1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XUNG ĐỘT VÀ DUNG HÒA GIỮA ĐẠO VÀ ĐỜI TRONG VĂN HỌC ẤN ĐỘ

17 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 129,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN KHOA SƯ PHẠM BÀI TIỂU LUẬN XUNG ĐỘT VÀ DUNG HÒA GIỮA ĐẠO VÀ ĐỜI TRONG VĂN HỌC ẤN ĐỘPHỤ LỤCLỜI NÓI ĐẦU…………………………………………………………......... trang 1PHẦN I: ẤN ĐỘ, VĂN HỌC ẤN ĐỘ, MÂU THUẪN VÀ THỐNG NHẤT TỪ GÓC NHÌN TỔNG QUAN ……………………………………………... trang 2 3PHẦN II: ĐẠO VÀ ĐỜI………………………………………………... trang 4 5PHẦN III: XUNG ĐỘT VÀ DUNG HÒA GIỮA ĐẠO VÀ ĐỜI TRONG VĂN HỌC ẤN ĐỘ………………………………………………………….... trang 6 12 CHƯƠNG 1: VĂN HỌC CỔ ĐẠI – VĂN HỌC DÂN GIAN CHƯƠNG 2: VĂN HỌC TRUNG ĐẠI – VĂN HỌC VIẾT CHƯƠNG 3: VĂN HỌC CẬN HIỆN ĐẠIPHẦN IV: KẾT LUẬN ………………………………………………….. trang 13LỜI NÓI DẦU Lịch sử văn hóa Ấn Độ kéo dài hơn 4.500 năm. Trong thời kỳ Vệ Đà (khoảng 1700 – 500 TCN), các nền tảng của tôn giáo, triết học, thần thoại, văn học được hình thành, ngoài ra còn có sự hình thành của nhiều đức tin và thực hành vẫn tồn tại cho đến nay. Do đó có thể nói văn học Ấn Độ được công nhận là một trong những nền văn học cổ nhất thế giới....

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

KHOA SƯ PHẠM

BÀI TIỂU LUẬN: XUNG ĐỘT VÀ DUNG HÒA GIỮA ĐẠO VÀ ĐỜI TRONG VĂN HỌC ẤN ĐỘ

HỌC PHẦN

VĂN HỌC ẤN ĐỘ - NHẬT BẢN

Giảng viên hướng dẫn: ThS LÊ TỪ HIỂN

Sinh viên thực hiện: ĐINH THỊ NGỌC ÁNH

Lớp: SƯ PHẠM NGỮ VĂN K41

Tháng 7 năm 2020

Trang 2

PHỤ LỤC

LỜI NÓI ĐẦU……… trang 1 PHẦN I: ẤN ĐỘ, VĂN HỌC ẤN ĐỘ, MÂU THUẪN VÀ THỐNG NHẤT TỪ GÓC NHÌN TỔNG QUAN ……… trang 2 - 3 PHẦN II: ĐẠO VÀ ĐỜI……… trang 4 - 5 PHẦN III: XUNG ĐỘT VÀ DUNG HÒA GIỮA ĐẠO VÀ ĐỜI TRONG VĂN HỌC ẤN ĐỘ……… trang 6 - 12 CHƯƠNG 1: VĂN HỌC CỔ ĐẠI – VĂN HỌC DÂN GIAN

CHƯƠNG 2: VĂN HỌC TRUNG ĐẠI – VĂN HỌC VIẾT

CHƯƠNG 3: VĂN HỌC CẬN HIỆN ĐẠI

PHẦN IV: KẾT LUẬN ……… trang 13

Trang 3

LỜI NÓI DẦU

Lịch sử văn hóa Ấn Độ kéo dài hơn 4.500 năm Trong thời kỳ Vệ Đà (khoảng 1700 – 500 TCN), các nền tảng của tôn giáo, triết học, thần thoại, văn học được hình thành, ngoài ra còn có sự hình thành của nhiều đức tin và thực hành vẫn tồn tại cho đến nay Do đó có thể nói văn học Ấn Độ được công nhận là một trong những nền văn học cổ nhất thế giới

Trong cuốn Những vấn đề văn học Ấn Độ xuất bản ở Pari năm 1963, H De

Glasenapp nhận xét như sau: “ Trong những vùng rộng lớn ấy của Châu Á (Đông Dương, Inđônexia, Mianma, Thái Lan, Viễn Đông, Tây Tạng, Tân Cương), các tác phẩm Ấn Độ đã tìm được một tổ quốc mới, hoặc giữ nguyên văn hoặc được phiên dịch và đã khắc sâu ảnh hưởng vào đời sống tinh thần của những dân tộc ở rất xa

Ấn Độ và khác người dân ở sông Hằng về chủng tộc, tiếng nói, về mọi quan niệm…”

Trang 4

PHẦN I: ẤN ĐỘ, VĂN HỌC ẤN ĐỘ, MÂU THUẪN VÀ THỐNG NHẤT TỪ GÓC NHÌN TỔNG QUAN.

