1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển cây sâm lai châu (panax vietnamensis var fuscidiscus) trên địa bàn huyện phong thổ, tỉnh lai châu

88 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại huyện Phong Thổ, Sâm lai châu phân bố ở một số xã vùng cao giáp biên giới với Trung Quốc như: Sì Lở Lầu, Dào San, Mồ Sì San, … Cây Sâm lai châu phân bố trong tự nhiên trên địa bàn hu

Trang 1

-

VŨ VĂN NAM

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

CÂY SÂM LAI CHÂU (Panax vietnamensis var

Fuscidiscus) TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHONG THỔ,

TỈNH LAI CHÂU

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP

Thái Nguyên - 2021

Trang 2

-

VŨ VĂN NAM

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

CÂY SÂM LAI CHÂU (Panax vietnamensis var

Fuscidiscus)TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHONG THỔ,

TỈNH LAI CHÂU

Ngành: Lâm học

Mã số: 8.62.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Thu Hà

Thái Nguyên – 2021

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN 2

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết 1

2 Mục tiêu đề tài 2

2.1 Mục tiêu chung 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

3 Ý nghĩa của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

1.1 Tình hình nghiên cứu các loài Sâm trên thế giới 4

1.1.1 Phân loại 4

1.1.2 Phân bố 6

1.1.3 Nghiên cứu về đặc điểm sinh thái 7

1.1.4 Điều kiện gây trồng và kỹ thuật trồng 7

1.2 Tình hình nghiên cứu Sâm lai châu trong nước 9

1.2.1 Phân loại 9

1.2.2 Phân bố 10

1.2.3 Đặc điểm sinh thái 11

1.2.4 Điều kiện gây trồng và kỹ thuật trồng 13

1.2.5 Thực trạng và chính sách phát triển Sâm lai châu 19

1.3 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu 21

1.3.1 Điều kiện tự nhiên 21

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội tại 23

Trang 4

1.4 Đánh giá chung 25

1.4.1 Thuận lợi 25

1.4.2 Khó khăn 25

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27

2.2 Nội dung nghiên cứu 27

2.3 Phương pháp nghiên cứu 27

2.3.1 Phương pháp kế thừa 27

2.3.2 Phương pháp chuyên gia 28

2.3.3 Phương pháp PRA 28

2.3.4 Phương pháp điều tra đặc điểm sinh thái học, phân bố của Sâm lai châu trong tự nhiên 28

2.3.5 Phương pháp điều tra Sâm lai châu trong cộng đồng dân cư 30

2.3.6 Điều tra kiến thức bản địa của người dân về thực trạng trồng, thu hái, chế biến, bảo quản và sử dụng cây Sâm lai châu 30

2.3.7 Phương pháp đánh giá thích nghi, khoanh vùng định hướng phát triển bằng công nghệ viễn thám và GIS 31

2.4 Xử lý nội nghiệp 32

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

3.1 Đánh giá thực trạng phân bố và phát triển cây Sâm lai châu 33

3.1.1 Thực trạng phân bố cây Sâm lai châu ở tự nhiên 33

3.1.2 Thực trạng cây gây trồng trong cộng đồng dân cư 39

3.1.3 Giá trị sử dụng 41

3.1.4 Kiến thức bản địa trong trồng, chế biến cây Sâm lai châu 41 3.2 Đặc điểm sinh thái học của cây Sâm lai châu 46

3.2.1 Đặc điểm sinh học của cây Sâm lai châu 46

Trang 5

3.2.2 Các đặc điểm sinh thái của cây Sâm lai châu 49

3.3 Phân vùng thích nghi và khoanh vùng định hướng phát triển của loài cây Sâm lai châu trên địa bàn huyện Phong Thổ 51

3.3.1 Căn cứ xác định các vùng có khả năng phát triển Sâm lai châu 51

3.3.2 Phân vùng thích nghi của cây Sâm lai châu trên địa bàn nghiên cứu 58

3.4 Đề xuất các giải pháp phát triển cây Sâm lai châu trên địa bàn huyện Phong Thổ 61

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64

1 Kết luận 64

2 Kiến nghị 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

PHỤ LỤC 72

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Đặc điểm tầng cây cao 33

Bảng 3.2: Tổ thành tầng cây cao 35

Bảng 3.3: Đặc điểm tầng cây tái sinh 36

Bảng 3.4: Tổ thành tầng cây tái sinh 37

Bảng 3.5: Đặc điểm tầng cây bụi 38

Bảng 3.7: Kết quả phỏng vấn về gây trồng cây Sâm lai châu 42

Bảng 3.8: Kết quả phỏng vấn về chế biến và sử dụng cây Sâm lai châu 45

Bảng 3.9: Kết quả phỏng vấn về công dụng của Sâm lai châu 45

Bảng 3.10: Bảng theo dõi vật hậu của cây Sâm lai châu 48

Bảng 3.11: Đặc điểm khí hậu khu vực nghiên cứu 49

Bảng 3.12: Phân chia mức thích nghi của Sâm lai châu theo To TB (oC) 52

Bảng 3.13 Phân chia mức thích nghi của Sâm lai châu theo X (mm) 53

Bảng 3.14 Phân chia mức thích nghi của Sâm lai châu theo UTB (%) 54

Bảng 3.15: Phân chia mức độ phù hợp của Sâm lai châu theo độ cao 55

Bảng 3.16 Độ tàn che của tán rừng nơi phân bố Sâm lai châu 56

Bảng 3.17 Phân chia mức độ thích hợp của Sâm lai châu theo độ tàn che 56

Bảng 3.18 Phân chia mức độ phù hợp của Sâm lai châu theo thảm thực vật 57

Bảng 3.19: Bảng phân cấp mức độ thích nghi về điều kiện đất, khí hậu của cây Sâm lai châu 59

Bảng 3.20: Diện tích rừng và đất rừng phù hợp Sâm lai châu 59

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1: Đặc điểm trạng thái rừng nơi có Sâm lai châu phân bố 34 Hình 3.2: Sâm lai châu 3 tuổi trồng trong vườn tại Phong Thổ - Lai Châu 44 Hình 3.3: Sâm lai châu trồng trong chậu 3 tuổi tại Phong Thổ - Lai Châu 44 Hình 3.4: Hình thái quả non (tháng 6-7) 49Hình 3.5: Hình thái quả chín đỏ (tháng 8-9) 49Hình 3.6 Biểu đồ mô phỏng nhiệt độ trung bình tại các địa điểm nghiên cứu 51 Hình 3.6: Mô phỏng lượng mưa X (m) tại các địa điểm Sâm lai châu sống được 52 Hình 3.7: Mô phỏng UTB (%) tại các địa điểm Sâm lai châu sống được 54Hình 3.8: Bản đồ phân vùng thích nghi loài cây Sâm lai châu trên địa bàn huyện Phong Thổ 61

Trang 8

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số

liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là một phần trong kết quả nghiên cứu

của đề tài cấp bộ: “Nghiên cứu phục tráng và phát triển nguồn gen cây Sâm

lai châu (Panax vietnamensis var Fuscidiscus) vùng Tây Bắc”, kết quả nêu

trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất cứ công trình

nghiên cứu khoa học nào

Tác giả luận văn

Vũ Văn Nam

Trang 9

LỜI CẢM ƠN

Luận văn “Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển cây Sâm lai châu (Panax vietnamensis var Fuscidiscus) trên địa bàn huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu” được hoàn thành tại trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái

Nguyên theo chương trình đào tạo cao học Lâm nghiệp – Khóa 27, giai đoạn

2018 – 2020

Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, Tôi đã được Phòng Đào tạo Sau đại học – Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và các cấp chính quyền địa phương tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ cho Tôi thu thập tài liệu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Trước hết, Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành sâu sắc tới PGS.TS Trần Thị Thu Hà - Giáo viên hướng dẫn đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ Tôi trong thời gian thực hiện luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn TS Phạm Quang Tuyến – Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã hỗ trợ Tôi trong

quá trình thu thập số liệu của luận văn Số liệu luận văn là một phần trong kết

quả nghiên cứu của đề tài cấp bộ: “Nghiên cứu phục tráng và phát triển

nguồn gen cây Sâm lai châu (Panax vietnamensis var Fuscidiscus) vùng Tây Bắc”, thuộc Chương trình KHCN: Nghiên cứu phục tráng và phát triển

giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản đặc sản đại phương từ năm 2020 Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể chủ trì đề tài đã hỗ trợ trong quá trình thực hiện

luận văn

Xin chân thành cảm ơn Phòng Đào tạo Sau đại học – Trường Đại học Nông lâm - Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ Tôi trong thời gian học tập cũng như thực hiện luận văn Qua đây, Tôi xin chân thành cảm

ơn các cấp chính quyền địa phương tại huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã cung cấp những thông tin, tư liệu cần thiết và tạo điều kiện để thu thập số liệu phục vụ cho luận văn tốt nghiệp

Trang 10

Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô và bạn bè đồng nghiệp

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2021

Học viên

Vũ Văn Nam

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết

Phong Thổ là huyện biên giới của tỉnh Lai Châu với 17 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 12 xã đặc biệt khó khăn Huyện Phong Thổ có tổng diện tích tự nhiên là 102.924,5 ha trong đó có 45.371,76 ha diện tích đất lâm nghiệp chiếm 44,08% diện tích tự nhiên của huyện, tỉnh đến hết năm 2019 diện tích rừng của huyện đạt 45.371,76 ha (trong đó diện tích rừng tự nhiên là 42.912,93 ha), tỷ lệ che phủ rừng đạt 43,66% Diện tích rừng của huyện là nơi chứa đựng nhiều loài thực vật, trong đó có nguồn dược liệu tự nhiên phong phú, đa dạng với một số loài quý hiếm như: Sâm lai châu, Lan kim tuyến, Bảy

lá một hoa, Đảng sâm,

Hiện nay, do việc khai thác thiếu kiểm soát của người dân mà nguồn tài nguyên cây dược liệu tự nhiên tại huyện Phong Thổ đang ngày một cạn kiệt, nhiều loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng Tuy nhiên, công tác bảo tồn, gây trồng phát triển cây dược liệu của huyện còn nhiều hạn chế, việc định hướng và quy hoạch vùng phát triển cây dược liệu chưa được nghiên cứu thực hiện dẫn đến nhiều khó khăn, thách thức cho việc bảo tồn, phát triển cây dược liệu trên địa bàn huyện Phong Thổ

Sâm lai châu tên khoa học Panax vietnamensis var fuscidiscus K Komatsu, S Zhu & S.Q.Ca là phân bậc dưới loài Panax vietnamensis Ha et Grushv., thuộc chi Nhân sâm (Panax L.), họ Ngũ gia bì (Araliaceae) Cây

Sâm lai châu có phân bố tự nhiên tại các huyện Mường Tè, Tam Đường, Sìn

Hồ và Phong Thổ Tại huyện Phong Thổ, Sâm lai châu phân bố ở một số xã vùng cao giáp biên giới với Trung Quốc như: Sì Lở Lầu, Dào San, Mồ Sì San,

… Cây Sâm lai châu phân bố trong tự nhiên trên địa bàn huyện Phong Thổ hiện còn rất ít, rất khó tìm thấy ngoài tự nhiên, kiến thức bản địa trong trồng, chăm sóc và sử dụng còn rất hạn chế; tuy vậy, công tác bảo tồn, phát triển cây

