1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

một số giải pháp giảm tổn thất điện năng ở điện lực nghệ an

74 972 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp giảm tổn thất điện năng ở Điện lực Nghệ An
Tác giả Nguyễn Quỳnh Ly
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Tiến Dũng
Trường học Trường Đại học Kinh tế Nghệ An
Chuyên ngành Kinh tế Phát triển
Thể loại Chuyên đề thực tập
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 569,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là lượng điện tiêu hao ngay tại nhà máy điện do việc sử dụng không hếtcông suất của máy phát điện và do việc điều độ hệ thống điện không đồng bộdẫn đến tình trạng công suất phát điện lớn

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Việt Nam đang trên con đường phát triển và hội nhập mạnh mẽ vào nềnkinh tế quốc tế Chúng ta đang từng bước gỡ bỏ hàng rào về hành chính, thuếquan… Các doanh nghiệp của Việt Nam phải đối mặt với sự cạnh tranh bìnhđẳng với các tập đoàn kinh tế đa quốc gia hùng mạnh trên thế giới đặc biệt làsau khi chúng ta gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO Tập đoàn Điệnlực Việt Nam với mục tiêu hoạt động: kinh doanh có lãi, bảo toàn và pháttriển vốn chủ sở hữu nhà nước đầu tư tại EVN và vốn của EVN đầu tư vào cácdoanh nghiệp khác; giữ vai trò trung tâm để phát triển một Tập đoàn Điện lựcQuốc gia Việt Nam đa sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước là chi phối; tối đahiệu quả hoạt động của Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam

Trong quá trình hội nhập và phát triển, Điện năng đóng vai trò quan trọngtrong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia bởi nó cung cấp điện cho cácngành nghề khác có thể hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu không có điện thìngành công nghiệp không thể tồn tại và phát triển Bên cạnh đó, điện cũng rấtcần thiết cho đời sống sinh hoạt dân cư, nó góp phần nâng cao chất lượngcuộc sống của người dân Chính vì vậy, ngành điện luôn được giành sự quantâm hàng đầu của Chính phủ

Trong sản xuất và kinh doanh điện năng, lượng điện dùng để truyền tải

và phân phối điện luôn tỷ lệ nghịch với hiệu quả kinh doanh và là mối quantâm hàng đầu của các nhà quản lý Chỉ khi nào lưới điện đạt đến mức “siêudẫn” thì “mặt trận” giảm tổn thất điện năng mới không còn nóng bỏng Nhưng

để lưới điện đạt đến mức “siêu dẫn” chỉ có trong phòng thí nghiệm Còn trênthực tế, lượng điện thất thoát trong kinh doanh không chỉ là vấn đề dây dẫn,lưới điện, phương thức vận hành, đó là thất thoát kỹ thuật, mà còn là gian lận

Trang 2

trọng trong sản xuất và kinh doanh của ngành điện Nếu giảm được tổn thấtđiện năng thì kinh doanh điện năng mới có hiệu quả và đời sống CBCNV mớiđược nâng cao Đó là mục tiêu chiến lược của ngành điện nói chung và Điệnlực Nghệ An nói riêng

Nhận thức được tầm quan trọng của việc giảm tỷ lệ tổn thất điện năngđối với các doanh nghiệp kinh doanh điện Trong thời gian thực tập tại phòng

Kế hoạch của Điện lực Nghệ An, với việc tiếp thu từ thực tế, kết hợp vớinhững kiến thức đã được học tập và đặc biệt được sự hướng dẫn tận tình củathầy giáo TS.Nguyễn Tiến Dũng, của cán bộ phòng Kế hoạch, em xin lựa

chọn và nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp giảm tổn thất điện năng ở Điện lực Nghệ An”.

Đề tài được chia làm 3 chương:

Chương I: Sự cần thiết giảm tổn thất điện năng ở Điện lực Nghệ An Chương II: Thực trạng tổn thất điện năng ở Điện lực Nghệ An.

Chương III: Giải pháp giảm tổn thất điện năng ở Điện lực Nghệ An.

Do trình độ hiểu biết về lý luận và thực tiễn còn hạn chế nên đề tài còn cónhiều thiếu sót, em mong được sự góp ý của các thầy cô để đề tài được thực tế

và hoàn thiện hơn

Trang 3

CHƯƠNG I : SỰ CẦN THIẾT GIẢM TỔN THẤT ĐIỆN

NĂNG Ở ĐIỆN LỰC NGHỆ AN

1 – Tổn thất điện năng

1.1 – Khái niệm và phân loại

Tổn thất điện năng là lượng điện tiêu hao và thất thoát trong quá trìnhtruyền tải và phân phối từ các nhà máy điện đến các đối tượng sử dụng điệnthông qua hệ thống đường dây tải điện và các trạm biến áp

Có nhiều cách phân loại tổn thất điện năng tùy theo phương pháp và mụcđích phân loại

Theo các giai đoạn phát sinh tổn thất thì tổn thất được phân loại:

+ Tổn thất trong quá trình sản xuất

Tổn thất điện năng

Theo các giai đoạn phát sinh

Theo tính chất tổn thất

Tổn thất

kỹ thuật

Tổn thất thương mại

và phân phối

Tổn thất

ở khâu tiêu thụ

Trang 4

Là lượng điện tiêu hao ngay tại nhà máy điện do việc sử dụng không hếtcông suất của máy phát điện và do việc điều độ hệ thống điện không đồng bộdẫn đến tình trạng công suất phát điện lớn hơn công suất tiêu thụ của các hộdùng điện.

+ Tổn thất điện năng trong quá trình truyền tải và phân phối

Là lượng điện năng tiêu hao trong quá trình đưa điện năng từ nhà máyđiện tới các hộ dùng điện Đây là do nguyên nhân khách quan (các yếu tố tựnhiên và môi trường, kỹ thuật và công nghệ…) và nguyên nhân chủ quan(trình độ quản lý) gây ra

+ Tổn thất điện năng ở khâu tiêu thụ

Là lượng điện năng tiêu hao trong quá trình sử dụng các thiết bị điện củangười tiêu dùng Vấn đề này được quyết định bởi mức độ hiện đại, tiên tiếncủa thiết bị điện, trình độ và ý thức sử dụng các trang thiết bị đó của ngườitiêu dùng

Theo tính chất của tổn thất thì tổn thất điện năng được chia thành: + Tổn thất kỹ thuật

Tổn thất kỹ thuật trong các mạng điện là đặc biệt quan trọng bởi vì nódẫn đến tăng vốn đầu tư để sản xuất và truyền tải điện năng cũng như chi phí

về nguyên liệu Tổn thất kỹ thuật gồm có:

- Tổn thất máy biến áp (MBA):

Máy biến áp là thiết bị điện làm việc theo nguyên lý cảm ứng, chuyển đổinăng lượng từ điện áp này sang điện áp khác phù hợp với mục đích sử dụng.Trong quá trình làm việc MBA tiêu tốn một lượng điện năng nhất định, điệnnăng này chủ yếu: do từ hóa lõi thép (tổn thất sắt), do sự phát nhiệt của cuộndây, do tổn hao trong dầu MBA và các vật liệu cách điện khác

Trang 5

- Tổn thất điện năng trong các mạch đo đường: việc thanh toán tiền điệnhàng tháng giữa bên bán và bên mua điện thông qua hệ thống đo đếm điệnnăng bao gồm: công tơ điện, máy biến dòng, máy biến áp đo lường, sơ đồ đo.Khi lắp đặt hệ thống đo đếm điện năng phải căn cứ vào công suất phụ tải

sử dụng mà lắp đặt trực tiếp hoặc gián tiếp cho phù hợp Trong quá trình làmviệc sẽ tồn tại một lượng tổn thất điện năng do chính các thiết bị đo gây nên,

nó phụ thuộc vào cấp chính xác của công tơ điện, máy biến dòng và máy biến

áp đo lường

+ Tổn thất thương mại

Là tổn thất điện năng trong quá trình truyền tải, phân phối điện năng do

sự không hoàn thiện của hệ thống đo đếm, thất thi tiền điện, gian lận…

- Điện nhận tiêu thụ là lượng điện Điện lực nhận từ Công ty Điện lực I

- Điện thương phẩm là lượng điện Điện lực bán ra cho khách hàng

1.3 – Nguyên nhân gây ra tổn thất điện năng

Chế độ sử dụng điện không hợp lý

Chế độ sử dụng điện không hợp lý làm cho đồ thị phụ tải thay đổi lớn Sựchênh lệch quá cao giữa phụ tải giờ cao điểm và giờ thấp điểm không nhữnglàm cho chất lượng điệm giảm, mà còn làm ảnh hưởng đến các tham số chế độ