Tiểu lục địa Ấn Độ là nơi xuất hiện văn minh lưu vực sông Ấn cổ đại, có các tuyến đường mậu dịch mang tính lịch sử cùng những đế quốc rộng lớn và trở nên giàu có về thương mại và văn hóa trong hầu hết lịch sử lâu dài của mình

Ấn Độ là đất nước rộng lớn và đông dân ở miền Nam Á, phía bắc là dãy Himalaya hùng vĩ, được ví là “lâu đài tuyết trắng” hay “bông sen trắng vĩ đại” Từ

đó đi dần xuống phía nam bắt gặp hai lưu vực sông Ấn và sông Hằng phì nhiêu được xem là châu thổ “đất vàng” vùng này Đi tiếp sẽ là dãy núi Vindhia và cao nguyên Dekan trước khi ra đến biển Ấn Độ Dương Không một địa hình nào có trên Trái Đất mà Ấn Độ không có, phần nào thể hiện sự khoan dung đặc sắc nhưng hòa hợp giữa các vùng địa lí Song song với đó, thiên nhiên và khí hậu khá phức tạp và khắc nghiệt, giàu có về tài nguyên nhưng bị thiên tai tàn phá cho nên nền kinh tế của Ấn Độ xưa kia luôn trì trệ, chậm phát triển Đặc điểm đó tạo cho con người Ấn Độ từ khi ra đời đã đối mặt với những cuộc đấu tranh với thiên nhiên vô cùng oanh liệt, điều đó phản ánh rất rõ trong những thần thoại đầy sức hấp dẫn và

kì vĩ của họ

Đặc điểm hoàn cảnh xã hội cũng đã tạo cho đất nước Ấn truyền thống đấu tranh bất khuất, kiên cường, gìn giữ tinh thần hòa hợp, sự công bằng, bác ái trong

xã hội Điều đó được thể hiện rõ trong các bản anh hùng ca vĩ đại như Ramayana, Mahabharata, cùng nhiều tác phẩm văn học có giá trị khác Đất nước, con người và lịch sử Ấn Độ là cơ sở sản sinh và phát triển văn học Ấn qua các thời đại Nó là truyền thống bất hủ và là nguồn sáng tạo vô tận cho văn học Ấn Độ

Trải qua thời kì trường kì xây dựng đất nước giữa hai chủng tộc Aryan và Dravyran – khác nhau về phong tục tập quán, màu da, ngôn ngữ…, nhưng chính điều đó đã làm cho nền văn hóa – văn học Ấn Độ ngày càng phát triển, tỏa sáng

Trang 5

không chỉ ở các nước phương Đông mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ thế giới hiện đại Nói riêng với Việt Nam, mối quan hệ Việt - Ấn đã có từ lâu đời và góp phần không nhỏ vào quá trình phát triển văn hóa nghệ thuật ở khu vực Đông Nam Á, trong đó ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ là rất to lớn

Ở Ấn, có trên 750 ngôn ngữ khác nhau được sử dụng, chính vì vậy đã kéo theo một đặc điểm của văn học là tính đa ngữ Những tác phẩm văn học đầu tiên của Ấn sử dụng thứ ngôn ngữ Sankrit – hình thức ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Ấn – Âu được sử dụng phổ biến trong giới học giả Về sau, phong trào cải cách tôn giáo đã dần từ chối ngôn ngữ Sankrit và thay bằng ngôn ngữ Prakrit Sang thời trung đại, tinh thần dân chủ cởi mở nên phương ngữ dần chiếm ưu thế Đến hiện đại, Ấn Độ trở thành thuộc địa của Anh nên tiếng Anh được sử dụng rộng rãi, nhưng nó cũng chỉ là chuyển ngữ Tất cả các ngôn ngữ đều có sự thiết lập và giao lưu tạo nên một nền văn hóa – văn học mới nhưng với nhiều mức độ mà nền văn học trong các ngôn ngữ ấy đều chịu ảnh hưởng từ văn chương Sankrit

