu và quyền sử dụng đều thuộc về nhà đầu tư Lợi ích thu được theo lợi nhuận công ty và được phân chia theo tỷ lệ góp vốn FDI thường được tiến hành thông qua TNC hoặc các công ty con của TNC Hoạt động của các dự án FDI có những tác động kinh tế

cụ thể liên quan đến doanh số, doanh thu, lao động, lương bổng, đầu tư vốn cố định

ở một nước cụ thể, cũng như xuất khẩu, tính độc lập của công ty, có sự so sánh với các công ty khác

Trong khi đó, FPI chỉ đơn thuần là hoạt động bỏ vốn, đầu tư vốn vào doanh nghiệp thông qua việc mua bán chứng khoán hoặc những tài khoản có giá khác Nhà đầu tư không trực tiếp tham dự và can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của

Trang 35

35

công ty Lợi nhuận thu được từ việc chia cổ tức hoặc bán chứng khoán thu chênh lệch Tuy nhiên, nếu nắm giữ một tỷ lệ cổ phần nhất định, FPI có thể chuyển thành FDI, nhà đầu tư có quyền ra quyết định đối với công ty mà họ đang bỏ vốn

Như vậy, khái niệm về FDI và FPI cho thấy động cơ, cách thức kiểm soát vốn, thái độ của các nhà đầu tư đối với hai hình thức đầu tư trên là khác nhau Điều này cũng dẫn đến sự khác nhau về mặt chính sách thu hút FDI hay FPI

Thứ hai, FDI và FPI khác nhau về phương thức hoạt động và những tác động

đối với nền kinh tế Đối với hình thức FDI, chủ thể chủ yếu là các công ty xuyên quốc gia (TNC) và những quyết định của họ được dựa trên những cơ hội kinh doanh, những điều kiện kinh tế, tình hình chính trị của nước chủ nhà, tính tương đồng về mặt địa lý- chính trị - văn hóa Cấu trúc tài chính của một chủ đầu tư ra nước ngoài là do TNC quyết định FDI bao gồm những hoạt động và duy trì tính cạnh tranh toàn cầu trong những ngành công nghiệp chủ yếu TNC chịu trách nhiệm chỉ dẫn hoạt động kinh doanh qua biên giới và có những mối quan hệ đặc biệt với các chính phủ của nước nhận đầu tư cũng như nước tiếp nhận đầu tư

Về hình thức FPI, chủ thể tham gia bao gồm các nhà đầu tư nước ngoài (bao gồm đối tượng người không cư trú là tổ chức và cá nhân nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư gián tiếp tại Việt Nam); các ngân hàng được phép tham gia (bao gồm các ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép kinh doanh và hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối theo quy định của pháp luật); các tổ chức tín dụng được phép tham gia (bao gồm tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép kinh doanh và hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối theo quy định của pháp luật); tài khoản vốn đầu tư gián tiếp (là tài khoản thanh toán bằng đồng Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mở tại ngân hàng được phép tham gia để thực hiện các giao dịch thu chi được phép liên quan đến hoạt động đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam)

Tác động của dòng vốn FDI và FPI đối với nước tiếp nhận đầu tư cũng có sự khác nhau đáng kể FDI không chỉ gắn liền với việc di chuyển vốn mà còn đi kèm với hoạt động chuyển giao công nghệ, chuyển giao tri thức, kinh nghiệm, tạo thị

Trang 36

36

trường mới cho cả bên đầu tư và bên tiếp nhận đầu tư FDI thường đi kèm với 3 yếu tố: hoạt động thương mại (xuất-nhập khẩu), chuyển giao công nghệ và di cư lao động quốc tế Tác động của FDI đối với nền kinh tế nước nhận đầu tư vừa mang tính trực tiếp, vừa mang tính gián tiếp, đồng thời là tác động lâu dài Trong khi đó, FPI chỉ đơn thuần là luân chuyển vốn từ nước đầu tư sang nước nhận đầu tư FPI nhìn chung không liên quan đến quyền quản lý kinh doanh và quyền quản lý kinh doanh thường