Trang 6

Mô hình quản lý và kinh doanh điện chưa hợp lý

Hiện đang tồn tại nhiều mô hình quản lý kinh doanh điện năng, mỗi môhình chỉ có thể thích hợp với các điều kiện cụ thể Vì vậy, các địa phươngđang lúng túng trong việc xác định mô hình kinh doanh điện hợp lý Một số

mô hình lỗi thời như thầu khoán vẫn tồn tại dưới các danh nghĩa khác nhau,gây thất thoát điện năng dưới dạng lấy cắp điện, dùng qua các công tơ ưutiên…

Sự thiếu hiểu biết của khách hàng dùng điện

Sự thiếu hiểu biết dẫn đến việc lựa chọn và sử dụng các thiết bị điện mộtcác tùy tiện, làm tăng tiêu thụ công suất phản kháng và tăng thêm tổn thấttrong lưới

Chế độ làm việc và sự phân bố phụ tải bất hợp lý

Sự phân bố phụ tải và chế độ làm việc ảnh hưởng lớn đến hình dạng của

đồ thị phụ tải Nếu đồ thị phụ tải thay đổi nhiều trong ngày thì sự chênh lệchphụ tải cực đại và cực tiểu sẽ rất lớn, dẫn đến hiện tượng quá tải máy biến áp

ở một khoảng thời gian nhất định, nhưng lại rất non tải ở khoảng thời giankhác, điều đó làm giảm chất lượng điện, tăng tổn thất…

Sai số của các thiết bị đo lớn

Thiết bị đo đếm điện năng thiếu đồng bộ và không được kiểm định định

kỳ, do đó dẫn đến sai số và thất thoát điện năng Sai số của các thiết bị đovượt quá giới hạn cho phép Một trong những sai số rất đáng kể là do các máybiến dòng được lựa chọn không phù hợp với phụ tải, khi khoảng làm việc củamáy biến dòng gần với điểm gập của đường đặc tính bão hòa từ thì sai số rấtlớn Đồng thời, do trình độ của người lắp đặt hạn chế hoặc do có sự thôngđồng với khách hàng để đấu nối thiết bị đo sai, nhất là ở bị trí đảo các dây pha

Trang 7

và trung tính, tạo điều kiện cho việc lấy cắp điện năng không qua công tơ.Trong một số trường hợp, còn có hiện tượng can thiệp bất hợp pháp của ngườidùng điện, làm tăng sai số của công tơ, thậm chí làm công tơ bị hãm hoặcchạy ngược.

2 – Một số nét chính về Điện lực Nghệ An:

2.1 – Quá trình hình thành và phát triển của Điện lực Nghệ An

Vào đầu năm 1956 tại thị xã Vinh (nay là thành phố Vinh), nhất là khuvực Bến Thủy người, xe, vật liệu xây dựng, tiếng loa phóng thanh cứ rộn ràngtấp nập, không khí chuẩn bị cho công trình xây dựng Nhà máy Điện Vinh náonhiệt đông vui

Ngày 01/6/1956 lễ khởi công xây dựng trạm phát điện Diezel 270KW đểcung cấp điện cho công trường

- Tháng 12/1956 hoàn thành việc lắp máy Sau đó điều chỉnh chạy thử.Đến ngày 19/2/1957 bắt đầu sản xuất điện để cung cấp cho công trườngkiến thiết Nhà máy Điện Vinh và cung cấp ánh sáng cho cơ quan, nhân dân ởthị xã Vinh – Bến Thủy

- Ngày 01/01/1957 ngày khởi công xây dựng nhà máy chính

Tháng 12/1957 đúng 1 năm sau ngày khởi công nồi hơi số I, máy phátđiện số I lắp xong và chạy thử hiệu chỉnh và đóng điện thành công đã tạoniềm tin tưởng và phấn khởi cho toàn bộ công trường, tạo đà thúc đẩy nhanhcho việc hoàn thành các công trình kế tiếp Ngày 18/01/1958 nồi hơi số 2,máy phát điện số 2 cũng lắp xong và chạy thử tốt Tháng 3/1958 lắp xong nồihơi số 3 và cho vận hành

- Ngày 01/01/1959 Nhà máy Điện Vinh chính thức đi vào sản xuất theo

Trang 8

quan trọng, đó là việc phục vụ cho việc phát triển công nghiệp, nông nghiệp,quốc phòng và đời sống nhân dân Nhà máy Điện Vinh là đứa con đầu lòngcủa ngành điện miền Bắc xã hội chủ nghĩa, nhà máy là nơi đào tạo cung cấpcho ngành Điện và các ngành khác nhiều cán bộ quản lý và công nhân kỹthuật nòng cốt.

- Tháng 12/1966 Nhà máy Điện Vinh được tuyên dương Đơn vị Anhhung

- Ngày 03/02/1971 Khánh thành nhiệt điện 3-2, 4000KW

- 1976 – 1983 Nhà máy Điện Vinh có tổng công suất nhiệt điện :

8000KW + Diezel 20.000KW = 28.000KW

- 08-02-1983 Nhà máy Điện Vinh nối vào lưới điện Quốc gia

- 13-8-1984 Nhà máy Điện Vinh đổi tên thành Sở Điện lực Nghệ Tĩnh(nay là Điện lực Nghệ An)

- 10-1985 Nhiệt điện Bến Thủy ngừng hoạt động do nguồn điện phía Bắcđược tăng cường

- 24-12-1988 Tổ máy số I thủy điện Hòa Bình phát điện lên lưới

Trải qua quá trình xây dựng, phấn đấu, Điện lực Nghệ An đã gặp không

ít khó khăn Tuy nhiên với tinh thần tự lực tự cường, sự phấn đấu nỗ lực củatập thể cán bộ công nhân viên trong đơn vị, Điện lực Nghệ An đã đạt đượcnhững thành quả nhất định

Ngày 30/09/1991 Sở điện lực Nghệ Tĩnh được tách ra làm hai đơn vịquản lý lưới điện theo địa bàn hành chính (cơ sỏ chia tỉnh Nghệ Tĩnh thành 2tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh ) Sở Điện lực Nghệ Tĩnh sau khi tách được gọi làĐiện lực Nghệ An

Trang 9

Điện lực Nghệ An được chính thức giao nhiệm vụ kinh doanh bán điệntrên địa bàn toàn tỉnh Nghệ An, phục vụ cho nền kinh tế quốc dân góp phầnquan trọng cho hoạt động sản xuất kinh doanh bán điện của công ty Điện lựcI- Hà Nội Bán điện cho các ngành nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vậntải và ánh sáng tiêu dùng sinh hoạt cho nhân dân Điện lực Nghệ An có tưcách pháp nhân đầy đủ, thực hiện công tác hạch toán kinh tế phụ thuộc Công

ty Điện Lực I

2.2 – Chức năng, nhiệm vụ Điện lực Nghệ An

Trên cơ sở quyết định của Bộ Công nghiệp về giấy phép kinh doanhcủa Điện lực Nghệ An số 1612/GP- BCN ngày 28/4/2004 với các chức năngkinh doanh điện trong phạm vi tỉnh Nghệ An như sau :

Quản lý vận hành các nhà máy thuỷ Điện nhỏ với công suất đến300kwa, vận hành các máy phát điện ĐIEZEN công suất đến 400kwa

Quản lý vận hành lưới điện và trạm biến áp phân phối từ 35kv trởxuống, kinh doanh bán điện cho khách hàng

Tư vấn lập và quản lý các dự án ĐTXD lưới điện và trạm biến áp phânphối đến 35kv

Tư vấn giám sát thi công các công trình ĐTXD

2.3 – Lĩnh vực kinh doanh

* Lĩnh vực kinh doanh: Ngành nghề kinh doanh của Điện lực Nghệ An

hiện nay là Công nghiệp điện năng; Sản xuất, sửa chữa, thí nghiệm thiết bịđiện; Xây lắp đường dây và trạm biến áp; Khảo sát, thiết kế công trình điện;Kinh doanh và vận tải thiết bị điện; Mua bán vật tư, thiết bị điện; Xây lắp cáccông trình và đại lý các dịch vụ viễn thông công cộng; Mua bán thiết bị viễn

Trang 10

Kinh doanh xăng, dầu, các nhiên liệu dùng trong các động cơ khác (gas hóalỏng, ); Kinh doanh dịch vụ khách sạn, nhà hàng; Sản xuất, kinh doanh cácsản phẩm cơ khí, điện, tôn thép, mạ kim loại.