Như chúng ta đã biết, Ấn Độ là nơi sinh ra hai tôn giáo lớn lâu đời bậc nhất

là Đạo Phật và Đạo Hinđu cùng nhiều tôn giáo nhỏ khác Nhưng Ấn Độ cũng thừa nhận tất cả các tôn giáo khác được truyền đến như Đạo Hồi, Đạo Thiên Chúa,… Tôn giáo khác biệt tất nhiên sẽ dẫn đến những mâu thuẫn nhưng không thể không thừa nhận rằng đây là mảnh đất lí tưởng cho sự tồn tại song song và hòa bình Từ đây cũng là bắt nguồn cho những xung đột và dung hòa giữa đạo và đời

Tóm lại, văn học Ấn Độ ra đời rất sớm, phát triển lâu dài và liên tục, nội dung phong phú, mang tính nhân văn sâu sắc bắt nguồn từ một khối mâu thuẫn lớn, chứa đựng rất nhiều điều khác biệt, đầy rẫy những ngịch lí nhưng sự khác biệt ấy lại tạo ra mối quan hệ hai chiều, đa dạng ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức và tư duy của con người Ấn

Trang 6

PHẦN II: ĐẠO VÀ ĐỜI Ở ẤN ĐỘ

n Độ là nước có nền văn minh rất sớm, không kém Hi Lạp, La Mã và Ai Cập Những cuộc khai quật của các nhà khảo cổ học nổi tiếng đầu thế kỉ XX ở vùng Harappa và Môhengiô Đarô trên lưu vực sông Ấn chứng minh từ hơn 3000 năm trước Công nguyên đã xuất hiện một nền văn minh khá rực rỡ của người Dravidian Song song với nền văn minh ấy chắc chắn có sự tồn tại của con người

và cả sự độc lập văn hóa đặc biệt Và như chúng ta biết, Ấn Độ cổ đại chính là mảnh đất màu mỡ cho tôn giáo và triết học phát triển

Thi hào Tagore đã có lần ca ngợi đất nước Ấn Độ của ông qua mấy câu thơ: “Khi anh cất lên tiếng gọi thì Họ đến

Ấn Độ Giáo và Phật Giáo, Kỳ Na Giáo và đạo Sikh,

Đạo Parsi, Hồi Giáo và Thiên Chúa

Đông và Tây gặp nhau

Thể xác đồng nhất với tình yêu nơi linh thiêng của anh

Chiến thắng thuộc về kẻ tạo ra tâm hồn nhân loại

Chiến thắng thuộc về kẻ kiến tạo định mệnh của Ấn Độ.”

Từ đó trang sử các tôn giáo Ấn Độ bắt đầu Lịch sử cổ thời của tôn giáo tai

Ấn Độ là chuỗi thời gian của phân biệt giai cấp xã hội cực kỳ khắc nghiệt Đứng đầu trong đẳng cấp xã hội là giới tăng lữ Bà La Môn với quyền hạn tuyệt đối về tư tưởng, tôn giáo, lễ nghi và luật lệ Kế tiếp là đẳng cấp Sát Đế Lợi với vai trò cai trị

xã hội qua lĩnh vực chính trị và quân sự Đẳng cấp thứ ba là Thương Nhân chi phối

xã hội trong lĩnh vực kinh tế Sau cùng và thấp nhất là đẳng cấp Thủ Đà La bị thống trị bởi 3 giai cấp trên Thân phận của giai cấp Thủ Đà La trong xã hội Ấn Độ

cổ đại rất bi đát Ba giai cấp trên xem họ như thành phần nô lệ Một người Thủ Đà

La khi ra đường nếu gặp 3 giai cấp trên thì không được quyền đối mặt mà phải tránh né, bởi vì 3 giai cấp trên cảm thấy bị xúc phạm và ô uế khi gặp trực tiếp người của giai cấp Thủ Đà La Đó là một trong những mạng lưới phân biệt giai cấp