do bên tiếp nhận vốn đảm nhiệm Tác động của FDI đối với thị trường chứng khoán thường mang tính gián tiếp, trong khi tác động của FPI đối với thị trường chứng khoán là trực tiếp FPI được coi là “bàn tay vô hình” đối với thị trường, có khả năng chuyển các nguồn lực sang lĩnh vực sản xuất hiệu quả nhất, kích thích tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội trên phạm vi quốc gia và quốc tế FPI có thể phục vụ cho các chính sách đầy tham vọng và dám mạo hiểm của các chính phủ Tuy nhiên, FPI cũng khiến các cuộc khủng hoảng tài chính trở nên trầm trọng, đe dọa đến sự ổn định của hệ thống tiền tệ trong nước và quốc tế Khi FPI đầu tư vào thị trường chứng khoán của nước tiếp nhận đầu tư, nó sẽ phối hợp chức năng với thị trường chứng khoán trong nước và tạo ra những tác động cơ bản đối với hoạt động của thị trường chứng khoán, đặc biệt là khi thị trường chứng khoán trong nước còn đang yếu kém

Nhu cầu về ngoại hối trong hai hình thức FDI và FPI cũng hoàn toàn khác nhau Đối với hình thức FDI, các nhà đầu tư không có nhu cầu dịch vụ trao đổi ngoại hối Điều này đều do TNC kiểm soát Trái lại, FPI được giao dịch bằng đồng tiền địa phương (đồng nội tệ), do vậy rất cần đến việc chuyển đổi đồng nội tệ sang đồng ngoại

tệ khi nhà đầu tư có nhu cầu bán Nói tóm lại, nhu cầu về ngoại tệ và số lượng ngoại

tệ ở hình thức FDI và FPI là khác nhau

Điểm nổi bật nhất của FPI là tính bất ổn định Việc bán chứng khoán diễn ra đơn giản hơn nhiều so với việc huỷ bỏ một dự án FDI Do đó, tốc độ luân chuyển vốn FPI cũng cao hơn nhiều so với FDI ĐIều này có thể giúp các nước tiếp nhận tăng tính linh hoạt, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế; nhưng khi dòng vốn rơi vào bất

ổn rất dễ khiến nền kinh tế mất cân bằng, ảnh hưởng lớn đến thị trường tài chính, thương mại, đầu tư và sản xuất Ngược lại, FDI là nguồn vốn bổ sung dài hạn cho

Trang 37

37

nước chủ nhà, không dễ bị rút đi trong thời gian ngắn vì nó gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của dự án Nước chủ nhà sẽ tiếp nhận một nguồn vốn FDI dài hạn, bổ sung cho vốn đầu tư trong nước mà không phải lo trả nợ

Điều kiện tiếp nhận hiệu quả vốn FDI và vốn FPI cũng khác nhau Để thực hiện FPI, cần có một hệ thống tài chính hoạt động hiệu quả Điều này đòi hỏi các nước phải đạt được trình độ phát triển nhất định, có thị trường tài chính và chứng khoán được thành lập với đầy đủ các công cụ và định chế hoạt động Trái lại, FDI có thể luân chuyển từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển, từ các nước đang phát triển sang các nước chậm phát triển, mà không yêu cầu sự ràng buộc phát triển về thị trường tài chính, chứng khoán

2.1.1.3 Đặc điểm của dòng vốn FPI

- FPI có tính thanh khoản cao

Bản chất của FPI là mang lại lợi nhuận cao nhất với mức rủi ro có thể chấp nhận được và nhà đầu tư không quan tâm đến qúa trình quản lý doanh nghiệp và thực trạng sản xuất của doanh nghiệp Chính vì vậy, nhà đầu tư gián tiếp thường quan tâm đến một số yếu tố liên quan đến rủi ro và lợi nhuận của mình, bao gồm: sự thay đổi luật pháp, sự biến động của thị trường chứng khoán địa phương, các yếu tố tài chính như tỷ giá, lãi suất, tính thanh khoản trên thị trường vốn quốc tế, chu kỳ đầu tư, thông tin thi trường, chiến lược và hành vi của các nhà đầu tư….Trong khi thị trường tài chính thường mang tính không ổn định, mỗi yếu tố sẽ tác động đến sự tăng và giảm của dòng vốn và quyết định của nhà đầu tư Do tính thanh khoản cao, dòng FPI thường mang tính ngắn hạn, phụ thuộc vào động thái của thị trường chứng khoán cũng như các tác động của môi trường kinh tế vĩ mô Trong điều kiện thị trường vốn quốc tế có tính thanh khoản tốt, dòng FPI có xu hướng tập trung vào một số quốc gia có nền tảng vững chắc về tăng trưởng GDP, xuất khẩu cao, tiết kiệm trong nước cao, kinh tế