* Phương thức kinh doanh : Trong nền kinh tế thị trường, giá cả hàng hoá

và dịch vụ là do sự vận động của quy luật cung cầu quyết định Nhưng điệnnăng là mặt hàng do Nhà nước độc quyền quản lý do đó phương thức kinhdoanh bán điện ở Công ty Điện lực Nghệ An có nhiều điểm đặc biệt: Công tymua điện đầu nguồn của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam, thông qua đơn vịchủ quản là Công ty Điện lực I, sau đó tổ chức kinh doanh bán điện cho kháchhàng Các chỉ tiêu kinh tế được giao hàng tháng, hàng quí và hàng năm, đượcphân bổ điều hòa phụ tải của hệ thống lưới điện Quốc gia tùy theo từng thời kỳ.Giá mua điện do Tổng Công ty định được tính toán dựa trên việc đảm bảo bùđắp các chi phí sản xuất, truyền tải, khấu hao thiết bị máy móc… có tham khảo

ý kiến của các đơn vị thành viên Sản lượng điện áp mua vào thông qua hệthống đo đếm đầu nguồn đặt tại các trạm trung gian

2.4 – Đặc điểm cơ cấu tổ chức bộ máy

2.4.1 – Bộ phận quản lý Ban lãnh đạo công ty gồm :

+ 1 Giám đốc : Trần Phong.

Được Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam bổ nhiệm là người chỉhuy cao nhất trong Điện lực Nghệ An, : chịu trách nhiệm lãnh đạo công việcchung của công ty, về mọi mặt hoạt động và kết quả sản xuất kinh doanh, trựctiếp chỉ đạo các phòng: Phòng kế hoạch, phòng tổ chức lao động, phòng tàichính kế toán, phòng vật tư, phòng điều độ, …

+ 3 Phó giám đốc: Là người được Giám đốc Công ty Điện lực I bổ

nhiệm để giúp việc cho Giám đốc Điện lực Nghệ An, chịu trách nhiệm trướcGiám đốc Công ty Điện lực I và Giám đốc Điện lực Nghệ An về các hoạt

Trang 11

động trong các lĩnh vực công tác chuyên môn được Giám đốc Điện lực phâncông phụ trách

Phó giám đốc kỹ thuật: Chịu trách nhiệm chỉ đạo giải quyết các vấn đề

về kỹ thuật lưới điện, an toàn trong vận hành và các mặt sản xuất khác Phógiám đốc kỹ thuật trực tiếp chỉ đạo phòng kỹ thuật, trung tâm điều độ thôngtin, xưởng công tơ , xưởng vật tư, xưởng 110KV, xưởng thiết kế, xí nghiệpxây lắp

Phó giám đốc kinh doanh chỉ đạo mọi công việc về công tác kinh doanh

bán điện mà Điện lực Nghệ An đã và đang thực hiện, chỉ đạo trực tiếp tớiPhòng kinh doanh và các chi nhánh điện về việc kinh doanh bán điện, thu tiềnđiện và nộp tiền điện về Công ty Điện lực I Tổ chức chỉ đạo công tác tuyêntruyền việc sử dụng điện an toàn, tiết kiệm Phó giám đốc kinh doanh chỉ đạotrực tiếp các phòng sau: Phòng kinh doanh bán điện, phòng quản lý điện nôngthôn và trung tâm máy tính

Phó giám đốc đầu tư xây dựng cơ bản: là người chỉ đạo, điều hành các

công tác quản lý đầu tư và xây dựng công trình điện, Phó giám đốc đầu tư xâydựng cơ bản chỉ đạo trực tiếp các phòng ban sau: phòng quản lý dự án, phòngquản lý đầu tư, trung tâm thiết kế điện, xí nghiệp xây lắp điện

Chức năng nhiệm vụ của một số phòng ban và mối quan hệ giữa các phòng ban : có 15 phòng ban chức năng :

- Phòng hành chính quản trị (P1): Tổ chức công tác hành chính, văn thư,

lưu trữ, in ấn tài liệu, tiếp khách, quảng cáo và tổ chức khâu quản trị

- Phòng kế hoạch (P2): Là phòng nghiệp vụ giúp Giám đốc quản lý công

tác kế hoạch hoá về hoạt động sản xuất kinh doanh và xây dựng trong công ty,hướng dẫn các đơn vị lập kế hoạch sản xuất ngắn và dài hạn Tổng hợp, cân

Trang 12

- Phòng tổ chức lao động và tiền lương (P3) : có nhiệm vụ tham mưu cho

Giám đốc về công tác tổ chức cán bộ tổ chức sản xuất và quản lý lao động,tiền lương, đào tạo bồi dưỡng cán bộ trong toàn công ty

- Phòng kỹ thuật (P4) : là đơn vị quản lý về kỹ thuật trong khâu quy

hoạch, xây dựng, vận hành, sữa chữa và cải tạo lưới điện của công ty, giám sát

kỹ thuật, đôn đốc các đơn vị sản xuất vận hành trong công ty

- Phòng tài chính kế toán (P5) : Tham mưu cho Giám đốc về công tác

quản lý tài chính, thu thập số liệu và phản ánh toàn bộ hoạt động tài chính củacông ty

- Phòng vật tư (P6): Có nhiệm vụ lập kế hoạch mua sắm quản lý và cấp

phát vật tư cho toàn đơn vị trong phạm vi kế hoạch được giao

- Phòng điều độ (P15): Có nhiệm vụ chỉ huy vận hành lưới điện cao thế

24/24 giờ Ngoài chức năng điều độ lưới điện vận hành an toàn, liên tục vàhiệu quả phòng còn đảm nhiệm chức năng thông tin cho toàn bộ hệ thống điệncủa Điện lực, đặc biệt là mang thông tin nội bộ của ngành

- Phòng quản lý XDCB (P8): Có nhiệm vụ lập kế hoạch, dự toán các

công trình thuộc nguồn vốn đầu tư XDCB, thực hiện công tác quản lý đầu tưxây dựng cơ bản theo chế độ của Nhà nước ban hành

- Phòng kinh doanh điện năng (P9): Có nhiệm vụ phát triển và quản lý

khách hàng, chống tổn thất, kinh doanh điện năng, theo dõi tình hình kinhdoanh

- Phòng điện nông thôn (P10): Có nhiệm vụ tổ chức tiếp nhận và quản lý

lưới điện trung áp nông thôn, phát triển lưới điện về các xã vùng sâu vùng xacủa tỉnh Nghệ An

- Phòng an toàn - lao động (P11): Có chức năng bồi huấn kiểm tra việc

Trang 13

thực hiện quy trình quy phạm về an toàn điện, phòng chống cháy nổ.