Trang 7

bất công và tàn ác nhất trong lịch sử nhân loại Khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni bắt đầu công cuộc chuyển hóa con người và xã hội qua giáo lý trí tuệ giác ngộ và từ bi bình đẳng của Ngài vào hậu bán thế kỷ thứ 7 và đầu thế kỷ thứ 6 trước công nguyên, thì xóa bỏ giai cấp là một trong những mục tiêu mà Ngài nỗ lực thực hiện

Có 4 tôn giáo lớn được khai sinh ngay trên đất nước Ấn Độ Đó là Bà La Môn trải qua nhiều sự cải cách biến thành đạo Hinđu (Hinduism) tức Ấn Độ Giáo,

Kỳ Na Giáo (Jainism), Phật Giáo (Buddhism), và Đạo Sikh (Sikhism) Bốn tôn giáo này dù được khai sinh tại Đông Phương, nhưng đã truyền bá ra ngoài biên cương Ấn Độ đến khắp nơi trên thế giới

Phương Đông có những tư tưởng, những tôn giáo lớn như Nho giáo nghiêng

về duy lí, cộng đồng xã hội; Lão giáo nghiêng về vô vi, thoát tục, về tự nhiên; còn Phật giáo bao trùm tất cả với tinh thần từ bi hỉ xả, ánh sáng giác ngộ thương người như thể thương thân Như “Tứ diệu kế” của Phật Thích Ca:

“Khổ”: đời là bể khổ, con người sinh ra là bể khổ, khổ là vì con người có quá nhiều ham muốn mà không được toại nguyện

“Tập”: do có nhiều ràng buộc nên con người không được thỏa mãn ham muốn

“Diệt”: từ bở đi những ham muốn thái quá

“Đạo”: hướng đến sự giác ngộ tâm lí, không bị ràng buộc vật chất, chìm đắm sắc dục, không sa vào quyền lực, thấy mình tịnh tâm như nắng, ngọt ngào như mưa

Theo tinh thần đó, Phật đã vượt lên trên mọi giáo lí, triết lí, lối sống, đạo đức, trở thành sản phẩm điển hình cho tư duy và văn hóa Ấn Độ

Sự phủ định của Đạo Phật chính là minh chứng rõ ràng nhất cho biểu hiện của Đời Đó là những nhục cảm, cảm xúc trong các mối quan hệ, là những tầng bậc xúc cảm từ con tim, những định luật, tự nhiên xoay quanh cuộc sống mà con người khó mà vứt bỏ Có thể thấy, ẩn chứa bên dưới những giáo lí của Đạo chính là nội dung của Đời

Trang 8

PHẦN III: XUNG ĐỘT VÀ DUNG HÒA GIỮA ĐẠO

VÀ ĐỜI TRONG VĂN HỌC ẤN ĐỘ

Điều dễ nhận thấy nhất là bản sắc văn hóa Ấn Độ trong sự gắn bó chặt chẽ giữa triết học, tôn giáo và đời sống Cho nên văn học chính là lịch sử tâm hồn, hầu hết đều mang dấu ấn sâu đậm của tôn giáo, triết học Những tác phẩm văn học Ấn

từ thuở chí kim phần lớn đều mang dấu ấn tôn giáo, có thể mượn cảm hứng, gắn liền với đề tài hoặc tư tưởng tôn giáo

Mặt khác, chính quá trình sáng tạo của người nghệ sĩ Ấn Độ cũng như một

sự nỗ lực tôn giáo liên quan đến yếu tố tâm linh hay những tâm trạng mang niềm tin cho phép con người thâm nhập trực tiếp vào những hình ảnh, sự kiện thần thánh

mà họ tưởng tượng Bản chất tinh thần tôn giáo luôn luôn là sự thống nhất, dung hòa của hai mặt dường như nghịch lí, đối lập: siêu thoát – trần thế, khổ hạnh – hưởng lạc, tôn giáo – tình yêu, đạo – đời… Tư duy của người Ấn Độ thâm trầm, bay bổng Nếu triết học Phương Tây hơi nghiêng về vật chất bên ngoài thì minh triết Ấn Độ nghiêng về thế giới bên trong, luôn muốn vượt lên trên giới hạn chật hẹp của con người, muốn siêu thoát