vĩ mô ổn định Tuy nhiên khi dòng vốn dư thừa, nó có thể gây ra sự tăng giá của đồng nội tệ, làm thanh khoản trong hệ thống tài chính trong nước dư thừa, dễ dẫn đến bùng

nổ bong bóng bất động sản và tăng hành vi đầu cơ trong nước Dòng vốn dư thừa

Trang 38

38

cũng gây ra thâm hụt tài sản vãng lai cao liên tục, làm các nhà đầu tư thay đổi thái độ

về sự tin cậy của hệ thống tín dụng quốc gia

- FPI có tính đảo ngược lớn

Tính đảo ngược của dòng vốn FPI thể hiện ở chỗ: hiện tượng bùng nổ dòng vốn FPI sẽ dẫn đến luồng vốn đầu tư vào ồ ạt, vượt quá mức thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai Hiện tượng này sẽ dẫn đến thặng dư cán cân thanh toán, tăng dự trữ ngoại hối, làm mở rộng tín dụng trong nước và tăng tiêu dung và đầu tư trong nước

Do nền kinh tế dư thừa vốn, bong bóng kinh tế bắt đầu xuất hiện Khi có dấu hiệu bất

ổn trên thị trường, chẳng hạn như có dấu hiệu suy thoái kinh tế, tiềm năng lợi nhuận giảm, hoặc một thông tin bất lợi trên thị trường, một số nhà đầu tư sẽ nhanh chóng bán chứng khoán mà họ nắm giữ, thu hồi tiền mặt để đảm bảo an toàn đồng vốn của mình Khi thông tin này bị lan truyền, hiệu ứng domino sẽ xảy ra, các nhà đầu tư khác

sẽ đổ xô rút vốn khỏi thị trường Nếu không có biện pháp kịp thời, sẽ dẫn đến khủng hoảng tài chính và tiền tệ bởi lức này thâm hụt cán cân thanh toán ở mức cao và dự trữ ngoại hối cạn kiệt Khi nhà đầu tư nghi ngờ, họ có thể rút vốn FPI một cách đột ngột và mạnh, hệ thống tài chính của nước tiếp nhận đầu tư bị tác động mạnh và rất

dễ đảo chiều Do dòng vốn FPI rất nhạy cảm với môi trường kinh tế vĩ mô và với các yếu tố quyết định chúng nên khả năng đảo ngược dòng vốn (rút chạy khỏi thị trường) rất dễ xảy ra

- Tính bất ổn lớn:

Dòng vốn FPI có thể tạo ra môi trường đầu tư không ổn định, gây bất lợi cho tăng trưởng và phát triển kinh tế Do đặc tính bầy đàn và tính dễ đảo ngược, khi gặp thông tin bất cân xứng, các nhà đầu tư rất dễ thay đổi mục đích đầu tư từ nơi có tỷ suất lợi nhập thấp sang nơi có tỷ suất lợi nhuận cao hơn hoặc sang nơi có mức độ rủi

ro thấp hơn Do theo đuổi lợi nhuận ngắn hạn và phản ứng nhạy bén của của nhà đầu

tư trước bất kỳ thay đổi nào của thị trường, dòng vốn này thường gặp biến động mạnh, gây ra những tác động tiêu cực đến thị trường chứng khoán và hệ thống tài chính trong nước tiếp nhận Hơn nữa, do tính kết nối trong và ngoài nước, tác động này mang tính lan truyền, từ thị trường ngoại hối sang thị trường chứng khoán, từ thị