- Phòng thanh tra pháp chế (P12): Có nhiệm vụ thanh tra, bảo vệ, an

ninh quốc phòng và thực hiện công tác pháp chế

- Phòng thẩm định: Có nhiệm vụ thấm định các công trình thuộc Điện lực

Nghệ An quản lý

- Phòng máy tính: Giúp cung cấp các dữ liệu việc quản lý tài chính, báo

cáo các kế hoạch của Công ty

- Phòng tư vấn thiết kế: có nhiệm vụ khảo sát lập phương án, dự toán,

thiết kế kỹ thuật thi công các hạng mục

2.4.2 – Bộ phận sản xuất

* 20 chi nhánh điện có chức năng quản lý, vận hành và kinh doanh bánđiện trên địa bàn được phân cấp quản lý nhằm đảm bảo cung cấp điện ổn địnhcho khách hàng và thuận tiện cho việc kinh doanh bán điện Bao gồm : Chinhánh điện Vinh, Chi nhánh điện huyện Anh Sơn, Chi nhánh điện huyện ConCuông, Chi nhánh điện thị xã Cửa Lò, Chi nhánh điện huyện Diễn Châu, Chinhánh điện huyện Đô Lương, Chi nhánh điện huyện Hưng Nguyên, Chi nhánhđiện huyện Kỳ Sơn, Chi nhánh điện huyện Nam Đàn, Chi nhánh điện huyệnNghĩa Đàn, Chi nhánh điện huyện Nghi Lộc, Chi nhánh điện huyện QuỳnhLưu, Chi nhánh điện huyện Quỳ Hợp, Chi nhánh điện huyện Quỳ Châu, Chinhánh điện huyện Quế Phong, Chi nhánh điện huyện Tân Kỳ, Chi nhánh điệnhuyện Thanh Chương, Chi nhánh điện huyện Tương Dương, Chi nhánh điệnhuyện Yên Thành, Chi nhánh điện Thái Hòa

* 4 phân xưởng:

- Phân xưởng vận tải: Có nhiệm vụ quản lý xe ô tô cơ giới phục vụ cho

Trang 14

cho sản xuất với đội ngũ xe 29 chiếc lớn nhỏ, phân xưởng có 30 người.

- Phân xưởng thí nghiệm điện với chuyên môn là thí nghiệm, hiệu chỉnh

và sửa chữa các thiết bị, khí cụ máy biến áp phân xưởng có 21 người

- Phân xưởng cơ khí chuyên gia công sản xuất các mặt hàng cơ khí phục

vụ lưới điện trong và ngoài kế hoạch sản xuất là đơn vị sản xuất chính, phânxưởng có 20 người

- Phân xưởng thí nghiệm công tơ có nhiệm vụ thí nghiệm công tơ phục

vụ cho việc lắp mới và thay định kỳ Phân xưởng có 18 người

Bộ máy tổ chức của Điện lực Nghệ An là một bộ phận máy kiểu trựctuyến chức năng Giám Đốc là người lãnh đạo toàn quyền quyết định mọi hoạtđộng và vấn đề sản xuất kinh doanh của đơn vị, trong phạm vi thuộc quyền đãđược Giám Đốc Công ty Điện lực I uỷ nhiệm

20 Chi nhánh điện là những cơ sở trực thuộc Điện lực Nghệ An đượcphân chia làm công tác quản lý phân phối và bán điện theo vùng lãnh thổ độclập Các phân xưởng còn lại làm nhiệm vụ sản xuất phục vụ chung cho cáchoạt động kinh doanh trên toàn bộ Điện lực Nghệ An Qua sơ đồ bộ máy tổchức có thể nói rằng đây là một bộ máy tổ chức gọn nhẹ, với số lượng 3 cấp,nhờ vậy mà quyền lực của nhà lãnh đạo được tập trung cao hơn

2.5 – Tình hình về vốn, tài sản và nhân sự của Điện lực Nghệ An

Trang 15

Bảng 1: Tình hình vốn và tài sản tại Điện lực Nghệ An

Đơn vị tính: 1.000.000 đồng

Chỉ tiêu

Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Năm2007 Năm2008 So sánh

2008/2007 Số

lượng %

Số lượng %

Số lượng %

Số lượng %

Số lượng % +/- % Tổng

Nguồn: Báo cáo của phòng tài chính kế toán

Để có thể tiến hành kinh doanh điện năng, Điện lực Nghệ An phải tổchức một hệ thống lưới truyền tải phân phối, đem điện năng đến tận nơi tiêudùng Cùng với việc mở rộng và hoàn thiện mạng lưới điện trong cả tỉnh mở

Trang 16

rộng thêm địa bàn quản lý, xây dựng nhiều trạm biến áp, trụ sở, nhà xưởng,…nên yêu cầu về vốn tăng mạnh qua các năm.

Cơ cấu vốn theo tính chất thể hiện đặc điểm sản xuất của đơn vị Tài sảncủa ngành điện chủ yếu là lưới điện và các trạm biến áp, trạm phân phối nên

tỷ trọng của nó chiếm trong tổng vốn là rất lớn

Cơ cấu vốn theo nguồn hình thành thể hiện mức độ an toàn về vốn trongkinh doanh Với ngành điện mức đầu tư cho trang thiết bị của ngành là rất lớnnên nguồn vốn ngân sách cấp không thể đáp ứng đủ nên được Chính phủ bảolãnh cho vay các nguồn vốn nước ngoài để hiện đại hoá và nâng cấp thiết bịcho ngành điện Còn vốn chủ sở hữu tăng trong những năm qua cho thấy đơn

vị làm ăn có lãi

3 – Sự cần thiết của giảm tổn thất điện năng

So với các nước trong khu vực và thế giới thì tỷ lệ tổn thất điện năng

(TTĐN) ở nước ta vẫn còn quá cao Việc phân tích đánh giá tình hình tổn thất

và các giải pháp khắc phục đã và đang là vấn đề cấp bách đối với hệ thốngđiện nước ta, nhất là khi vấn đề kinh doanh điện năng đang đứng trướcngưỡng cửa của thị trường điện cạnh tranh Giảm TTĐN có ý nghĩa vô cùngquan trọng không chỉ đối với ngành điện mà còn đối với cả nền kinh tế quốcdân và toàn xã hội

3.1 – Đối với ngành Điện

Tổn thất điện năng là một trong những nhân tố cấu thành nên chi phí sảnxuất kinh doanh của ngành Điện Việc giảm tổn thất điện năng giúp cho cácdoanh nghiệp sản xuất kinh doanh điện giảm giá thành sản phẩm, tăng lợinhuận, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đa dạng hóa các ngành nghềkinh doanh

Trang 17

Giảm tổn thất điện năng là nhiệm vụ hàng đầu trong hoạt động sản xuấtkinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh điện Quá trình giảmtổn thất điện năng đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự nâng cao trình độ quản lýcũng như vận hành, cải tiến và đổi mới trang thiết bị, công nghệ, cải tạo, nângcấp và hiện đại hóa lưới điện Điều này chứng tỏ việc thực hiện mục tiêu giảmtổn thất điện năng góp phần hoàn thiện, nâng cao công tác tổ chức, quản lý,nâng cao và đổi mới hệ thống lưới điện của ngành Điện.