Trang 12

Sâm lai châu của huyện Phong Thổ nói riêng và tỉnh Lai Châu nói chung chưa được thực hiện bài bản, khoa học, việc quy hoạch vùng phát triển cây Sâm lai châu phù hợp với đặc điểm sinh thái học của cây chưa được thực hiện, chưa

có nhiều công trình nghiên cứu, xây dựng quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc cây Sâm lai châu

Để khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của địa phương và phát triển cây dược liệu quý trên địa bàn huyện Phong Thổ thành vùng tập trung, đảm bảo phù hợp với đặc điểm sinh thái học của cây trồng, giúp tăng hiệu quả của công tác phát triển, giảm những lãng phí không cần thiết trong quá trình đầu tư, tạo ra sản phẩm Sâm lai châu đảm bảo chất lượng, ổn định về sản lượng để cung cấp cho thị trường, qua đó tạo việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho người dân địa phương, góp phần đẩy mạnh tái cơ cấu ngành

nông nghiệp theo hướng bền vững thì việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đề

xuất giải pháp phát triển cây Sâm lai châu (Panax vietnamensis var Fuscidiscus) trên địa bàn huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu” là rất cần thiết

- Xác định được đặc điểm sinh thái học của cây Sâm lai châu

- Đề xuất giải pháp phát triển cây Sâm lai châu tại khu vực nghiên cứu

3 Ý nghĩa của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Cây Sâm lai châu là loài cây quý, hiếm của tỉnh Lai Châu, có giá trị bảo

Trang 13

tồn, giá trị kinh tế rất cao Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển cây Sâm lai châu hiện là vấn đề thời sự được hệ thống chính trị, các cấp chính quyền và cơ quan chuyên môn của tỉnh quan tâm Đề tài này góp phần làm sáng tỏ một số đặc điểm quan trọng của một loài cây mới được phát hiện, nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Lai Châu nói chung và huyện Phong Thổ nói riêng như: thực trạng phân bố; đặc điểm sinh thái học; xác định vùng thích nghi và khoanh vùng trồng, phát triển

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu sẽ giúp các cơ quan chuyên môn của huyện Phong Thổ định hướng các chính sách phát triển, tận dụng tối đa tiềm năng, tiềm lực của địa phương, đóng góp vào công cuộc phát triển kinh tế của huyện Phong Thổ và tỉnh Lai Châu

Việc xác định thực trạng phân bố sẽ giúp huyện Phong Thổ thực hiện tốt công tác bảo tồn Xác định đặc điểm sinh thái học, xác định vùng thích nghi và khoanh vùng trồng, phát triển giúp nâng cao hiệu quả đầu tư của các

dự án phát triển cây Sâm lai châu, tránh các thất thoát, lãng phí không đáng

có Các giải pháp phát triển cây Sâm lai châu do đề tài đề xuất sẽ là cơ sở để các cơ quan định hướng chính sách của huyện tham khảo, nghiên cứu từ đó ban hành các chính sách phát triển hướng tới xã hội hóa, tạo điều kiện thông thoáng cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu tham gia phát triển cây Sâm lai châu trên địa bàn huyện Phong Thổ

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu các loài Sâm trên thế giới

1.1.1 Phân loại

Chi Sâm (Panax L.) là một chi có số lượng loài rất ít trong số khoảng

70 chi của họ Ngũ gia bì (Araliaceae) Ban đầu Linnaeus mô tả chi Sâm chỉ

có hai loài là P quinquefolius L và P trifolius L Theo Linnaeus điểm khác biệt so với các chi khác trong họ Araliaceae là bầu 2 ô, hoa mẫu 5, xếp van hay xếp lợp Năm 1754, tác giả mô tả bổ sung thêm một loài mới cho khoa học, P fructicosus, với đặc điểm là đài xếp van (Linnaeus, 1754) Đến năm

1830, De Candolle đã chuyển một số loài thuộc chi Nothopanax vào chi Panax Sau đó, Decaisne và Planchon (1854) lại cho rằng đặc điểm chính của chi Panax là đài xếp van, nên chuyển 2 loài P quinquefolius và P trifolius sang chi Aralia, đồng thời đồng nhất hoá các chi Polyscias Forest, Cheirodendron Nutt, Pseudopanax Koch và Maralia Pet vào chi Panax Như vậy, với cách sắp xếp như trên, các tác giả đã cho rằng đặc điểm hình thái của chi Panax bên cạnh đài xếp van còn có đặc điểm thân gỗ và thân thảo Đồng ý với quan điểm trên, các tác giả Bentham và Hooker (1867), Clarke (1879) tiếp tục xác nhập chi Nothopanax vào chi Panax, đồng thời chuyển chi Panax vào tông (tribe) Panaceae Đến thời điểm này, số lượng loài thuộc chi Panax lên đến 25, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu Á, châu Phi, Newzeland và Australia

Sâm lai châu tên khoa học Panax vietnamensis var fuscidiscus K Komatsu, S Zhu & S.Q.Ca là phân bậc dưới loài Panax vietnamensis Ha et Grushv., thuộc chi Nhân sâm (Panax L.), họ Ngũ gia bì (Araliaceae) Đây là loài cây lần đầu tiên được ghi nhận ở Vân Nam, Trung Quốc và công bố bởi Zhu và cộng sự (2003) Các tác giả đã mô tả đó là một thứ mới của Sâm ngọc

Trang 15

linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) Thứ mới này được đặt tên là Panax vietnamensis var fuscidiscus K.Komatsu, S.Zhu & S.Q.Cai Theo tác giả, thứ mới này khác với thứ chuẩn Panax vietnamensis var vietnamensis về 4 vị trí các nucleotide trên gen matK (Zhu và cộng sự, 2003)

Seemann (1868) ghi nhận sự phân bố của chi Panax L chỉ xuất hiện ở Bắc bán cầu, kéo dài từ vùng rừng núi giáp bờ biển phía Đông của Bắc Mỹ bao gồm Bắc Hoa Kỳ và Tây-Nam Canada (có 2 loài P quinquefolius và P trifoliatus Vùng Đông Bắc Á (gồm Viễn Đông Nga, Đông Bắc Trung Quốc, bán đảo Triều Tiên và Nhật Bản) có hai loài là P ginseng và P japonica Trung tâm phân bố của chi Panax L có thể từ vùng Tây- Nam của Trung Quốc lan toả xuống phía Bắc của Việt Nam Thực chất khu vực này gồm 2 tỉnh biên giới kề nhau là Vân Nam (Trung Quốc) và Lào Cai (Việt Nam), ở đây đang có tới 7 loài và dưới loài (thứ) mọc hoàn toàn tự nhiên, 2 loài trồng

là P notoginseng và P pseudoginseng (không tìm thấy trong tự nhiên, nhưng giả thiết có nguồn gốc từ vùng cận Himalaya) Đây có thể coi là trung tâm phân bố của chi Sâm (Panax L.) của thế giới Ở Bắc Mỹ hiện có 3 loài (P notoginseng; P quinquefolius và P trifoliatus) Giới hạn cuối cùng về phía Nam của chi Panax L là loài Sâm Việt Nam (Panax vietnamensis) phân bố ở Miền Trung của Việt Nam, tại 14015’ vĩ độ Bắc

Tiếp đó, năm 1970, Hara dựa trên mẫu vật của các loài thuộc chi Panax

ở châu Á thu được ngoài tự nhiên và các mẫu lưu giữ ở các Bảo tàng thực vật

đã thống nhất với các quan điểm nghiên cứu trước đó về đặc điểm của chi Panax: thân dạng củ, hoa mẫu 5 xếp van hay xếp lợp, bầu 2 ô và có mối quan

hệ gần với chi Aralia Theo tác giả để phân biệt các loài thuộc chi Panax, trước tiên xếp loài vào 1 trong 3 chuẩn hình thái của thân rễ (Rhizome type): thân rễ có dạng thân củ (carot type); thân rễ có đốt kéo dài; và thân rễ có đốt ngắn như đốt trúc Tiếp theo đó là các đặc điểm hình thái lá, đài, tràng, số

Trang 16

lượng chỉ nhụy, quả Cách phân loại dựa vào hình thái thân rễ trước rồi mới đến các đặc điểm cơ quan sinh dưỡng và sinh dưỡng được các nhà khoa học Trung Quốc áp dụng trong khóa phân loại chi Panax ở Trung Quốc (Xiang và Lowry, 2007)

Năm 2004, Zhu Shu và cộng sự đã xác định được thành phần chính của

P vietnamensis var fuscidiscus là saponin khung dammaran Bằng phương pháp HPLC, nhóm nghiên cứu này đã xác định sơ bộ sự có mặt của các hợp chất ginsenosid Rb1 (6,15-15,59 mg/g), Rc (0,83-2,25 mg/g), Rd (0,18-5,97 mg/g), Re (0,96-3,67 mg/g), Rg1 ( 23,05-56,70 mg/g), notoginsenosid R2 (0,66-1,72 mg/g), majonoid R2 (57,80-84,77 mg/g) và vết ginsenosid Ro trong thân rễ của loài này (Zhu Shu và cộng sự, 2004)

1.1.2 Phân bố

Seemann (1868) [32] ghi nhận sự phân bố của chi Panax L chỉ xuất

hiện ở Bắc bán cầu, kéo dài từ vùng rừng núi giáp bờ biển phía Đông của Bắc

Mỹ bao gồm Bắc Hoa Kỳ và Tây-Nam Canada (có 2 loài P quinquefolius và

P trifoliatus Vùng Đông Bắc Á (gồm Viễn Đông Nga, Đông Bắc Trung

Quốc, bán đảo Triều Tiên và Nhật Bản) có hai loài là P ginseng và P japonica Trung tâm phân bố của chi Panax L có thể từ vùng Tây- Nam của

Trung Quốc lan toả xuống phía Bắc của Việt Nam Thực chất khu vực này gồm 2 tỉnh biên giới kề nhau là Vân Nam (Trung Quốc) và Lào Cai (Việt Nam), ở đây đang có tới 7 loài và dưới loài (thứ) mọc hoàn toàn tự nhiên, 2

loài trồng là P notoginseng (nhập từ Bắc Mỹ) và P pseudoginseng (không

tìm thấy trong tự nhiên, nhưng giả thiết có nguồn gốc từ vùng cận Himalaya hoặc là kết quả của lai tự nhiên giữa 2 loài gần gũi nào đó) Đây có thể coi là

trung tâm phân bố của chi Sâm (Panax L.) của thế giới Ở Bắc Mỹ hiện có 3 loài (P notoginseng; P quinquefolius và P trifoliatus) Giới hạn cuối cùng về phía Nam của chi Panax L là loài Sâm việt nam (Panax vietnamensis) ở

Trang 17

Miền Trung của Việt Nam, tại 14015’ vĩ độ Bắc

1.1.3 Nghiên cứu về đặc điểm sinh thái

Các nghiên cứu về sinh thái các loài trong chi Panax chỉ ra vùng phân

bố, sâm mọc tự nhiên dưới tán rừng có độ cao từ 1.500 m trở lên, phù hợp với điều kiện khí hậu ôn hòa, mát mẻ quanh năm Nhiệt độ trung bình từ 200C đến