Ấn Độ - vương quốc tâm linh, miền đất của những tư tưởng minh triết và siêu hình thượng đẳng, quê hương của con số ‘0’ – không là gì cả nhưng là tất cả…, nơi sản sinh ra những bộ óc thong minh bật nhất và những tâm hồn thanh tịnh từ ngàn xưa như Đức Phật Thích ca, nhà thơ Valmiki…, cho đến ngày nay như Tagore, Gandhi… Nhưng không vì thế mà vấn đề con người bị xem nhẹ, đúng là tính tôn giáo đã chi phối nhưng hai mặt ấy vẫn song hành vừa đối nghịch mà cũng vừa dung hòa với nhau được thể hiện rõ qua từng thời kì của văn học

Trang 9

CHƯƠNG 1: VĂN HỌC CỔ ĐẠI – VĂN HỌC DÂN GIAN

Văn học cổ đại Ấn Độ bắt đầu từ một ngàn năm trước Công nguyên cho đến thế kỉ thứ VIII Giai đoạn này văn học đã phát triển và xây dựng được một kho báu

vô cùng đồ sộ và quý giá, nó khơi nguồn cho chủ nghĩa nhân đạo phát triển trở thành truyền thống và bản sắc của riêng văn học Ấn

Mở đầu giai đoạn là bộ kinh Veđa, tuy là Thánh kinh của Hinđu giáo nhưng lại có giá trị văn học lớn Nội dung của Veđa bao gồm nhiều bài ca, câu thơ, mẩu

chuyện ca ngợi thánh thần và cuộc sống của con người Đó là những trang thần thoại kì diệu đầu tiên của Ấn Độ và loài người Trong đó ta đã thấy có thần tình yêu Kama (Kamadeva), cũng như Eros của Hy-Lạp, Cupid của La Mã, là một trong những nhân vật của truyện thần thoại hay nhất Kama là một khái niệm giải thích nguồn gốc vũ trụ và muôn loài, Kama cũng chính là mục đích của đời người bằng việc thỏa mãn các ham muốn nhưng biết tiết chế và điều độ Thần Kama từ một khái niệm về sự sinh sôi nảy nở của vũ trụ, của muôn loài trở thành nguồn trữ tình đắm đuối của con người Cũng vì thế mà thần Kama dù là thần nhưng làm cho các thần theo chủ nghĩa khổ hạnh không còn giữ được phẩm chất

Các thần của đạo Bà La Môn, đạo Hinđu, kể cả vị chúa tể là Brahma cũng đã nhiều phen điêu đứng vì mũi tên của thần Từ một câu chuyên rất đơn giản kể về một con quỷ Taraka đầy uy lực và kiêu ngạo Các thần muốn tiêu diệt nó nhưng biết rằng chỉ có con trai của thần Siva mới có đủ thần lực tiêu diệt nó Nhưng khổ nỗi Siva theo chủ nghĩa khổ hạnh không lấy vợ thì làm sao có con Các thần bèn tìm cách bắt thần Siva lấy Uma – con gái thần Himalaya làm vợ Các thần cử thần Kama mang theo vũ khí cùng với Uma trang điểm cực kì lộng lẫy xinh đẹp lên đỉnh Kailasa – nơi thần Siva đang tu luyện để phá phép Uma tìm mọi cách khêu gợi tình dục của Siva nhưng thần không hề mảy may mà vẫn lim dim hướng về Thượng đế Chờ đợi đến lúc nàng Uma có sức quyến rũ và xinh đẹp nhất, Kama giương cung bắn thẳng mũi tên vào tim thần Siva Siva bị thương nặng, bỗng vùng

Trang 10

dậy, quắt mắt tìm kiếm kẻ phá rối thần lực của mình, khi trông thấy thần Kama thì càng them tức giận bèn mở con mắt thứ 3 trên trán phun lửa hừng hực đốt cháy Kama thành tro Kama bị tiêu diệt nhưng trái tim Siva càng nhứt nhối, ngọn lửa tình bùng cháy Lần thứ nhất, Siva định nấp dưới bóng cây râm mát nhưng vô hiệu

vì thần thấy có nhiều sơn nữ xung quanh đang nhìn mình làm ngọn lửa tình càng them hừng hực Lần thứ hai thần gặp hồ nước, thần nhảy xuống để dập tắt ngọc lửa tình nhưng than ôi! Nước hồ vẫn không làm ngọn lửa kia nguội lạnh được mà còn sôi sục thêm khi thấy trên bờ có nàng Uma đang đứng chờ Cuối cùng thần Siva phải nhảy lên bờ, nàng Uma liền chạy đến ôm chầm lấy thần, lúc ấy thần mới cảm thấy lòng mình êm dịu Thế là thần Siva đã phải lấy vợ, thỏa mãn ước muốn của các thần