Trong năm 2007 nếu giảm 1% tổn thất điện năng, Tập đoàn điện lực ViệtNam sẽ tiết kiệm được 340 triệu KWh tương đương với 260 tỷ đồng Số tiềnnày có thể dùng để đầu tư cải tạo và nâng cấp hệ thống nguồn và lưới điện,nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngành Điện

Hàng năm ngành Điện đầu tư khoảng 20000 tỷ đồng cho công tác nângcấp hệ thống nguồn và lưới điện, trong đó gần 70% số tiền này phải đi vay.Thực hiện tốt việc giảm tổn thất điện năng sẽ đồng nghĩa với tăng sản lượngđiện sản xuất ra, như vậy sẽ bớt gánh nặng đầu tư phát triển thêm nguồn vàlưới điện của ngành Điện và của Nhà nước Nhờ đó mà sử dụng có hiệu quảnguồn vốn xây dựng cơ bản của quốc gia

3.2 – Đối với nền kinh tế và xã hội

Để sản xuất ra điện chúng ta phải sử dụng các dạng năng lượng sơ cấpkhác như: than, sức nước, khí đốt, năng lượng nguyên tử… Nhưng trong điềukiện hiện nay các nguồn năng lượng này đang dần cạn kiệt và trở nên khanhiếm, điều này có nghĩa là chúng ta phải sản xuất điện trong điều kiện các yếu

tố đầu vào có hạn đòi hỏi phải sử dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn nănglượng trên Giảm tổn thất điện năng đồng nghĩa với việc chúng ta có thể sảnxuất và phân phối được nhiều điện thương phẩm hơn với lượng yếu tố đầu vào

Trang 18

tải và phân phối điện năng Bởi vậy vô hình chung chúng ta tiết kiệm đượccác nguồn lực của xã hội như: nguyên nhiên liệu, máy móc thiết bị, nhânlực…

Mặt khác, điện năng là một trong những yếu tố đầu vào khó có thể thayđổi đối với hầu hết mọi quá trình sản xuất và hoạt động cung ứng dịch vụ,đồng thời điện năng là vật phẩm không thể thiếu đối với cuộc sống hiện đạicủa con người trong điều kiện hiện nay Giá bán điện có ảnh hưởng quantrọng đến giá cả của hầu hết các loại hàng hóa và dịch vụ trên thị trường Do

đó nó cũng ảnh hưởng lớn đến đời sống sinh hoạt của mọi tầng lớp dâ cưtrong xã hội Giảm tổn thất điện năng giúp cho ngành Điện có khả năng giảmgiá thành, từ đó giảm giá bán điện, điều này dẫn đến giảm chi phí đầu vào chocác doanh nghiệp tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đạt được hiệu quả sảnxuất kinh doanh đồng thời góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần chomọi tầng lớp nhân dân

Trang 19

CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG TỔN THẤT ĐIỆN NĂNG Ở ĐIỆN LỰC

NGHỆ AN

1 – Tình hình kinh doanh điện năng của Điện Lực Nghệ An trong những năm vừa qua

1.1 – Tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh doanh điện năng

Bảng 2: Báo cáo sản xuất kinh doanh năm 2005 - 2008

8 Số công tơ CTơ 104.701 116.730 136.264

Nguồn: Phòng kinh doanh điện năng – Điện lực Nghệ An

Trang 20

Bảng 3: Điện nhận tiêu thụ - điện năng thương phẩm 2005 – 2008

1.2.1 – Sản lượng điện thương phẩm và phân phối điện năng:

Điện năng thương phẩm có mối quan hệ chặt chẽ tới doanh thu: tăngthương phẩm là tăng doanh thu Đây chính là chỉ tiêu được chú ý hàng đầu đểquyết định thu được lợi nhuận cao hay thấp

Sản lượng điện thương phẩm chia theo các hộ tiêu thụ chính: công nghiệp– xây dựng, thương nghiệp dịch vụ, nông – lâm – ngư nghiệp, ánh sáng tiêudùng và thành phần khác

Trang 21

Bảng 4: Điện năng thương phẩm phân theo ngành năm 2005 – 2008

TP Khác

Trang 22

Qua phân tích số liệu ở bảng 2 ta nhận thấy:

 Điện năng thương phẩm của thành NLNN năm 2007 tăng 3,3% so vớinăm 2006, năm 2008 tăng 0,23% so với năm 2007

 Điện năng thương phẩm của thành phần CNXD năm 2007 so với năm

2006 tăng 10,8%, năm 2008 so với năm 2007 tăng 8,3%

 Điện năng thương phẩm của thành phần TNDV năm 2007 so với năm

2006 tăng 14,7%, năm 2008 so với năm 2007 tăng 18,5%

 Điện năng thương phẩm của thành phần ASTD năm 2007 so với năm

2006 tăng 9%, năm 2008 so với năm 2007 tăng 12%

 Điện năng thương phẩm của thành phần khác năm 2007 so với năm

2006 tăng 6,7%, năm 2008 so với năm 2007 tăng 14,8% Nhìn chung tronggiai đoạn 2005 – 2008 tốc độ tăng điện năng thương phẩm toàn bộ hay từngthành phần đều có xu hướng tăng Nhưng chủ yếu vẫn là ở các ngành côngnghiệp và thương ngiệp dịch vu có tăng hơi cao, thành phần khác cũng tăngvừa phải, ánh sáng tiêu dùng và nông lâm ngư nghiệp tăng có chậm hơn Cóđược kết quả này một phần là do điện đầu nguồn tăng lên, một phần là do tổnthất điện giảm xuống Cụ thể: tổng điện nhận đầu nguồn năm 2007 so với

2006 tăng 9,4%, năm 2008 so với 2007 tăng 10% Qua đó ta thấy những thànhphần có nhu cầu lớn thì sản lượng điện năng thương phẩm lớn hay nói mộtcách khác tốc độ tăng của điện năng thương phẩm tỷ lệ thuận với nhu cầu tiêudùng điện Đây là nguyên nhân khách quan tác động tới tốc độ tăng điện năngthương phẩm bởi vì nó do thị trường quyết định Công ty chỉ có thể xác địnhđược chứ không thể thay đổi được

1.2.2 – Tỷ lệ tổn thất điện năng:

Tổn thất điện năng là một chỉ tiêu quan trọng trong sản xuất kinh doanh

Trang 23

bán điện Sau nhiều năm hoạt động và vận hành, lưới điện ở nhiều nơi đãxuống cấp, đường dây trung áp và hạ áp dài quá mức tiêu chuẩn dẫn đến tình

trạng mất an toàn và là nguyên nhân chủ yếu gây ra tổn thất điện năng

Bảng 6: tỷ lệ tổn thất điện năng năm 2005 – 2008

Nguồn: phòng kinh doanh điện năng – Điện lực Nghệ An

Qua bảng 3 ta thấy Công ty đã thực hiện tốt chương trình giảm tổn thất điệnnăng, năm 2006 tỷ lệ là 7,41%, năm 2007 là 7,09% ,năm 2008 còn 6,23%

Có được thành tích này là do:

+ Trong những năm qua, Điện lực đã thực hiện rất nhiều công trình cảitạo lưới trung và hạ thế ở những trạm có tỷ lệ tổn thất cao, lưới cung cấp cũnát không đảm bảo cho việc kinh doanh bán điện cũng như an toàn cho quátrình cung ứng và sử dụng điện Ngoài việc tiến hành cải tạo lưới điện hạ thế,Điện lực đã tiến hành củng cố hòm công tơ cũ, kiểm tra và đã phát hiện thaythế những công tơ sai sót không đủ điều kiện kinh doanh

+ Thực hiện chỉ thị 89/HĐBT nay là Thủ tướng Chính phủ, với mongmuốn giải quyết dứt điểm tình trạng ăn cắp điện, công tác kiểm tra sử dụngđiện đã được tăng cường hơn Điện lực Nghệ An đã phối hợp với Công antỉnh Nghệ An lập nhiều đoàn kiểm tra liên ngành Điện lực - Công an thườngxuyên kiểm tra việc sử dụng điện của khách hàng, nhờ đó kịp thời phát hiện racác hành vi ăn cắp điện, xử lý nghiêm một số trường hợp để làm gương và kếtquả là đã thu được hàng chục tỷ đồng (tiền điện truy thu và tiền phạt vi phạm)

Trang 24

+ Trong quá trình cung ứng và sử dụng điện, hiện tượng đồng hồ đođếm điện năng bị hỏng, mất mát là điều không thể tránh khỏi vì hiện nay cácđồng hồ đo điện chủ yếu để thành cụm, trong hòm chống tổn thất và đặt ngoàitrời Để đảm bảo quá trình cung ứng điện được liên tục, tránh hiện tượng mấtmát điện năng do dùng thẳng của khách hàng, Điện lực có dự trù một quỹcông tơ để thay thế kịp thời các đồng hồ bị trục trặc đảm bảo hoạt động kinhdoanh diễn ra một cách liên tục.