Trang 39

39

trường chứng khoán nước này sang thị trường chứng khoán nước khác Thông qua tác động lan truyền này, lòng tin của các nhà đầu tư vào môi trường đầu tư của nước tiếp nhận bị giảm sút, dẫn dễ đến sự tháo vốn ồ ạt qua khỏi biên giới quốc gia hoặc nhóm quốc gia, gây những tác động kinh tế nghiêm trọng mà các quốc gia tiếp nhận đầu tư không thể kiểm soát được ngay lập tức

Từ các đặc điểm trên, có thể thấy:

Thứ nhất, đầu tư gián tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư thông qua hai kênh: 1) mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác; 2) quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian

Thứ hai, các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài không trực tiếp tham gia quản lý

và điều hành các hoạt động sử dụng vốn đầu tư Quyền sở hữu vốn đầu tư thuộc về chủ đầu tư, quyền điều hành hoạt động sử dụng vốn đầu tư thuộc về bên tiếp nhận đầu tư Lợi nhuận thu được từ đầu tư gián tiếp là tỷ suất lợi tức từ đầu tư với kỳ vọng ngắn hạn và ở mức độ rủi ro thấp nhất và phụ thuộc vào độ an toàn của thị trường chứng khoán

Thứ ba, khác với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài có chủ thể đầu tư chủ yếu là các công ty xuyên quốc gia, chủ thể đầu tư gián tiếp nước ngoài thường đa dạng, bao gồm các cá nhân, các nhà đầu tư có tổ chức, các ngân hàng, người môi giới

Thứ tư, thời gian đầu tư của dòng vốn FPI thường ngắn hạn Phạm vi đầu tư gián tiếp được giới hạn bởi các quy định từ nước tiếp nhận đầu tư về tỷ lệ sở hữu vốn

và các quy định khác Dòng vốn FPI yêu cầu sự phát triển và trình độ quản lý thị trường tài chính của nước tiếp nhận đầu tư

Thứ năm, do tính đảo ngược và bất ổn định, dòng vốn này không phải lúc nào cũng đem lại nguồn vốn mới bổ sung cho sự phát triển kinh tế xã hội của nước tiếp nhận và thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính Nó có thể đem lại rủi ro và tác động tiêu cực đối tới nền kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư, do vậy cần phải được quản lý một cách hiệu quả để phát huy các tác động tích cực của dòng vốn này

2.1.1.4 Vai trò của dòng vốn FPI

Trang 40

40

- FPI là nguồn tài chính quan trọng góp phần phát triển kinh tế, bù đắp những thiếu hụt giữa nhua cầu đầu tư và năng lực tài chính của một quốc gia, điều hoà và

góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế

- FPI góp phần tăng thêm nguồn tài chính cho các doanh nghiệp trong nước, giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh, chủ động hơn trong sản xuất và kinh doanh

- FPI nâng cao tính thanh khoản của hệ thống tài chính ngân hàng, góp phần phát triển thị trường tài chính, giúp thị trường chứng khoán thực hiện chức năng phân

bổ vốn hiệu quả hơn Giúp nước tiếp nhận đầu tư phải nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống tài chính – chứng khoán, tạo ra các sản phẩm mới mang tính cạnh tranh hơn, đáp ứng yêu cầu quốc tế và yêu cầu ngày càng cao của thị trường

- FPI mang lại sự phát triển hiệu quả hơn cho thị trường vốn trong nước, khuyến khích sự phát triển của các tổ chức trung gian tài chính

- FPI thúc đẩy cải cách thể chế, nâng cao kỷ luật đối với các chính sách của chính phủ FPI yêu cầu hệ thống quản trị doanh nghiệp phải hiệu quả, minh bạch, công khai hơn bởi các yêu cầu đặt ra của các nhà đầu tư nước ngoài

- FPI cũng có những tác động tiêu cực: làm tăng mức độ nhạy cảm, rủi ro và bất ổn về kinh tế, có thể làm giảm tính độc lập của chính sách tiền tệ và tỷ giá của nước tiếp nhận; tăng nguy cơ mua lại, sáp nhập, khống chế và lũng đoạn tài chính đối với các doanh nghiệp và các tổ chức phát hành chứng khoán; có nguy cơ mất an ninh phi truyền thống do không kiểm soát được các dòng vốn làm ăn phi pháp hoặc hiện tượng đầu cơ lớn có tổ chức, có thể gây ra khủng hoảng tài chính và tiền tệ