250C, tổng tích ôn từ 7.200-7.5000C/năm Nhiệt độ tối thấp trên 50C và nhiệt

độ tối cao là 330C Hạt sâm có thể nảy mầm trong điều kiện nhiệt độ thấp, thời kỳ hạt sâm mọc yêu cầu nhiệt độ từ 100C trở lên Cây sâm mọc tự nhiên dưới tán rừng nên yêu cầu về độ ẩm không khí và độ ẩm đất tương đối cao từ 80% đến 90% Ở thời kỳ sinh trưởng, thân khí sinh yêu cầu độ ẩm cao, lượng mưa trung bình từ 200-250 mm/tháng Chế độ ánh sáng trực xạ chiếm 10% và tán xạ chiếm 90% là ánh sáng được xem là thích hợp nhất cho sinh trưởng của cây Cây sâm phát triển tốt dưới tán rừng, nơi đất đai tơi xốp, có lớp mùn dày,

đủ ẩm và có điều kiện thông thoáng tốt Cây cần một lượng đạm nhất định,

pH trung tính, giàu lân và kali tạo điều kiện cho củ sâm tích lũy các hoạt chất

có năng suất cao, chất lượng tốt Các loại đất trũng, nghèo dinh dưỡng đều không thuật lợi cho cây sâm sinh (dẫn theo Trần Thị Liên, 2011) [14]

1.1.4 Điều kiện gây trồng và kỹ thuật trồng

Một số nghiên cứu (Kim, 2012 [29]; Komatsu và cộng sự, 2005 [30]; Quan và cộng sự, 2001 [31]) cho thấy nhiệt độ trồng sâm thích hợp nhất là từ

18oC đến 22oC Sâm là loài có thể thích nghi với nhiều loại đất Tuy nhiên, đất thoát nước tốt và độ pH khoảng 5.8 sẽ tạo điều kiện cho sâm sinh trưởng

và phát triển tốt Sâm đòi hỏi đất ẩm trong hầu hết thời gian sinh trưởng Lượng mưa hàng năm 600-900 mm là đủ mà không cần tưới Sâm đòi hỏi mức độ che bóng rất cao để sản xuất đại trà thành công Mức độ che bóng 70-80% thường được áp dụng, nhưng các mức độ che bóng sẽ ít hơn tại các lập địa ở các vĩ độ cao hơn

Trang 18

Các loài sâm trên thế giới đa số đều được trồng dưới tán rừng tự nhiên hoặc được trồng dưới các giàn che Nhân sâm được trồng dưới tán rừng hoặc theo mô hình mô phỏng gần giống điều kiện tự nhiên có chất lượng và giá trị hơn so với phương pháp trồng thâm canh, mặc dù có sản lượng thấp hơn Các loài sâm thích nghi với điều kiện ẩm ướt và mát mẻ phần bóng râm, vì vậy phần dưới của bắc và phía đông sườn núi sẽ là nơi trồng lý tưởng Tất cả các thảm thực vật mà có thể cạnh tranh với nhân sâm, chẳng hạn cây nhỏ và cây thân gỗ khác, phải được loại bỏ

Quy trình kỹ thuật cụ thể áp dụng cho trồng nhân sâm dưới tán rừng hoặc dùng dàn che được mô tả cụ thể trong các nghiên cứu của (Woo và cộng

sự, 2004 [33]) Việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật trồng các loài trong chi Panax trên thế giới có thể điểm lại một số kỹ thuật chính như sau:

Tam thất (Panax pseudogingseng) được trồng đại trà tại Châu Vân Sơn

Trung Quốc có độ cao trên 1.400 m; giàn che một mái kín cả xung quanh, cao 1,5 - 1,6 m; khoảng cách trồng 15 - 20 cm; độ chiếu sáng dưới giàn che 80 - 90%

Sâm Triều Tiên (Panax ginseng) được trồng đại trà tại tỉnh Kangwon

và tỉnh Kyungbuk, độ cao so với mặt nước biển 1.000 – 1.500 m; giàn che mái nhiều tầng, không che khoảng cách giữa các tầng mái và xung quanh giàn; khoảng cách trồng 15 – 20 cm; độ chiếu sáng dưới giàn che 60 – 70%

Sâm Nhật Bản (Panax Japonicus) được trồng đại trà tại tỉnh Nagano,

độ cao so với mặt nước biển 1.200 – 1.500 m; mật độ khoảng cách trồng 20 x

20 cm; giàn che nhân tạo rừng tự nhiên hoặc rừng trồng để che

Như vậy, trên thế giới việc áp dụng các phương thức trồng Sâm chủ yếu ở 2 phương thức trồng dưới tán rừng và trồng dưới mái che với độ tàn che khoảng 70% Điều kiện khu vực trồng Sâm phải có độ cao trên 1.000 m so với mặt nước biển, độ ẩm lớn, đất nhiều mùn Mật độ khoảng cách trồng mỗi

Trang 19

chiều dao động trong khoảng 20 cm, tuỳ theo điều kiện tự nhiên, phương thức trồng và loại cây mà có sự khác nhau

1.2 Tình hình nghiên cứu Sâm lai châu trong nước

1.2.1 Phân loại

Theo hệ thống phân loại thực vật của Takhtajan (1987): Chi Panax L.; thuộc Họ Ngũ gia bì (Nhân sâm) (Araliaceae); Bộ Hoa tán (Apiales); Phân lớp Hoa hồng (Rosidae); Lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida); Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta); Giới Thực vật (Lê Đình Bích và Trần Văn Ơn, 2007) Chi Nhân sâm Panax L gồm có 15 loài và dưới loài và hầu hết chúng là nguồn dược liệu cho y học cổ truyền như các loại Nhân Sâm, Nhân Sâm Hoa kỳ, Tam thất, Nhân Sâm Nhật bản và Sâm ngọc linh (Nguyễn Tập, 2005)

Sâm lai châu (Panax vietnamensis var fuscidiscus) thuộc chi Panax L

có tên gọi địa phương khác là “Tam thất đen”, “Tam thất đỏ” (Phạm Quang Tuyến và cộng sự, 2017) Việc gọi tên khác nhau giữa các địa phương là một trong những tồn tại ảnh hưởng đến nhận biết, quản lý, thống kê, kiểm kê tài nguyên rừng, tài nguyên dược liệu và báo cáo khoa học

Tới năm 2013, Phan Kế Long và cộng sự từ việc mô tả và phân tích các mẫu thu được ngoài tự nhiên kết hợp với các đặc trưng phân tử dựa trên mối quan hệ di truyền giữa các mẫu Sâm thu được ở Lai Châu để xác định tên cây Sâm mọc tự nhiên ở Lai Châu là Panax vietnamensis var fuscidiscus Trong nghiên cứu này đã nghiên cứu mối quan hệ di truyền trên cơ sở phân tích trình

tự nucleotide vùng matK và ITS-rDNA cho 17 cá thể cho 2 loại Sâm thuộc chi Panax thu được ở Lai Châu Kết quả phân tích trình tự nucleotide chỉ ra Sâm lai châu (Panax vietnamensis var fuscidiscus) và Sâm ngọc linh (P vietnamensis Ha & Grushv var vietnamensis) có quan hệ chị em Từ kết quả phân tích các mẫu Sâm thu được trong tự nhiên, tác giả đã định danh (Panax vietnamensis var fuscidiscus K.Komatsu, S.Zhu & S.Q.Cai.) có tên Việt Nam

Trang 20

là “Sâm lai châu” Đây là bậc phân loại dưới loài của Sâm việt (Panax vietnamensis) với 2 thứ là:

- Thứ chuẩn: Sâm ngọc linh (Panax vietnamensis var vietnamensis)

- Thứ: Sâm lai châu (Panax vietnamensis var fuscidiscus)

Như vậy, Các kết quả nghiên cứu phân loại, tên gọi và mô tả đặc điểm hình thái cây Sâm lai châu về cơ bản đã có một số thông tin làm cơ sở nhận biết

Theo IUCN (2015), Sâm lai châu hiện được liệt kê ở thứ hạng rất nguy cấp (CR) vì đáp ứng các tiêu chí 2a, c, d; B2b(ii, iii, v); C2a(i); E

Theo Sách Đỏ Việt Nam (2007) Panax vietnamensis là nguồn gen đặc biệt quý hiếm đối với Việt Nam và thế giới Tất cả các bộ phận của cây đều

có thể dùng làm thuốc Thân rễ thường được dùng làm thuốc bổ, cầm máu, tăng cường sinh lực, chống stress Lá, nụ hoa dùng làm trà uống có tác dụng kích thích tiêu hoá, an thần Như vậy, giống với Sâm ngọc linh, Sâm lai châu

sẽ có rất nhiều công dụng để sử dụng làm thuốc

Phạm Quang Tuyến (2014) [4] khi điều tra thực trạng mua bán và sử dụng Sâm lai châu tại Mường Tè cho thấy đây là một loài cây bị thương lái Trung Quốc săn lùng một cách ráo riết Đây là loài cây có giá trị nên giá cả mua bán cũng rất biến động, tuỳ theo kích thước và hình dạng củ Kết quả điều tra phỏng vấn người dân và cán bộ địa phương cho thấy người dân ở đây

đã biết sử dụng Sâm lai châu sấy khô cất trong nhà để bồi bổ sức khoẻ, chữa

dạ dày, sử dụng cho phụ nữ sau sinh (Phạm Quang Tuyến, 2014) [4]

1.2.2 Phân bố

Theo những tài liệu đã công bố tại Việt Nam, cây Sâm lai châu mới chỉ phát hiện thấy duy nhất ở tỉnh Lai Châu Sâm lai châu có phân bố hẹp trên dãy núi Pu Si Lung và lân cận (Mường Tè và Tây Sìn Hồ, giáp biên giới với Trung Quốc) và dãy núi Pu Sam Cáp nằm giữa các huyện Sìn Hồ và Tam

Trang 21

Đường với Thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu Sâm lai châu bị người dân bản địa khai thác, sử dụng làm thuốc và bán sang Trung Quốc, đang bị đe doạ tuyệt chủng ở mức độ trầm trọng (CR) (Phan Kế Long và cộng sự, 2014a

[15])

Khi nghiên cứu điều tra thu thập nguồn giống bảo tồn Sâm lai châu tại huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu đã ghi nhận sự có mặt của Sâm lai châu tại 4

xã Pa Vệ Sử, Ka Lăng, Thu Lũm và Tá Bạ tại Mường Tè Khi đánh giá mức

độ nguy cấp đã đưa ra nhận định quần thể Sâm lai châu phân bố trong tự nhiên hiện còn rất ít, cây còn chủ yếu mọc trên đất rừng núi cao, nhiều sương

mù, ít người đi lại Sâm lai châu có đặc điểm ưa ẩm và ưa bóng, mọc rải rác trên đất có nhiều mùn, dưới tán rừng kín thường xanh ẩm, trên đất có nhiều mùn, ở độ cao 1400-2.300 m Độ cao thường gặp từ 1.600-1.900 m (Trịnh Ngọc Bon và Phạm Quang Tuyến, 2014 [01]; Nguyễn Quang Hưng và Phạm Quang Tuyến, 2014 [12])

1.2.3 Đặc điểm sinh thái

Nguyễn Huy Sơn (2016) [19] trong báo cáo đặc điểm sinh thái của Sâm lai châu tại Hội thảo “Bảo tồn và phát triển Sâm lai châu tại huyện Mường Tè” Tác giả đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu của Phan Kế Long và cộng

sự (2014a) [15]; Phạm Quang Tuyến và cộng sự (2014) [22] đã đưa ra đặc điểm cơ bản như sau:

Đất đai, thổ nhưỡng: Có 2 loại đất chính thích hợp với sự phát triển cây

Sâm lai châu là nhóm đất mùn Alít trên núi cao (N1H) chiếm 9,9% diện tích đất tự nhiên được phát triển trên các loại đá Macma axit kết tinh chua và phiến thạch sét và nhóm đất Feralít mùn trên núi trung bình (N2FH), chiếm 62,09% diện tích tự nhiên, được phát triển trên các loại đá Mácma axít chua

và các loại đá trầm tích sa thạch; phiến thạch sét Đất ở đây có tầng đất dày,

độ sâu tầng đất >50 cm, đất nhiều mùn và thoát nước tốt Kết quả nghiên cứu

Trang 22

12 mẫu đất rừng có Sâm lai châu phân bố tự nhiên tại 4 xã: Ka Lăng, Thu Lũm, Tá Bạ, Pa Vệ Sử (huyện Mường Tè) nhìn chung thuộc loại đất chua (pH 3,54-4,05); đất khá màu mỡ hàm lượng các bon hữu cơ 2,88-7,23%; hàm lượng nitơ tổng số 0,25-0,76%, hàm lượng phốt pho tổng số từ 0,1-0,4%, hàm lượng lân tổng số dao động mạnh từ 0,65-2,68% (Nguyễn Quang Hưng

và Phạm Quang Tuyến, 2014) [12] Phan Kế Long và cộng sự (2014a) [15] khi nghiên cứu 4 mẫu đất tại xã Ka Lăng (Mường Tè) cũng có kết quả tương

tự Như vậy, đất tại các địa điểm có phân bố Sâm lai châu tại Mường Tè thuộc đất có thành phần cơ giới từ thịt nặng đến sét trung bình, độ ẩm trung bình Đất chua, lượng mùn, hàm lượng cacbon hữu cơ tổng số ở mức cao Hàm lượng đạm, Kali và lân có biến động từ giàu đến nghèo

Khí hậu: Sâm lai châu là cây ưa ẩm, khí hậu mát quanh năm và lạnh về mùa đông Số liệu niêm giám thống kê tỉnh Lai Châu tại Sìn Hồ (nơi có độ cao 1.529 m) cho thấy nhiệt độ bình quân năm 180C, tổng lượng mưa bình quân năm khoảng 2.800 mm/năm, độ ẩm không khí bình quân 80% Trong đó

có 5 tháng lạnh dưới 170C, 3 tháng mùa khô lượng mưa dưới 50 mm (Cục thống kê Lai Châu, 2015) [05]

Thảm thực vật: Sâm lai châu phân bố chủ yếu trong các trạng thái rừng kín lá rộng thường xanh ưa ẩm ít bị tác động, rừng có cấu trúc nhiều tầng Tầng cây gỗ cao từ 20-25 m, mật độ cây gỗ từ 300-400 cây/ha, trữ lượng trên

100 m3, độ tàn che từ 0,6-0,8 Các loài cây gỗ trong tầng ưu thế sinh thái chủ yếu là các loài thuộc họ Ngọc Lan (Magnoniaceae), họ Dẻ (Fagacea), họ Re (Lauraceae), họ Ngũ gia bì (Araliaceae), họ Đỗ quyên (Ericaceae), họ Hồi (Illiciaceae), họ Gừng (Zingiberacaea),

Đặc điểm sinh học: Sâm lai châu mùa ra hoa tháng 4-5, quả tháng 7-9

(10), quả chín vào tháng 8-10, có màu đỏ có chấm đen ở đầu Tái sinh chủ yếu tự nhiên bằng hạt Thân mang lá lụi hàng năm vào mùa đông, chồi mới

Trang 23

mọc lên từ đầu thân rễ vào đầu mùa xuân năm sau

Như vậy, Sâm lai châu có phân bố hẹp chủ yếu ở một số huyện vùng cao biên giới tỉnh Lai Châu: Mường Tè, Sìn Hồ, Phong Thổ và Tam Đường

độ cao so với mặt nước biển khoảng trên 1.500m Đây là cây ưa ẩm, phát triển trên đất tốt nhiều mùn, đất thoát nước, độ tàn che khoảng 0,7 Cây phát triển vào đầu xuân sau đó lụi vào mùa đông, tái sinh hạt tốt

1.2.4 Điều kiện gây trồng và kỹ thuật trồng

Trồng sâm là một trong những vấn đề khó, kỹ thuật trồng sao cho cây đảm bảo các hoạt chất dược liệu giống với tự nhiên còn khó hơn rất nhiều

Nghiên cứu kỹ thuật trồng để phát triển loài Panax vietnamensis đã được

quan tâm từ rất lâu Giai đoạn năm 1976-1985, Trung tâm sâm Việt Nam đã nghiên cứu trồng Sâm ngọc linh dưới rừng tự nhiên và trồng thử dưới giàn mái che Nhưng các mô hình sản xuất không thành công, không còn tài liệu (dẫn theo tài liệu hội thảo Bộ Y tế và UBND tỉnh Quảng Nam, 2003) [03]

Tại xã Măng Lùng, huyện Đắc Tô, tỉnh Kon Tum, Trường Đại học Dược TP Hồ Chí Minh đã trồng vào năm 1980, trong điều kiện nhân tạo với

độ cao từ 1.000 m - 1.200 m, có giàn che kiểu một mái liền, xung quanh có che liếp, các cửa thông gió đủ thoáng Để môi trường ẩm về mùa khô đủ nước thường xuyên, độ cao của giàn từ 1,5 m - 1,6 m, một mái, giàn che làm tương đối kiên cố bằng cọc sắt, khung gỗ, lợp phên nứa và cỏ tranh, lau lách, độ tàn che khoảng 0,8-0,9; đất có độ phì vừa phải, môi trường xung quanh có rừng tái sinh Kết quả, năm thứ 1, năm thứ 2 và năm thứ 3 cây phát triển tốt, thậm chí có cây cao từ 0,5 m - 0,6 m, rải rác có hoa, quả và quả chín Sau khi bàn giao lại cho địa phương, do vấn đề sâu bệnh, chăm sóc chưa tốt,… đã dẫn đến cây sâm phát triển không tốt Trong khi đó ở xã Trà Linh, huyện Nam Trà

My, tỉnh Quảng Nam, cây sâm Ngọc Linh được trồng dưới tán rừng già tự nhiên, ở độ cao từ 1.000 m - 1.200 m, sinh trưởng và phát triển rất tốt

Trang 24

(Nguyễn Văn Thuận và cộng sự, 2003) [21]

Nguyễn Bá Hoạt và Nguyễn Duy Thuần (2005) [11] tổng kết các kết quả nghiên cứu và đưa ra lựa chọn vùng trồng cho Sâm ngọc linh yêu cầu Vùng núi cao trên 1.500m, có khí hậu mát ẩm quanh năm, đất trồng được che phủ trên 70% là đất dưới tán rừng hay giàn che Tác giả cũng khẳng định vùng cây mọc tự nhiên ở độ cao > 1.500 m của núi Ngọc Linh thuộc 2 tỉnh Kon Tum và Quảng Nam là vùng trồng Sâm thích hợp hiện nay

Phạm Quang Tuyến (2019) [26] đã xây dựng Quy trình trồng trọt Sâm lai châu trong đó có nêu độ cao thích hợp để trồng Sâm lai châu là từ 1.400 - 2.200 m so với mực nước biển Trồng trên đất trống hoặc vườn hộ có giàn che sáng 70-80% ánh sáng Giàn che cao 2-2,5 m, vật liệu cột tre, gỗ, cột thép, bê tông tùy theo điều kiện Làm đất toàn diện trước khi trồng ít nhất là 20 - 30 ngày, sâu từ 20 - 25 cm, rồi để phơi đất trong 15 - 20 ngày Lên luống chiều rộng 1,2 - 1,5m, chiều dài từ 10 - 12 m, chiều cao mặt luống 20 - 30 cm, rãnh rộng 40 - 50 cm Mặt luống phẳng, hướng luống xuôi theo chiều dốc, đối với nơi quá dốc làm luống theo đường đồng mức

Vấn đề di thực mở rộng vùng trồng Sâm ngọc linh ra những nơi có điều kiện thấp hơn vùng nguyên sản là một trong vấn đề đang được quan tâm nghiên cứu để mở rộng vùng sản xuất

Theo Nguyễn Thượng Dong và cộng sự (2007) [06] từ năm 1979-1983

đã có thử nghiệm trồng Sâm ngọc linh tại 2 độ cao 1800m (dưới tán rừng và dưới giàn che) và 1.100 m (dưới giàn che) Kết quả thử nghiệm cho thấy Sâm ngọc linh có thể sinh trưởng và phát triển được ở độ cao 1.100 m dưới giàn che Tuy nhiên, sự phát triển của cây ở độ cao 1.100 m chậm hơn 1 tháng so với độ cao 1.800 m và hình dạng củ ở vườn trồng 1.100 m thường có hình dạng củ cà rốt hoặc hình bó rễ củ khác so với trồng ở dưới tán rừng hình dạng

củ hình con quay

Trang 25

Theo Nguyễn Như Chính, Đặng Ngọc Phái (2008) [04], tỉnh Quảng Nam di thực từ đỉnh núi Ngọc Linh, ở độ cao 1.800 m về các xã Ch’Ơn (huyện Tây Giang), Phước Lộc (huyện Phước Sơn) và xã Trà Cang, Trà Nam (huyện Nam Trà My) Sau hơn 02 năm triển khai đề án di thực cây sâm Ngọc Linh, các mẫu xét nghiệm lấy từ sâm Ngọc Linh di thực xã Ch’Ơn (huyện Tây Giang), Phước Lộc (huyện Phước Sơn), cho thấy chất lượng, hàm lượng saponin gần tương đồng với mẫu sâm nguyên chủng mọc tự nhiên tại vùng núi Ngọc Linh

Nguyễn Đình Thành (2014) [20] đã thực hiện đề tài nghiên cứu thử nghiệm trồng Sâm ngọc linh dưới tán rừng tại xã An Toàn, huyện An Lão, tỉnh Bình Định cho thấy đối với mô hình trồng tập trung dưới tán rừng bằng thân rễ nạc (nguồn gốc từ hạt) cây cho tỷ lệ sống bình quân từ 71,14-83,33%, chiều cao thân khí sinh biến động từ 5-30 cm, đường kính tán từ 5-20 cm

Nghiên cứu trồng Sâm ngọc linh ở miền Bắc những năm gần đây đã có những nghiên cứu thử nghiệm Một số kết quả nghiên cứu bước đầu đã có những thành công như:

Viện Dược liệu đã di thực cây Sâm ngọc linh trồng tại Trạm Nghiên cứu trồng cây thuốc Tam Đảo và đỉnh núi Thiên Thị - điểm cao nhất của đỉnh núi Tam Đảo, có điều kiện sinh thái (độ cao, thổ nhưỡng, nhiệt độ, độ ẩm…) tương đồng với nơi nguyên sản Kết quả theo dõi trong 3 năm (2008-2010) cho thấy cây sâm sinh trưởng và phát triển rất tốt, tỷ lệ sống đạt trên 72% Đặc biệt có cây đã ra hoa, đậu quả và quả sâm có chấm đen ở đỉnh (http://nongnghiep.vn) [27]

Phan Thuý Hiền (2013) [08] khi nghiên cứu di thực trồng Sâm ngọc linh tại Tam Đảo (Vĩnh Phúc) cũng cho kết quả tương tự, cây sinh trưởng và phát triển tốt Cây sâm 3 năm tuổi đã có củ và trọng lượng tương đương so với cây sâm 3 năm tuổi trồng tại núi Ngọc Linh