Ngoài những biện pháp trên cùng với một loạt các biện pháp đồng bộ, kịpthời mà trong những năm qua tỷ lệ tổn thất của Điện lực đã giảm đi đáng kể.Đây là thành tích đạt được của Điện lực Nghệ An trong công tác kinh doanhđiện năng

1.2.3 – Giá bán điện bình quân và doanh thu:

Xu thế mặt bằng giá điện nói chung toàn quốc sẽ còn tiếp tục tăng đếnhoàn thiện, ngang bằng mức giá điện của các nước trong khu vực, ở Nghệ Angiá điện cũng tiếp tục tăng theo mức giá chung cả nước Nhưng để đuổi kịpmặt bằng giá toàn quốc thì khó có thể được, vì Nghệ An là một tỉnh có điệntiêu thụ cho ánh sáng chiếm tỷ trọng lớn, nhu cầu tăng nhưng điện năng phục

vụ cho ánh sáng tiêu dùng không làm tăng giá điện bình quân lên được màlàm giảm giá điện bình quân trong kinh doanh của Điện lực Nghệ An, bêncạnh đó nhà nước lại đang có chính sách hỗ trợ điện đối với hộ tiêu dùng Màyêu cầu đặt ra là doanh nghiệp phải kinh doanh ngày càng có hiệu quả, nênnhiều vấn đề được nêu ra để tìm biện pháp giải quyết, trong đó có vấn đề tậndụng thu đúng giá, bán đúng đối tượng và mục đích sử dụng điện cùng nhiềubiện pháp nữa chắc chắn mặt bằng giá bán điện bình quân sẽ còn tiếp tục đẩytăng cao

Trang 25

Bảng 7: Giá bán bình quân của Điện lực Nghệ An từ 2005 - 2008

và điện năng thương phẩm

Từ năm 2005 – 2006 giá bán điện bình quân tăng 3,36 đồng

Năm 2006 – 2007 giá bán điện bình quân tăng 35,48 đồng, sở dĩ tăngnhiều là do năm 2007 tình hình chính trị - kinh tê – xã hội và thời tiết có nhiềubiến động Việc tăng doanh thu kinh doanh điện phản ánh rõ nét nhất hiệu quảhoạt động kinh doanh của điện lực Từ năm 2005 – 2008 doanh thu tăng liêntục, nó đã tác động đến quỹ lương của CBCNV của Điện lực Nghệ An Điềunày đã kích thích, thúc đẩy mạnh mẽ động lực, tinh thần làm việc của mọingười

1.2.4 – Hợp đồng mua bán điện:

Số hợp đồng mua bán điện của Điện lực Nghệ An không ngừng tăngtrong các năm qua

Trang 26

Năm 2005 2006 2007 2008

Số lượng 98.472 110.457 118.809 123.543

2 – Tình hình tổn thất điện năng của Điện lực Nghệ An

2.1 – Thực trạng lưới điện của Điên lực Nghệ An năm 2008

2.1.1 – Công tác quản lý vận hành mạng lưới đường dây tải điện

Đối với hệ thống điện do ngành điện đầu tư bao gồm:

- Đường dây trên không 35KV có chiều dài 1762,78 km

- Đường dây trên không 22KV có chiều dài 94,87 km

- Đường dây trên không 10KV có chiều dài 1350,46 km

- Đường dây trên không 6KV có chiều dài 52,6 km

- Đường dây trên không 0,4KV có chiều dài 237,8 km

- Đường dây cáp ngầm các loại có chiều dài 70,0 km

Công tác quản lý vận hành đường dây trung thế bao gồm các công việctrực tiếp của công nhân kiểm tra theo dõi thường xuyên tình trạng vận hànhlưới điện, kiểm tra hiện trường về các vi phạm hành lang an toàn giao thông,kiểm tra và phát hiện các sự cố không bình thường của lưới đang vận hành,thay thế các vật tư thiết bị trên lưới khi đã hết niên hạn sử dụng hoặc có sự cốphải thay thế Quản lý công tác cắt đóng điện trên lưới, trực tiếp thao tác đóngcắt lưới điện khi cần thiết

Đối với hệ thống điện do các đơn vị khác tự đầu tư bao gồm :

- Đường dây trên không 35KV có chiều dài 233,2 km

- Đường dây trên không 22KV có chiều dài 7,4 km

- Đường dây trên không 10KV có chiều dài 258,9 km

- Đường dây trên không 6KV có chiều dài 17,5 km

- Đường dây trên không 0,4KV có chiều dài 179,6 km

- Đường dây cáp ngầm các loại có chiều dài 12,0 km

Công tác quản lý phần lưới này chủ yếu là kiểm tra định kỳ cùng cáckhách hàng để phát hiện các sự cố, thông báo đến khách hàng có tài sản lưới

Trang 27

điện trung thế về các sự cố có thể xẩy ra hoặc thiết bị vật tư đã quá niên hạncần thay thế Trực tiếp các thao tác đóng cắt điện khi có sự cố cần thay thế củalưới điện do khách hàng sửa chữa.

Bảng 9: Thống kê khối lượng đường dây đang quản lý vận hành

Cáp ngầm ĐDK Cáp ngầmTài sản

điện lực 1762,8 0,7 94,9 63,3 1350,5 2,88 52,6 0,754Tài sản

Nguồn: Số liệu của phòng kỹ thuật Điện lực Nghệ An

2.1.2 – Công tác quản lý vận hành các trạm biến áp trung gian và phân phối:

- Trạm trung gian 35/10kv có 14 trạm Công Suất : 75410 KVA , trạm

Trang 28

- Trạm biến áp phân phối do ngành điện đầu tư : Trạm 35/0.4kv có 715trạm, trạm 22/0.4kv có 178trạm, trạm 10/0.4kv có 904Trạm, trạm 6/0.4kv có40trạm

- Trạm biến áp phân phối do khách hàng đầu tư : Trạm(35/0.4kv có266trạm, Trạm 22/0.4kv có 98trạm, Trạm10/0.4kv có 348trạm, Trạm 6/0.4kv

có 62trạm

Công tác quản lý vận hành các trạm điện được qui định theo tiêu chuẩnngành Các trạm trung gian được vận hành bởi các công nhân trực vận hànhtại chỗ cập nhật các thôn tin về phụ tải, các điều kiện làm việc của máy biến

áp cùng các thiết bị kèm theo Toàn bộ được phản ánh thông qua sổ trực vậnhành

Các trạm biến áp phân phối được quản lý vận hành theo qui trình khôngtrực vận hành tại chỗ mà kiểm tra thường xuyên, định kỳ theo hồ sơ cập nhậttại cơ quan, sửa chữa thay thế bổ sung dầu cho máy biến áp.Các trạm phânphối do khách hàng đầu tư cũng phải vận hành tương tự trạm của điện lựcnhưng chi phí do khách hàng chịu trách nhiệm

Trang 29

Bảng 10: Thống kê số lượng trạm biến áp đang quản lý vận hành

Công suất

Công Suất Tài sản

Trang 30

2.1.3 – Quản lý đường dây hạ thế và công tơ đo điện :

Là công việc của công nhân hạ thế, kinh doanh tại chi nhánh điện Ngànhđiện chỉ quản lý phần công tơ tổng hay công tơ bán lẻ đến tận hộ do ngànhđiện đầu tư, đối với các công tơ bán lẻ không phải của điện lực thì việc quản

lý do các ban quản lý điện địa phương hoặc hợp tác xã mua điện quản lý Việc chuyển đổi mô hình quản lý kinh doanh điện đến tận hộ đang từngbước được thay đổi Trước đây đã tồn tại một mô hình tổ điện của địa phươngnhận khoán thao hình thức cai thầu dẫn đến giá điện của nhân dân phải chịugiá cao Nay đã chuyển đổi sang hợp tác xã là đại diện bên mua điện cho tậpthể nhân dân trong xã, tuy nhiên đối với một số xã làm tốt công tác này còn lạimột số xã vẫn thực hiện theo hình thức khoán như cũ Ngành điện đang nỗ lựcđầu tư lưới điện và công tơ để bán điện đến tận hộ gia đình sử dụng điện Các

dự án đầu tư lưới điện trung áp nông thôn và xoá công tơ tổng bán lẻ đã đượctriển khai nhờ vay vốn của ngân hàng thế giới WB Các dự án này nhằm mụcđích các hộ dân nông thôn miền núi được hưởng giá điện trong khung giá dochính phủ Việt Nam qui định