2.1.2 Thu hút dòng vốn FPI

2.1.2.1.Các chính sách, biện pháp thu hút FPI

- Xây dựng và ban hành hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến vốn FPI

Công cụ chính sách, pháp luật mang tính định hướng và điều tiết quan trọng nhất cho các dòng vốn FPI Các văn bản pháp luật cần có để điều chỉnh hoạt động

Ngày đăng: 14/04/2022, 12:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Asifma (2021), Foreign Institutional investment in China: various access channels, https://www.asifma.org/wp-content/uploads/2021/01/accessing-chinas-capital-markets-20-january-2021.pdf, January Link
3. Azizul Sabri Abdullah and Norasyikin Mohamad Razali (2018), Fators affecting foreign investors bondholding in Malaysia, BNM quarterly Bulletin, https://www.bnm.gov.my/documents/20124/770506/p5_ba1.pdf Link
6. Department of Statistics Malaysia (2020), Malaysia summary of the International Investment Position (IIP) 2020,https://www.dosm.gov.my/v1/index.php?r=column/cthemeByCat&cat=87&bul_id=ZDAxNmVhZ093SWJTbGpGZUJsYi8yZz09&menu_id=azJjRWpYL0VBYU90TVhpclByWjdMQT09 Link
8. Global Times (2019), ‘Foreign ownership limit likely to be relaxed on Chinese A shares: analysts’, http://www.globaltimes.cn/content/1141210.shtml Link
13. Julia Goh, Loke Siew Ting (2020), Malaysia: smaller foreign portfolio outflows in April, UOB, 13/5/2010 https://www.uobgroup.com/web- resources/uobgroup/pdf/research/MN_200513.pdf Link
20. US Department of State (2019), 2019 Investment climate statements: Malaysia, https://www.state.gov/reports/2019-investment-climate-statements/malaysia/ Link
1. Ashoka Mody, Antu Panini Murshid (2011, Growth from International Capital Flows: the Role of Volatility Regimes, IMF Working Paper, WP/11/90, 4/2011 Khác
4. Bobby Lien and David Sunner (2019), Liberalisation of China’s porfolio Flows and the Renminbi, Reserve Bank of Australia Bullentin, September Khác
5. Ciara S (2010), Foreign indirect investment and control, Stockhom School of Economic, Sweden Khác
7. Erizim B.C (2005), Finance dynamics principles, Researches and Applications, Murkowits Center for Research and Development Khác
10. Jarita Duasa, Salina H.Kassim (2008), Foreign Porfolio Investment inflow and economic performance in Malaysia, Gadjah Mada International Journal of Business, 9-10/2008, Vol 10, No 3 Khác
11. Jean-Louis Combes, Tidiane Kinda and Patrick Plane (2011), Capital Flows, Exchange Rate Flexibility, and the Real Exchange Rate, IMF Working Paper WP/11/9, 1/2011 Khác
12. Jose Antonio Ocampo, and Joseph E. Stiglits (2008), Capital Market Liberalization and Development, New York, Oxford University Press Khác
14. Min Zu (2011), Managing Capital Flows in Emerging Markets, Hội thảo của IMF tại Brazil 26/5/2011 Khác
15. Nicolas R.Lardy and Tianlei Huang (2020), 20-17 China’s financial opening accelerates, PIIE Peterson Insititute for International Economics, Policy Brief, Washington DC Khác
16. So Umezaki (2019), The Malaysian Economy after the Global Financial Crisis: International Capital Flows, Exchange Rates, and Policy Responses, Policy Research Institute, Ministry of Finance, Japan, Public Policy Review, Vol.15, No.1, July 2019 Khác
17. Sohnke M.Bartram and Gunter Dufey (2001), International portfolio investment: theory, evidence, and institutional framework, Financial Markets Institutions & Instruments 10(3): 85 - 155 ã August 2001 Khác
18. Sudarshan Gooptu (1993), Context of flows to emerging markets, World Bank Khác
19. UNCTAD (1999), Comprehansive Study of the Interrelationship between Foreign Direct Investment (FDI) and Foreign Porfolio Investment (FPI), 23/6/1999 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Các dòng vốn đầu tư vào Trung Quốc và từ Trung Quốc ra nước ngoài (tỷ USD) - Thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Hình 2.1 Các dòng vốn đầu tư vào Trung Quốc và từ Trung Quốc ra nước ngoài (tỷ USD) (Trang 59)
Hình 2.2: Đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Trung Quốc giai đoạn 2014 -2020 - Thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Hình 2.2 Đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Trung Quốc giai đoạn 2014 -2020 (Trang 61)