Trang 26

Phan Thuý Hiền (2015) [09] khi nghiên cứu việc phát triển Sâm ngọc linh ra một số khu vực có điều kiện sinh thái tương tự núi Ngọc Linh Tác giả

đã đánh giá được sinh trưởng, phát triển và chất lượng của Sâm ngọc linh trên một số khu vực: Đà Lạt (Lâm Đồng); Sa Pa (Lào Cai); Tam Đảo (Vĩnh Phúc)

và Kon Plông (Kon Tum) so với điểm đối chứng tại vùng núi Ngọc Linh bước đầu cho thấy Cây Sâm ngọc linh có thể thích nghi tốt tại một số vùng như Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Kon Plông (Kon Tum) và Đà Lạt (Lâm Đồng) Kết quả nghiên cứu cho thấy Sâm ngọc linh trồng tại Tam Đảo có khả năng tích luỹ hàm lượng saponin cao thậm chí cao hơn so với điểm đối chứng

Tuy nhiên, song song với đó có những nghiên cứu chưa thành công như: Vũ Quang Giảng (2015) [07] đã cho thử nghiệm trồng Sâm ngọc linh dưới tán rừng trên một số vùng sinh thái ở độ cao 1402m (xã Toả Tình, huyện Tuần Giáo) và 1584m (xã Trung Thu, huyện Tủa Chùa) đã đưa ra kết luận là cây trồng có tỷ lệ sống thấp, nơi có tỷ lệ sống cao nhất chỉ đạt tỷ lệ 31% (huyện Tuần Giáo), một số thí nghiệm cây gần như không phát triển hoặc kém phát triển, tỷ lệ sống chỉ đạt 15% (huyện Tủa Chùa) Cơ bản nghiên cứu này vẫn chưa chỉ rõ được những tồn tại do việc xác định vùng trồng hay những nguyên nhân khác

Từ những năm 1979, tài liệu “Kỹ thuật nuôi trồng và chế biến dược liệu” [13] đã có những hướng dẫn cơ bản về kỹ thuật trồng cây sâm Nhưng những hướng dẫn này mới chỉ dừng ở mức độ tham khảo mà chưa đưa ra được những quy trình trồng trọt mang tính bắt buộc

Nguyễn Bá Hoạt và Nguyễn Duy Thuần (2005) [11] đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu và tài liệu hoá thành hướng dẫn kỹ thuật trồng, sử dụng và chế biến cây thuốc, trong đó có cây Sâm ngọc linh Trong tài liệu này tác giả

đã đưa ra được hướng dẫn kỹ thuật khá đầy đủ về kỹ thuật trồng cây Sâm ngọc linh từ: chọn vùng trồng, phương pháp và kỹ thuật sản xuất giống, thời

Trang 27

vụ trồng, đất trồng và kỹ thuật làm đất, phân bón và kỹ thuật bón phân, mật

độ và khoảng cách trồng, kỹ thuật trồng, chăm sóc và bảo vệ Theo tác giả thời vụ trồng vào tháng 9-11 cây chuẩn bị nghỉ đông (thời vụ chính) hoặc tháng 4-5 chủ yếu cho cây giống 2 năm tuổi; đất trồng ở độ cao trên 1.700 m

độ dốc dưới 200, thoát nước, tầng mùn dày trên 10cm, độ ẩm cao, độ che phủ trên 70%; đất trồng lên luống chiều dài 8-10 m, rộng 1,2-1,5 m, chiều cao 15-

20 cm; phân bón 150-160 m3 mùn + 1.500 kg phân vi sinh; mật độ trồng 16 cây/m2 (20 x 30 cm); Kỹ thuật trồng sâu 2 cm, ấn chặt gốc; Chăm sóc thường xuyên nhổ cỏ, vun đất, chỉnh sửa rảnh thoát nước, phủ lá rừng tủ ẩm cho cây

Trần Thị Liên (2011) [14] trong luận án nghiên cứu sinh về nhân giống

và trồng Sâm ngọc linh, đã nghiên cứu khá đầy đủ về kỹ thuật trồng Sâm ngọc linh đảm bảo hoạt chất dược liệu Tác giả đã xác định được thời vụ trồng vào tháng 8 là tốt nhất, cây có tỷ lệ sống cao nhất, năng suất và các chỉ tiêu khác đều tốt hơn so với các thời gian còn lại; Mật độ 165.000 cây/ha (20 x 30 cm) cho năng suất cao nhất; Giàn che lợp bằng cỏ tranh là tốt nhất (chỉ sử dụng quy mô nhỏ); Phân bón 80 tấn mùn + 20-40 kg P2O5 + 60-80 kg K2O cho năng suất và sinh trưởng và hàm lượng saponin là tốt nhất

Phạm Quang Tuyến (2019) [26] đã xây dựng Quy trình trồng trọt Sâm lai châu trong đó đã đưa ra 02 mật độ trồng là 60.000 cây/ha với cự ly 30 x 30

cm và mật độ trồng 100.000 cây/ha cự ly 20 x 30 cm Trồng cây trên nền mùn

đã đổ trên luống, đánh rạch sâu 5-7 cm, đặt cây lên rạch, vun đất, sao cho củ cách mặt đất 2-3 cm, phủ mùn, ấn nhẹ gốc để cây thẳng đứng, không để hố lõm đọng nước gây thối củ, tủ ẩm xung quanh gốc cây bằng các vật liệu lá cây rừng hoặc cỏ khô Tưới nước cho cây ngay sau khi trồng

Loại cây giống trồng ảnh hưởng rất nhiều đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cây Sâm ngọc linh Hiện nay, có rất nhiều quan điểm về việc sử dụng loại cây giống để đem trồng Việc lựa chọn loại cây giống trồng đảm bảo về mặt

Trang 28

tỷ lệ sống, sinh trưởng, năng suất đặc biệt là chất lượng và giá thành

Dương Tấn Nhựt (2012) [16] đã tiến hành trồng thử nghiệm trồng cây Sâm ngọc linh từ nuôi cấy mô ngoài tự nhiên: 400 cây tại xã Tê Xăng, huyện

Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum thì tỷ lệ sống sót từ 76-87%, tỷ lệ nảy mầm 87%, nhưng chỉ có 35 cây hình thành củ sau 8 tháng trồng đạt tỷ lệ 8,75%;

42-200 cây trồng tại xã Măng Ri, Tu Mơ Rông, Kon Tum sau 4 tháng tỷ lệ sống sót đạt 82%, tỷ lệ nảy mầm 51%, chưa có cây hình thành củ; 200 cây trồng ở Bidoup Núi Bà, Lâm Đồng tỷ lệ sống sót sau 4 tháng 84%, tỷ lệ nảy mầm 25%, chưa hình thành củ Tác giả đưa ra khuyến nghị cần nghiên cứu thêm điều kiện gây trồng và thiết lập vườn ươm (huấn luyện cây) ở độ cao 1.800 m,

giá thể tốt nhất là đất mùn để nuôi cấy in vitro

Nguyễn Đình Thành (2014) [20] khi nghiên cứu trồng thử nghiệm cây Sâm ngọc linh từ nuôi cấy mô và trồng cây con từ hạt dưới tán rừng tại Bình Định ở độ cao 950m Kết quả cho thấy đối với mô hình trồng phân tán 200 cây con nuôi cấy mô giao cho các hộ dân trồng đều chết hoàn toàn sau 2 tháng Đối với mô hình trồng tập trung trên đất trộn thảm mục thì tỷ lệ cây sống sau 2 năm trồng chỉ còn 1,2-3,6%, đối với mô hình trồng trên đất trộn phân bò thì tỷ lệ này cao hơn đạt 50% nhưng số lượng cây trồng ít Tác giả cho rằng cây chết do cây mô chưa được huấn luyện, địa điểm trồng chưa thích hợp (xa suối), đất trộn xác thảm mục dễ bị côn trùng phá hoại, côn trùng phá hoại nhiều Tuy nhiên, trên cùng điều kiện lập địa thì cây trồng bằng hạt lại cho tỷ lệ sống cao 71,14-83,33% Nhưng, trong kiến nghị của mình tác giả chỉ

đề xuất trồng bằng cây con từ hạt

Như vậy, qua kết quả trên ta có thể thấy Sâm ngọc linh trồng bằng nuôi cấy mô cho tỷ lệ sống thấp, nếu được chăm sóc tốt tỷ lệ sống có thể đạt 50% Tuy nhiên, do số lượng cây trồng thử nghiệm còn ít, thời gian theo dõi

Trang 29

các kết quả nghiên chưa lâu, chưa có đánh giá chất lượng dược liệu từ cây trồng nuôi cấy mô, nên cần có những nghiên cứu, theo dõi dài hơi hơn nhằm khẳng định năng suất, chất lượng dược liệu và tính hiệu quả kinh tế của cây trồng từ cây mô

1.2.5 Thực trạng và chính sách phát triển Sâm lai châu

Trong những năm gần đầy Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản, chính sách nhằm khuyến khích, thúc đẩy ngành nông nghiệp phát triển một cách ổn định và bền vững như Quyết định số 899/QĐ-TTg về việc phê duyệt

đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”; Quyết định số 1600/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 05/7/2018 về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Nhằm đẩy mạnh, khuyến khích phát triển liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu, Hội đồng nhân dân đã ban hành Nghị quyết số 13/2019/NQ-HĐND ngày 23/7/2019 về quy định chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trên địa bàn tỉnh và UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1446/QĐ-UBND ngày 05/11/2019 về việc ban hành ngành hàng, sản phẩm quan trọng khuyến khích

và ưu tiên hỗ trợ thực hiện liên kết gắn với sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tỉnh Lai Châu

Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 88/2019/QH14 về phê duyệt Đề

án tổng thể phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030; Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 12/NQ-CP về triển khai thực hiện Nghị quyết số 88/2019/QH14 của Quốc hội; trong đó có Tiểu

dự án phát triển vùng trồng Sâm và dược liệu quý Chính phủ đang thúc đẩy

Trang 30

việc xây dựng “Chương trình quốc gia phát triển sâm Ngọc Linh (sâm Việt Nam) giai đoạn 2021 - 2030 và định hướng đến 2045” với mục tiêu đến 2045, đưa nước Việt Nam trở thành nước sản xuất sâm có thể cạnh tranh ngang bằng với ngành sản xuất sâm của Hàn Quốc; hằng năm sản xuất ra được từ 500-1000 tấn

Về phía tỉnh Lai Châu, một số chủ trương của tỉnh gồm:

- Nghị quyết số 38/2019/NQ-HĐND ngày 11/12/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh Lai Châu “Thông qua đề án phát triển một số cây dược liệu giai đoạn 2020-2025, tầm nhìn đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Lai Châu”;

- Nghị quyết số 13/2019/NQ-HĐND ngày 23/07/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh Lai Châu “Quy định chính sách hỗ trợ liên kết sản xuất và tiêu thu sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh”;

- Quyết định số 29/QĐ-UBND ngày 14/01/2020 của UBND tỉnh Lai Châu về việc phê duyệt Đề án phát triển một số cây dược liệu giai đoạn 2020-

2025, tầm nhìn đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Lai Châu

Đánh giá chung: Những nghiên cứu về Sâm nói chung và Sâm lai

châu nói riêng trên thế giới và Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu

đề cập đến Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chủ yếu dừng ở mức độ phân loại Một số nghiên cứu có đề cập đến nhân giống và trồng trọt nhưng chưa được nghiên cứu sâu, chủ yếu nhân giống phục vụ bảo tồn Mặc dù nghiên cứu ở quy mô nhỏ, nhưng trong các công trình nghiên cứu này đã bước đầu thành công trong việc nhân giống và trồng

Tổng hợp các vấn đề nghiên cứu trong và ngoài nước đặt ra những tồn tại cần giải quyết là cần xây dựng được tài liệu hướng dẫn kỹ thuật đầy đủ về nhân giống và trồng từ những kết quả nghiên cứu tốt nhất để chuyển giao cho người dân trên quy mô lớn sản xuất thử nghiệm

Trang 31

1.3 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu

1.3.1 Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý

Phong Thổ là huyện vùng cao biên giới nằm ở phía Bắc của tỉnh Lai Châu, có tọa độ địa lý từ 22o25’ đến 22o51’ vĩ độ Bắc, 103o08’ đến 103o36’ kinh độ Đông giáp ranh với các lãnh thổ liền kề:

- Phía Bắc tiếp giáp huyện Kim Bình tỉnh Vân Nam, Trung Quốc;

- Phía Đông, Đông Nam tiếp giáp tỉnh Lào Cai;

- Phía Nam tiếp giáp với huyện Tam Đường;

- Phía Tây và Tây Nam tiếp giáp huyện Sìn Hồ

Phong Thổ có vị trí địa lý thuận lợi do có đường biên giới dài 98,95 km trải dài, có cửa khẩu quốc tế Ma Lù Thàng và có tuyến đường quốc lộ 12, 4D, quốc lộ 100 đi qua, tạo thuận lợi cho việc giao thương hàng hóa với các địa phương lân cận trong nước và với Trung Quốc

* Đất đai, địa hình

- Tài nguyên đất của huyện Phong Thổ khá đa dạng được chia làm 4 nhóm đất chính như sau:

+ Nhóm đất đỏ vàng, chiếm khoảng 33,65% diện tích

+ Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi, chiếm khoáng 59% diện tích

+ Nhóm đất dốc tụ, chiếm khoảng 2,7% diện tích tự nhiên

+ Các loại đất khác chiếm khoáng 4,65% diện tích tự nhiên

Như vậy, đất đai thổ nhưỡng của huyện có sự phân hóa khá rõ rệt giữa vùng thấp và vùng cao Vùng thấp có các loại đất thích hợp cho phát triển lúa nước, các loại cây ngắn ngày Vùng cao có các loại đất thích hợp cho phát triển cây lâu năm và phát triển rừng (kết hợp với trồng cây dược liệu dưới tán rừng)

Trang 32

- Địa hình núi cao là phổ biến, thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam

Độ cao trung bình so với mặt nước biển 1000m - 1500m, xen kẽ là những thung lũng hẹp, chia thành các vùng sau:

+ Địa hình vùng núi cao: Gồm 8 xã phía Bắc gồm các xã Sì Lở Lầu,

Mồ Sì San, Vàng Ma Chải, Pa Vây Sử, Tung Qua Lìn, Dào San, Mù Sang,

Ma Ly Chải và xã Sin Súi Hồ, tổng diện tích 37.455,77 ha, chiếm 36,40% diện tích đất tự nhiên, độ dốc lớn; đây là vùng tập trung hầu hết tài nguyên rừng của cả huyện

+ Địa hình vùng núi thấp: Bao gồm các dãy đồi núi thấp tập trung ở các

xã phía Nam và Tây Nam của huyện, gồm các xã: Mường So, Nậm Xe, Bản Lang, Ma Ly Pho, Hoàng Thèn, Khổng Lào diện tích 65.468,73 ha, chiếm 63,6% diện tích đất tự nhiên hầu hết là đồi núi, một số nơi bằng phẳng, thuận lợi nước tưới người dân canh tác lúa nước

* Khí hậu, thủy văn

- Về khí hậu

Phong Thổ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa Mùa hè có gió mùa Đông Nam, kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều Mùa đông có gió mùa Đông Bắc kéo theo từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thời tiết lạnh, khô và ít mưa

- Về thủy văn

Phong Thổ nằm trong lưu vực của sông Nậm Na, bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua địa bàn xà Ma Ly Pho và thị trấn Phong Thổ với chiều dải khoảng 18 km Hệ thống các suối chính gồm suối Nậm Pạt, suối Nậm Cúm, suối Nậm Lùm, suối Nậm So với tổng chiều dài các suối khoảng 210 km Đây

là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sản xuất và sinh hoạt của dân cư trên địa bàn huyện, đồng thời tạo thuận lợi cho đầu tư các công trình thủy điện Ngoài

ra, đây cùng là nguồn nước dồi dào cho việc khai hoang phát triển ruộng lúa,

Trang 33

xây dựng hệ thông thủy lợi

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội tại

* Về kinh tế

Kinh tế đã có bước phát triển toàn diện trên tất cá các ngành, lĩnh vực, duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Tổng giá trị sản xuất ước đạt trên 3.634 tỷ đồng, trong đó cơ cấu các ngành kinh tế: Nông, lâm, thủy sản chiếm 23,1%; công nghiệp, xây dựng chiếm 39,9%; dịch vụ chiếm 37% Đời song Nhân dân từng bước được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người đạt 29 triệu đồng/năm

Lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản được đặc biệt quan tâm chỉ đạo thực hiện và đã đạt được những kết quả quan trọng Cơ cấu cây trồng chuyển dịch theo hướng tích cực, đưa các giống cây trồng có năng suất cao, chất lượng tốt, ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi diện tích sản xuất kém hiệu quả sang trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao Các đề án, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất được triển khai thực hiện hiệu quả, khai thác được tiềm năng, thế mạnh của từng vùng Lợi thế Cửa khẩu đang từng bước được phát huy, thúc đẩy sản xuất một số hàng hóa nông sân xuất khẩu: Sản xuất cây lương thực tăng cả về diện tích, năng suất và sản lượng, tổng diện tích gieo trồng 8.250 ha; sản lượng đạt 35.609 tấn, bình quân lương thực đầu người đạt 434kg/người/năm Mặt khác cây chè đã được mở rộng diện tích theo hướng tập trung, ước đến năm 2020 tổng diện tích chè toàn huyện là 268,84 ha; hiện có 34,5 ha chè kinh doanh, sản lượng chè búp tươi bình quân đạt trên 70 tấn/năm Tiếp tục chăm sóc 1.411 ha cây cao su; 1.055 ha cây thảo quả, trồng mới 115,89 ha cây Mắc ca, nâng tổng diện tích cây Mắc ca toàn huyện lên 182,89 ha Bên cạnh đó với việc chuyển đổi diện tích một số cây trồng có giá trị kinh tế thấp và đất hoang hóa, đất đồi dốc sang trồng cây ăn quả có giá trị kinh tế, diện tích trồng cây ăn quả trên địa bàn

Trang 34

huyện tăng nhanh trong những năm qua, cụ thể: Ước đến năm 2020 tổng diện tích trồng cây ăn quả là 4.642,7 ha; sản lượng đạt 55.178,8 tấn Chăn nuôi, thủy sản cũng đã được tập trung chỉ đạo phát triển chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm; tính đến năm 2020 tổng đàn gia súc ước đạt 44.845 con, tốc độ tăng trưởng dự kiến là 6,1% Thủy sản phát triển khá về diện tích và sản lượng; tiếp tục duy trì và phát triển diện tích nuôi trồng thủy sản nước lạnh hiện có ở các xã vùng cao Ngoài ra công tác chăm sóc, quản lý, bảo vệ rừng cũng đã được tập trung chỉ đạo làm tốt công tác quản lý, khoanh nuôi, bảo vệ, trồng mới và chi trả các chế độ về bảo vệ, phát triển rừng và dịch vụ môi trường rừng Tổng diện tích rừng là 45.371,76 ha, tỷ lệ che phủ rừng 43,66%

* Về văn hóa - xã hội

- Tỷ lệ hộ nghèo giảm trung bình 4,3%/năm, mục tiêu đến năm 2020 tỷ

lệ hộ nghèo của huyện giảm còn 20,49% Công tác dạy nghề, giải quyết việc làm cho người lao động được quan tâm, đã đào tạo nghề trình độ sơ cấp và dưới 03 tháng cho 4.755 lao động nông thôn, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo, tập huấn từ 25% năm 2015 lên 50% năm 2020 (trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 35%), giải quyết việc làm mới cho 4.945 lao động, tổ chức cho

137 công dân đi xuất khẩu lao động sang thị trường lao động nước ngoài

- Hệ thống trường, lớp học được được quy hoạch, sắp xếp lại phù hợp với tình hình thực tiễn của huyện, số lượng giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục được bổ sung, cơ bản khắc phục tình trạng thiếu giáo viên ở các bậc học Tỷ

lệ chuyển lớp, chuyển cấp, thi tốt nghiệp năm sau cao hơn năm trước; tỷ lệ huy động học sinh ra lớp bậc mầm non đạt 98,1%; tiểu học trên 99%; trung học cơ sở trên 95%; THPT 30% Duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ cho học sinh Tiếp tục quan tâm đầu

tư cơ sở vật chất trường, lớp học, đến nay tỷ lệ kiên cố, bán kiên cố đạt 89,5%

Trang 35

- Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tiếp tục được quan tâm đầu tư, phát triển Ước đến hết năm 2020 có trên 88% thôn, bản có đường ô tô đến trung tâm, có 167/171 thôn bản có đường xe máy di lại thuận lợi; tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh 83,5%; 171/171 bàn có điện lưới quốc gia, 98,2% số hộ dược sử dụng điện

1.4 Đánh giá chung

1.4.1 Thuận lợi

- Nhìn chung, huyện có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự sinh trưởng, phát triển của đa dạng cây trồng, vật nuôi Nhân dân bước đầu chú ý đến sản xuất lương thực, chăn nuôi và trồng trọt theo hướng hàng hoá

- Tốc độ phát triển kinh tế mấy năm gần đây tăng nhanh, đời sống nhân dân có sự thay đổi rõ rệt theo hướng tích cực

- Nguồn lao động dồi dào là nguồn lực lớn cho quá trình phát triển kinh

tế xã hội trên địa bàn

- Cán bộ các xã, thôn được tập huấn, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ, chuyên môn, lý luận Nhân dân được tuyên truyền giáo dục, học tập đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Quy chế dân chủ ở cơ sở được triển khai thường xuyên có hiệu quả

1.4.2 Khó khăn

- Các ngành kinh tế phát triển không đồng đều, tỷ trọng ngành nông nghiệp còn chiếm quá cao, thương mại - dịch vụ, công nghiệp - xây dựng cơ bản còn hạn chế Ngành nghề phụ ít, sản xuất chủ yếu với quy mô nhỏ lẻ, hàng hoá có sức cạnh tranh yếu, chưa thực sự thu hút thị trường Thu nhập người dân phụ thuộc chủ yếu vào mùa vụ và chăn nuôi

- Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi còn chậm năng suất thấp

- Giao thông, thủy lợi chất lượng chưa đảm bảo, cơ sở hạ tầng còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu kiến thiết hạ tầng

Trang 36

- Trang thiết bị phục vụ nhu cầu học tập và khám chữa bệnh còn thiếu thốn

Với những mặt thuận lợi và hạn chế như trên trong tương lai nếu được

sự quan tâm đúng mức, quy hoạch bố trí phân bổ đất đai, sắp xếp dân cư hợp

lý, khoa học thì sẽ giảm bớt được những khó khăn Đồng thời, phát huy được những nguồn lực, khai thác tiềm năng đất đai, lao động để góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội đi lên, cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân

Để đảm bảo cho mục đích phát triển nông nghiệp, cần thiết phải dựa vào khả năng thâm canh tăng vụ, tăng năng suất, sản lượng cây trồng trên diện tích đất canh tác nông nghiệp, đồng thời mở thêm những hướng sản xuất mới trên cơ sở diện tích đất hiện có như phát triển chăn nuôi, trồng rừng sản xuất, cây ăn quả, mở rộng diện tích đất canh tác thông qua cải tạo đưa diện tích đất chưa sử dụng có khả năng sản xuất nông nghiệp vào sử dụng

Trang 37

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Loài Sâm lai châu phân bố tự nhiên dưới tán rừng trên địa bàn huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra, đánh giá, thực trạng phân bố và phát triển của cây Sâm lai châu tại huyện Phong Thổ

- Xác định đặc điểm sinh thái học và xây dựng tiêu chí trồng cây Sâm lai châu trên địa bàn huyện Phong Thổ

- Đánh giá tính thích nghi và khoanh vùng định hướng phát triển cho cây Sâm lai châu trên địa bàn huyện Phong Thổ

- Đề xuất giải pháp phát triển cây Sâm lai châu

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp kế thừa

Phương pháp kế thừa được sử dụng để nghiên cứu các quy định của pháp luật, cơ chế, chính sách bảo tồn và phát triển cây dược liệu, cây lâm sản ngoài gỗ của trung ương và địa phương Sưu tầm, tổng hợp các tài liệu liên

Trang 38

quan đến đặc điểm sinh thái của cây Sâm lai châu, các đề tài khoa học, đề án nghiên cứu, kết quả thực hiện của các mô hình khuyến lâm, khuyến nông, tài liệu về các biện pháp nhân giống, trồng, chăm sóc, thu hoạch, bảo quản và sơ chế, chế biến sản phẩm của cây Sâm lai châu Các tài liệu có liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu; Hệ thống bản đồ,

cơ sở dữ liệu liên quan đến cây Sâm lai châu

2.3.2 Phương pháp chuyên gia

- Tham vấn ý kiến chuyên gia về cách thức tổ chức, thực hiện thu thập tài liệu, điều tra số liệu; đánh giá tính logic, chính xác của các số liệu, tài liệu thu thập, điều tra được

- Dựa trên kiến thức chuyên gia về quy hoạch phát triển dược liệu; các

cơ sở khoa học và thực tiễn và kết hợp với ý kiến tham gia của các nhà khoa học, nhà quản lý để xây dựng, đề xuất phương án phát triển cây Sâm lai châu trên địa bàn huyện Phong Thổ

2.3.3 Phương pháp PRA

Phương pháp phỏng vấn, đánh giá nhanh nông thôn (PRA): Tiến hành phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu phỏng vấn thông qua các lãnh đạo, cán bộ kỹ thuật cấp tỉnh, huyện, xã, người dân, các đại lý thu mua dược liệu, các thầy thuốc y học cổ truyền ở địa phương để thu thập các thông tin và số liệu về: hiệu quả trồng cây Sâm lai châu, nhu cầu sử dụng sản phẩm từ cây Sâm lai châu, thị trường tiêu thụ sản phẩm; nhu cầu phát triển và khả năng cung cấp giống tại địa phương; kỹ thuật thu hoạch và sơ chế, chế biến

2.3.4 Phương pháp điều tra đặc điểm sinh thái học, phân bố của Sâm lai châu trong tự nhiên

- Từ những thông tin điều tra ban đầu về thực trạng, khu phân bố Sâm lai châu, từ đó xác định và lựa chọn các địa điểm để điều tra trên hiện trường Tại các điểm điều tra dựa vào diện tích đất đai và bản đồ hiện trạng tài nguyên

Trang 39

rừng, bản đồ địa hình Tiến hành lập các tuyến điều tra, trong quá trình điều tra phát hiện loài Sâm lai châu ở lâm phần nào sẽ kết hợp bố trí ô tiêu chuẩn điểm hình trên tuyến Mỗi lâm phần rừng có cây Sâm lai châu thiết lập 3 tuyến điều tra, trên mỗi tuyến lập 5 ô tiêu chuẩn (OTC), diện tích ô tiêu chuẩn

400 m2 Tuyến điều tra được xác định đại diện cho khu vực nghiên cứu, đảm bảo đại diện các dạng địa hình, các quần xã thực vật rừng có loài Sâm lai châu Mỗi tuyến có chiều dài 3 - 5 km (tuỳ địa hình), chiều rộng cố định mỗi tuyến 30 m, ngoài ra có thể quan sát mở rộng dọc hai bên tuyến mỗi bên 10m Địa điểm điều tra thuộc các xã Sì Lở Lầu, Mồ Sì San

- Trong OTC 400 m2 thu thập các thông tin: Độ tàn che, độ che phủ bình quân và độ dốc mặt đất, kiểu rừng, nơi mọc, chiều cao rừng, cấu trúc tầng tán rừng, tổ thành các loài cây mọc cùng, định loại cây gỗ và cây bụi Cây gỗ được quy định có chiều cao trên 7m và cây bụi có chiều cao trên 1m Cần ghi tên của tất cả các cây gỗ và cây bụi Cây nào chưa biết tên phải lấy tiêu bản và đánh số vào phiếu để định loại

- Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc lâm phần có loài Sâm lai châu phân

bố:

+ Trong OTC 400m2 thu thập các thông tin: Độ tàn che, chiều cao, cấu trúc tổ thành các loài cây mọc cùng Cây gỗ được quy định có chiều cao trên 7m và cây bụi có chiều cao trên 1m Sử dụng các phương pháp điều tra trong lâm sinh và điều tra rừng Kết quả điều tra được thống kê vào phiếu điều tra tầng cây cao (theo Mẫu biểu 01 - Phụ lục kèm theo)

+ Điều tra thảm tươi theo các chỉ tiêu: loài chủ yếu, chiều cao bình quân, độ che phủ bình quân của loài trên từng ODB, kết quả ghi vào biểu điều tra thảm tươi Kết quả điều tra được thống kê vào phiếu điều tra cây bụi (theo Mẫu biểu 02 - Phụ lục kèm theo)

+ Điều tra tái sinh tự nhiên của cây Sâm lai châu, trong OTC 400m2 lập

Trang 40

5 ô dạng bản (ODB), diện tích 4 m2 (2 x 2m), 1 ô ở tâm và 4 ô góc, để đánh giá mức độ tái sinh của cây Sâm lai châu, trong ô thu thập các chỉ tiêu: Số lượng, chiều cao, phẩm chất cây Sâm lai châu, các loài cây tái sinh mọc cùng

2.3.5 Phương pháp điều tra Sâm lai châu trong cộng đồng dân cư

- Khảo sát nghiên cứu bổ sung các tài liệu: diện tích các dự án, mô hình trồng cây Sâm lai châu trên địa bàn tỉnh Lai Châu (nếu có); điều tra về các loại sản phẩm từ cây Sâm lai châu, thị trường tiêu thụ, nhu cầu phát triển

và những khó khăn, vướng mắc trong phát triển cây Sâm lai châu trên địa bàn huyện Phong Thổ nói riêng và tỉnh Lai Châu nói chung

- Điều tra các tiêu chí còn thiếu về điều kiện sinh thái của cây Sâm lai châu làm cơ sở để xây dựng tiêu chí trồng cây Sâm lai châu tại Phong Thổ

- Điều tra các hoạt động sử dụng đất lâm nghiệp của người dân tại vùng phân bố tự nhiên cây Sâm lai châu; đánh giá hiệu quả sử dụng đất và tập quán, kỹ thuật canh tác của người dân làm cơ sở đề xuất các biện pháp quản

lý, bảo tồn và phát triển cây Sâm lai châu có hiệu quả

2.3.6 Điều tra kiến thức bản địa của người dân về thực trạng trồng, thu hái, chế biến, bảo quản và sử dụng cây Sâm lai châu

Sử dụng phương pháp điều tra phỏng vấn thu thập thông tin đối với 03 đối tượng, gồm:

- Đối tượng 1: Người dân bản địa vùng có Sâm lai châu phân bố;

- Đối tượng 2: Điều tra cán bộ Lâm-Nông nghiệp, đối tượng phỏng vấn tại các cơ quan (Hạt kiểm lâm, Ban quản lý rừng phòng hộ, Phòng Nông nghiệp);

- Đối tượng thứ 3: hội đông y, thầy lang, thợ săn, đầu mối thu mua lâm sản ngoài gỗ, …