2.2 – Phân tích tình hình tổn thất điện năng

Do đặc điểm kinh doanh của Công ty là giá mua và giá điện Công ty

đều không thể quyết định được nên muốn kinh doanh có lãi và nâng cao đờisống CBCNV thì phải tăng được sản lượng điện năng thương phẩm hay nóicách khác là phải tăng nhu cầu dùng điện và tìm cách giảm tổn thất điện năng

Có thể nói tổn thất điện năng là nhân tố chủ quan tác động đến công ty vì nếuthực hiện tốt các biện pháp giảm tỷ lệ tổn thất thì sản lượng điện năng thươngphẩm sẽ tăng Vì vậy mục đích của chuyên đề là đi vào phân tích tình hình tổnthất điện năng ở Điện Lực Nghệ An trong những năm vừa qua để có thể đề ranhững biện pháp giảm tổn thất điện năng hiệu quả nhất nhằm giúp Điện Lực

Trang 31

Nghệ An nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như đạt được chỉ tiêuCông ty đề ra.

Đi vào phân tích điện năng sẽ bao gồm:

- Phân tích tình hình tổn thất điện năng theo hướng nghiên cứu xem xétbiến động của chỉ số tổn thất trong giai đoạn 2003 – 2008 Mục đích của phầnnày là để thấy rõ được hiệu quả của công tác giảm tổn thất điện năng

- Đánh giá kết quả tổn thất điện năng trong từng tháng của một năm để

đề ra được những biện pháp giảm tỷ lệ tổn thất cụ thể và hiệu quả sát với tìnhhình thực tế của Điện lực Nghệ An

Tổn thất điện năng giai đoạn 2003 – 2008:

Để giảm tổn thất điện năng từ năm 2003 Điện lực Nghệ An đã thành lập

Tổ giảm tổn thất điện năng (đến năm 2005 thì chuyển thành Ban giảm tổn thấtđiện năng) do Giám đốc Điện lực trực tiếp chỉ đạo, nhằm xây dựng và chỉ đạothực hiện các chương trình, biện pháp giảm tổn thất điện năng trong toàn Điệnlực Với những cố gắng, nỗ lực của lãnh đạo và toàn thể cán bộ công nhânviên Điện lực Nghệ An, việc thực hiện chương trình giảm tổn thất điện năng

đã thu được các kết quả bước đầu hết sức khả quan và đáng khích lệ

Bảng 11: t l t n th t trong các n m 2003 - 2008ỷ lệ tổn thất trong các năm 2003 - 2008 ệ tổn thất trong các năm 2003 - 2008 ổn thất trong các năm 2003 - 2008 ất trong các năm 2003 - 2008 ăm 2003 - 2008

2003

Năm2004

Năm2005

Năm2006

Năm2007

Năm2008

Kế hoạch 8,36% 7,98% 7,94% 7,49% 7,35% 5,9%

Thực hiện 8,32% 8,17% 7,89% 7,41% 7,09% 6,23%

Nguồn: phòng kinh doanh – Điện lực Nghệ An

Trang 32

Năm 2005

Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

Kế hoạch Thực hiện

Nhận thấy tỷ lệ tổn thất giảm dần qua các năm, có thể nói đây là nỗ lựcrất lớn của Ban lãnh đạo Điện lực Nghệ An cùng toàn thể các cán bộ côngnhân viên trên mặt trận chống tổn thất Nếu như năm 2003, tỷ lệ tổn thất điệnnăng của Điện lực Nghệ An là 8,32% thì đến năm 2008, tỷ lệ này giảm xuốngchỉ còn là 6,23% Các số liệu về hệ số tổn thất điện năng của Điện lực Nghệ

An trong các năm từ 2003 đến 2008, cho thấy, tỷ lệ tổn thất điện năng thựchiện năm 2008 đã giảm đi 2,09% so với năm 2003 – một con số không lớn vềmặt giá trị số học nhưng lại có ý nghĩa đặc biệt to lớn về mặt hiệu quả kinh tế– xã hội

Năm 2004, tỷ lệ tổn thất điện năng đạt 8,17% giảm 0,15% so với năm 2003Năm 2005, tỷ lệ tổn thất điện năng đạt 7,89% giảm 0,28% so với năm 2004Năm 2006, tỷ lệ tổn thất điện năng đạt 7,41% giảm 0,48% so với năm 2005

Trang 33

Sỡ dĩ có được thành công trên là nhờ Điện lực đã thực hiện rất nhiềucông trình cải tạo lưới trung và hạ thế ở những trạm có tỷ lệ tổn thất cao, lướicung cấp cũ nát không đảm bảo cho việc kinh doanh bán điện cũng như antoàn cho quá trình cung ứng và sử dụng điện Ngoài việc tiến hành cải tạo lướiđiện hạ thế, Điện lực đã tiến hành củng cố hòm công tơ cũ, kiểm tra và đãphát hiện thay thế những công tơ sai sót không đủ điều kiện kinh doanh.Trước đây, điện năng được coi như là một sản phẩm dùng chung của toàn xãhội, thêm vào đó hệ thống lưới điện phân phối không được đổi mới và côngtác quản lý lỏng lẻo đã tạo điều kiện cho hành vi ăn cắp điện gây tổn thất điệnthương mại Điện lực Nghệ An đã phối hợp với Công an tỉnh Nghệ An lậpnhiều đoàn kiểm tra thường xuyên kiểm tra việc sử dụng điện của khách hàng,nhờ đó kịp thời phát hiện ra các hành vi ăn cắp điện, xử lý nghiêm một sốtrường hợp để làm gương và kết quả là đã thu được hàng chục tỷ đồng (tiềnđiện truy thu và tiền phạt vi phạm).

Năm 2007, tỷ lệ tổn thất điện năng đạt 7,09% giảm 0,32% so với năm

2006 Tuy tỷ lệ tổn thất có giảm nhưng không nhiều lắm Nguyên nhân là dotrong năm 2007, công tác kỹ thuật vẫn còn nhiều tồn tại Tình hình sự cố lướiđiện trung thế như sau:

- Xảy ra 451 lần sự cố thoáng qua ,giảm 188 vụ so với cùng kỳ năm

2006, 226 lần sự cố vĩnh cửu giảm ,giảm 60 vụ so với cùng kỳ năm 2006.Suất sự cố vĩnh cửu trung bình là 0,408 giảm 0,124 so với cùng kỳ 2006

- Toàn đơn vị cháy 24 máy biến áp phân phối, tăng 2 máy biến áp sovới cùng kỳ năm 2006 Đóng điện thêm 186 trạm biến áp phân phối với tổngdung lượng đạt 44.817KVA và 140,3km đường dây trung thế

- Sản lượng điện mất do sự cố và chủ động cắt gần 7 triệu KWh tăng

Trang 34

- Việc phát quang hành lang lưới điện chưa được thực hiện thườngxuyên và có 723 trường hợp vi phạm nhiều, vì vậy suất sự cố điện còn cao.Hiện tượng lấy cắp điện đã trở nên tinh vi hơn, khó phát hiện hơn Quakiểm tra đã phát hiện một số các thủ đoạn tinh vi như: gắn chip, đấu tắt cuộndòng, sử dụng thiết bị quay ngược công tơ,…đặc biệt là trường hợp các hộ sảnxuất thép có biểu hiện thất thoát nhưng chưa xác định được cách thức tácđộng lên công tơ Đặc biệt, năm 2007 là năm nắng nóng gay gắt kéo dài, phụtải biến động lớn, đặc biệt công suất đỉnh trong các giờ cao điểm và thấp điểmchênh lệch rất lớn.