Hình 2.3: Mức độ vốn hoá (tỷ RM) và tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (%) trên thị trường chứng khoán Kuala Lumpur - Thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Hình 2.3 Mức độ vốn hoá (tỷ RM) và tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (%) trên thị trường chứng khoán Kuala Lumpur (Trang 65)
Hình 2.4: Dòng vốn FPI vào thị trường cổ phiếu và trái phiếu Malaysia tính theo quý, giai đoạn 2008-2020 - Thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Hình 2.4 Dòng vốn FPI vào thị trường cổ phiếu và trái phiếu Malaysia tính theo quý, giai đoạn 2008-2020 (Trang 67)
Hình 3.1: Các quyết định nới room nước ngoài và ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán Việt Nam - Thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Hình 3.1 Các quyết định nới room nước ngoài và ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán Việt Nam (Trang 81)
Hình 3.2: Dòng vốn FPI vào Việt Nam giai đoạn 2008-2018 (triệu USD) - Thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Hình 3.2 Dòng vốn FPI vào Việt Nam giai đoạn 2008-2018 (triệu USD) (Trang 94)
Hình 3.3: Vốn FPI trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ tháng 1/2020 đến tháng 5/2021 - Thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Hình 3.3 Vốn FPI trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ tháng 1/2020 đến tháng 5/2021 (Trang 95)
Hình 3.4: Giá trị giao dịch trái phiếu của nhà đầu tư nước ngoài giai đoạn 2016-2020 (tỷ đồng) - Thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Hình 3.4 Giá trị giao dịch trái phiếu của nhà đầu tư nước ngoài giai đoạn 2016-2020 (tỷ đồng) (Trang 97)
Hình 3.5: Cơ cấu các nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp (2019-2020) - Thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Hình 3.5 Cơ cấu các nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp (2019-2020) (Trang 98)
Bảng 3.1: Giá trị giao dịch cổ phiếu của các nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2007- 2016 trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2007- 2016 - Thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Bảng 3.1 Giá trị giao dịch cổ phiếu của các nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2007- 2016 trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2007- 2016 (Trang 100)
Bảng 3.1: Giá trị giao dịch cổ phiếu của các nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2007- 2016 trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2007- 2016 - Thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Bảng 3.1 Giá trị giao dịch cổ phiếu của các nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2007- 2016 trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2007- 2016 (Trang 100)
Bảng 3.2: Giá trị giao dịch cổ phiếu của các nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam, giai đoạn 2017-2020 - Thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Bảng 3.2 Giá trị giao dịch cổ phiếu của các nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam, giai đoạn 2017-2020 (Trang 102)
Hình 3.6: Số lượng tài khoản các nhà đầu tư nước ngoài,  giai đoạn 2004-2019 - Thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Hình 3.6 Số lượng tài khoản các nhà đầu tư nước ngoài, giai đoạn 2004-2019 (Trang 103)
Hình 3.7: Quy mô giao dịch của các nhà đầu tư nước ngoài trên 2 sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội và TP Hồ CHí Minh (tỷ đồng) - Thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Hình 3.7 Quy mô giao dịch của các nhà đầu tư nước ngoài trên 2 sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội và TP Hồ CHí Minh (tỷ đồng) (Trang 105)
Bảng 3.3: Tỷ trọng giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư nước ngoài trên sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh năm 2017 (%) - Thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Bảng 3.3 Tỷ trọng giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư nước ngoài trên sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh năm 2017 (%) (Trang 107)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w