Sau khi thần Kama chết, thế giới trở nên khô héo, lạnh lẽo vì tình yêu không còn nữa Thần linh và loài người vô cùng lo lắng và cầu xin thần Siva hóa phép cải

tử hồi sinh cho Kama Siva đồng ý làm phép cho Kama sống trở lại nhưng vô hình Kama sống trở lại tuy vô hình nhưng bất diệt và trở thành nguồn tình lai láng của loài người Câu chuyện trên giải thích một số vấn đề như sự giao tranh giữa thần và quỷ là sự giao tranh giữa người Arian xâm nhập vào đất Ấn với người thổ dân Asura, đó là bức tranh hiện thực của xã hội Ấn Độ cổ đại Thần Siva tiêu biểu cho chủ nghĩa khổ hạnh, thần Kama là quan niệm luyến ái và gia đình của nhân dân thời bấy giờ, là phần nhập thế (Kama) và phần siêu thoát (Siva) vừa xung đột vừa dung hòa với nhau, đó là xung đột giữa đọa và đời Qua đây ta thấy chủ nghĩa khổ hạnh dù có sức mạnh và uy linh đến đâu cũng không thể thắng được khát vọng tự nhiên của con người Truyền thống đó được phát triển trong văn học Ấn Độ ở mọi giai đoạn

Theo các học thuyết triết học và tôn giáo Ấn Độ, con người sống có bốn mục đích Một là, Dharmar – hoàn thành bổn phận tôn giáo xã hội Hai là, Arrha –

nỗ lực cho sự phồn vinh vật chất và vinh quang Ba là, Kama – biết yêu và được yêu, biết hưởng niềm vui lạc thú và cả sự duy trì nòi giống Bốn là, Mocsa – tránh

Trang 11

bon chen đời thường, tránh những tiểu tiết nhỏ nhặt, hãy làm người bình thường

mà không tầm thường để thấu hiểu được cái vô biên của vũ trụ Như vậy, Kama được xem là một trong những mục đích chính của đời người, do đó người Ấn Độ không thấy ở lạc thú ái tình tội lỗi hay đáng phải xấu hổ mà là mục đích sống, là niềm vui Tất nhiên người Ấn Độ luôn có thái độ kính trọng đối với những ẩn sĩ khổ hạnh

Tuy nhiên, cái lẵng hoa tình yêu và hôn nhân trong văn học Ấn Độ đầy những hoa thơm, màu sắc óng ả, mật ngọt thơm lành nhưng ẩn đằng sau nó cũng

có rất nhiều gai nhọn đâm vào những chỗ nhạy cảm làm ứa máu con tim Điều đó

bạn sẽ tìm thấy trong sử thi Ramayana Tình yêu của Sita rất đẹp nhưng cũng đầy

những nỗi đau, tình yêu ấy bị chia rẽ vì quỷ vương Ravana nhưng đó cũng chỉ là thử thách bên ngoài Khi Rama cứu được Sita, những tưởng hai người sẽ đoàn tụ hạnh phúc nhưng lại đến một thử thách bên trong, Rama vẫn rất yêu Sita nhưng vì đạo đức,danh dự cộng đồng mà còn chần chừ trì hoãn, bắt nàng đi tắm rửa rồi đưa nàng ra trước cộng đồng để xét xử Đại từ nhân xưng không phải anh – em mà là

ta – nàng, Sita thì nóng lòng muốn gặp được chồng, được yêu thương, được âu yếm nhưng vì danh dự, vì đạo lí, vì cộng đồng mà nàng phải chết ngất đi và bước vào vòng lửa Tất nhiên, để cho tình yêu vẹn toàn, để có sự dung hòa giữa đạo và đời, thần lửa Agni đã bế Sita bước ra đẹp rạng ngời

Nhìn chung, sử thi Mahabharata và Ramayana không coi trọng miêu tả

chiến tranh mà chú trọng miêu tả sự xung đột giữa cái thiện và cái ác, giữa đạo lí

và phi đạo lí Nếu có xung đột với nhau, trước tiên phải hòa giải, nếu không được mới tiến hành chiến tranh Cuối cùng chủ quan hóa thành tình yêu và danh dự mâu thuẫn với nhau, cũng chính là cái bên trong xung đột với bên ngoài

Ngày đăng: 14/04/2022, 10:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w