Năm 2008, tỷ lệ tổn thất điện năng đạt 6,23% giảm 0,86% so với năm

2007 Đến năm 2008, tỷ lệ tổn thất giảm mạnh là một thành công của Điện lựcNghệ An Năm 2008 đã đầu tư xây dựng 124 công trình với tổng giá trị47,789 tỷ đồng Giá trị thực hiện 53,726 tỷ đồng, đạt 112% kế hoạch, giảingân được 46,09 tỷ đồng đạt 96% kế hoạch Thực hiện hoàn thành 28 côngtrình với giá trị 39,8 tỷ đồng Trong đó, 14 công trình điện, 6 công trình kiếntrúc và công trình khác, 8 công trình viễn thông và 28 trạm BTS (đã phát sóng

24 trạm

Ngoài ra, trong quá trình cung ứng và sử dụng điện, hiện tượng đồng hồ

đo đếm điện năng bị hỏng, mất mát là điều không thể tránh khỏi vì hiện naycác đồng hồ đo điện chủ yếu để thành từng cụm, trong hòm chống tổn thất vàđặt ngoài trời Để đảm bảo quá trình cung ứng điện được liên tục, tránh hiệntượng mất mát điện năng do dùng thẳng của khách hàng, Điện lực có dự trùmột quỹ công tơ để thay thế kịp thời các đồng hồ bị trục trặc đảm bảo hoạtđộng kinh doanh diễn ra một các liên tục

Tỷ lệ tổn thất điện năng thực hiện năm 2008 là 6,23% đã ở mức khá thấp.Tuy nhiên, nếu so sánh tỷ lệ tổn thất điện năng năm 2008 của Điện lực Nghệ

Trang 35

An với một số điện lực khác trong Công ty Điện lực 1 thì còn nhiều điện lựckhác có tỷ lệ tổn thất điện năng thấp hơn so với tỷ lệ tổn thất điện năng củaĐiện lực Nghệ An Chẳng hạn như: Điện lực Phú Thọ 5,10%; Điện lực VĩnhPhúc 4,55%; Điện lực Sơn La 5,60% Đối với Điện lực Nghệ An, trong tổngsản lượng điện để tính tổn thất, phần bán cho khách hàng ở cấp điện áp trungthế 6, 10, 22, 35 kV chiếm tỷ trọng lớn, mà đây lại là thành phần có tỷ lệ tổnthất điện năng thấp, dễ quản lý Do vậy, Điện lực Nghệ An có thể giảm hơnnữa tỷ lệ tổn thất điện năng của mình Vấn đề đặt ra đối với Điện lực Nghệ Anhiện nay là, cần tìm ra và thực hiện các biện pháp hữu hiệu nhằm giảm tỷ lệtổn thất điện năng, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

Tổn thất từng tháng năm 2008

Trang 36

Bảng 13: Kết quả thực hiện tổn thất từng tháng năm 2008

Tháng Tỷ lệ TT

(%)

Gíabán(đồng)Tháng 1 11,28 677,55

Tháng 4 10,18 673,16Tháng 5 13,85 674,66

Năm 2008 6,23 674,53

(Nguồn: phòng kinh doanh – Điện lực Nghệ An)

Nhìn vào bảng kết quả tỷ lệ tổn thất giữa các tháng và biểu đồ ta thấy tỷ

lệ tổn thất có sự biến động mạnh theo thời gian Có những tháng rất cao như

Trang 37

tháng 1 (11,28%), 4 (10,18%), 5 (13,85%), 7 (10,68%), đây là những tháng

mà tỷ lệ tổn thất lên đến 2 con số Lại có những tháng mà tỷ lệ tổn thất ở mức

âm, đó là tháng 9 ( - 0,88%), tháng 12 (-0,26%) Nguyên nhân cho những kếtquả bất thường này bên cạnh việc sử dụng điện nhiều thì còn phải xét đến chu

kỳ ghi chỉ số công tơ đầu nguồn (công tơ đo điện nhận) và chu kỳ ghi chỉ sốcông tơ cho các khách hàng (điện thương phẩm) chênh lệch nhau về thời gian.Lịch ghi chỉ số công tơ đầu nguồn được bắt đầu vào 0h00 ngày mùng 1 hàngtháng, trong khi lịch ghi chỉ số công tơ bán điện cho khách hàng được ghi vàongày 11 và 25 đối với khách hàng mua điện từ trạm biến áp công cộng và vàongày 7, 17, 29 đối với khách hàng mua điện từ trạm biến áp chuyên dùng Kếtquả ghi lại được tính cho tháng đó để kịp với kế hoạch in hóa đơn tiền điện Qua bảng kết quả điện năng 12 tháng của năm 2008 ta thấy rõ được sựảnh hưởng của môi trường, thời tiết, khí hậu lên chỉ tiêu tổn thất làm cho nhucầu phụ tải biến động, tỷ lệ tổn thất dao đông Vào mùa hè nhu cầu sử dụngđiện cao hơn mùa đông, sản lượng thương phẩm tăng nhanh nên giá bìnhquân cao hơn các mùa còn lại trong năm Tuy nhiên, do tỷ lệ tổn thất cao dẫnđến chi phí mua điện đầu nguồn cũng bị đẩy lên làm ảnh hưởng đến lợi nhuậnkinh doanh điện năng Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng làmảnh hưởng đến việc kết quả tổn thất cao hay thấp

3 – Các yếu tố ảnh hưởng đến tổn thất điện năng ở Điện lực Nghệ An 3.1 – Nguồn nhân lực:

Ngày đăng: 18/02/2014, 23:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tình hình vốn và tài sản tại Điện lực Nghệ An - một số giải pháp giảm tổn thất điện năng ở điện lực nghệ an
Bảng 1 Tình hình vốn và tài sản tại Điện lực Nghệ An (Trang 15)
Bảng 3: Điện nhận tiêu thụ - điện năng thương phẩm 2005 – 2008 - một số giải pháp giảm tổn thất điện năng ở điện lực nghệ an
Bảng 3 Điện nhận tiêu thụ - điện năng thương phẩm 2005 – 2008 (Trang 20)
Bảng 5: Biểu đồ thành phần phụ tải năm 2008 - một số giải pháp giảm tổn thất điện năng ở điện lực nghệ an
Bảng 5 Biểu đồ thành phần phụ tải năm 2008 (Trang 21)
Bảng 7: Giá bán bình quân của Điện lực Nghệ An từ 2005 - 2008 - một số giải pháp giảm tổn thất điện năng ở điện lực nghệ an
Bảng 7 Giá bán bình quân của Điện lực Nghệ An từ 2005 - 2008 (Trang 25)
Bảng 9: Thống kê khối lượng đường dây đang quản lý vận hành - một số giải pháp giảm tổn thất điện năng ở điện lực nghệ an
Bảng 9 Thống kê khối lượng đường dây đang quản lý vận hành (Trang 27)
Bảng 10: Thống kê số lượng trạm biến áp  đang quản lý vận hành - một số giải pháp giảm tổn thất điện năng ở điện lực nghệ an
Bảng 10 Thống kê số lượng trạm biến áp đang quản lý vận hành (Trang 29)
Bảng 11: tỷ lệ tổn thất trong các năm 2003 - 2008 - một số giải pháp giảm tổn thất điện năng ở điện lực nghệ an
Bảng 11 tỷ lệ tổn thất trong các năm 2003 - 2008 (Trang 31)
Bảng 13: Kết quả thực hiện tổn thất từng tháng năm 2008 - một số giải pháp giảm tổn thất điện năng ở điện lực nghệ an
Bảng 13 Kết quả thực hiện tổn thất từng tháng năm 2008 (Trang 36)
Bảng 15: Diễn biến khách hàng của Điện lực Nghệ An thời kỳ 2004- 2008 - một số giải pháp giảm tổn thất điện năng ở điện lực nghệ an
Bảng 15 Diễn biến khách hàng của Điện lực Nghệ An thời kỳ 2004- 2008 (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w