Tổng dung lượng mẫu điều tra là 30 mẫu, mỗi đối tượng điều tra 10 mẫu

Ngày đăng: 14/04/2022, 12:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ Y tế và UBND tỉnh Quảng Nam (2003). Hội thảo bảo tồn phát triển cây sâm Việt Nam (Sâm ngọc linh - Panax vietnamensis Ha et Grushv.Araliaceae, Tam Kỳ - Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Panax vietnamensis
Tác giả: Bộ Y tế và UBND tỉnh Quảng Nam
Năm: 2003
4. Nguyễn Như Chính, Đặng Ngọc Phái (2008). Bước đầu về công tác di thực Sâm ngọc linh tại Quảng Nam. Hội thảo khai thác, phát triển và xây dựng thương hiệu sâm Việt Nam (Panax vietnamensis Ha et Grushv, Araliaceae).Bộ Y tế - UBND tỉnh Kon Tum, năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Panax vietnamensis
Tác giả: Nguyễn Như Chính, Đặng Ngọc Phái
Năm: 2008
8. Phan Thuý Hiền (2013). Nghiên cứu di thực cây Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) tại Tam Đảo - Vĩnh Phúc. Báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học, Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc Hà Nội, Viện Dược liệu, năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Panax vietnamensis
Tác giả: Phan Thuý Hiền
Năm: 2013
9. Phan Thuý Hiền (2015). Nghiên cứu phát triển trồng Sâm Ngọc Linh (Panax Vietnamensis Ha et Grushv.) tại một số khu vực có điều kiện sinh thái tương tự núi Ngọc Linh. Báo cáo kết quả đề tài KC.06.20/11-15, Viện Dược liệu, năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Panax Vietnamensis
Tác giả: Phan Thuý Hiền
Năm: 2015
10. Nguyễn Bá Hoạt (2004). Nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản xuất giống, kỹ thuật trồng và quy hoạch phát triển trồng cây Sâm K5 tại Kon Tum (Panax vietnamensis Ha et Grushv.). Báo cáo kết quả thực hiện đề tài, Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc Hà Nội, năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Panax vietnamensis
Tác giả: Nguyễn Bá Hoạt
Năm: 2004
14. Trần Thị Liên (2011). Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật góp phần xây dựng quy trình sản xuất giống và dược liệu cây sâm Việt Nam (Panax vietnamensis Ha et Grushv.). Luận án tiến sỹ Nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp Hà Nội, năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Panax vietnamensis
Tác giả: Trần Thị Liên
Năm: 2011
16. Dương Tấn Nhựt (2012). Nhân giống vô tính và sản xuất sinh khối rễ cây sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.). Báo cáo nhiệm vụ Khoa học công nghệ cấp thiết mới phát sinh ở địa phương, Viện Sinh học Tây Nguyên thực hiện, năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Panax vietnamensis
Tác giả: Dương Tấn Nhựt
Năm: 2012
17. Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Nam vừa ban hành Quyết định mới nhất số 333/QĐ-SNN&PTNT ngày 29 tháng 6 năm 2016 về “Hướng dẫn tạm thời kỹ thuật trồng và chăm sóc cây Sâm ngọc linh (Panax vietnamensis) dưới tán rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tạm thời kỹ thuật trồng và chăm sóc cây Sâm ngọc linh ("Panax vietnamensis
18. Lê Thanh Sơn và Nguyễn Như Chính (2003). Nhân giống Sâm ngọc linh từ hạt. Hội thảo bảo tồn và phát triển cây sâm Việt Nam (Sâm ngọc linh Panax vietnamensis Ha et Grushv.). Chủ biên Bộ Y tế và UBND tỉnh Quảng Nam, tr.113-119 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Panax vietnamensis
Tác giả: Lê Thanh Sơn và Nguyễn Như Chính
Năm: 2003
19. Nguyễn Huy Sơn (2016). Đặc điểm sinh thái cây Sâm lai châu (Panax vietnamensis var. fuscidiscus). Báo cáo hội thảo “Bảo tồn và phát triển Sâm lai châu tại huyện Mường Tè), Viện Nghiên cứu Lâm sinh, năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Panax vietnamensis" var. "fuscidiscus
Tác giả: Nguyễn Huy Sơn
Năm: 2016
20. Nguyễn Đình Thành (2014). Nghiên cứu trồng thử nghiệm cây sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis) dưới tán rừng tự nhiên thuộc xã An Toàn, huyện An Lão, tỉnh Bình Định. Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu cấp tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Định, năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Panax vietnamensis
Tác giả: Nguyễn Đình Thành
Năm: 2014
21. Nguyễn Văn Thuận, Nguyễn Bá Hoạt, Nguyễn Văn Bút, Nguyễn Xuân Trường, Lê Thanh Sơn, Đào Mạnh Hùng, (2003), Bước đầu nghiên cứu trồng cây sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis) dưới tán rừng tự nhiên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Panax vietnamensis
Tác giả: Nguyễn Văn Thuận, Nguyễn Bá Hoạt, Nguyễn Văn Bút, Nguyễn Xuân Trường, Lê Thanh Sơn, Đào Mạnh Hùng
Năm: 2003
23. Phạm Quang Tuyến, Nguyễn Bá Triệu, Trần Thị Kim Hương (2016 a ). Kết quả nghiên cứu nhân giống nhằm bảo tồn cây Sâm lai châu (Panax vietnamensis var. fuscidiscus) tại Mường Tè. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, số 23, tr108-112, năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Panax vietnamensis" var. "fuscidiscus
25. Phạm Quang Tuyến (2019). Quy trình nhân giống Sâm lai châu. Kết quả thực hiện đề tài “Nghiên cứu xây dựng quy trình nhân giống và trồng cây Sâm lai châu (Panax vietnamensis var. fuscidiscus K.Komatsu, S.Zhu & S.Q.Cai)”, Viện Nghiên cứu Lâm sinh, năm 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng quy trình nhân giống và trồng cây Sâm lai châu ("Panax vietnamensis" var. "fuscidiscus" K.Komatsu, S.Zhu & S.Q.Cai)
Tác giả: Phạm Quang Tuyến
Năm: 2019
26. Phạm Quang Tuyến (2019). Quy trình trồng trọt Sâm lai châu. Kết quả thực hiện đề tài “Nghiên cứu xây dựng quy trình nhân giống và trồng cây Sâm lai châu (Panax vietnamensis var. fuscidiscus K.Komatsu, S.Zhu & S.Q.Cai)”, Viện Nghiên cứu Lâm sinh, năm 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng quy trình nhân giống và trồng cây Sâm lai châu ("Panax vietnamensis" var. "fuscidiscus" K.Komatsu, S.Zhu & S.Q.Cai)
Tác giả: Phạm Quang Tuyến
Năm: 2019
28. Choi, HI, Kim, NH, Kim, JH, Choi, BS, Ahn, IO, and Lee, JS (2011). Development of reproducible EST-derived SSR markers and assessment of genetic diversity in Panax ginseng cultivars and related species. J Ginseng Res. 35, 399-412 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Panax ginseng
Tác giả: Choi, HI, Kim, NH, Kim, JH, Choi, BS, Ahn, IO, and Lee, JS
Năm: 2011
29. Kim D.H., 2012. Chemical Diversity of Panax ginseng, Panax quinquifolium, and Panax notoginseng. Journal of Ginseng Reseach 36(1): 1- 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Panax ginseng, Panax quinquifolium", and "Panax notoginseng
27. Nông nghiệp Việt Nam, Di thực thành công giống Sâm quý Ngọc Linh, http://m.nongnghiep.vn/di-thuc-thanh-cong-giong-sam-qui-ngoc-linh-post64205.html, ngày 23/12/2010.Tiếng Anh Link
1. Trịnh Ngọc Bon, Phạm Quang Tuyến (2014). Điều tra mức độ nguy cấp loài Sâm lai châu. Báo cáo chuyên đề kết quả nghiên cứu khoa học, Viện Nghiên cứu Lâm sinh, năm 2014 Khác
2. Bộ Khoa học và Công nghệ và Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (2007). Sách đỏ Việt Nam phần II - Thực vật. NXB. KHTN & CN, Hà Nội.Tr 82-91 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Đặc điểm tầng cây cao Trạng - Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển cây sâm lai châu (panax vietnamensis var  fuscidiscus) trên địa bàn huyện phong thổ, tỉnh lai châu
Bảng 3.1 Đặc điểm tầng cây cao Trạng (Trang 43)
Hình 3.1: Đặc điểm trạng thái rừng nơi có Sâm lai châu phân bố - Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển cây sâm lai châu (panax vietnamensis var  fuscidiscus) trên địa bàn huyện phong thổ, tỉnh lai châu
Hình 3.1 Đặc điểm trạng thái rừng nơi có Sâm lai châu phân bố (Trang 44)
Bảng 3.2: Tổ thành tầng cây cao - Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển cây sâm lai châu (panax vietnamensis var  fuscidiscus) trên địa bàn huyện phong thổ, tỉnh lai châu
Bảng 3.2 Tổ thành tầng cây cao (Trang 45)
Bảng 3.3: Đặc điểm tầng cây tái sinh - Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển cây sâm lai châu (panax vietnamensis var  fuscidiscus) trên địa bàn huyện phong thổ, tỉnh lai châu
Bảng 3.3 Đặc điểm tầng cây tái sinh (Trang 46)
Kết quả xác định đặc điểm tầng cây tái sinh được trình bày tại bảng sau: - Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển cây sâm lai châu (panax vietnamensis var  fuscidiscus) trên địa bàn huyện phong thổ, tỉnh lai châu
t quả xác định đặc điểm tầng cây tái sinh được trình bày tại bảng sau: (Trang 46)
Kết quả xác định tổ thành tầng cây tái sinh được trình bày tại bảng sau: - Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển cây sâm lai châu (panax vietnamensis var  fuscidiscus) trên địa bàn huyện phong thổ, tỉnh lai châu
t quả xác định tổ thành tầng cây tái sinh được trình bày tại bảng sau: (Trang 47)
Từ bảng 3.4 cho thấy rằng tổ thành tầng cây tái sinh ở các trạng thái rừng là đa dạng, loài tái  sinh nhiều,  mật độ  khá cao, điều  này  cũ ng kh ẳ ng  định có sự thay đổi trong những năm tới về thành phần loài của tầng trên của  rừng - Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển cây sâm lai châu (panax vietnamensis var  fuscidiscus) trên địa bàn huyện phong thổ, tỉnh lai châu
b ảng 3.4 cho thấy rằng tổ thành tầng cây tái sinh ở các trạng thái rừng là đa dạng, loài tái sinh nhiều, mật độ khá cao, điều này cũ ng kh ẳ ng định có sự thay đổi trong những năm tới về thành phần loài của tầng trên của rừng (Trang 48)
Bảng 3.5: Đặc điểm tầng cây bụi Huy ện Tr thái ạng (loài/ha) Số loài % che ph - Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển cây sâm lai châu (panax vietnamensis var  fuscidiscus) trên địa bàn huyện phong thổ, tỉnh lai châu
Bảng 3.5 Đặc điểm tầng cây bụi Huy ện Tr thái ạng (loài/ha) Số loài % che ph (Trang 48)
Từ bảng trên ta thấy được rằng các hộ gia đình tại các xã đã lấy Sâm lai  châu  có  nguồn gốc từ  rừng tự nhiên về trồng với số lượng  mộ t  vài cây,  thậm chí có hộđã trồng được 20 - 30 cây trong vườn hộ - Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển cây sâm lai châu (panax vietnamensis var  fuscidiscus) trên địa bàn huyện phong thổ, tỉnh lai châu
b ảng trên ta thấy được rằng các hộ gia đình tại các xã đã lấy Sâm lai châu có nguồn gốc từ rừng tự nhiên về trồng với số lượng mộ t vài cây, thậm chí có hộđã trồng được 20 - 30 cây trong vườn hộ (Trang 50)
Bảng 3.6: Các hộ trồng Sâm lai châu tại huyện Phong Thổ - Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển cây sâm lai châu (panax vietnamensis var  fuscidiscus) trên địa bàn huyện phong thổ, tỉnh lai châu
Bảng 3.6 Các hộ trồng Sâm lai châu tại huyện Phong Thổ (Trang 50)
Bảng 3.7: Kết quả phỏng vấn về gây trồng cây Sâm lai châu Y ếu tốNhận định của - Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển cây sâm lai châu (panax vietnamensis var  fuscidiscus) trên địa bàn huyện phong thổ, tỉnh lai châu
Bảng 3.7 Kết quả phỏng vấn về gây trồng cây Sâm lai châu Y ếu tốNhận định của (Trang 52)
Hình 3.2: Sâm lai châu 3 tuổi trồng trong v ườn tại Phong Thổ - Lai - Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển cây sâm lai châu (panax vietnamensis var  fuscidiscus) trên địa bàn huyện phong thổ, tỉnh lai châu
Hình 3.2 Sâm lai châu 3 tuổi trồng trong v ườn tại Phong Thổ - Lai (Trang 54)
Bảng 3.9: Kết quả phỏng vấn về công dụng của Sâm lai châu TT Công dụng  ngSố - Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển cây sâm lai châu (panax vietnamensis var  fuscidiscus) trên địa bàn huyện phong thổ, tỉnh lai châu
Bảng 3.9 Kết quả phỏng vấn về công dụng của Sâm lai châu TT Công dụng ngSố (Trang 55)
Bảng 3.8: Kết quả phỏng vấn về chế biến và sử dụng cây Sâm lai châu Thông - Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển cây sâm lai châu (panax vietnamensis var  fuscidiscus) trên địa bàn huyện phong thổ, tỉnh lai châu
Bảng 3.8 Kết quả phỏng vấn về chế biến và sử dụng cây Sâm lai châu Thông (Trang 55)
Bảng 3.10: Bảng theo dõi vật hậu của cây Sâm lai châu Tháng - Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển cây sâm lai châu (panax vietnamensis var  fuscidiscus) trên địa bàn huyện phong thổ, tỉnh lai châu
Bảng 3.10 Bảng theo dõi vật hậu của cây Sâm lai châu Tháng (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w